Nhân văn giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc ( 14 )

29/01/2013 at 7:27 sáng Để lại bình luận


Thụy Khuê

( Tiếp theo và hết )

● Những lời cuối của Lê Đạt về Nguyễn Hữu Đang

Ngày 8/2/2007 Nguyễn Hữu Đang từ trần, chúng tôi điện thoại về Hà Nội để ghi những lời của Hoàng Cầm và Lê Đạt nói về Nguyễn Hữu Đang. Và đây là những lời Lê Đạt nhớ bạn.

– TK: Thưa anh Lê Đạt, anh với anh Đang, mặc dù tuổi tác khác nhau nhưng lại rất thân nhau, vậy xin anh cho biết về con người của anh Đang.

– LĐ: Tôi biết tiếng anh Đang đã lâu rồi, nhưng khi anh Đang ở Khu IV, thì tôi lại ở trên Việt Bắc. Đến khoảng trước năm 54, anh Đang về làm biên tập tờ Văn Nghệ với tôi, và sau báo Văn Nghệ, thì lại tiếp tục làm tờ Nhân Văn với nhau; trong thời gian ấy, chúng tôi rất thân nhau vì anh Đang sống một mình cho nên hai anh em có thể gặp nhau ngày đêm bất kể lúc nào để bàn luận công việc. Anh Đang rất trực tính, cái gì cũng nói thẳng với nhau được. Tôi kể một chuyện này để chị thấy: thời kỳ tôi mới vào báo Văn Nghệ, anh Xuân Diệu cũng ở trong báo Văn Nghệ. Lúc ấy anh Xuân Diệu đang làm thư ký toà soạn thì bị bệnh vào nằm bệnh viện, tôi làm thay. Anh Xuân Diệu rất khó chịu với tôi, anh ấy nói với anh Tưởng[11] là không nên để Lê Đạt làm, vì nó chủ quan lắm, bài của mình cũng bị nó gạt luôn, Lê Đạt còn quá trẻ để làm việc ấy. Anh Tưởng hỏi: “Thế thì để ai làm?” Anh Diệu bảo việc ấy để Đang làm. Anh Tưởng rất nể anh Đang, nhưng khi anh Tưởng vừa nói là không để tôi làm thì anh Đang mắng luôn: “Sao cậu phong kiến thế, để nó làm. Nó làm hơn tớ nhiều. Tớ không làm đâu”. Anh Đang rất ủng hộ tôi, mà anh em đối với nhau rất vui vẻ. Anh Đang là người rất nghệ sĩ, có vẻ hắc thế thôi nhưng rất nghệ sĩ, bề ngoài là người cứng rắn nhưng tâm hồn rất mềm yếu. Tôi đã trông thấy anh Đang nhìn một em bé chơi dưới nắng trong nửa tiếng đồng hồ, một cách rất say mê. Về văn nghệ ý kiến của anh ấy rất xác đáng và nhất là về hội họa, anh rất tinh. Chỉ có là anh ấy chưa làm thơ thôi, chứ anh ấy rất hiểu văn nghệ.

– TK: Thưa anh, trong suốt thời gian từ 1973 sau khi ra tù, rồi bị quản thúc ở Thái Bình cho đến sau này, anh Đang có viết được nhiều không ạ?

– LĐ: Anh Đang lúc ấy có một việc rất hay mà tôi tiếc là anh đã không làm được: anh có ý muốn xem lại Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Một người như anh Đang, làm cách mạng, sau khi bị tù đày mà nghiên cứu Nam Hoa Kinh, tôi chắc là sẽ có nhiều điểm hay lắm. Nhưng thời kỳ ở Thái Bình, anh quá khổ, thời kỳ giun dế mà Quán[12] nói đó, quá khổ. Người ta phải có điều kiện vật chất tối thiểu thì mới có thể đọc sách, nghiên cứu được chị ạ. Sau khi anh Đang được trở về Hà Nội, tôi rất hy vọng là anh Đang sẽ làm được chuyện ấy. Nhưng lúc đó thì lại có một việc khác xảy ra là người này, người kia mời. Cho nên anh mất rất nhiều thì giờ giao tiếp, tôi có nhắc anh một vài lần, rồi sau cũng không dám nhắc nữa, vì mình cũng phải thông cảm với cái khổ của anh. Anh có viết được không? Tôi không rõ, nhưng nếu anh viết chắc là có nhiều ý kiến độc đáo lắm. Bởi vì những lúc nói chuyện với nhau, tôi đã thấy anh có những ý kiến rất đặc biệt. Một người đi từ chủ nghĩa Cộng Sản, sang Lão Tử, Trang Tử, thì tôi chắc phải có nhiều cái hay lắm, nhất là anh Đang là người có nhiều ý kiến độc đáo. Nhưng làm thế nào được, đó là cuộc đời.

– TK: Thưa anh, nếu sau này giới trẻ muốn tìm hiểu về anh Đang thì nên giữ lại hình ảnh gì của anh Đang?

– LĐ: Cuộc đời anh Đang là cuộc đời khổ sở. Anh Đang bị nhiều thiệt thòi, lúc trẻ anh bận công tác cho văn hóa, công tác tổ chức, công tác cách mạng, cho nên anh không viết được nhiều. Sau này khổ sở, rồi cuộc đời đưa đẩy, anh không viết được, cho nên cái viết của anh hầu như không để lại gì nhiều. Đó là điều rất đáng tiếc. Thế hệ sau khó biết Nguyễn Hữu Đang, khó hiểu Nguyễn Hữu Đang, bởi vì khi đã chết đi, người ta chỉ có thể quen nhau qua trước tác thôi, qua tác phẩm thôi, mà anh Đang viết rất ít. Nhưng tôi vẫn tin là người ta không quên được anh Đang, một người hoạt động văn hóa xuất sắc, tận tâm. Anh Đang có công rất nhiều trong việc Truyền Bá Quốc Ngữ, tôi cho đó là điểm phải đề cao về anh Đang. Tôi tin rằng khi nói đến tiếng Việt, người ta không thể quên được Nguyễn Hữu Đang.

● Sự tìm tòi một con đường mới cho thơ ca Lê Ðạt

Lê Đạt là một trong những nhà thơ lớn có công cách tân thi ca Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, cùng với Thanh Tâm Tuyền, Ðặng Ðình Hưng, Trần Dần… Trừ Thanh Tâm Tuyền ở miền Nam, còn ba người miền Bắc thuộc phong trào NVGP. Tại sao như vậy? Ðó là câu hỏi mà thế hệ mai sau còn nhiều dịp để tìm lời giải đáp. Ở đây, nhà thơ Lê Ðạt sẽ nói về hành trình cách tân thơ của ông bên cạnh hai người bạn: Trần Dần và Ðặng Ðình Hưng.

– TK: Thưa anh, có thể nói sự thay đổi thi pháp của anh là kết quả của một hành trình dài, bắt đầu từ việc đọc sách ở thư viện thập niên 70. Vậy trước tiên xin anh kể lại việc đọc sách này.

– LÐ: Ðọc ở thư viện khó lắm chị ạ, thư viện khoa học xã hội nhiều sách hay nhưng chỉ dành riêng cho những người làm việc nhà nước, cán bộ nghiên cứu thôi. Tôi lúc ấy đã về hẳn rồi, tuy vẫn còn kỷ luật nhưng không phải cái mười năm lưu lạc giang hồ nữa. Tôi phải nói khéo với cơ quan cho tôi xin một cái giấy vào thư viện tôi đọc, tại vì đã lâu lắm rồi tôi không được đọc sách. Lúc đó cũng may rằng anh em Việt kiều ở Paris vừa biếu Việt Nam một loạt sách về hoạt động văn hóa những năm 50 của Pháp, tức là những năm sôi nổi nhất trong sinh hoạt trí tuệ Pháp, nào là phái cấu trúc, nào là phái phê bình mới, Roland Barthes… thì tôi phải cố gắng xin cái giấy phép. Xin cũng khó lắm chị ạ. Ðọc sách ở nước Việt Nam khó lắm chứ có phải dễ đâu. Ðáng nhẽ mọi người vào, là cứ xin giấy rồi vào thôi. Còn giấy tôi xin thì cũng phải độ bẩy hôm người ta mới trả lời là ông đọc được. Tôi đã được đọc sách và tôi cho đó là những ngày hạnh phúc nhất đời tôi.

Tôi đọc mười giờ một ngày: buổi sáng tôi ăn sớm rồi tôi đọc đến trưa, trưa xong tôi lại tiếp tục đọc đến chiều, về nhà tôi phải ăn cơm nguội cơ mà. Cho nên lúc đó ở Hà Nội nó đã đồn là ông Lê Ðạt giàu lắm vì lúc đó không ai ra thư viện đọc sách để học cả, mà người ta chỉ ra thư viện đọc sách để dịch. Một người suốt ngày ở thư viện là phải dịch được nhiều tiền lắm!

Tôi đọc lại những sách thuở nhỏ tôi đã đọc và tôi đọc cả những sách đang sôi nổi lúc bấy giờ ví dụ như về  structuralisme (cấu trúc luận), về linguistique (ngôn ngữ học), về nouvelle poésie française (thơ mới của Pháp) v.v… Tôi cho đó là những năm tốt đẹp nhất của đời tôi, lâu lắm tôi mới được đọc như thế. Sau đó thì thư viện họ quen tôi và họ đối với tôi rất tử tế. Lúc ấy anh Thảo cũng ra, anh Trần Dần thì đâu người ta thuê anh ấy dịch Althusser, anh ấy cũng ra thư viện đó để dịch, thế là ba anh em lại gặp nhau và lúc đó ở Hà Nội người ta đã sơ tán cả rồi. Một hôm tôi đến mượn sách thì chị thủ thư rất buồn, bảo: “Bây giờ ban giám đốc vừa ra một cái lệnh bác không được đọc sách nước ngoài nữa, chỉ đọc sách tiếng Việt thôi”. Sau tôi mới hỏi ra thì là thế này: Người phụ trách thư viện là một ông thiếu tá vừa chuyển ngành, ông ấy nghĩ bụng là bây giờ mọi người đều đi sơ tán thì còn ai học hành gì nữa, chỉ thấy mấy anh NVGP trong này, chắc chúng nó bàn chuyện bậy bạ gì cho nên việc thứ nhất là: thôi, không cho chúng nó đọc nữa. Nhưng Thảo thì có cái giấy ở trên, đang nghiên cứu về hiện tượng học đó, thì anh ấy vẫn được đọc. Còn tôi không có giấy đặc biệt gì cả thì họ không cho tôi đọc tiếng Pháp nữa. Tôi phải rời thư viện ấy, sau khi tôi đã đọc coi như gần hết thư viện đó rồi, thì để chị biết là ở Việt Nam đọc sách cũng khó khăn lắm.

– TK: Như vậy có thể nói rằng chính sự đọc sách ở thư viện đã dẫn anh đến chỗ quyết định phải thay đổi thi pháp của mình, thưa anh có phải như vậy không?

– LÐ: Không, quyết định ấy có từ lâu rồi. Quyết định từ lâu rồi. Tức là sau Nhân Văn, tôi không được làm thơ nữa, không được in thơ nữa cho nên tôi đã nghĩ rất nhiều về thơ của mình, tôi phải tìm một cách khác. Dần dần tôi đã đi xa, càng ngày càng xa Maïakovski: Tại vì tôi thấy chính Maïakovski là người đã đóng góp rất nhiều vào cái sai lầm của chủ nghĩa Cộng Sản, cho nên càng ngày tôi càng tách xa Maïakovski nhưng chưa tìm được cách nào để đi cả.

Lúc bấy giờ thì những anh em cũ như Trần Dần, Ðặng Ðình Hưng… Ðặng Ðình Hưng, sau năm 60, do sự giúp đỡ của Trần Dần, thì Ðặng Ðình Hưng đã có một số những thành tựu nhất định. Anh Dần, anh Hưng, các anh ấy đinh ninh đã tìm thấy đường rồi, còn tôi vẫn chưa tìm thấy đường gì cả. Tôi nhớ có một hôm, năm ấy vào khoảng năm 65, ba người uống rượu với nhau, Hưng không biết là tỉnh hay say, hay là giả say thì không biết, mới nói rằng: “Cậu không bao giờ có thể làm thơ hay được cả tại vì cậu tỉnh quá”. Thì tôi đứng dậy nói: “Cũng có thể mình không thể làm thơ hay được nữa, nhưng mà mình không muốn mất cái sự tỉnh táo”. Và tôi chia tay với họ. Sự chia tay ấy chắc mọi người không biết được, tại vì chỉ chia tay trong ba người thôi. Nhưng lúc ấy tôi rất buồn, tại vì chỉ còn có ba người thôi mà không trụ được với nhau, lại phải chia tay. Mà tôi nhất định không thể ở lại được nữa. Tại vì ở lại thì hoặc là tôi theo họ, mà tôi không thích. Lúc bấy giờ tôi buồn lắm. Trong bốn, năm năm trời tôi không làm bài thơ nào cả, chỉ làm những cái mà người ta gọi là tập, exercices, con con nhưng không làm bài thơ nào cả.

Thường thường là cứ đến ngày Noël, anh em hay gặp nhau; gặp nhau thì làm một bữa rượu, ngồi uống rượu. Những buổi đó bao giờ cũng có đủ: tôi, anh Dần, anh Hưng và anh Hoàng Cầm. Uống rượu được một lúc thì anh Hoàng Cầm thường đọc bài đề từ của Chu Mạnh Trinh mà Hoài Nam Tử dịch trong đó có một câu rất nổi tiếng là Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch đó. Anh Cầm ngâm bài ấy cực hay và rất buồn. Sau đó thì các ông ấy uống rượu, uống rượu rồi bàn hết khôn rồi ra dại. Thường những lúc ấy tôi hay đứng dậy, lặng lẽ một mình tôi bỏ về. Bỏ về như vậy làm anh em khó chịu nhưng tôi thấy không thể tiếp tục mãi như thế được. Trong đám ấy, lúc bấy giờ tôi lại trở nên một kẻ bị bỏ rơi, mà tôi cũng chưa biết là mình sẽ đi đến đâu cả, con đường trước mắt chưa biết thế nào, nhưng chắc chắn là tôi không đi con đường của hai anh ấy.

– TK: Xin anh nói về con đường đi của hai anh Trần Dần và Ðặng Ðình Hưng.

– LÐ: Tôi thấy anh Dần từ xưa đến nay vẫn là người mê chữ từ lâu rồi, cho nên anh Dần vẫn tiếp tục con đường của anh ấy. Còn anh Hưng anh ấy ở âm nhạc sang cho nên anh ấy có lợi thế rất nhiều vì không bị ám ảnh bởi văn phạm ngôn ngữ như tôi. Anh ấy gặp anh Dần thì hai anh sẵn sàng đi con đường của mình, tức là con đường sau này chị đã thấy trong thơ Ðặng Ðình Hưng đó; nhưng lúc đầu thì anh Ðặng Ðình Hưng chưa làm thơ văn xuôi như thế, sau này mới dần dần đi về văn xuôi, do anh ấy không bị -người ta gọi là- hạn chế gì, bởi cái văn phạm của những người làm thơ lâu như tôi. Vì từ nhạc sang cho nên anh ấy rất dễ dãi và anh ấy thanh thoát lắm. Anh Dần thì có nhiều khó khăn, tại vì anh Dần là một người tìm tòi. Tôi vẫn cho anh Dần là một người có nhiều ưu điểm và nhược điểm của một anh trưởng môn. Anh ấy hay đề ra lý luận trước để anh ấy theo sau, thí dụ anh ấy đề ra lý luận của cái Mùa sạch ấy, anh ấy theo một lý luận như thế, rồi anh ấy cứ làm như thế. Cái đó là ưu điểm của anh ấy, tức là anh gây được một ấn tượng mạnh, nhưng nhiều lúc, nếu chị đọc cẩn thận, nhiều lúc chị cũng thấy là nó hơi khiên cưỡng. Thế nhưng anh Dần cứ tiếp tục đi. Anh ấy với anh Hưng làm cả thơ vẽ… anh Dần làm nhiều thơ lắm. Nhưng tôi thấy rằng cái đó không hợp với tôi.

– TK: Thưa anh, có thể nói rằng giữa hai anh Ðặng Ðình Hưng và Trần Dần cũng có sự khác biệt: sự tìm kiếm của anh Ðặng Ðình Hưng đã được thể hiện khá rõ ràng qua hai tập Ô mai và  Bến lạ, còn anh Trần Dần, qua những gì đã in, người ta chưa thấy rõ được những tìm kiếm của anh Trần Dần. Tập Cổng tỉnh cho thấy sự giàu có trong ngôn ngữ thơ Trần Dần, nhưng vẫn còn là một cấu trúc thơ tương đối cổ điển. Còn tập Mùa sạch, mới chỉ là một thứ thử nghiệm, exercice, chưa thể nói là xong, là một tập thơ hoàn chỉnh. Vậy theo anh, cần phải làm thế nào để giới thiệu toàn diện sự tìm tòi thơ của Trần Dần?

– LÐ: Cái này thì tôi có hứa với Trần Dần một điều mà tôi chưa làm được, tức là tôi sẽ đọc lại tất cả thơ Trần Dần, tại vì, như chị biết là, sau này, tôi đi tìm con đường của tôi thì tôi cũng không gần anh Dần như ngày xưa nữa, thế và khi tôi đề nghị với anh Dần như thế này thì anh ấy cũng không đồng ý: “Bây giờ thì cậu cũng yếu rồi, cậu yếu rồi thì để mình chọn cho cậu toàn tập, với tất cả những tìm tòi của cậu để người ta có một cái nhìn chung về tất cả những tìm tòi của Trần Dần”.  Nhưng anh Dần muốn in tập Cổng tỉnh thì tôi cũng phải chiều anh ấy thôi. Nhưng chắc là thế nào cũng có một lần tôi phải prendre en main (đích thân làm) chuyện này, tôi sẽ đọc lại hết thơ của anh Trần Dần và tôi sẽ cố gắng làm sao mà xuất bản một tuyển tập của anh ấy, chọn trong cái toàn tập của anh ấy, để mọi người có thể thấy được cái tìm tòi của anh ấy như thế nào. Về anh Dần thì rất khó chị ạ, vì mọi người nghe tiếng anh ấy rất nhiều, mà tiếng anh ấy rất to. Tôi rất sợ những tiếng to. Tôi đã nói với Dương Tường đấy, với một người như Dần thì không nên dùng những chữ to quá, như những kim tự tháp, hay… gì gì, nghe nó mệt quá. Với những người ấy càng cần phải dùng những gì gần gũi hơn. Tôi rất tiếc. Tôi có nói với cháu Vũ, tức là con anh Trần Dần: “Có lẽ hôm nào hai bác cháu mình phải làm cái việc ấy, tức là chọn lại tất cả các tác phẩm của bố cháu, và trình bày trong tất cả quá trình nó đi như thế nào, để mọi người biết là bố cháu đã tìm tòi như thế nào”. Tôi phải nói, anh Dần cũng có cái này không thuận lợi là từ năm bẩy mươi mấy anh ấy đã bị nhũn não rồi. Lúc mới nhũn não anh còn làm được, nhúc nhắc được nhưng mà bệnh ấy cứ dần dần lan ra cho nên độ nhạy bén của anh ấy cũng sút đi, thành ra bây giờ tôi coi đấy là cái nợ mà tôi phải trả đối với anh Trần Dần. Lúc nào, khi tôi đã xem hết, thì có lẽ tôi sẽ trả lời chị một cách thỏa đáng hơn.

– TK: Bây giờ xin anh kể về công việc tìm tòi thi pháp mới của anh. Anh đã đi theo con đường tư tưởng như thế nào?

– LÐ: Thì tôi cứ đọc, đọc lung tung hết, nhất là tôi đọc lại Freud, đọc lại… rất nhiều và tôi chú ý nhất đến cái vô thức. Tôi cho là thơ của thế kỷ XVIII nặng về trí tuệ, đến thế kỷ XIX nó trả lại cho con người một dimension (chiều kích) nữa, là dimension về tình cảm. Nhưng thế kỷ XIX chỉ đứng ở đấy thôi và đến thế kỷ XX nó mới trả lại cho con người một dimension nữa, tôi cho cái dimension ấy là vô thức, tôi đọc lại Freud rất nhiều. Tuy rằng Freud tôi đã đọc từ khi đi học nhưng cũng chỉ đọc một cách vội vã thôi, bây giờ mình đọc lại; sau tôi cũng rất thích Lacan, rồi đọc những Barthes thì ông ấy đều nói tức là phải có một cái gì nó autre (khác), một cái vô thức, mà lúc ấy thì tôi cũng chưa biết vô thức là như thế nào cả.

Lúc ấy tôi thấy các ông structuraliste  (nhà cấu trúc học) nói về ngôn ngữ học, mà kiến thức của mình về ngôn ngữ học kém quá, tôi lại phải lên thư viện trên gác, là thư viện khoa học tự nhiên, tôi đọc ngôn ngữ học, tôi đọc Saussure như thế nào, vất vả lắm. Cả khi người ta đặt dịch điều khiển học tôi lại phải tìm hiểu cibernétique (tự động học). Tôi lên thư viện trên gác, những gì mình không hiểu thì hỏi những người quen trên ấy, như thế là trong thời gian đó mình học được rất nhiều, rồi khi nào nó thành hình, tôi cũng không rõ. Chị là người duy nhất mà nói về thơ tôi rõ ràng hơn tôi. Tôi nói thật đấy, vì khi làm, tôi cũng mù mờ cả thế thôi, tôi chỉ nghe, chỉ dựa vào một câu của Lacan, tức là: “L’inconscient est structuré comme un langage” (Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ). Tóm lại, tôi tìm học ngôn ngữ rất nhiều, nhưng càng ngày tôi càng thấy làm thơ là chống lại ngôn ngữ học, cụ thể là ngữ pháp. Làm thơ nô lệ ngữ pháp là thơ vứt đi. Aragon đã tỏ ra rất sâu sắc khi phát biểu  “Tất cả bắt đầu bằng một lỗi ngữ pháp”.

Chính tôi làm lúc đầu cũng run tay lắm, tại vì mình thấy tự nhiên mình nói một thứ ngôn ngữ không phải là ngôn ngữ của mọi người. Ở Dần tôi còn thấy cái ngôn ngữ là ngôn ngữ của mọi người. Điểm đầu tiên là tôi không đưa thơ cho Dần và Hưng xem như ngày xưa nữa, tại vì tôi nghĩ: đưa cho họ cũng chẳng có tích sự gì, họ lại góp ý, có khi mình lại phải theo ý kiến của họ mà mình chưa tin thì làm sao mình theo họ được. Sau này, khi tôi in mấy bài rồi -khi đã phục hồi rồi- thì Dần có lên gặp tôi, nói rằng: “Được, nhưng mà hơi kỹ quá”. Tôi cũng không hiểu là anh ấy có ý gì, tôi cũng không hỏi nữa, mà lúc ấy tôi đã thành hình rồi, tôi chắc không ai thay đổi tôi được nữa.

Tóm lại là tôi thấy cần phải có vô thức, và tôi đi tìm nó. Tôi không có cái đinh ninh của người trưởng môn, cho nên lúc nào tôi cũng lo lắng, hồi hộp, chắc chị biết đó. Cho nên đến khi tôi đọc bài Tạo sinh của chị thì tôi mới lại tiếp tục nghiên cứu lại những bài mà tôi được đọc để cho nó sáng tỏ ra – cười. Không, tôi nói thật đó -cười- chứ còn khi tôi viết thì đúng là tôi cũng không có nghĩ gì. Lẽ dĩ nhiên tôi là một người nặng về lý luận, cũng như anh em đều cho tôi là một người lý luận rồi, nhưng mà nói một cách rõ ràng, formuler (bày tỏ) một cách rõ ràng như thế thì đúng là lúc đó tôi cũng chưa formuler được. Tôi đã đọc Saint John Perse, tôi đọc René Char, tôi đọc Francis Ponge, nhất là Ponge, tôi đọc rất nhiều. Tôi thấy công lao của Ponge về vấn đề ngôn ngữ nhiều lắm. Nhưng mà theo tôi, thì mình phải đi xa hơn họ. Trong lúc đó tôi đọc cả Nouvelle Poésie Française, tôi cũng đọc lại thơ Đường rất nhiều và trong thơ Đường nhiều cái rất hay mà tôi thấy nó rất hiện đại cho nên trong thâm tâm tôi, tôi vẫn muốn làm thế nào mà có thể kết hợp được thơ Á Đông với thơ Tây phương. Đó là một chủ trương, nhưng tôi không biết chủ trương ấy phải thực hiện như thế nào thôi. Tôi không thích một số người, trước thì cái gì cũng ca ngợi Tây phương hết lời; đến khi người Tây phương ca ngợi Á Đông thì quay lại cho Tây phương là vứt đi, chỉ có Á Đông mới là sang trọng. Tôi cho rằng Á Đông cũng sang trọng mà Tây phương cũng sang trọng, nhưng mình phải biết đúng chỗ nào thôi. Cho nên điều mong muốn nhất của đời tôi -không biết có thực hiện được không- là làm sao tôi có thể làm được những câu thơ mang tất cả những tìm tòi của Tây phương kết hợp với những tìm tòi của Đông phương, thì đó là con đường thơ của tôi. Đến đâu thì chưa biết.

– TK: Thưa anh, thơ anh còn một đặc điểm khác hẳn thơ của những người khác, đó là anh dùng ít chữ lắm và thơ anh không rõ nghĩa như thơ những người khác. Cho nên đọc thơ anh không phải là dễ. Vậy xin anh giải thích thêm một chút về vấn đề này.

– LÐ: Tôi đã nói với chị cái đạt được ấy nhiều khi nó cũng vô thức lắm. Tôi rất thèm muốn được có cái hữu thức sáng suốt như anh Trần Dần, vốn tôi lại không có. Nhưng trong khi suy nghĩ để tìm cái vô thức ấy, thì tôi đọc rất nhiều, như trên tôi vừa nói, không những tôi đọc thơ Đường, đọc Nouvelle Poésie Pháp, mà tôi còn đọc rất nhiều ca dao, và đặc biệt là những bài hát trẻ con. Tôi mới thấy rằng: chữ nghĩa hình như người ta tách nó ra khỏi nguồn gốc sinh thành của nó nhiều quá. Vì thế cho nên chị thấy trong thơ tôi có rất nhiều nguyên âm, như thể là chữ (của tôi) nó nấn ná lắm, nó chưa muốn ra khỏi cái nôi của mẹ nó. Tôi vẫn cho rằng rạch ròi là bệnh xấu của thơ. Tôi thấy hình như chữ nó gần gụi với nhau lắm và nó không muốn chia tay nhau ở trên một trang giấy, thành ra, chị xem, thơ tôi hay lẫn lộn và hay có nhiều nguyên âm. Tôi vẫn cho rằng: mỗi câu thơ ấy, thường những chữ nó đều ở ngã ba, ngã tư chữ cả. Khi đọc những ngôn ngữ cổ, tôi thấy ngôn ngữ cổ rất ít tiếng, đôi khi một tiếng có hai nghĩa trái ngược hẳn nhau, tôi rất thích thứ ngôn ngữ như thế, tại vì hình như ngôn ngữ càng ngày càng muốn rạch ròi quá. Riêng tôi, tôi vẫn nghĩ hình như cái chữ khi nó ra khỏi im lặng, nó vẫn tiếp tục sự im lặng đó. Không biết khi đọc thơ tôi chị có thấy thế không, nhưng mà thơ tôi, những cái chữ nó ra, hình như nó đều bất đắc dĩ cả và nó nối tiếp cái im lặng mà ở trong đó nó thoát thai ra. Vì thế đọc thơ tôi nhiều người nói câu này, không biết chị có đồng ý không:  “Thơ như một người nói nhịu ấy”. Mà nếu nói nhịu như thế thì hay tại vì, chắc là như chị cũng biết Freud phát hiện được cái vô thức là do nghiên cứu cái nói nhịu ấy thôi. Thì tôi cho rằng qua cái nói nhịu ấy, may ra mọi người phát hiện được cái vô thức của mình thì cũng rất tốt.

– TK: Xin anh một lời kết cho toàn bộ câu chuyện dài về NVGP của chúng ta.

– LÐ: Tôi muốn nói mấy điểm thế này chị ạ, chị thấy thời gian sống của Nhân Văn không lâu, chỉ có mấy tháng giời thôi, mà cũng chỉ có mấy số báo thôi, nhưng làm sao nó để lại một ảnh hưởng sâu đậm như thế? Làm sao chỉ có mấy người -lúc bắt đầu Giai Phẩm Mùa Xuân chỉ có mấy người- mà mấy người cũng rất trẻ, sau đó phong trào Nhân Văn trở thành một phong trào rộng lớn, một bên là phong trào sinh viên rất đông, hai là một số giáo sư đại học, tất cả hợp thành giới trí thức nói chung. Mà chẳng có bộ máy gì cả, chẳng có quyền lợi gì cả, không hứa hẹn gì cả, chẳng có huân chương cho ai cả, chỉ có một đám người như thế đứng lên, thì cái đó là điều làm cho mình phải suy nghĩ. Như thế mới thấy là cái khao khát của những người trí thức muốn đóng góp cho đất nước rất sâu sắc. Lúc bấy giờ mọi người đều đóng góp, có được tiền nong gì đâu, mà đóng góp lúc ấy rất nguy hiểm. Thì tôi thấy những người lãnh đạo nước Việt Nam phải lưu ý: Tại làm sao, thời ấy, một nhóm người rất nhỏ có thể huy động được nhiều trí thức như thế? Làm sao một bộ máy lớn như bộ máy nhà nước mà không huy động được trí thức trong vấn đề xây dựng đất nước, bây giờ? Nếu những người lãnh đạo đất nước bỏ tất cả những bực dọc, bỏ tất cả những định kiến đi, mà suy nghĩ về vấn đề NVGP, tôi chắc họ cũng học được rất nhiều, nhất là bây giờ người ta đang nói nhiều đến chất xám. Chất xám trở thành cái vốn rất lớn, nhưng sự huy động chất xám chưa được bao nhiêu cả. Thế mà làm sao thời kỳ Nhân Văn chỉ có một nhóm người, lại huy động được cái chất xám lớn lao như thế? Mà chỉ trong một thời gian ngắn đã trở thành một lực lượng thực sự. Nếu những người có thẩm quyền của nước Việt Nam bây giờ thực sự suy nghĩ về NVGP, để làm sao có thể huy động được giới trí thức lớn lao như vậy thì đất nước sẽ khá hơn nhiều.

Tại sao bây giờ tất cả những người ở trong nước lại tránh nói đến vấn đề NVGP? Nó là vấn đề lịch sử đã qua rồi. Chúng ta có thể rút kinh nghiệm cho những ngày tới. Tôi thấy việc ấy nên làm lắm. Không ai có thể tịch thu được lịch sử cả, tại vì lịch sử sống dài hơn một con người, lịch sử sống dài hơn một chế độ. Thà mình biết trước, mình làm cho nó thỏa đáng, có lịch sự bao nhiêu không? Bây giờ cứ để cho đến lúc mà… Thường thường khi người ta rút kinh nghiệm lịch sử thì bao giờ cũng quá muộn.

– TK: Xin thành thật cảm ơn nhà thơ Lê Đạt.

Toàn bộ buổi nói chuyện với nhà thơ Lê Đạt, thu thanh ngày 13/4/1999 tại Paris và phát thanh nhiều kỳ trên đài RFI từ 8/5/2004 đến 19/6/2004.

[1] Ngày nay là Uỷ Ban Văn Hoá Tư Tưởng Trung Ương.

[2] Tên thật của Tố Hữu.

[3] tức là đợt học tập 18 ngày trong tháng 8/1956.

[4] Thực ra bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ của Phan Khôi đăng trên  Giai Phẩm Mùa Thu, tập I.

[5] Bài này không quan trọng, Phan Khôi trả lời báo Cách mạng quốc gia, một tờ báo của chính phủ miền Nam có ý mỉa mai Phan Khôi theo Việt Cộng.

[6] Lê Đạt nói 2 bài: như vậy một bài đăng Nhân Văn Số 5 chúng ta đã biết, còn bài đăng số 6, bị đình lại ở nhà in.

[7] Thực ra thì báoVăn số 36, bị đình bản vì bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

[8] BNVGPTTADL, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959, trg 309.

[9] Thực ra Hoàng Cầm bị giam 18 tháng.

[10] Deuxième Bureau là Phòng Nhì.

[11] Nguyễn Huy Tưởng.

[12] Phùng Quán.

 

Nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm

Những buổi nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm về đời văn của ông từ thời thơ ấu qua những giai đoạn cách mạng kháng chiến, thời kỳ NVGP, thời kỳ đổi mới đến ngày nay, được thu thanh nhiều lần qua điện thoại viễn liên Paris-Hà Nội và phát thanh trong nhiều dịp khác nhau trên đài RFI, lần đầu tiên ngày 14/1/96 và gần đây nhất, đầu năm 2007 khi Nguyễn Hữu Đang qua đời.

Phần ông nói về NVGP đã được ghi lại trên Hợp Lưu số 81 số đặc biệt về NVGP tháng 2-3/2005 và về Nguyễn Hữu Đang, trên HL số 94, tháng 4-5/2007, số tưởng niệm Nguyễn Hữu Đang.

Chúng tôi soạn lại và ghi toàn bộ các cuộc nói chuyện với Hoàng Cầm, không theo trình tự phát sóng mà theo trình tự những diễn biến đã xẩy ra trong đời Hoàng Cầm, để bạn đọc có thể nhìn thấy những dữ kiện nối tiếp nhau.

Nói chuyện với Hoàng Cầm, điện thoại thường không bị cắt, trừ lần cuối, ghi âm ngày 8/2/2007, Nguyễn Hữu Đang vừa mất, Hoàng Cầm muốn kể lại rõ ràng hơn về Nguyễn Hữu Đang và NVGP, nhưng thu thanh được gần một giờ, vì thấy ông mệt, chúng tôi hẹn lại ngày hôm sau, nhưng từ ngày sau, điện thoại bị nhiễu không thể tiếp tục thu được giọng ông nữa. Đó là lần cuối cùng chúng tôi được tiếp xúc với nhà thơ Hoàng Cầm.

● Thời thơ ấu và cảm hứng thi ca

 – TK: Thưa anh Hoàng Cầm, trở lại những ngày anh bắt đầu làm thơ, anh đã đến với thơ trong trường hợp như thế nào ạ?

– HC: Bây giờ tôi mới nghiệm ra là hình như tôi là thơ bẩm sinh thì phải, hình như là thơ đã nhập vào người tôi từ lúc tôi còn là cái bào thai. Không biết là có đúng không. Mà ngay từ khi tôi biết được khách quan tức là có ý thức được rằng mình đang ở đâu, bố mẹ mình thế nào, rồi chung quanh mình thế nào, tức là từ năm lên 5 tuổi.

Lúc bấy giờ gia đình tôi ở môt phố xép, bên cạnh đường số 1, còn 6 cây số nữa mới đến thị xã Bắc Giang. Nhà tôi có một cái tủ thuốc của ông bố tôi làm cụ lang chữa bệnh, với lại một cái bồ hàng xén của bà mẹ tôi, thường thường là gánh đi bán ở các chợ chung quanh mấy xã đó, là huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang.

Sống nghèo nàn như thế thôi. Không hiểu sao khi tôi lớn lên một chút thôi, tức là từ năm lên 5 tuổi, luôn luôn tôi cứ mơ mộng về những đám mây, nó cứ đi, nó cứ bay rồi nó về một ngọn núi xa xa là dãy núi Nham Biền ở tỉnh Bắc Giang đấy. Ðằng sau đường xe lửa đi độ vài trăm mét thì có một con ngòi, khi mùa nước lũ nó cũng to, mùa khô thì có thể lội qua được. Tôi hay ra bờ con ngòi đó. Mình cứ mơ mơ màng màng vào con sông đó, cái ngòi đó, cứ trôi mà không biết trôi về đâu. Có khi mình thả những con thuyền, lấy một cái lá đa bó nó lại như hình con thuyền ấy, rồi mình thả cho nó trôi. Ðể muốn nói rằng, thời thơ ấu của tôi cho đến khi tôi học hết tú tài thì cái nghiệp thơ đã định vào người tôi từ quá sớm. Mà tôi sống rất cô đơn, ở một xóm quê, cứ thơ thẩn trên cái đường làng hiu hắt như thế cho đến bây giờ 77 tuổi, tức là 70 năm. Bởi vì tôi cũng bắt đầu làm câu thơ đầu tiên vào năm lên tám tuổi. Cái nghiệp thơ ấy nó cứ theo đuổi tôi suốt bảy chục năm. Có thể nói là không có một ngày nào, tôi buông rời được cái hồn thơ của tôi.

– TK: Anh có thói quen làm thơ vào những lúc như thế nào? Ban ngày hay ban đêm? Hay là phải những giờ phút đặc biệt mà anh có cảm hứng?

– HC: Không hiểu làm sao mà cái hồn thơ của tôi nó cứ luôn luôn đêm nào cũng thế, nó cứ thao thức ở trong người. Có lúc thì bật ra được bài thơ. Mà không chăng nữa thì nó cũng vẫn là những giấc mê hoặc những mơ mộng, hoặc những nguyện vọng, những ao ước. Nó luôn luôn bám lấy tôi, nhất là về ban đêm. Và cũng phải nói một điều là từ lúc biết làm thơ, chưa bao giờ tôi làm thơ ban ngày hay chưa bao giờ tôi làm thơ theo một chủ đề định sẵn. Cứ tự nhiên nó đến, rồi tự nhiên nó đi. Không hề có một sự cố gắng tìm tòi chữ nghĩa hay bố cục gì cả. Tất nhiên là cảm xúc đầu tiên có ghi ra giấy, sau đó là cái thời gian phải nâng cao lên, tức là chọn chữ hoặc thay đổi chữ nọ, nhịp kia… thì tất nhiên phải làm. Và cái giai đoạn này nó đã bắt đầu ngay từ lúc còn thơ ấu.

– TK: Nếu bây giờ tóm tắt lại thời thơ ấu của anh trong mấy nét chính thì anh thấy có những mấu chốt nào cần ghi lại?

– HC: Thời thơ ấu thì chỉ tóm tắt lại như thế này: Cái thời thơ ấu có bốn vấn đề lớn: Một là cái tuổi thơ, thấy cô đơn ngay từ bé. Điểm thứ hai: tuổi thơ sớm phát triển dục tính, tức là biết yêu từ năm lên tám. Đặc điểm thứ ba, anh muốn nói đến một nhà xuất bản -tức là nhà xuất bản Tân Dân- vì từ thời thơ ấu cho đến khi hết đi học, đang học tú tài, anh đã tham gia nghề văn rồi. Đó là một nhà xuất bản lớn của ông Vũ Đình Long, và cho đến bây giờ thì anh nhận định rằng đó là một nhà xuất bản rất có công với văn học Việt Nam, là một. Thứ hai nữa, là cách đối xử với văn nghệ sĩ, ông Long đối xử một cách tử tế, vừa công bằng, vừa hợp lý nhưng đồng thời cũng có tình nữa, đó là điểm thứ ba. Điểm thứ tư, cái khuynh hướng của anh lúc ấy là khuynh hướng làm thơ, có thể nói là quá sớm đi. Như người ta, lúc bắt đầu mới vào nghiệp văn thơ, thường làm lung tung cả chứ chưa ấn định được; ngược lại, ở Hoàng Cầm, thơ là cái nó bắt vào ngay. Từ lúc lên tám, lên chín, cái hướng về thơ đã hình thành một cách khá rõ nét. Đó là bốn đặc điểm của thời kỳ thứ nhất.

– TK: Thưa anh, sang thời kỳ thứ hai là thời kỳ trưởng thành, sự nghiệp thi ca của anh bắt đầu như thế nào?

– HC: Sang thời kỳ thứ hai là thời kỳ Cách Mạng và Kháng Chiến, có hai tác phẩm đánh dấu thời kỳ bấy giờ. Một là về thơ, nhưng thơ lại đi sau một ngành khác tức là ngành Kịch Thơ và anh rất say mê kịch thơ. Cho nên đã viết từ năm 1937 -lúc bấy giờ anh mới học năm thứ ba trường Cao Đẳng Tiểu Học ở Bắc Ninh- thì anh đã viết kịch thơ đầu tiên tức là kịch Hận Nam Quan, kịch thơ đầu tiên và diễn ngay ở trong lớp. Đến năm 1942, viết một vở kịch thơ mà cho đến bây giờ, kể cả các người ở sân khấu, các nhà nghiên cứu, các nhà phê bình, đều đánh giá là vở kịch thơ xuất sắc nhất của Hoàng Cầm, đó là Kiều Loan, viết năm 1942.

Nhưng vở kịch thơ ấy có một số phận khá long đong, nghĩa là từ lúc viết đến lúc in ra lần thứ nhất, là đúng nửa thế kỷ: Viết năm 1942 mà mãi đến năm 1992 mới in được toàn bộ. Còn về diễn thì chỉ diễn được đúng một buổi ở Nhà Hát Lớn Hà Nội, vào khoảng cuối tháng 11 năm 1946. Vừa diễn xong thì có lệnh phải hoãn, vì lúc bấy giờ chiến tranh Việt Pháp sắp nổ ra và tình hình Hà Nội lúc bấy giờ rất căng thẳng: luôn luôn có những vụ bắt cóc, những vụ nổ súng, nổ lựu đạn, v.v… tức là cuối tháng 11 cho đến 19 tháng 12 thì nổ ra cuộc kháng chiến toàn quốc.

Cũng vì cái kịch thơ đó, mà viên chánh sứ người Pháp tên là Luciani đã ra lệnh trục xuất Hoàng Cầm khỏi tỉnh Bắc Giang. Khi về Hà Nội, lại đưa vở kịch ra phòng kiểm duyệt, thì cũng lại một viên chức cao cấp của Pháp tên là Cousseau, sau này người ta bảo, hắn là chủ nhiệm phòng Tuyên Truyền và Báo chí, Chef de l’IFP tức là Information Presse et Propagande, kiểm duyệt bỏ cả bốn hồi kịch thơ. Đó là giai đoạn Cách Mạng và Kháng Chiến, bắt đầu bằng Kịch Thơ.

– TK: Thưa anh, như vậy tức là Thơ Hoàng Cầm đến sau Kịch thơ và có thể nói rằng những bài thơ đầu tiên của anh gắn bó với kháng chiến và nó đánh dấu cho một giai đoạn lịch sử.

– HC: Có thể nói là những bài thơ ấy đánh dấu cái thời kỳ cả nước chống thực dân Pháp, đó là bài Bên Kia Sông Đuống, nó cùng thời với những bài Tây Tiến của Quang Dũng, rồi độ hai năm sau, tới bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Rồi một ít lâu nữa thì đến bài trường ca Việt Bắc của Trần Dần. Lúc bấy giờ anh Lê Đạt chỉ mới bắt đầu -làm thơ- vì anh ấy trước tiên là cán bộ Tuyên Huấn. Đầu tiên anh ấy là bí thư riêng về văn nghệ cho ông Trường Chinh. Đến năm 49 thì Trường Chinh cử Lê Đạt sang làm trợ lý cho ông Tố Hữu vì ông Tố Hữu được đảng phân công phụ trách toàn bộ vấn đề văn nghệ của thời kỳ kháng chiến. Nhưng một mình ông ấy thì khó mà lãnh đạo được những văn nghệ sĩ nổi tiếng và sừng sỏ -có thể dùng một từ như thế- như Nguyễn Tuân, rồi Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khóat, Đoàn Phú Tứ v.v… tức là những người đã có tiếng tăm lớn rồi. Rồi thì cả những nhà văn cũng xuất hiện, nhưng là những nhà văn rất có tài như Nam Cao chẳng hạn, thì với một lực lượng văn nghệ sĩ như thế, mà lãnh đạo, theo ý ông Trường Chinh -cái này là anh Lê Đạt nói chuyện với anh về sau này- thì sợ rằng ông Tố Hữu không đủ lực để lãnh đạo một số văn nghệ sĩ vừa có tài và vừa có tên tuổi như thế, cho nên mới cử anh Lê Đạt sang làm trợ lý cho ông Tố Hữu, đấy là năm 49, và cử anh Đặng Đình Hưng thành lập Đoàn Văn Công Nhân Dân Trung Ương. Bởi vì lúc bấy gìờ đoàn Văn Công Quân Đội do Hoàng Cầm phụ trách là có 200 diễn viên, toàn là những diễn viên ưu tú tập họp lại chung quanh Tổng Cục Chính Trị. Hoàng Cầm phụ trách đoàn đó có từ năm 1952. Ông Trường Chinh thấy thế nên có ý kiến rằng: Quân đội có đoàn văn công lớn như thế, mạnh như thế thì ngoài nhân dân cũng phải có một đoàn tương tự. Ông Trường Chinh bèn giao cho Đặng Đình Hưng đứng ra lãnh đạo một đoàn. Đoàn ấy gồm những diễn viên, những nhà đạo diễn nổi tiếng như Thế Lữ… có những tác gia như Thế Lữ, Lưu Quang Thuận, rồi thêm những tác giả âm nhạc như Lê Yên, Trọng Bằng v.v… Đó là một đoàn rất lớn và gồm những diễn viên trứ danh như Song Kim, Trúc Quỳnh v.v… Anh Đặng Đình Hưng lại được phân công ra làm đoàn trưởng kiêm chính trị viên đoàn Văn Công Nhân Dân Trung Ương, ấy là từ năm 52. Đấy là sơ qua lịch sử của vài đoàn văn công như thế.

– TK: Thời ấy anh có ba bài thơ nổi tiếng, đó là Đêm Liên Hoan, Tâm Sự Đêm Giao Thừa và Bên Kia Sông Đuống. Thưa anh, anh đã sáng tác những bài thơ này trong những hoàn cảnh như thế nào?

– HC: Đầu tiên là bài Đêm Liên Hoan, là sau khi cả hai vợ chồng Hoàng Cầm và Tuyết Khanh, lúc ấy Tuyết Khanh đã có mang Kiều Loan được ba, bốn tháng rồi, thì lúc bấy giờ hai vợ chồng nhập quân đội vào giữa năm 47, Tuyết Khanh vẫn hát và ngâm thơ trong lửa trại cũng có mà trên sân khấu cũng có. Đến tháng thứ 7, thứ 8 mới nghỉ. Hoàng Cầm có làm bài thơ đầu tiên khi mới vào quân đội là bài Đêm Liên Hoan. Làm bài Đêm Liên Hoan như thế nào? Phải nói là có một cuộc gặp gỡ giữa hai tiểu đoàn quân đội tức là tiểu đoàn miền ngược gồm các chiến sĩ miền núi, và một tiểu đoàn miền xuôi tức là những chiến sĩ nông dân các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh. Hai tiểu đoàn chủ lực gặp nhau kéo dài tới hơn 10 ngày để tập luyện, trao đổi kinh nghiệm chiến đấu để trở thành những tiểu đoàn chủ lực vững vàng của Việt Bắc. Cuộc gặp gỡ đó anh gọi là Liên Hoan. Chữ liên hoan này không phải do Hoàng Cầm đặt ra mà chính là của phòng chính trị lúc bấy giờ người ta gọi như thế, là có những cuộc liên hoan tức là vui chung giữa các tiểu đoàn với nhau. Chính người trưởng phòng chính trị lúc bấy giờ có mời anh lên nói chuyện và yêu cầu anh hẳn hoi, là anh làm thế nào làm cho bài thơ để động viên hai tiểu đoàn đó trong cuộc gặp gỡ độ mươi ngày để họ phấn chấn, phấn khởi tinh thần để tập luyện, để trao đổi kinh nghiệm chiến đấu. Lúc bấy giờ mới vào quân đội thì người ta hào hùng lắm. Người ta rất hào hùng và tinh thần yêu nước ngự trị toàn bộ văn nghệ sĩ đi kháng chiến lúc bấy giờ.

Lúc bấy giờ thực sự là cũng chưa hiểu đảng là thế nào, mà với cụ Hồ thì cũng chỉ cho cụ là người lãnh tụ làm thế nào để lo được cái độc lập cho dân tộc, thế thôi, chứ cũng không hiểu đảng Cộng Sản, thậm chí sách cộng sản Hoàng Cầm cũng không đọc gì cả. Thậm chí đến cái mức như thế này cơ mà: Ví dụ khi đi công tác thì có anh ở ban hành chính, anh ấy bảo: “Anh lên chỗ hành chính mà lấy công tác phí đi”. Hoàng Cầm không hiểu chữ công tác phí là thế nào. Tại sao lại công tác? Tại sao lại phí? Thế rồi đến những chữ mà bây giờ quá ư là quen thuộc, ví dụ như chữ thường xuyên chẳng hạn, lúc bấy giờ cũng rất lạ tai. Chữ công tác này, chữ thường xuyên này, chữ khai hội này, những chữ mà sau này thành quen nhưng mới đầu thì chính Hoàng Cầm cũng bỡ ngỡ, bảo quái, sao lại công tác, lại công tác phí? Thế rồi  sinh hoạt, lại sinh hoạt phí. Tức là những từ ở bên Trung quốc nó nhập cảng vào, thành ra nghe lúc đầu rất bỡ ngỡ, sau mới quen. Thế đủ biết rằng lúc đầu ấy, phần lớn văn nghệ sĩ, hay nói riêng Hoàng Cầm, trong người chỉ có mỗi một cái hào hùng, khí tiết phải đánh giặc.

– TK: Theo anh thì vì sao, cái động lực nào đã thúc đẩy thanh niên thời ấy xung phong đi chống Pháp với một tâm trạng hào hùng như vậy?

– HC: Bởi vì riêng cá nhân Hoàng Cầm, đối với Pháp, thì cũng đã cực kỳ không có cảm tình. Tại sao? Bởi vì nhìn chung thì anh ta cậy mạnh đến cai trị nước mình. Mà quả thật mắt mình trông thấy, mình nghe thấy toàn những chuyện dân đói khổ. Nhất là năm 45 đấy, chính mắt mình trông thấy người chết đói đầy đường, rải rác khắp từ Hà Nội ra các ngả đường. Xác người chết đói đầy ra và mình xúc cảm lắm về những chuyện ấy. Nhưng đất nước đau khổ như thế nào mà bây giờ thực dân Pháp lại còn muốn quay trở lại để ngự trị, để thống trị ở cái đất nước này thì không được, không ai có thể chấp nhận điều đó được. Cho nên khi mới đi kháng chiến với một tâm trạng đầy khí phách, hào hùng nên anh mới viết bài Đêm Liên Hoan phản ánh đúng tinh thần văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Rồi thanh niên hoặc trí thức nói chung, như Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Trung, rồi các giáo sư như Đặng Văn Ngữ và nhiều văn nghệ sĩ ở các ngành khác, cả các giáo viên cấp ba, cấp hai, ai cũng rất hào hứng đi đánh giặc. Thậm chí là tự tay mình đốt nhà mình, tự tay mình phá đi, nhất quyết không để cho giặc chiếm đóng. Và lên rừng sẵn sàng ăn cơm với muối, không có cả gạo nữa thì sẵn sàng ăn cả củ mài. Thậm chí là anh đây này, Hoàng Cầm đây này, bảy ngày ăn gì nào? Đố biết… Ăn… Ăn cái củ nâu ấy mà. Củ nâu để nhuộm ấy, lấy cái củ nâu non, bởi vì củ mài đào cũng hết rồi, ở các rừng măng, nứa đấy. Măng nứa, măng mai này là ăn vãn hết rồi. Mà đói quá, bởi vì năm 49 là năm đói nhất đấy mà chính ra vợ Hoàng Cầm là một, con gái Hoàng Cầm là hai, chỉ vì đói, ăn lung tung cả mới sinh bệnh mà chết. Hai mẹ con chết liền trong một tuần lễ trong lúc tản cư năm 49 đấy. Thì gia đình anh đã đóng góp cái máu đó là hai người: vợ và con. Rồi đến năm 52, đóng góp một giọt máu nữa cho kháng chiến chống Pháp là người em ruột của Hoàng Cầm, nó cũng rất có tài về văn nghệ. Nó làm đạo diễn kịch được, viết kịch được, đặc biệt là diễn cũng rất khá. Hoàng Cầm đã cử nó làm đại đội trưởng một đội văn công Tây Bắc, tức là Sơn La, Lào Kai, Lai Châu thuộc quân đội, gọi là đội Văn Công Tây Bắc. Cậu ấy đi đánh phỉ và bị phỉ nó sát hại, cả một đội văn công 12 người, chết hết. Nhà chỉ có hai anh em, người em cũng đi bộ đội như người anh và đã hi sinh năm 52. Nghĩa là gia đình anh đóng góp vào cuộc kháng chiến đó: một người vợ, một đứa con gái và một người em ruột. Còn bản thân anh thì trèo đèo, lội suối khắp các mặt trận, chỗ nào cũng đem cái đoàn văn công của mình đi biểu diễn. Đóng góp vào cuộc kháng chiến như vậy, ngoài sáng tác của mình.

● Bên kia sông Đuống

– TK: Thưa anh, kỳ trước anh đã nói về hoàn cảnh sáng tác bài thơ đầu tiên trong thời kỳ kháng chiến đó là bài Ðêm Liên Hoan, bây giờ xin anh kể tiếp về hai bài Tâm Sự Đêm Giao Thừa và Bên Kia Sông Ðuống.

– HC: Bài đầu tiên là bài Ðêm Liên Hoan, thì chỉ trong vòng nửa tháng bài ấy nó truyền tụng khắp các đơn vị ở Việt Bắc. Sau đó đến bài thứ hai là bài Phạm Duy có vẻ mê lắm đấy, ông ấy bảo đó là một bài thơ mà chưa bao giờ có ai làm, là đem cái sinh lý, cái thân thể con người vào trong thơ được, tức là bài Tâm Sự Đêm Giao Thừa: Người lính ấy gác đêm 30 Tết, nhớ nhà muốn mừng tuổi cho con, không biết mừng tuổi cái gì, anh ta tưởng tượng và anh ta nghĩ rằng giá mình lập được chiến công mà cái tin ấy nó đồn đến tai vợ mình, thì vợ mình dù là xanh xao gầy còm, không có sữa cho con bú, nhưng nghe thấy tin chồng lập chiến công, thì sữa sẽ căng lên đầu vú, “máu chẩy mạnh trong người, vợ tôi cho con bú, con uống mạnh từng hơi, đứa bé no rồi ngủ, xuân ấm nồng trên môi.” Ðó là bài Tâm Sự Đêm Giao Thừa, bài thơ thứ hai được người ta chép, lính chép rồi thuộc khá nhiều.

Ðến bài thứ ba là bài Bên Kia Sông Ðuống thì cũng do một đêm, có ba anh cán bộ chỉ huy của tiểu đoàn, gọi là tiểu đoàn Thiên Ðức -Thiên Ðức là tên chữ của con sông Ðuống- lên bộ chỉ huy ở Thái Nguyên báo cáo về tình hình lúc bấy giờ Pháp đã chiếm hòan toàn bờ Nam sống Ðuống tức là hữu ngạn -sông Ðuống nó chảy từ sông Hồng, nối sông Hồng xuống đến Phả Lại- Pháp chiếm toàn bộ miền Nam sống Ðuống tức là bốn huyện Gia Lâm, Thuận Thành là huyện của Hoàng Cầm, rồi đến Gia Bình, Lang Tài xuống đến Phả Lại. Chiếm toàn bộ mảnh đấy ấy để làm gì? Ðể làm hành lang an toàn cho đường số 5, là con đường Hải Phòng lên Hà Nội. Thế thì tiểu đoàn Thiên Ðức ấy, là tiểu đoàn dân lập. Một anh người làng Hoàng Cầm, anh Vương Văn Trà, anh ấy tự lập ra tiểu đoàn đó, dân nuôi, vẫn cầy ruộng, vẫn làm đồng áng nhưng có những giờ tập luyện quân sự. Rồi sau tiểu đoàn đó đi đánh Pháp thì đánh bằng gì? Có phải dàn trận ra mà đánh được đâu, lúc bấy giờ võ khí làm gì có nhiều, cả tiểu đoàn may lắm mới được mười khẩu súng trường, với mấy cái súng ngắn, chưa có võ khí gì ghê gớm lắm, toàn giáo mác, gậy gộc. Thế mà cái tiểu đoàn đó làm cho địch cũng xiêu liêu suốt từ đầu năm 47 cho đến hết mùa xuân 48. Ðến tháng tư năm 48 địch mới chiếm được hết cái vùng mà tiểu đoàn đó hoạt động, tức là bên kia sông Ðuống.

– TK: Lúc đó anh đang làm gì? Và công tác của anh có liên lạc thế nào với cuộc chiến ở sông Ðuống này ạ?

– HC: Thì anh đang ở với tòa soạn quân báo  Việt Bắc, do anh Nguyên Hồng là tổng biên tập. Hoàng Cầm vẫn phụ trách một đội văn công nho nhỏ, gồm chưa đến ba chục người. Ðội văn công đó ở một xóm, gần xóm của tòa báo này. Nhưng anh cứ thích, đêm thì cứ thích sang ngủ với anh Nguyên Hồng, với anh em trong tòa soạn, chuyện trò hợp hơn. Thế thì đêm hôm ấy là đêm ông Lê Quảng Bá, chỉ huy trưởng mời anh sang nghe báo cáo. Có anh Vương Văn Trà là người chỉ huy tiểu đoàn Thiên Ðức ấy và mấy anh chỉ huy phó, lên báo cáo. Hoàng Cầm nghe từ chín rưỡi cho đến gần khoảng độ một giờ khuya, anh ấy báo cáo hết những trận đánh và những cái địch tràn lên chiếm hữu ngạn, tức bờ nam sông Ðuống như thế nào. Anh ấy báo cáo rất tỉ mỉ, từng làng một, chỗ nào đánh nhau to, chỗ nào nó đã giết bao nhiêu thanh niên, bắt đi bao nhiêu phụ nữ, v.v… và tôi cho là chính xác nữa, bởi vì anh ấy chỉ huy cả tiểu đoàn, cái tiểu đoàn ấy đánh giặc rất dũng cảm và nhiều thành tích lắm. Nhưng dù sao thì nó cũng bị thiệt hại, bị thương vong cho nên lúc bấy giờ phải lên bộ chỉ huy xin ý kiến để củng cố lại và xin thêm trang bị.

– TK: Thưa anh, bài thơ phát xuất từ động lực gì? Là do sự đòi hỏi của ủy ban chính trị hay là nó bột phát tự chính anh?

– HC: Trong khi anh ấy báo cáo thì trong người của người làm thơ này nó ngổn ngang, phải nói là ngổn ngang. Ðến khi anh ấy báo cáo xong rồi, mình thẫn thờ đi về nhà mình, cách đó độ non một cây số. Về thì anh Nguyên Hồng đã ngủ say và nói chung anh em đều ngủ say cả, lúc bấy giờ đã đến 1 giờ sáng rồi. Bấy giờ người mình nó như một cái gì nó ngổn ngang, không thể nói nó là cái gì được. Chuyện căm thù có, giận dữ có, nhưng cái nổi trội nhất trong tâm trạng mình lúc bấy giờ là sự nhớ thương và đau xót, vì tiếc một vùng đất đẹp như thế, vùng đất cổ xưa mà người ta vẫn gọi là Luy Lâu, nó gần như một cái thủ đô của thời kỳ Bắc thuộc, tức là trong gần một nghìn năm, thì cái chỗ ấy, vùng đất ấy, được coi như là thủ đô của cả đất nước này. Bởi vì ông Kinh Dương Vương, ông tổ của dân tộc này, định cư ở đấy, phải nói thế. Bởi vì, ngay trong huyện anh hiện nay còn có miếu đền, miếu của ông ấy lớn lắm và rất âm u, rất cổ kính, thờ Kinh Dương Vương.

Rồi thì đấy lại là đất mà văn hóa phát triển bắt đầu ở đấy. Ðạo Phật từ Ấn Ðộ sang, cũng ở đấy, xuất phát từ điểm đấy. Rồi đạo Lão, đạo Khổng mà đại biểu là ông Sĩ Vương, Sĩ Nhiếp, đem chữ Hán truyền bá sang Việt Nam thì cũng ở đấy từ thế kỷ thứ hai, đạo Phật thì từ thế kỷ thứ nhất. Phải nói là cả cái vùng mà bây giờ là huyện Thuận Thành, tức là huyện của Hoàng Cầm đấy, đó là một cái nôi về văn hóa, nhưng đồng thời nó là xuất phát điểm của sự xây dựng đất nước là huyện Thuận Thành, trước gọi là Luy Lâu.

– TK: Thưa anh, tất cả những suy nghĩ về lịch sử dân tộc, về con người đó đã tràn ra trong bài thơ như thế nào?

– HC: Thì mọi người đã ngủ say, mình chỉ còn có mỗi ngọn đuốc, ngọn đèn bằng cái lá sở, cây sở, cuộn lá lại, đốt lên, thì khói mù lên trên, ở dưới sáng. Mình cứ ngồi đấy thôi, không ngủ được, vì có nằm mình cũng biết là nằm cũng không ngủ được. Cứ ngồi hút thuốc lào vặt. Lúc bấy giờ khuya lắm, có lẽ đến hơn hai giờ sáng. Bốn bề yên tĩnh, thỉnh thoảng nghe thấy một tiếng gà gáy xa xa hay tiếng một con hoẵng trong rừng, rất xa, mà vắng lặng như thế thì chợt ở bên tai nó vẳng lên như là một tiếng hát, như là một tiếng kêu, như là một tiếng than thở, mà lại giọng nữ, nó vẳng lên ở ngay bên tai mình. Mà không phải là tiếng người mẹ mình, không phải là tiếng vợ mình, không phải tiếng người yêu nào cả, nhưng rõ ràng là giọng nữ, rất trong trẻo lanh lảnh đọc rất chậm chậm mà có âm điệu như thế này:

Em ơi, buồn làm chi

Anh đưa em về sông Ðuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì…

Ðại khái đọc cũng chậm như thế và cũng có tiết điệu như thế. Thì Hoàng Cầm cũng đã có kinh nghiệm là nếu mà lười, không ghi ngay đi thì chỉ ba phút sau, bốn phút sau thôi, muốn nhớ lại không thể nào nhớ nổi một từ nào hết. Cho nên là ghi ngay. Có ba câu ấy thì mình phải ghi ngay. Thế nhưng mà không ngờ rằng ghi xong được ba câu ấy thì nó giống như là một nhát cuốc, cuốc vào cái bờ mà người ta ngăn nước ý mà, như một cái đập chẳng hạn, thì nước nó trào ra, nó trôi rất nhanh. Tất cả những cảm xúc về quê hương, về số phận con người, về người thân của mình, người yêu của mình, lúc bấy giờ nó dồn dập trào ra, thậm chí là anh sợ viết không kịp nữa cơ mà. Mình viết rất nhanh, mình viết ngoáy, chữ nọ đè lấp lên chữ kia cũng được. Thì cứ viết như thế một mạch và cũng có lúc nó ngừng lại một chút thì cũng hút được một điếu thuốc lào, nhưng mà cái mạch đó nó cứ còn nguyên ở trong người mình và sau đó nó lại tiếp tục chảy. Viết như thế vào khoảng độ đến lúc bấy giờ đã nghe thấy tiếng gà gáy sáng rồi, nghĩa là vào khoảng bốn rưỡi, thì đến câu cuối cùng. Tại làm sao mình biết là câu cuối cùng? Bởi vì đến câu ấy thì trong người thấy nó nhẹ hết đi.

Bao giờ về bên kia sông Ðuống

Anh lại tìm em

Em mặc yếm thắm

Em thắt lụa hồng

Em đi trẩy hội non sông

Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh.

– TK: Anh đã sáng tác xong rồi, thì làm gì? Từ lúc xong bài thơ đến lúc bài thơ truyền đi khắp nơi thì truyền bằng gì?

– HC: Thì lúc bấy giờ đặt bút xuống và xuống bếp đun lại một nồi nước chè tươi cho nó nóng lên. Lên đến nơi thì thấy Nguyên Hồng đã có vẻ cựa quậy mà gà thì đã bắt đầu dồn dập gáy sáng tức là 5 giờ rồi. Tang tảng sáng rồi. Thì Nguyên Hồng có thói quen là khi ngủ dậy, anh ấy cứ thế chân đất chạy ra sân tập thể dục, thở phì phà phì phò rồi giơ chân, giơ tay rất ồn ào và có thể nói là rất bắng nhắng nữa cơ, nghĩa là đấm đá ngoài không khí. Thì đấy là một thói quen của ông Nguyên Hồng, cái thói quen rất đáng yêu. Thế lúc bấy giờ anh mới nói rằng là: “Này, Hồng ơi! Có thơ mới đây, mới làm xong đêm nay đây, có nghe không?”

Nguyên Hồng khi nghe nói đến thơ thì anh ấy thích lắm. “Có à? Có thơ à? Ờ, vào nghe ngay nhé!” Anh ấy đấm đá không khí một vài cái nữa là vào. Vào thì anh đọc được ba câu hay bốn câu gì đó, thì Nguyên Hồng bắt đầu khóc. Ðầu tiên còn sụt xịt thôi, nhưng càng đọc thì anh ta càng nức nở khóc, khóc như là một người, xin lỗi Thụy Khuê nhé, như một người phụ nữ bị chồng đánh ấy! Bù lu bù loa, khóc khổ khóc sở, nước mắt dàn giụa cả, rồi lấy vạt áo, lấy tay quệt như trẻ con, trông rất thương nhưng rất đáng yêu. Nhưng bởi vì mình đã quen với cái tính rất mau nước mắt của Nguyên Hồng đấy, cho nên mình cứ đọc, còn việc ông khóc, ông cứ khóc và cuối cùng đọc xong bài thơ cũng phải hết 15 phút thì Nguyên Hồng vẫn cứ khóc sụt xịt rồi sau mới mếu máo nói thế này chứ: “Thôi hôm nay Hoàng Cầm cố nhé, có chép cho mình làm ba bản nhé, để mình gửi đi nhé!” Thế là đúng cả ngày hôm sau mình phải chép thật. Cứ thế mà chép và gửi đi ba nơi, một là báo Sự Thật tức là báo Nhân Dân bây giờ. Hai là báo Vệ Quốc Quân, bây giờ là báo Quân Ðội Nhân Dân. Ba là Hội Văn Nghệ, có một người phụ trách vấn đề văn nghệ thôi là anh Nguyễn Huy Tưởng ở Việt Bắc. Thì đấy, gửi đi ba nơi ấy bởi vì anh Nguyên Hồng có một cái liên lạc riêng thì anh ấy gửi đi nhanh được. Nhưng hai tháng sau không ngờ cái chỗ mà mình không gửi lại đăng bài đó, tức là tháng 6/1948 tờ báo Cứu Quốc do hai anh Tô Hoài và Như Phong đảm đương, cái tờ báo từ Hà Nội chuyển cả máy in vào rừng sâu lắm, mình chả biết ở chỗ nào, chỉ biết là có liên lạc nó đưa đi thôi. Tức là tháng 6 năm 1948 thì bài thơ ấy xuất hiện trên tờ báo Cứu Quốc.

– TK: Đối với anh thì Bên Kia Sông Ðuống có chỗ đứng như thế nào trong toàn bộ tác phẩm của anh?

– HC: Khi bài thơ xuất hiện trên báo Cứu Quốc, lúc bấy giờ in bằng giấy bản, cái giấy bản của ta dùng vào -nói xin lỗi- giấy vệ sinh ấy. Nhưng mà lúc bấy giờ in vào cái tờ báo như thế thì phải nói rằng Hoàng Cầm cảm động vô cùng, khi thấy chữ mình mới viết độ hai tháng nay thôi, bây giờ tất cả như là quê hương nó hiện lên trang giấy này. Cầm tờ báo mà dưng dưng muốn khóc. Ðấy là chỉ có một lần in, ấy là lần đầu. Rồi về sau suốt kháng chiến chống Pháp không in nữa thì chỉ truyền khẩu, truyền khẩu suốt từ Việt Bắc xuống tới khu ba, rồi vào đến khu bốn, rồi vào đến Phạm Duy là ông ấy thuộc hết cả từ Ðêm Liên Hoan cho đến Bên Kia Sông Ðuống, thì ông ấy cứ như thế ông ấy đi ngâm ở các nơi ở khu bốn ấy trong năm 48 đấy. Rồi bài ấy nó lại vào đến tận Phú Quốc, rồi cả Côn Ðảo nữa. Bởi vì sau này những chiến sĩ ở đấy được tha về, họ đều có kể lại là được nghe sông Ðuống từ ở trong ấy là quãng cuối năm 48. Ðó là bài mà cho đến nay vẫn sống được ở trong lòng những người, tất nhiên là những người già, tuổi từ 70 đến 80, mà nhất là trước kia đi bộ đội. Thì đó, anh nghĩ rằng dù sao nó cũng là cái thành công của anh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ðó là thành công đầu tiên, cùng với hai bài kia là gộp lại. Tức là có nửa năm 47 sang đầu năm 48 thì anh được ba bài thơ đó, nó đánh dấu thời kỳ đầu của kháng chiến trường kỳ, thì cảm động lắm và cho đến bây giờ những bà con Việt kiều ở nước ngoài về, nếu máy bay hạ cánh xuống Nội Bài, khi nó xuống thấp rồi thì ai ngồi gần cửa người ta chỉ trỏ chỗ không biết con sông Ðuống nằm ở đâu? Có người cứ nói bừa đi: Kia kìa, nó nằm ở kia kìa, nó ngoằn ngoèo ở chỗ giữa kia kìa, thì đấy là con sông Ðuống. Những chuyện đó nó làm cho mình hết sức cảm động, cũng là nhờ quê hương, nhờ đất nước của mình, đã làm cho mình có được một bài thơ, cũng nhờ trời, nhờ phật, nhờ quê hương mà cho đến hôm nay nó vẫn còn sống, nó vẫn còn sống được ở trong lòng người ta, chứ nó chưa chết. Thì đó là một cái mà anh rất lấy là tự hào và sung sướng.

● Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm

– TK: Thưa anh Hoàng Cầm, sau hiệp định Genève, về Hà Nội anh làm gì ạ?

– HC: Lúc bấy giờ tôi ở quân đội về tiếp quản thủ đô, tôi phụ trách một đoàn văn công. Lúc bấy giờ văn công quân đội chia làm ba đoàn: Thủ Đô, Khu Ba và Khu Bốn. Tôi phụ trách đoàn 1, về tiếp quản Hà Nội. Trong giai đoạn đầu của cuộc tiếp quản thủ đô, độ 3 tháng, thì việc làm thơ của tôi cũng không tiến hành được bao nhiêu, bởi vì công việc của đoàn văn công choán khá nhiều thời giờ. Nhưng đến Tết, cái Tết năm 1955 sang 1956, tôi và anh Lê Đạt bàn nhau là bây giờ ta phải tiến hành một cuộc đổi mới thơ đi. Mà tiến hành đổi mới thơ thì trên các báo của nhà nước nó chật chỗ quá, mình không thể mở rộng được những ý kiến của mình. Lúc bấy giờ nhà nước vẫn để cho các nhà in tư nhân cũng như các nhà xuất bản tư nhân được hoạt động. Thế thì có nhà xuất bản Minh Đức mà người chủ là anh Trần Thiếu Bảo, đã từng là một nhà xuất bản đi theo kháng chiến chống Pháp, ở Khu Bốn, anh ấy đặt trụ sở ở Thanh Hóa. Trong thời ấy anh ấy đã in nhiều sách phục vụ kháng chiến chống Pháp. Về hòa bình, anh lại tiếp tục công việc xuất bản. Anh ấy cũng không có vốn gì lớn lắm, đi vay bè bạn thôi, cũng có thể thỉnh thoảng ra được một vài quyển sách có ích cho lúc bấy giờ. Chúng tôi mới đề nghị với anh Minh Đức là in một tập văn thơ vào mùa xuân năm 56. Cái số đó chúng tôi định ra vào dịp Tết âm lịch tức là sang năm 56 rồi.

– TK: Thưa anh, Giai Phẩm Mùa Xuân có những ai cộng tác?

– HC: Cái Giai Phẩm Mùa Xuân ấy chỉ có mỗi tôi và anh Lê Đạt thôi, bởi vì lúc bấy giờ anh Trần Dần và anh Tử Phác là hai người bạn thân mà cũng là những người muốn đổi mới văn học nghệ thuật, thì hai anh ấy đi công tác Cải Cách Ruộng Đất cách Hà Nội 12 cây số tức là ở bên Yên Viên, không có nhà. Chỉ có tôi với anh Lê Đạt làm. Tập hợp được một số anh em viết bài cho, ví dụ như anh Trần Lê Văn, anh Quang Dũng, anh Hữu Loan, anh Phùng Quán, anh Văn Cao… Lúc bấy giờ tôi và cả anh Lê Đạt đều có giữ bản thảo một bài thơ dài của anh Trần Dần tức là bài Nhất định thắng. Chúng tôi lấy bài đó làm cái xương sống đã, rồi mỗi anh em lại thêm vào đó một số bài. Thì anh em có giao cho tôi nhiệm vụ là thúc đẩy anh Văn Cao làm thơ, bởi vì từ ngày về Hà Nội anh Văn Cao cũng thôi không làm ca khúc nữa mà anh ấy chuyển sang vẽ. Tất nhiên vẽ cũng là một cách tự biểu hiện mình. Nhưng tôi thấy rằng khả năng làm thơ của anh Văn Cao có thể vẫn còn nhiều. Tôi và cả anh Lê Đạt đều biết là anh ấy có khả năng thơ. Bởi vì trước 45, anh ấy có một số bài thơ cũng khá, ví dụ bài Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc chẳng hạn. Đó là một bài thơ có nhiều suy nghĩ mới ở trong thơ ca, mặc dầu cả bài còn nhiều ảnh hưởng rơi rớt của Vũ Hoàng Chương hoặc của Tự Lực Văn Đoàn. Chúng tôi biết thế, cho nên thúc đẩy anh ấy làm thơ chứ không phải là vì một lẽ gì đâu. Mà chính là vì anh ấy cạn kiệt cảm xúc âm nhạc. Đấy là theo ý nghĩ riêng của tôi. Có thể tôi sai. Nhưng tôi cứ nói thật ý nghĩ riêng của tôi lúc bấy giờ không phải là Văn Cao lười, mà cũng không phải là vì một lẽ gì khác mà chính là vì anh ấy cạn kiệt cảm xúc âm nhạc. Thế thì lúc bấy giờ tôi với anh Lê Đạt cứ đùn đẩy nhau về cái việc đối với Văn Cao. Anh Lê Đạt bảo là anh ấy chưa có tiếng tăm gì và trong số bạn chơi với nhau thì anh ấy là người ít tuổi nhất, tất nhiên là chưa có uy tín gì trong số anh em về mặt sáng tác cả. Cho nên anh ấy không muốn thúc đẩy Văn Cao, anh ấy bảo là sợ anh Văn Cao bảo là hỗn, mày nhỏ tuổi thế mà mày thúc đẩy gì tao. Thế! Hoặc giả anh Văn Cao có thể có ý nghĩ gì khác nữa chăng, thành ra anh Lê Đạt giao cho tôi, anh ấy bảo: Bởi vì tôi đối với anh Văn Cao là ngang vai phải lứa thì có thể thúc đẩy anh ấy được. Tôi đành phải nhận. Vì tôi biết là Văn Cao cũng khó lắm, bởi vì anh ấy đã thích một cái gì đấy thì khó lay chuyển anh ấy lắm. Anh ấy đang thích vẽ mà. Sau đó tôi đến thúc đẩy một tuần thì quả nhiên anh ấy cũng làm được một bài đăng ở Giai Phẩm Mùa Xuân tức là bài Anh có nghe thấy không.

– TK: Như vậy là trong số Giai Phẩm Mùa Xuân 56 thì chỉ có một bài thơ của anh Văn Cao, thế còn những bài khác là của những ai?

– HC: Anh Văn Cao có một bài ấy thôi. Còn anh Lê Đạt thì cũng làm đâu ba bốn bài, những bài thơ ngắn. Ví dụ như là bài  Đụng long mạch hoặc là bài Công nhân làm cầu gì đó, tôi quên mất đầu đề rồi. Nhưng chúng tôi dựa vào bài Nhất định thắng của anh Trần Dần là chính, thì đã có thể ra được một tập sách. Cộng với một bài nghiên cứu về dân ca của anh Tử Phác. Một bài thơ Quang Dũng. Một bài tản văn của anh Trần Lê Văn. Và một vài bài nữa của anh Hữu Loan, Phùng Quán… thì chúng tôi đã tập hợp được và đưa in luôn[1]. Như thế là quyển Giai Phẩm Mùa Xuân ra trước Tết âm lịch năm 1956. Anh Tử Phác và anh Trần Dần không biết là quyển sách ấy ra bởi vì các anh ấy bận công tác ở xa Hà Nội và công tác cải cách ruộng đất lúc bấy giờ đang ở cao trào cho nên các anh ấy không có quan hệ gì với chúng tôi ở Hà Nội cả. Thành ra chúng tôi cứ ra cái đó và bài thơ của anh Trần Dần cứ xuất hiện bởi vì chúng tôi đều có bản thảo. Sau khi xuất bản tập đó được độ một tuần thì cả hai anh Tử Phác và Trần Dần đều bị một tai nạn tức là cả hai anh đều bị bắt. Cái thời gian bắt các anh ấy cũng nhanh chóng, vì cũng có những cái tình cờ, hoặc cũng có những sự việc cụ thể, chứ không phải giam giữ gì lâu lắm. Sau đó, anh Trần Dần lại về công tác ở Phòng Văn Nghệ Quân Đội, nghĩa là vẫn chưa ra khỏi quân đội, cả anh Phùng Quán nữa, cũng đang ở trong quân đội. Chỉ có tôi là ra khỏi quân đội cuối năm 55. Chính vì tôi ra khỏi quân đội thì tôi mới làm Giai Phẩm Mùa Xuân cùng với anh Lê Đạt bởi vì anh Lê Đạt lúc đó là biên tập viên của báo Văn Nghệ. Lúc bấy giờ chưa có Hội Nhà Văn mà nói chung gọi là Hội Văn Nghệ thôi, và anh Lê Đạt vẫn là một cán bộ của Tuyên Huấn Trung Ương. Khi tôi ra khỏi quân đội rồi thì không bị gò bó bởi những công việc và kỷ luật của quân đội nữa, thành ra tôi tự do hơn một chút, vì thế mới ra được Giai Phẩm Mùa Xuân. Nhưng điều không ngờ là chính Giai Phẩm Mùa Xuân đó lại gây ra tai nạn cho hai anh Tử Phác và Trần Dần. Chuyện này tôi có nói rồi, hình như tôi có nói một phần ở trong bài Con người Trần Dần đăng ở số 1 báo Nhân Văn, năm 56. Sau này tôi có thể viết nó kỹ hơn, đầy đủ hơn những diễn biến của vụ đó. Sau khi tờ Giai Phẩm Mùa Xuân được giải quyết rồi, tức là thu hồi này, rồi thì anh ấy bị kỷ luật một thời gian ngắn, rồi sau lại ra làm việc, thì các công việc mọi người cứ đâu lại làm đấy. Tôi vẫn phụ trách phó giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ. Anh Trần Dần vẫn ở quân đội cũng như anh Tử Phác và Phùng Quán. Anh Lê Đạt vẫn làm việc ở Tuyên Huấn, lúc bấy giờ lại còn là bí thư chi bộ của tuần báo Văn Nghệ nữa, đấy là anh Lê Đạt. Mọi công việc nhà nước vẫn tiến hành bình thường.

– TK: Nhiều người cho rằng hồi ấy các anh chủ tương Giai Phẩm Mùa Xuân là do ảnh hưởng tình hình Liên Xô và Trung Quốc, nhất là từ phong trào Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc, thưa anh, việc ấy có đúng không?

– HC: Tình hình thế giới bắt đầu có những biến chuyển về mặt văn học, ở Liên Xô ông Khrouchtchev làm một cuộc chống tệ sùng bái cá nhân, cụ thể là chống những sai lầm của Staline. Ở Trung Quốc có việc chống phái hữu, rồi thì những gì gì đó mà chúng tôi không được đọc báo, nhất là việc Trung Quốc, thì cũng chỉ nghe tin tức chung chung thôi chứ không được theo dõi kỹ lắm. Đấy là vào khoảng tháng 5, tháng 6 năm 56, tức là Giai Phẩm chúng tôi ra rồi, ra từ đầu năm cơ. Gần đây, Lê Đạt đi Pháp về, có nói rằng anh ấy có phản đối cái nhầm của ông Boudarel khi viết rằng Nhân Văn chúng tôi chịu ảnh hưởng Trăm Hoa Đua Nở của Trung Quốc. Cái đó ông Boudarel rất nhầm. Bởi vì chúng tôi đã có ý định cải cách, hoặc canh tân thi pháp, đổi mới thi ca từ đầu năm 1956. Lúc bấy giờ chúng tôi chưa hề biết chuyện ở bên Trung Quốc về văn học có những cái gì, có những phong trào gì. Mãi sau mới có cái Trăm Hoa Đua Nở, rồi đến chuyện đấu tranh chống phái hữu. Mà phái hữu trong văn nghệ Trung Quốc thì có Đinh Linh và Trần Sĩ Hà là nổi bật lên. Chúng tôi chỉ nghe tin một cách sơ sài thế thôi. Còn nội dung là gì thì chúng tôi không biết lắm. Vậy thì chúng tôi không hề chịu ảnh hưởng cái chuyện Trăm Hoa Đua Nở của Mao Trạch Đông đưa ra, mà Giai Phẩm Mùa Xuân của chúng tôi ra là hoàn toàn tự ý muốn riêng của mình và cái ý muốn đó là muốn cách tân thơ ca, đem lại luồng gió mới, không khí mới cho thơ ca chứ không chịu ảnh hưởng ai cả. Đó là một cái mà hôm nay, nhân thể đây tôi nhấn mạnh như vậy.

– TK: Thưa anh, còn tờ Nhân Văn, tờ Nhân Văn đã ra đời trong hoàn cảnh nào?

– HC: Nhân Văn ra số đầu tiên khoảng tháng 9 năm 1956 tức là cách Giai Phẩm Mùa Xuân tám, chín tháng. Thế rồi đến Nhân Văn thì anh Nguyễn Hữu Ðang là người sinh ra báo Nhân Văn, tôi là người đặt tên cho tờ báo. Nhưng đồng thời sau đó cũng lại chính mình phải làm tất cả mọi viêc của tờ báo. Phụ thêm thì có anh Lê Ðạt. Thế còn anh Trần Dần thì vì anh ấy cũng yếu và những công việc của một tờ báo thì anh ấy cũng không làm được. Việc mà tại sao nó ra, tại sao lại xuất hiện tờ Nhân Văn, lúc đầu nó như thế nào, thì tất nhiên là sau này tôi cũng sẽ lược thuật thôi. Chuyện đó nó phức tạp và sau này dù có thuật lại, thì chúng tôi cũng chỉ thuật lại những nét chính. Cái tôi đi sâu vào vẫn là những bước đi của thơ ca, nó gặp những trở ngại gì, những trắc trở gì? Có những thuận lợi gì? Và những anh em nào hoan nghênh, anh em nào tán thành, anh em nào phản đối? Nhưng cái chính vẫn là vấn đề thơ ca thôi, thơ ca của chúng tôi. Thơ ca của cái nhóm anh em thân với nhau đấy, nhưng tất nhiên mỗi người một phong cách và có nhiều quan điểm cũng không giống nhau đâu. Thế nhưng mà cái thống nhất với nhau được là thơ ca một thời gian bị trì trệ bởi ảnh hưởng của Tự Lực Văn Đoàn và Thơ Mới trước cách mạng tháng tám, vẫn còn nặng nề. Nhất là ý anh Trần Dần và anh Lê Đạt là từ lâu, ngay từ trước khi về Hà Nội năm 54, rồi sau khi về Hà Nội, hai anh ấy là hai người hăng hái nhất trong việc muốn đổi mới thơ ca, làm cho nó đừng trì trệ nữa, dù rằng ta phải học tập ở các nhà thơ bên Châu Âu mà thay đổi cái của mình, miễn là mình giữ được cái độc đáo riêng của mình.

– TK: Thưa anh, tóm lại, mục đích chính của các anh trong thời điểm NVGP là làm gì? Là đòi hỏi tự do sáng tác hay còn đòi cái gì khác?

– HC: Lúc đầu chúng tôi vẫn chủ trương là không nói chuyện gì về chính trị, cũng không có bài báo nào bàn về chính trị lắm. Nếu có thì chỉ nhắc qua vài chuyện có liên quan đến văn nghệ thôi. Còn cái chính là đấu tranh để làm thế nào xây dựng được một nền văn nghệ dân chủ. Có dân chủ có tự do trong giới văn nghệ. Cũng như là có dân chủ trong hoạt động văn nghệ. Chúng tôi chỉ nhằm mục đích ấy thôi. Mục đích là đấu tranh để đạt được dân chủ và tự do trong sáng tác văn học và nghệ thuật. Thế nhưng tình hình thế giới lúc bấy giờ rất phức tạp và trong nước có những vấn đề rất nghiêm trọng, cho nên báo Nhân Văn cũng không thể tồn tại lâu được, mà chỉ ra được 5 số. Đến số 6, bài xong cả rồi nhưng mà cũng không in nổi, không in được và không ra được. Thế rồi thì bị đóng cửa. Nhưng đóng cửa xong thì mọi việc vẫn trở lại có vẻ như là bình thường. Bởi vì đóng cửa Nhân Văn xong, thì sang năm 57 thành lập Hội Nhà Văn riêng, Hội Nhạc Sĩ riêng, Hội Sân Khấu, Hội Mỹ Thuật riêng. Tháng 4 năm 57 thành lập Hội Nhà Văn thì tôi cũng lại được bầu vào ban chấp hành Hội. Công việc thì vẫn phụ trách phó giám đốc nhà xuất bản, bấy giờ đổi tên là nhà xuất bản Hội Nhà Văn, do anh Tô Hoài, tôi và anh Đoàn Giỏi, ba người cùng chịu trách nhiệm. Hoạt động bình thường như thế cho đến hết năm 57.

● Từ Nhân Văn đến thời kỳ đổi mới.

– TK: Thưa anh, tờ Nhân văn ra được 5 số thì phải đóng cửa và mọi việc vẫn trở lại có vẻ như là bình thường, nhưng sau đó thì tình hình xảy ra như thế nào ạ?

 – HC: Sang đầu 58, vì ở bên Trung Quốc có việc đấu tranh rất gay gắt chống hữu phái trong văn nghệ, nhưng chúng tôi cũng lại chỉ biết một cách hết sức sơ sài, là hình như có mấy nhà văn cũng đòi tự do, đòi dân chủ gì đó. Ðặc biệt có hai người là Ðinh Linh và Trần Sĩ Hà là hai nhà văn có tiếng lúc bấy giờ, coi như cầm đầu phái hữu trong giới văn nghệ của Trung Quốc. Thì có một cuộc đấu tranh gay gắt với những người cầm đầu đó. Ở bên ta, tôi nhớ chắc là anh Huy Cận và một người nữa, Lưu Trọng Lư hay là Hà Xuân Trường gì đó, tôi không nhớ rõ tên người thứ nhì, cũng được cử sang tham quan để rút kinh nghiệm đem về. Khi các anh ấy về thì lập tức ở bên này mở ra một lớp gọi là lớp học chính trị, nhưng chính là để đấu, đấu tranh quyết liệt với tư tưởng NVGP. Tức là chống tư tưởng mà lúc bấy giờ người ta cho là “tư tưởng phá hoại chống Ðảng”, mà tiếng thông thường là “phản động”. Ðấy là đầu năm 58. Và sau một cuộc đấu tranh rất gay go, rất quyết liệt như thế trong vòng độ gần hai tháng thì quyết định kỷ luật một số nhà văn, một số họa sĩ và nhạc sĩ đã tham gia phong trào NVGP.

Riêng cái kỷ luật của chúng tôi bên Hội Nhà Văn thì khai trừ ba năm anh Trần Dần, anh Lê Ðạt, và bên Hội Âm Nhạc thì có anh Ðặng Ðình Hưng, anh Tử Phác cùng chịu chung một kỷ luật là khai trừ khỏi Hội trong ba năm.

Và trong thời gian bị khai trừ thì phải đi lao động để cải tạo tư tưởng theo giai cấp vô sản, thấm nhuần tư tưởng nông công binh, để thực hiện trong sáng tác của mình. Suốt năm 58, 59 đến 60 nữa, trong thời gian ba năm kỷ luật đó thì phải đi lao động. Chỉ có tôi và Phùng Quán, thời hạn nhẹ hơn, tức là khai trừ khỏi Hội Nhà Văn có một năm thôi. Riêng tôi, thì khai trừ khỏi ban chấp hành, thôi giữ chức giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ. Ghi trên giấy trắng mực đen thì chỉ có thế thôi.

Và đi lao động, thì cũng đi lao động như mọi người. Ví dụ như anh Trần Dần, anh Lê Ðạt, anh Tử Phác, anh Ðặng Ðình Hưng, trong 6 tháng đầu tiên lao động cả ngày, tức là 8 tiếng, các anh về nông trường Chí Linh chăn bò, chăn trâu. Còn tôi, Phùng Quán, Trần Lê Văn và Quang Dũng, thì về cái tổ mà anh Hoàng Trung Thông làm tổ trưởng, tức là anh Hoàng Trung Thông là bộ phận lãnh đạo một cái đội đi về Thái Bình, ở một hợp tác xã nông nghiệp mới thành lập. Vì ở nông thôn, nhất là ở miền Bắc, sau đợt Cải Cách Ruộng Đất, là đến đợt đưa nông thôn tiến lên hợp tác hóa. Lúc bấy giờ từ bắc vĩ tuyến 17 ra, là hợp tác hóa nông nghiệp. Chúng tôi đi về cái hợp tác xã như thế và lao động có một nửa ngày thôi. Còn nửa ngày thì có thể đi chơi với các gia đình nông dân, rồi đi tìm hiểu tình hình thực tế v.v… Mặc dầu cái lao động nửa ngày của tôi hay cả ngày của bốn anh kia là bắt buộc, nhưng mà bắt buộc cũng trong tinh thần văn nghệ thôi, chứ không gò bó ghê gớm như bọn bị đi tù khổ sai. Phải nói cho nó công bằng và rõ ràng như vậy. Còn những anh nhẹ nữa, như anh Quang Dũng, anh Trần Lê Văn, anh Hữu Loan chẳng hạn, thì hầu như chỉ cảnh cáo ghi lý lịch của hội viên thôi, nghĩa là một cái kỷ luật rất nhẹ. Nhưng lúc bấy giờ anh Hữu Loan có nhiều bực bội cá nhân cho nên anh ấy nhất định không ăn lương của hội nữa. Còn tôi và Phùng Quán thì vẫn có trợ cấp của hội, coi như một thứ lương nho nhỏ thôi, để đi lao động, chứ anh Hữu Loan thì thôi hẳn, không lĩnh lương và không làm gì ở hội nữa. Và anh ấy lao động ở đâu thì đấy là việc của anh ấy, chứ anh ấy không đi theo các chỉ đạo của Hội Nhà Văn.

-TK: Thưa anh, trong lúc ấy các anh có viết lách gì không ạ?

– HC: Nội dung kỷ luật lúc đầu thì chỉ như thế thôi. Nhưng rồi cái kỷ luật đó nó kéo quá dài. Sau ba năm rồi thì anh Trần Dần và cả anh Lê Ðạt nữa, có sáng tác khá nhiều, riêng tôi thì cũng sáng tác tập Về Kinh Bắc. Phùng Quán cũng viết nhiều truyện ngắn và làm thơ nữa, nhưng mà cũng không in ở đâu được cả. Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88. Tức là kỷ luật từ năm 58, đến khi hết kỷ luật, Hội Nhà Văn công bố hẳn hoi là năm 88. Ba mươi năm. Chúng tôi, tức là Trần Dần, Lê Ðạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm, lúc bấy giờ anh Tử Phác mất rồi, chỉ còn Ðặng Ðình Hưng và cả những anh em bị cảnh cáo trước kia như Quang Dũng hay Trần Lê Văn, thì các anh ấy không bị kỷ luật gì, vẫn có thể in sách, in báo được từ trước, riêng Trần Dần, Lê Ðạt, Hoàng Cầm và Ðặng Ðình Hưng là bốn người đó không được in một cái gì cả, suốt từ năm 58 đến năm 88. Thế nghĩa là tròn 30 năm.

– TK: Thưa anh, sau thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, anh đã làm gì để sinh sống?

– HC: Tôi nhắc lại: trong vòng 30 năm, tức là kỷ luật bắt đầu từ 1958 đến 1988 thì phục hồi, nghĩa là 30 năm tôi không thể đem ngòi bút của mình kiếm được một đồng xu nào hết. Thế thì phải đi lao động chân tay. Tôi với anh Trần Dần, đã từng kéo xe bò. Lúc thì anh này cầm càng, anh kia đẩy, cứ thay phiên nhau như thế. Chỉ mới đi được hai hôm, cả Trần Dần và tôi đều ốm, tức là sốt, rồi nó đau hết mình mẩy và trận ốm ấy kéo dài có khi hàng tuần lễ. Sau không chịu được lao động chân tay nữa, đành phải đi kiếm ăn bằng cách, ví dụ như anh Trần Dần được một người bạn giúp cho đi tô màu ảnh. Lúc bấy giờ chưa có máy ảnh màu đâu. Ai thích ảnh màu thì cứ chụp đen trắng, xong Trần Dần cứ ngồi bôi thuốc, bôi cái má hồng, bôi cái môi son, bôi cái áo hoa nọ kia, nghĩa là bôi màu vào ảnh để kiếm ăn. Mỗi cái ảnh như thế được một hào hay hào rưỡi gì đó. Nghĩa là cứ thế suốt ngày ngồi cặm cụi tô màu vào ảnh. Còn tôi thì đi làm phim đèn chiếu. Viết những lời thuyết minh để kể chuyện chiến sĩ thi đua, hoặc là người tốt, việc tốt, hoặc là an toàn lao động v.v… Những đề tài như thế thì cũng vẫn cứ làm, để kiếm được mỗi tối ba đồng.

– TK: Xin anh cho biết rõ hơn về việc anh làm phim đèn chiếu như thế nào và anh còn giữ một vài kỷ niệm gì về việc ấy không?

– HC: Có một hôm anh Phùng Quán đến chơi vào khoảng 7 giờ. Phùng Quán hỏi: “Anh sắp đi đâu đấy?” Tôi bảo là tôi sắp đi chiếu phim đây. Thì Phùng Quán hỏi: Phim gì? Tôi bảo phim đèn chiếu. Phùng Quán cũng chẳng hiểu phim đèn chiếu nó thế nào, mới theo tôi đi. Xuống sân một xí nghiệp thì người ta mắc cái máy ở đấy, rồi thì cũng có écran. Họ bắt đóng hết các cửa ra vào nhà máy và bắt buộc công nhân phải xem. Bởi vì đây là một bài học về an toàn lao động. Phim chính tôi làm, an toàn lao động, thuyết minh bằng lời thơ, có lúc bằng văn xuôi. Ðầu tiên là công nhân nó tức lắm, vì công đoàn bắt nó phải ở lại xem mà: Úi giời ơi! Ở giữa cái thành phố Hà Nội này mà lại chiếu những phim -ngày xưa người ta gọi là ống nhòm ấy mà- nó cứ keng keng keng gọi ra xem ống nhòm ở bờ hồ. Cái này nó cũng y như thế thôi. Chỉ có là nó chiếu lên màn ảnh to, chiếu ảnh lên, rồi nó phóng to lên. Thế rồi thuyết minh, y như ngày xưa xem ống nhòm ở ngoài bờ hồ, nó bảo: Này! Ðây quan toàn quyền Pasquier đi kinh lý đây! A lô! A lô! Ðây là Quốc Trưởng Bảo Ðại… thế này thế kia… Ðây! Vua Bảo Ðại, Hoàng đế Bảo Ðại đi thăm tỉnh Thanh Hóa đây!

Ngày trước thì nó như thế! Tức là mỗi cái ảnh nó bật ra, thì cứ chổng mông ra mà nhìn vào cái ống nhòm, trẻ con là thích lắm! Cứ bỏ vào đấy một xu thì được xem khoảng một vài chục cái ảnh. Còn cái này nó chỉ khác tí là nó chiếu lên écran, có lời thuyết minh một tí.

Ðầu tiên công nhân nó phản đối, nhưng cũng không thể làm thế nào được, bởi vì đây là kỷ luật bắt buộc phải xem để học tập về an toàn lao động. Nhưng đến khi tôi bắt đầu cất tiếng thuyết minh và đến chỗ tôi bắt đầu cất giọng ngâm thơ lên thì họ bắt đầu chú ý và im lặng, chứ lúc đầu họ phá phách ghê lắm. Cứ ầm ầm, ầm ầm. Thế rồi dần dần họ theo dõi phim cho đến hết và khi ra về có vẻ rất mãn nguyện.

Họ bảo: “Ờ, tưởng cái gì chứ phim đèn chiếu xem cũng được đấy nhỉ! Mà lại hay đấy nhỉ!” Thì đấy! Ði kiếm ăn như thế và Phùng Quán dự từ đầu đến cuối. Ðến khi về thì tôi bảo: “Mình có ba đồng đây này, mời Phùng Quán đi ăn phở với mình.” Bát phở chỉ có 5 hào thôi. Phùng Quán bảo: “Không, đáng nhẽ em phải mời anh chứ! Anh làm gì có tiền, khổ thế mà anh mời em. Thôi, thế thì mỗi anh em ta làm một ly rượi suông vậy.” Mỗi ly rượu có 5 xu ấy mà. Rẽ vào một hàng, mỗi anh em uống một ly rượu suông. Phùng Quán nói một câu thế này: “Trời đất ơi! Nhà thơ nổi tiếng nhất nước thế này mà đi làm cái phim đèn chiếu! Cái ống nhòm ngày xưa! Em nghĩ nó tủi thân lắm, anh ạ”. Mình bảo chả có cái gì là tủi cả! Mình lao động bình thường như một con người bình thường. Mình kiếm ăn, có cái gì mà tủi mới buồn! Chả có cái gì đáng buồn cả! Tôi lại phải nói với Phùng Quán như vậy. Ðấy là những kỷ niệm về thời bấy giờ.

– TK: Thưa anh, việc sáng tác ở thời kỳ kỷ luật và sau kỷ luật của các anh ra sao?

– HC: Chính lúc bấy giờ là lúc anh em lại viết được rất nhiều. Không phải là có một cái kỷ luật gì cấm sáng tác cả. Cấm không được in báo, xuất bản sách. Cấm xuất hiện cái tên của mình. Lúc bấy giờ tôi phải trông vào bà vợ. Như ở trong tập Về Kinh Bắc mà tôi đã viết đấy: Bà vợ rất tốt, chịu đựng kham khổ, hy sinh cho chồng con. Lúc bấy giờ tôi tập trung được tình cảm và suy nghĩ của mình liền trong năm tháng trời viết xong tập thơ Về Kinh Bắc. Trần Dần cũng trong vòng nửa năm ấy viết được Cổng tỉnh. Lê Ðạt làm một loạt thơ về quê hương của mình, thuở thơ ấu của anh ấy tức là thời kỳ Yên Bái đấy, những bài thơ như là Lão núi, Ông lão chăn dê hay là Ông phó cả ngựa đều đã có bắt nguồn ngay thời bấy giờ. Chỉ có là về sau này anh ấy hoàn chỉnh lại thôi. Thế nghĩa là anh em không hề ngừng sáng tác, chỉ không được in thôi. Không được xuất bản. Ðấy là năm 59. Sang năm 60 trở đi thì lại bắt đầu đi lao động. Anh Trần Dần và tôi lại vào cái xí nghiệp nhà máy gỗ Hà Nội, anh Trần Dần làm thợ cưa, còn tôi thì đứng máy, ở cái máy cưa.

– TK: Thưa anh, về công việc sáng tác sau giai đoạn 60 thì ra sao?

– HC: Về cái việc sáng tác, thì sau khi anh Trần Dần làm xong Cổng tỉnh, anh Ðặng Ðình Hưng viết tập thơ đầu tiên trong cuộc đời anh ấy, đó là một tập thơ cực kỳ giá trị, tức là cái Đầu ô, hay cái Cửa ô, chưa xuất bản đâu nhưng mà đấy mới thật là thơ Ðặng Ðình Hưng. Tôi thì Về Kinh Bắc, anh Trần Dần sau Cổng tỉnh lại tiếp tục, vào khoảng ngoài năm 60, 61-62 gì đó, anh ấy lại viết một tập thơ nữa là Mùa sạch. Và anh Lê Ðạt vẫn làm những bài thơ lẻ hoặc những bài thơ dài, mới phác thảo thôi, nhưng vẫn làm việc đều đều suốt từ năm 60 trở đi.

 Cho đến năm 75, số tác phẩm viết ra mà chưa được in ở mỗi người khá nhiều. Không hề ngồi chơi không. Riêng anh Văn Cao thì lúc bấy giờ anh ấy có khuynh hướng muốn trở thành họa sĩ, anh ấy đi vẽ những minh họa, minh họa sách rồi minh họa trên báo. Riêng về thơ thì anh ấy không làm nữa. Cho đến khi phục hồi, lúc bấy giờ đều già cả rồi và Văn Cao thì cũng không còn một tình cảm nào say đắm về thơ như trước. Anh ấy vẫn làm thơ, nhưng riêng tôi thì mình thấy là thơ Văn Cao như thế, so với thời kỳ  Cửa biển tức là Những người trên cửa biển ấy, thì xuống. Ðến cái Cửa biển thì tôi cho là đến cái đỉnh cao của Văn Cao. Về sau, anh ấy vẫn làm nhưng không bằng Những người trên cửa biển.

Anh Trần Dần thì liên tục làm và anh ấy tìm tòi nhiều cách lắm. Sau đó anh ấy đi vào thơ mini, tức là có khi chỉ có một câu, hai câu, rất ngắn mà nó chứa đựng những tư duy rất hay và đặc biệt là ít lời, rất nhiều cảm xúc, rất nhiều trí tuệ.

Anh Lê Ðạt vô cùng chịu khó học tập. Có khi anh ấy vào thư viện suốt cả tháng, anh ấy ở thư viện đến 10 giờ đồng hồ một ngày, đọc sách rồi nghiên cứu tìm tòi các thứ thơ văn cổ kim đông tây. Học rồi về nhà anh ấy làm, có khi làm bài ngắn, có khi bài dài v.v… Và cuối cùng ra được tập Bóng chữ đấy. Nó chứng minh sự làm việc của anh Lê Ðạt rất công phu.

Anh Trần Dần cũng bị tật, sau khi bị cảm một trận năm 1974, anh ấy hơi liệt liệt, nhưng vẫn sáng tác thơ như thường, chịu khó tìm lắm. Gần đây, anh ấy sưu tập lại, rút ra ở tất cả thơ của anh ấy những chỗ nào hay nhất để đưa vào từng vấn đề của một tư duy thơ, gọi là  lẩy Trần Dần. Anh tự lẩy. Anh ấy đã cố đưa ra một thế giới gọi là thế giới Trần Dần, cái univers Trần Dần, thì tôi đã thấp thóang thấy nó hiện ra qua cái lẩy Trần Dần.

Tóm lại, sự làm việc của anh em thời kỳ hậu Nhân Văn, tức là thời kỳ 58, 59, 60 cho đến 75 gần như là không ai nghỉ một tháng, một ngày nào mà không lo về việc thơ ca cả. Chỉ có từ 75 về sau này, tình hình nó cũng có đổi khác, nhất là đến năm 88, được phục hồi, chính thức trở lại sinh hoạt Hội Nhà Văn, cái đà sáng tác ở mỗi người nó lại dâng lên, thì anh Lê Ðạt cũng làm nhiều. Anh Trần Dần bắt đầu làm được một ít thì chẳng may anh ấy lại bị bệnh khá nặng, cho nên độ hai năm nay anh ấy không làm được gì nữa.

– TK: Trước anh có dự định viết một cuốn hồi ký, dự định ấy hôm nay đã đi đến đâu rồi?

– HC: Ðầu tiên tôi cũng đã dự định, dự định từ lâu rồi, định viết một cuốn Mémoire khoảng 1000 trang từ năm 1990. Lúc bấy giờ tôi cần có một người trợ giúp mình, không những là về mặt viết lách v.v… mà kể cả về tình cảm. Bởi vì từ sau khi tôi mất người vợ năm 1985, đời sống tình cảm tôi bị hẫng hụt, phải nói là một cách ghê gớm. Sau đó, tôi bị gần như là một thứ bệnh tâm thần cho đến năm 87, thì nhờ các bạn, nhất là anh Dương Tường, anh Lê Ðạt, kể cả anh Trần Dần và một số bạn trẻ nữa như là Thụy Kha, Trịnh Thanh Sơn… tôi đã dần dần hồi phục sức khoẻ và nhất là tránh được cái bệnh tâm thần của tôi mà các bác sĩ cho là nó vào cái dạng trầm uất.

– TK: Thưa anh, tại sao anh lại bị bệnh và bệnh trạng của anh, thực sự nó như thế nào?

– HC: Tức là sau khi tôi bị giam cầm 18 tháng[2], từ đó đến khi được về thì những bác sĩ quen của tôi họ đều thống nhất một điểm là tâm thần của tôi tự nhiên nó bị ở hai dạng: trước tiên là hoảng loạn, thứ hai là trầm uất. Thật ra thì cũng không có gì là ghê gớm lắm, cũng không xé quần, xé áo, không đi ra ngoài đường, không chửi bới hay làm những gì ầm ĩ cả, bởi vì chỉ là hoảng loạn thôi. Hoảng loạn một cách hết sức lặng lẽ. Ví dụ nghe một tiếng còi ô-tô và một cái gì như là frein ô-tô rít lên ở ngoài cửa -mà lúc bấy giờ tôi ở tít tận trong nhà cơ- nhưng khi nghe thấy như thế, vào lúc độ gần nửa đêm chẳng hạn, thì tự nhiên tôi co rúm lại và hết sức sợ hãi. Nó như là một cái bản năng đấy, tìm chỗ trốn. Quả nhiên là tôi đã có nhiều lần chui xuống gầm giường vì những hoảng loạn như thế. Hay nghe tiếng giày cộp cộp và thóang thấy một bóng áo, như áo quân đội hay áo cảnh sát hay của một người thương binh nào đó, chỉ cần một cái bóng, một cái màu quần áo thôi, thì tôi cũng hoảng rồi. Người ta gọi là bệnh hoảng loạn. Chứ sự thực thì lúc ấy chẳng có ai dọa nạt, chẳng có ai làm gì mình cả.

Thứ hai là dạng trầm uất. Có khi cả ngày tôi không nói một lời. Bạn bè đến, tôi vẫn cứ tỉnh táo đi pha trà mời mọi người có vẻ lịch sự lắm. Nhưng đến khi người ta hỏi tôi về bất cứ cái gì đó thì tôi không trả lời hoặc là trả lời gióng một.

– TK: Thưa anh, lúc anh bị bệnh nặng như thế là thời kỳ nào hả anh?

– HC: Là năm 87[3]. Có độ 7, 8 anh em nhà văn trẻ như là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, v.v… ở trong Huế ra chơi, họ đến nhà anh Phùng Quán. Họ nhờ anh Phùng Quán đưa xuống thăm tôi. Tôi cũng vẫn có vẻ như vui mừng được gặp những người anh em xưa nay người ta mến mình thì cũng vẫn giữ một thái độ thân ái thôi. Nhưng đến khi Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi rằng: Anh có dự định sáng tác gì nữa không, thì tôi lắc đầu không trả lời thành tiếng gì cả. Lắc đầu. Cứ lắc đầu hoài. Thế rồi họ hỏi cái gì tôi cũng lắc đầu. Chỉ lắc đầu mà tôi không nói gì hết. Phùng Quán thấy thế cho rằng tôi suy sụp hòan toàn về tinh thần. Ðó là đầu năm 87. Phùng Quán có vẻ bực tức cái chuyện ấy lắm mới chạy đến nhà anh Lê Ðạt, bảo anh Lê Ðạt: “Bây giờ anh Hoàng Cầm bị tình trạng như thế này thì chỉ có anh mới giúp anh ấy được, chứ em trông thấy thế này thì em sợ lắm, và em nghĩ rằng một tài năng như anh Hoàng Cầm mà bị như thế này thì chúng ta sẽ hết sức thiệt thòi, anh ấy không còn có thể viết một cái gì được nữa.” Lê Ðạt thì vững vàng hơn. Lê Ðạt chỉ bảo Phùng Quán rằng: “Rồi cái đó nó cũng sẽ qua đi. Tôi tin rằng Hoàng Cầm không bao giờ là người sẽ suy sụp.” Phùng Quán vẫn không tin Lê Ðạt, bèn về viết một bài, nó cũng không phải là thơ, là một ý kiến, có vần, có điệu, coi như một bài thơ, nó thế này này:

Tôi tin núi tàn

Tôi tin sông lấp

Tôi không thể nào tin

Một nhà thơ như anh

Lại ngã lòng suy sụp.

Một nhà thơ đã từng viết những câu thơ lẫm liệt

Trong tiểu đội của anh những ai còn ai mất

Không. Không ai còn ai mất

Ai cũng chết mà thôi

Người sau kẻ trước lao vào giặc

Giữ vững nghìn thu một giống nòi.

Rồi lại đến một cái điệp khúc:

Tôi không tin một nhà thơ như anh

                             lại ngã lòng suy sụp.

Trên thế gian có nghìn nhà thơ lớn

Trên thế gian có nghìn con sông lớn

Nhưng chỉ có một dòng nhờ thơ mà vang vọng

Nhờ thơ mà vinh danh

Ðó là con sông Ðuống quê anh

Mà anh xót xa như bàn tay anh rụng

Tôi tin chắc như đinh đóng cột

Sau này anh chết đi

Theo sau linh cữu anh

Ngoài bạn hữu gia đình có cả con sông Ðuống.

Sông Ðuống mặc đại tang khóc bên bồi bên lở

Sóng vỗ bờ nức nở

Ðời đời chịu tang anh.

Tôi không tin một nhà thơ như anh

                            lại ngã lòng suy sụp.

Phùng Quán viết to bài thơ đó lên một tờ giấy rất to như là tờ giấy lấy ở bao xi măng ra và anh ấy xuống treo ngay ở nhà tôi. Thì tôi cũng cứ mặc, thế thôi. Cả thời gian ấy tôi vẫn cứ ở trong tình trạng đó. Mãi về sau, cuối năm 87, nhất là sang năm 88, trong một cuộc họp bàn ban chấp hành Hội Nhà Văn, có bàn đến việc phục hồi những nhà văn bị kỷ luật trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Sau đó, nhờ các bạn kéo tôi đi chơi vào những chỗ mà người ta yêu mến mình, dần dần nhờ những sự săn sóc đó mà tôi trở lại viết được. Và cái mà tôi viết được ngay là bài Mưa Thuận Thành.

– TK: Về việc phục hồi, trong hoàn cảnh nào và ở thời điểm nào anh đã được phục hồi?

– HC: Năm 1988 đấy. Hôm mà báo Văn Nghệ tổ chức 40 năm thành lập báo Văn Nghệ, lúc bấy giờ là dưới sự điều khiển của anh Nguyên Ngọc. Họ có tổ chức hai buổi ra mắt độc giả. Hôm đó tôi được mời, và họ yêu cầu anh đọc cho một hay hai bài thơ; thì phần lớn đều yêu cầu bài Bên kia sông Ðuống. Bài đó bị vùi đi lâu quá, cho nên bây giờ họ hết sức tha thiết yêu cầu như thế. Nhưng mà tôi, tôi đã có chủ định rồi, tôi nhất định không đọc bài Bên kia sông Ðuống và tôi đọc hai bài thơ mới là bài Mưa Thuận Thành và bài Lá diêu bông, hai bài hòan toàn xa lạ. Tôi muốn gây một effet mới, thì họ tán thành ngay. Tôi đọc xong bài Mưa Thuận Thành, đến bài Lá diêu bông, vì muốn nhấn mạnh cho nên tôi đọc một lần và ngâm một lần. Tôi vốn cũng nổi tiếng về ngâm nữa, cho nên người ta thích. Tôi lại ngâm bài đó với một giọng vừa trữ tình, vừa mang hồn bài hát quan họ và lại pha một chút nhạc ca trù, vì từ thời niên thiếu, tôi đã quen với ca trù rồi. Ðến khi tôi ngâm xong bài Lá diêu bông thì nó biến cái hội trường thành như một cuộc mít-tinh gì đó, mà tất cả nhằm vào tôi. Ðến ngày hôm sau, ra cái hội trường lớn hơn tức là hội trường của Cung Văn Hóa – bấy giờ còn gọi là Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt-Xô- khi họ nói đến tên tôi là lại nổi lên một trận vỗ tay đến nỗi là tôi phải trốn tiếng vỗ tay đó. Không hiểu làm sao mà lúc bấy giờ tôi cứ ngường ngượng. Khi tôi lên sân khấu rồi, tiếng vỗ tay vẫn tiếp tục. Chợt có một lúc, tôi như chợt khóc lên, như là nước mắt ở đâu đó nó trào ra. Không phải là giọt nước mắt vui mừng vì cái vinh quang nó trở lại với mình. Không! Tuyệt nhiên không phải cái đó mà lại là tình cảm này: Lúc bấy giờ tôi chợt nhớ đến bà vợ tôi là bà Lê Hoàng Yến. Nếu không có bà Lê Hoàng Yến thì không có tập Về Kinh Bắc. Mà Về Kinh Bắc tôi viết ngay cuối năm 59, tức là chỉ có một năm sau khi thi hành kỷ luật – kỷ luật là 58-59- đối với tôi thì đúng là oeuvre clé (tác phẩm chủ yếu). Thành ra tôi nhớ đến bà vợ tôi đã qua đời trong cảnh vô cùng nghèo đói, phải chạy ăn từng bữa một, từng dúm gạo một. Tiền thức ăn thì cũng không có, bữa cơm nào hai vợ chồng cũng phải nhịn bớt đi, nghĩa là đáng lẽ mình ăn ba bát, ăn có một bát, để nhường cho các con ăn. Bà vợ tôi chết vào những ngày như thế, mà lại chết vào năm 85 ấy, lúc tôi đang bị cái bệnh tâm thần, đang ở cái dạng trầm uất và hoảng loạn như thế. Vì bà ấy phải chạy từng ngày bữa ăn của gia đình. Gia đình thì đông. Mỗi một tháng lại phải lên trình diện một lần mới được người ta cấp cho 12 cân gạo. Rồi lại phải đi lên sở lương thực để lấy giấy chứng nhận nọ kia, rồi bấy giờ mới lại sang phòng tài chính để thanh toán tiền, xong rồi xuống chỗ bán hàng, xếp hàng chờ đợi. Tóm lại là muốn được 12 cân gạo, bà vợ tôi vất vả đến mức là nó lên một trận huyết áp rất đột ngột, chỉ mới có từ chập tối hơi sôn sốt, rồi bà ấy đi nằm, mà giữa mùa nực, bà ấy thấy có cái gì ren rét, tôi đã phải đắp cho bà ấy một cái chăn lớn. Ðến 4 giờ sáng thì người cứng ra và liệt nửa người. 9 giờ thì đem đi cấp cứu và đến chiều hôm sau qua đời.

Thành ra đến lúc lên sân khấu, cái vinh quang nó trở lại với tôi một cách quá sức tưởng tượng, thì chợt hình ảnh vợ tôi đã chịu tất cả mọi khổ sở trong vòng 30 năm, tròn 30 năm, tức là kỷ luật bắt đầu từ 1958 đến 1988 thì phục hồi. Nghĩa là trong 30 năm, tôi không thể đem cái ngòi bút của mình kiếm được một đồng nào hết.

– TK: Thưa anh, sau buổi liên hoan do tờ Văn Nghệ tổ chức đánh dấu việc anh đã được chính thức phục hồi, thì sau đó anh làm gì, và nếu anh viết thì những điều anh viết có in được không ạ?

– HC: Sau cái buổi ấy rồi thì tôi cũng tiếp tục sáng tác và chuẩn bị in các tập thơ. Ðầu tiên là định in ngay tập thơ  Về Kinh Bắc, vì nhiều nhà xuất bản đã biết tên tập thơ đó. Khổ cái là tôi mất hết bản thảo. Bị tịch thu, rồi thì chỗ nào có thì người ta cũng phải giấu đi, chứ không thì mắc tội gì đó. Tôi không làm thế nào mà nhớ hết cả tập thơ 48 bài, chỉ nhớ được độ mươi bài ngăn ngắn thôi. Thế nhưng đến các nhà xuất bản thì cũng không ai dám in. Nhà xuất bản Văn Học, nhà xuất bản Hội Nhà Văn -lúc bấy giờ còn tên là nhà xuất bản Tác Phẩm Mới- nhà xuất bản Phụ Nữ… tất cả đều rất quý, rất thích nhưng không ai dám xuất bản cả. Tôi mới nói chuyện chơi với anh Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa, và đưa cho anh ấy xem một tập thơ, toàn những bài mới làm, mà toàn là thơ tình thôi, chứ không có dính dáng gì đến cái tập Về Kinh Bắc cả, bởi vì tôi biết rằng nếu còn dính dáng đến tập thơ ấy thì không ai cho mình in. Ðọc xong anh ấy bảo: “Thôi anh để cho tôi in tập Mưa Thuận Thành này nhưng phải yêu cầu anh cho một số bài nổi tiếng mà anh đã đăng báo rồi như Lá diêu bông, Cây tam cúc, Qua vườn ổi, Cỏ bồng thi, Tắm đêm, Về với ta, v.v…, tức là vào khoảng độ 7, 8 bài, mà là những bài anh em đã rất quen thuộc ngấm ngầm trong suốt 30 năm”. Tôi bảo: “Cái này thì ông phải đối phó với cơ quan chính quyền thôi”. Anh Quang Huy bảo: “Ðược rồi, tôi sẽ có cách”. Quả nhiên khi anh ấy in, tôi cũng đưa vào đấy 8 bài trong tập  Về Kinh Bắc. Thì cuối cùng đúng là anh ấy phải tiếp mấy cán bộ đại diện cho cơ quan công an của trung ương, hỏi anh ấy tại sao in tập này, lại có lẫn mấy bài ở trong tập Về Kinh Bắc. Rồi họ yêu cầu cho mượn bản thảo và cho xem cả bản sắp chữ, bản morasse. Anh Quang Huy vẫn thực hiện đúng ý kiến của trên, nhưng anh ấy có yêu cầu thế này: “Các anh mượn, chúng tôi rất vui lòng, nhưng các anh phải trả lại tôi để tôi in cho đúng kế hoạch của nhà xuất bản, nếu không thì nhà xuất bản chúng tôi phá sản, chúng tôi lỗ vốn đấy”.

Nhưng có một điều là anh Quang Huy, người chủ trương in tập Mưa Thuận Thành, dù sao anh ấy cũng có cái dè dặt. Thành ra đáng lẽ có thể in được độ 2000 cuốn thì vẫn bán hết, anh ấy dè dặt chỉ in 1000 cuốn thôi. Thành ra người ta đến hỏi anh ấy quá nhiều, anh ấy lại không muốn tái bản mà còn nói một câu đùa đùa là: “Thôi, thơ Hoàng Cầm thì cứ để cho người ta thòm thèm thì thích hơn.” Ví dụ như Kiều Loan là kịch thơ viết năm 1942, thì đến năm 1992 mới có thể xuất bản được, vừa đúng nửa thế kỷ! Cũng như Về Kinh Bắc viết năm 59 thì năm 94 mới xuất bản, 35 năm!

Thế còn những bài thơ mới viết từ năm 87, tức là bắt đầu thời kỳ đổi mới, và những bài thơ mới ra thì in được ngay. Ðiều đó chứng tỏ rằng từ sau khi đổi mới, có lẽ sức viết của mình bị dồn nén lại trong 30 năm, cho nên đến lúc này nó lại bật ra, giống như cái lò-xo, nó bật lên thì tất nhiên nó bật mạnh. Cho nên những tác phẩm của tôi viết từ năm 87 đến bây giờ, nhiều bài có cái sức bật mà trong dư luận anh em cho rằng tôi vẫn còn giữ được cái sức trẻ trong sáng tác của mình, giữ được cái thanh xuân trong câu chữ, trong nhịp điệu, trong cảm nghĩ của mình. Ðó cũng là điều may mắn cho tôi. Nhưng đó cũng là đương nhiên vì nó đã bị dồn nén 30 năm thì khi nó bật ra nó phải bật được nhiều. Tôi cũng rất mừng cho bản thân mình mặc dầu tuổi cũng đã cao và sức khỏe càng ngày càng yếu, nhưng khi nào xúc cảm đến thì sáng tác nó lại bật ra như thường.

– TK: Thưa anh, từ thời kỳ đổi mới đến bây giờ thì cuộc sống và sáng tác của các anh đã thay đổi như thế nào?

– HC: Từ đổi mới đến bây giờ tức là từ 1987 cho đến nay thì tất cả mọi người lại tiếp tục đi vào con đường sáng tác và nhất là anh Lê Ðạt thì cái đổi mới thơ ca ở anh Lê Ðạt thấy rất rõ rệt. Người ta thấy công lao của anh Lê Ðạt trong cuộc đổi mới thơ ca, về thi pháp cũng như về tư duy, cảm xúc. Thi ca của anh ấy rõ ràng có nhiều đổi mới. Mặc nhiên, cũng nhiều dư luận khác nhau, có người chê, người khen thì đó là tất yếu. Nhưng tất cả mọi người đều thấy rằng anh Lê Ðạt rất có công trong việc đổi mới thi pháp và có những suy nghĩ mới, có cảm xúc mới trong thơ. Còn riêng tôi, thì từ năm được phục hồi, tôi vẫn không ngừng sáng tác. Ngoài  Về Kinh Bắc tôi viết năm 59, mà đến năm xuất bản là năm 94, tức là 35 năm! 35 năm nó vẫn nằm ở trong ngăn kéo nhưng đồng thời nó cũng không thể nào cứ ở trong ngăn kéo được, bởi vì đã là thơ thật ấy thì nó có cánh nó bay. Mặc dầu nó bay một cách hết sức lặng lẽ, nhiều khi có vẻ phải trốn tránh, nhưng nó vẫn cứ bay ở trong một số người yêu thơ, nhất là sinh viên và thanh niên ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Từ năm 87, 88 tôi vẫn sáng tác rất đều.

– TK: Anh nhận xét như thế nào những sáng tác mới nhất của anh, và xin anh đọc cho thính giả nghe một trong những bài thơ vừa viết xong.

– HC: Có điểm này là trong một vài năm nay, không hiểu làm sao thơ của tôi nó buồn một cách, tôi tưởng tượng như là cái vũ trụ này nó sắp tan đi đâu đấy. Nó có cái đó thật ở trong hồn mình, cho nên bài nào cũng có vài “hơi” như thế: một cái hơi thở, không biết gọi là cái gì, nó như là một sự tan, như một cái hơi tan vào gió, một cái gì đấy tan vào nước. Và chỗ nào cũng có một cái gì như là tan. Ðấy là một cảm giác tất yếu thôi bởi vì tâm hồn người già thường hay bị một cái gì như tan ra, gọi là cuộc sống, vì cuộc sống của mình cũng đã khổ quá rồi. Ðến lúc già nó cũng tạm yên, nhưng đến tuổi này rồi thì thấy cái gì cũng tan loãng hết, không đọng lại được, những cái như tình yêu, thương nhớ… nhất là những tình cảm nam nữ, tình cảm vợ chồng, tình cảm bạn hữu… Tôi cứ bị như một cái gì nó tan, không trụ lại được, cứ bị cái đau khổ đó trong vài ba năm nay. Thế tôi hãy đọc một đoạn nhé, bài này cứ gọi là vô đề cái đã:

                   Vô đề

Biển xanh ánh phật mười phương

Hương sen dậy sáng

Ôm trắng nghìn mây

Vạn kiếp dãi dầu

Oan nghiệt rên la bi thống

Nước mắt dàn bốn đại dương đau

Chiến tranh ư?

Bạo lực cơ cầu

Ðói hành hạ

Rét dày vò số kiếp

Người với người cắn nhau đau tội nghiệp

Tình với tình biền biệt những lìa xa

● Hoàng Cầm nói về Nguyễn Hữu Đang

và tờ Nhân Văn, hôm Nguyễn Hữu Đang mất

– TK: Thưa anh, anh đã quen anh Nguyễn Hữu Đang trong trường hợp nào?

– HC: Anh Nguyễn Hữu Đang lúc đầu không phải là bạn tôi, anh ấy hoạt động ở một lĩnh vực khác. Vào khoảng năm 44, khi tôi chuẩn bị biểu diễn vở Kiều Loan, anh đến. Lúc bấy giờ anh làm bên Hội Truyền Bá Quốc Ngữ do ông Nguyễn Văn Tố làm trưởng ban. Sau này tôi mới biết là lúc bấy giờ anh đã tham gia hoạt động cách mạng rồi. Đến ngày tuyên ngôn độc lập của bác Hồ, chính anh Nguyễn Hữu Đang là người tổ chức buổi mít-tinh tuyên ngôn độc lập. Sau này anh tham gia vào chính phủ lâm thời, làm bộ trưởng không bộ. Tôi luôn luôn kính trọng anh là một người hoạt động cách mạng rất tích cực và trong sáng. Khi chúng tôi chuẩn bị diễn vở Kiều Loan, anh vui lòng nhận đỡ đầu cho vở Kiều Loan để biểu diễn, từ việc xin phép Nhà Hát Lớn, hoặc xin phép nọ kia, anh ấy lo hết. Đến thời kháng chiến, tôi cũng chỉ gặp anh ấy những ngày đầu.

– TK: Thưa anh, đến khi nào thì anh Đang ngừng mọi hoạt động kháng chiến và giữ khoảng cách với chính phủ cách mạng?

– HC: Vào khoảng tháng 7 năm 48, có Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc do ông Trường Chinh đề xướng và làm chủ tịch. Hội Nghị Văn Hóa Toàn Quốc được tổ chức để động viên và hướng dẫn trí thức và văn nghệ sĩ chuẩn bị đi sâu vào cuộc kháng chiến. Sáng tác hay biểu diễn trước tiên là hướng vào cuộc kháng chiến để giành thắng lợi đã, rồi sau sẽ bàn đến những vấn đề khác. Tức là lúc bấy giờ hội nghị mới đề ra Văn nghệ kháng chiến. Tôi cũng được mời, nhưng không đi dự vì bị ốm, trong hội nghị có mặt anh Nguyễn Hữu Đang. Sau hội nghị đó, không hiểu vì lý do gì thì anh Đang không làm công tác kháng chiến nữa, anh về Thanh Hóa, ở nhà người bạn là anh Trần Thiếu Bảo, giám đốc nhà xuất bản Minh Đức. Ở chơi với anh Bảo thôi và cũng giúp anh Bảo làm vài công việc xuất bản và góp ý kiến. Anh Bảo cũng thân với anh Đang và cũng nghe lời anh Đang nhiều. Anh Đang không làm công việc gì của nhà nước cả, tôi cũng không hiểu rõ nguyên nhân. Mãi sau này, hòa bình rồi, về Hà Nội tôi cũng chỉ nghe phong phanh anh em bàn tán thôi chứ hỏi anh Đang thì anh ấy cũng không nói, là hình như trong hội nghị văn hóa toàn quốc, anh Đang có mâu thuẫn về đường lối văn nghệ, văn hóa với ông Trường Chinh. Do mâu thuẫn không giải quyết được, cho nên anh Đang không làm việc nữa, anh nghỉ. Anh về Thanh Hóa. Về nguyên nhân tại sao anh Đang bỏ về Thanh Hóa thì tôi nghe như thế.

– TK: Theo anh thì nguyên nhân nào đã khiến anh Đang, sau năm 1954, trở lại hoạt động?

– HC: Đến khi hòa bình lập lại, năm 1954, tôi cũng chỉ được nghe kể lại chứ không được chứng kiến, là như sau: Ông Trường Chinh có hỏi ông Tố Hữu: Anh Đang anh ấy đã không làm việc gì từ lâu rồi, từ mấy năm nay, thì bây giờ hòa bình thắng lợi rồi, ta phải mời anh ấy ra làm việc chứ. Thế là anh Tố Hữu cũng nghe theo và mời anh Đang ở Thanh Hóa ra. Ra, thì anh Tố Hữu nói với anh Đang: “Anh đã nghỉ một thời gian rồi thì bây giờ mời anh ra làm việc. Việc văn hóa văn nghệ cần phải mạnh lên, khẩn trương lên, vì đã hòa bình, vậy anh giúp tôi làm giám đốc sở văn hóa thông tin Hà Nội. Khả năng của anh thì có thể làm hơn thế, nhưng hiện nay, Hà Nội là một thủ đô cho nên công việc văn hóa ở Hà Nội sẽ là đầu tầu cho cả nước, anh vui lòng giúp cho việc đó”. Nhưng anh Đang anh ấy từ chối. Anh ấy bảo: Tôi không làm được việc ấy. Tôi thích làm báo, xin anh thu xếp cho tôi về làm báo Văn Nghệ. Lúc ấy, anh Tố Hữu cũng đành phải nhận lời, đưa anh Đang về làm biên tập báo Văn Nghệ thôi, chứ cũng không có chức vụ gì ghê gớm cả. Đấy là thời kỳ đầu mới hòa bình năm 1955.

Anh Đang về báo Văn Nghệ, nhưng anh Đang là người đặc biệt có tài tổ chức: trong kháng chiến anh ấy đã tổ chức thanh niên xung phong, tổ chức mặt trận bình dân học vụ, sau đó lại là tổ chức hội nghị văn hóa toàn quốc. Cho nên uy tín của anh ấy trong giới văn hóa càng ngày càng lên cao. Nhưng mà anh ấy không muốn làm việc cho chính quyền nữa – tức là cái chức Giám Đốc sở Văn hóa Hà Nội- mà anh ấy chỉ xin làm báo thôi, thì ông Tố Hữu cũng phải chấp nhận.

Lúc bấy giờ tổng biên tập báo Văn Nghệ là anh Xuân Diệu. Anh Xuân Diệu thấy anh Nguyễn Hữu Đang về thì mừng quá, vì như thế anh Đang sẽ đỡ cho việc hành chính, mà việc hành chính thì các nhà thơ, nhà văn không thạo lắm. Khi anh Đang về, vì anh ấy có tài tổ chức cho nên anh ấy tổ chức ngay hai cuộc phê bình trong văn học:

– Thứ nhất là cuộc phê bình tác phẩm Vượt Côn Đảo của Phùng Quán. Vượt Côn Đảo lúc bấy giờ nổi tiếng lắm, được in đi in lại nhiều lần, tiền nhuận bút của nhà xuất bản Văn Nghệ và tiền thưởng -nhà xuất bản Quân Đội không trả nhuận bút nhưng có tiền thưởng- rất nhiều, đến nỗi Phùng Quán có lần đem về cả một thúng tiền, nói với tôi: “Anh ơi! Em biết tiêu thế nào những tiền này”.

– Sang giữa năm 56, Hội văn nghệ tổ chức tổ chức một lớp học tập chính trị, đầu đề tài liệu học tập là “Những tài liệu của Mác, Lê-nin, Staline nói về vấn đề văn nghệ”[4]. Buổi sáng học, buổi chiều làm việc cơ quan. Tôi nhớ học 18 ngày. Nhưng từ hôm mở lớp đến độ ngày thứ năm thì có cái mục gọi là liên hệ thực tế. Tất cả các văn nghệ sĩ ở các tỉnh hoặc đi tập kết về Hà Nội, thì họ đều nêu lên những thắc mắc, mà phải nói là những thắc mắc ghê gớm về vấn đề văn nghệ và lãnh đạo văn nghệ. Nó gần như là một cuộc tố khổ: các văn nghệ sĩ đều nói ra những thắc mắc về việc lãnh đạo địa phương, cả lãnh đạo trung ương nữa, đối với văn nghệ. Thành ra những ngày cuối cùng rất sôi nổi. Có thảo luận sôi nổi nhưng cuối cùng không ai giải quyết được những thắc mắc ấy. Khi tan lớp học 18 ngày thì tình hình không nhẹ nhàng đi mà nó càng căng dần lên. Những thắc mắc của anh em văn nghệ sĩ nó truyền ra ngoài. Đó là những vấn đề sâu sắc của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ: vấn đề sáng tác, vấn đề lãnh đạo thế nào, rồi quan hệ giữa lãnh đạo và sáng tác như thế nào, tức là quan hệ giữa Đảng và văn nghệ sĩ thế nào v.v… Toàn là những thắc mắc mà anh em lôi ra từ thực tế trong kháng chiến và thực tế trong hòa bình lập lại.

Thì lúc bấy giờ anh Đang anh ấy mới nẩy ra một ý: Đang lúc văn nghệ sĩ có nhiều thắc mắc như thế này thì chúng mình nên ra một tờ báo. Tôi bảo: “Ra báo thì phải có tiền, chứ tự nhiên ra thế nào được”. Anh Đang bảo: “Tiền thì tôi sẽ nhờ người bạn đi vay và chắc chắn chỉ vài số báo là đã có thể trả được. Nhưng phải ra ngay bởi tình hình nó đang sốt dẻo như thế này, phải ra báo thì mới có lợi cho phong trào văn nghệ.” Anh ấy nói với tôi: “Cậu phải ra tờ báo, tôi sẽ giúp đỡ bên trong thôi, ngấm ngầm thôi, chứ tôi không thể nào đứng lên ra báo, vì tôi còn có quan hệ với lãnh đạo nên không thể tự tiện ra báo được. Hoàng Cầm là người vừa có tên tuổi, vừa quen công việc sáng tác, biểu diễn, thì Hoàng Cầm nên ra một tờ báo để chấn chỉnh lại tình hình văn nghệ, đưa những vấn đề ra thảo luận trên báo thì sẽ có lợi cho văn nghệ sĩ.”

 Đầu tiên tôi không nhận lời, vì lúc ấy tôi đang làm ở nhà xuất bản của Hội Văn Nghệ, nhà xuất bản chính thức của Nhà Nước, phải đọc và nhiều công việc bận lắm. Nhưng mà anh ấy vẫn không tha. Anh ấy cứ bám riết lấy. Tôi đã từ chối mà hàng tuần lễ, ngày nào anh ấy cũng gặp và cũng bàn về chuyện ấy anh ấy thúc tôi phải ra một tờ báo. Liền trong hai tuần lễ cứ sáng sớm, 6 giờ, là anh ấy đến nhà tôi, có hôm tôi còn ngủ, vợ tôi vào gọi dậy, anh ấy bảo thôi cứ để cho anh ấy ngủ, tôi ngồi chờ. Anh ấy cứ nhất định như vậy, giữ riệt lấy tôi và thúc đẩy tôi. Thế rồi cuối cùng tôi cũng phải nhận lời. Bởi tôi cũng dễ tính và hay nể bạn.

– TK: Thưa anh, các anh đã tổ chức tờ Nhân Văn như thế nào?

– HC: Lúc đầu chỉ có tôi và anh ấy bàn với nhau thôi, bàn về việc tìm người đứng tên, tìm người biên tập, tìm thư ký toàn soạn, v.v… Anh Đang gợi ý là tờ báo như thế này thì ta nên mời một người vừa có tuổi, vừa có uy tín lớn ở trong nước, uy tín lớn đối với anh em văn nghệ, làm chủ nhiệm. Tôi chưa nghĩ ra ai thì chính anh Đang lại bảo:  “Anh thì anh thân với cụ Phan Khôi, mà cụ Phan Khôi thì khó thuyết phục cụ ấy lắm, chỉ có anh may ra mới thuyết phục được cụ ấy ra cộng tác. Anh nên đến nhà cụ Phan Khôi nói chuyện rồi mời cụ ấy đứng ra làm chủ nhiệm tờ báo cho mình”. Tôi cũng nể anh Đang, tôi bảo: “Cụ Phan Khôi thì tôi có thể nói được vì tôi rất thân với cụ”.

Cái phòng tôi làm việc ở nhà xuất bản thì ngay bên cạnh phòng cụ Phan Khôi, thỉnh thoảng tôi vẫn chạy sang hút thuốc lào hoặc nói chuyện vui với cụ thì cụ có vẻ rất quý tôi và cũng thích nói chuyện với tôi. Anh Đang bắt thóp được điều đó, anh kích thêm: “Chỉ có anh mời thì may ra cụ mới nhận lời, còn những người không thân thì chưa chắc cụ đã nhận lời đâu”. Vì nể lời anh Đang mà tôi đi mời cụ Phan Khôi và cái may mắn không ngờ là sau khi tôi nói ý muốn ra một tờ báo như thế, cụ chỉ hỏi về cái tôn chỉ, mục đích của tờ báo rồi cụ bảo: “Thế thì được, tôi nhận lời”. Và tôi cũng phải nói ngay với cụ: “Xin thưa bác là bác không phải làm gì đâu ạ, bác chỉ đứng tên, còn bác muốn xem (nội dung) tờ báo hay bác muốn xem bài nào, tất cả những gì bác yêu cầu thì chúng em xin hết sức phục vụ cho bác”.

Thế ông cụ bảo: “Ờ! Được rồi! Tôi nhận lời và nếu tôi có yêu cầu gì thì các anh phải làm đúng theo lời yêu cầu của tôi”. “Vâng! Chúng em sẵn sàng!” Câu chuyện chỉ có thế.

Được cụ Phan Khôi nhận lời rồi, thì tôi với anh Đang lập tức thảo luận ngay việc đặt tên tờ báo và sẽ mời những ai cộng tác. Lúc đầu anh Đang có đưa ra một số tên như là Văn nghệ mới, Con đường mới, Sáng tạo… gì gì đó. Tôi bảo: “Mình nên chọn một cái tên thật hay, vừa đúng với mục đích tôn chỉ, nhưng đồng thời nó cũng phải mới nữa. Chứ Con đường mới hay Sáng tạo thì cũng thường thôi”. Anh Đang mới hỏi tôi: “Thế cậu có ý kiến gì để đặt tên cho tờ báo không?” Tôi bảo:  “Tôi nghĩ rằng thế giới bây giờ, người ta tôn trọng con đường văn nghệ nào mà đề cao tính cách của con người, lòng nhân ái, tình yêu thương con người và tôn trọng cái quyền làm người. Thế giới thì người ta quen với chuyện ấy rồi, nhưng bên mình thì chưa. Bây giờ mình phải đưa ra hẳn một cái gì về con người. Có hai chữ mà tôi cũng học được không biết ở đâu, tôi biết là tiếng Pháp gọi nó là Humanisme, tiếng Việt gọi nó là Nhân Văn. Hay ta lấy cái tên Nhân Văn đặt cho tờ báo” Thì anh Đang anh ấy vỗ đùi đen đét, anh ấy bảo như vậy thì hay quá, ờ nhất định nhá! Lấy tên Nhân Văn! Từ đấy mới ghi vào là: Ra tờ báo lấy tên Nhân Văn mà chủ nhiệm là Phan Khôi.

Sau đó anh Đang lại gợi thêm ý nữa: “Có chủ nhiệm rồi, nếu không có chủ bút thì cũng phải có thư ký toà soạn chứ!” Lúc bấy giờ định mời anh Văn Cao, thì anh Đang nói ngay: “Chưa chắc Văn Cao đã nhận lời, vì cậu ấy vẫn còn là đảng viên. Là đảng viên thì không thể nào đứng ra làm báo ngoài đảng được”. Anh Đang lại bảo: “Hay là cậu thử hỏi Trần Dần xem”. Thì tôi bảo: “Trần Dần vừa bị một cú oan ức trong văn nghệ quân đội, do sự độc đoán của lãnh đạo văn nghệ bắt Trần Dần và Tử Phác. Hai người này không thể mời được. Anh Dần vừa mới được tự do thì không nên ghép anh ấy vào cái này làm gì”. Anh Đang lại nói: “Hay là mời Lê Đạt?”. Tôi với Lê Đạt vẫn là bạn thân cùng nhóm với nhau, tôi hỏi Lê Đạt thì Lê Đạt bảo: “Làm thì kể cũng làm được thôi, nhưng mà mình cũng vẫn là đảng viên, mà đảng viên thì không thể nhận lời làm báo ngoài đảng được”.

Đến độ ít lâu sau, tình cờ tôi gặp anh Trần Duy đang ngồi uống cà-phê ở nhà xuất bản Minh Đức của Trần Thiếu Bảo. Tôi biết anh Trần Duy là một hoạ sĩ tập kết từ trong Nam ra[5], là một người có học, thông minh, nhanh nhẹn, có nhiều tư tưởng hướng về tự do. Tôi mới mời anh Trần Duy ra một chỗ và nói: “Mình định ra một tờ báo lấy tên là Nhân Văn, để in những bài sáng tác hoặc bình luận chung quanh vấn đề văn nghệ thôi. Hiện nay chưa có ai làm thư ký toà soạn, cậu có thể giúp mình được không?” Thì Trần Duy nhận lời ngay lập tức. Bởi anh ấy cũng sốt sắng và là người có nhiều thắc mắc về văn nghệ. Anh ấy nhận lời ngay. Thế là xong. Có chủ nhiệm rồi, có thư ký tòa soạn rồi, còn bên trong thì tất nhiên là có anh Nguyễn Hữu Đang, tôi và anh Lê Đạt. Sau đó chúng tôi cũng làm một buổi họp bạn nói chuyện ra báo, thì mọi người cũng ủng hộ cả.

– TK: Thưa anh, về bài vở trong Nhân Văn số 1, các anh đã sửa soạn và thu thập như thế nào?

– HC: Số một thì mới đầu tôi cũng chưa định viết bài gì cả. Đầu tiên tôi thấy anh Lê Đạt có một bài thơ tên là Nhân câu chuyện mấy người tự tử. Tôi bảo: “Hãy giữ lấy bài thơ đó đã”.  Bài thơ dài và rất mới mẻ. Thế rồi cũng lại chính anh Đang gợi ý cho tôi, anh Đang bảo: “Cậu viết đi! Cậu viết một bài báo hay bài văn gì về Trần Dần, viết thế nào cũng được, nhưng phải có một bài về chuyện Trần Dần”. Trần Dần với Tử Phác vừa bị trong quân đội nó bắt giam. Thế rồi anh Trần Dần anh ấy mới cứa cổ tự tử, vì thế nó mới đánh động lên cấp lãnh đạo cao nhất là ông Phạm Văn Đồng rồi đến ông Nguyễn Chí Thanh. Lúc bấy giờ ông Nguyễn Chí Thanh mới biết chuyện Trần Dần vì bị oan ức gì mà lại tự tử thế này, rồi ông ấy mới mua quà đem vào bệnh viện cho Trần Dần. Anh Trần Dần anh ấy tự tử trong một cái hầm, vì nó bắt giam anh ấy vào cái hầm có độ 4 mét vuông, 37 bậc đá. Thì ở đấy anh ấy mới bày ra cái trò tự tử, chứ thực sự là anh ấy không tự tử, sau này tôi mới biết thế. Lúc bấy giờ tôi chả có tin tức gì, chỉ biết là anh ấy bị bắt đi, mà không biết là đi đâu, không thấy về nữa.

Thì chính anh Nguyễn Hữu Đang lại gợi ý cho tôi: “Cậu nên viết một bài về Trân Dần, vì nó đang là vần đề sốt dẻo, mà là vấn đề lớn nhất trong trong những thắc mắc của văn nghệ sĩ trong lớp học 18 ngày”. Việc Trần Dần và Tử Phác bị bắt làm xao động tất cả giới trí thức, văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Thế là số một có bài thơ của Lê Đạt cũng đã hấp dẫn rồi, thêm tôi viết bài Trần Dần và một số bài khác nữa, cũng đều nêu lên những cái thắc mắc trong lớp học 18 ngày ấy.

Khi báo ra thì quả nhiên nó gây tiếng động, như ông Nguyễn Tuân ông ấy nói. Hôm ấy đang ở cơ quan Hội Văn Nghệ, ông Nguyễn Tuân trải tờ Nhân Văn số 1 ra, ông ấy chỉ vào bài Con người Trần Dần, nhưng ông ấy không nói về bài này, ông ấy bảo: “Bài này thì nó cũng nguy đấy, thế nhưng không hay bằng cái này!” Tức là cái tranh họa sĩ Nguyễn Sáng vẽ Trần Dần. Rất là giống, không những giống, nhưng mà nó lại đúng tính cách Trần Dần. Một tính cách rất kiên quyết, mạnh bạo, liều lĩnh, có thể cho là phá phách nữa. Cái sẹo mà anh Trần Dần cứa vào cổ thì Nguyễn Sáng đưa cái sẹo ấy lên thành nét nổi bật trong chân dung Trần Dần. Cái tranh ấy nó gây ra những suy nghĩ cho người đọc, và nó cũng như là quả bom ấy. Thì chính ông Nguyễn Tuân còn chỉ và tranh bảo: “Cái này nó mới ghê này!” Thì đấy, tác giả viết, hoặc vẽ, nhưng cái chính là cái gợi ý của anh Nguyễn Hữu Đang.

Còn một chuyện nữa là trước khi ra báo thì các anh em đã rậm rịch nói với nhau rồi, cho nên tin tức đều đến tai lãnh đạo cả. Thì lãnh đạo, tức là bộ chính trị, đã bố trí cho cho ông Võ Nguyên Giáp mời Nguyễn Hữu Đang lên nói chuyện, mời riêng đấy. Còn ông Lê Đức Thọ, lúc bấy giờ cũng là bộ Chính Trị, thì mời Lê Đạt và ông Lê Liêm lúc bấy giờ là tổng cục phó Tổng Cục Chính Trị -về sau này ông ấy mới chuyển sang làm Thứ trưởng Bộ giáo dục- thì mời tôi. Như vậy là ba ông ủy viên Bộ Chính Trị gặp những người chủ chốt của Nhân Văn, và nếu mà ba ông ấy thuyết phục được ba người đó đừng ra báo, thì thôi, coi như là yên ổn cả, không có chuyện gì. Ông Lê Liêm gặp tôi đến ba buổi tối trong nhà khách của quân đội, ông Giáp thì gặp anh Đang, ông Lê Đức Thọ gặp anh Lê Đạt, tất nhiên là để nói đến chuyện ra tờ báo, thì họ cũng lấy tình đồng chí, tình bạn bè, khuyên bảo, chứ không phải để ra lệnh gì. Ông Lê Liêm gặp tôi rất khiêm tốn, nói hết những cái Đảng có thể có những sai lầm này, sai lầm khác v.v… trong việc lãnh đạo văn nghệ. Tự ông ấy nói ra để cho mình hiểu và yên tâm là Đảng cũng biết đấy, để Đảng sửa dần, để cho mình muốn nói cái gì về Đảng trên tờ báo của mình thì mình rút đi, rút lui cái ý kiến trên báo ấy đi. Mục đích của những cuộc gặp đó là như thế. Khổ một nỗi là lúc bấy giờ những thắc mắc của anh em văn nghệ nó ồn ã lắm. Mà nó nhiều cái sâu sắc lắm, cho nên anh Đang anh ấy kiên quyết là không, cứ phải ra báo, phải ra báo thì mới nói được. Anh Đang kiên quyết ra báo. Tôi thì ra cũng được mà không ra cũng được. Thế là trong nội bộ của mấy anh em hoạt động nhất trong báo Nhân Văn là Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt và tôi cùng thống nhất với nhau là cứ ra. Thế là ra được Nhân Văn số 1.

Vì chúng tôi không thể thu thanh tiếp được nữa, cho nên buổi nói chuyện với nhà thơ Hoàng Cầm về tờ Nhân Văn và Nguyễn Hữu Đang tạm ngưng ở đây.

Thu thanh qua điện thoại Paris-Hà Nội ngày 8/2/2007

Ngày Nguyễn Hữu Đang qua đời

[1] Giai Phẩm Mùa Xuân có các sáng tác của: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Văn Cao, Phùng Quán, Nguyễn Sáng, Sỹ Ngọc.

[2] Vì tác phẩm Về Kinh Bắc.

[3] Đầu năm 1987, lúc bệnh nặng. Hoàng Cầm bị bệnh từ khi đi tù về, năm 1983, đã định tự tử nhiều lần.

[4] Tức là lớp học 18 ngày tháng 8/1956.

[5] Thực ra Trần Duy đi kháng chiến ở Bắc.

Nói chuyện với họa sĩ Trần Duy

Từ khi phong trào NVGP bị dập tắt đến ngày nay, họa sĩ Trần Duy, cựu thư ký tòa soạn báo Nhân Văn, không lên tiếng. Ở tuổi 88, ông nhìn lại đời mình, và chúng tôi thành thực cảm ơn ông đã có nhã ý dành cho thính giả RFI nghe những phát biểu đầu tiên của ông sau nửa thế kỷ im lặng. Những phát biểu của ông sẽ soi sáng thêm một số vấn đề nữa về báo Nhân Văn, và như thế chúng ta tạm coi là đã có một hồ sơ tương đối đầy đủ về hành trình NVGP qua tiếng nói của những người trong cuộc.

– TK: Thưa bác Trần Duy, xin thành thật cảm ơn bác đã dành cho thính giả RFI được nghe những phát biểu đầu tiên của bác sau hơn nửa thế kỷ im lặng. Vậy trước hết, xin bác thuật lại từ đầu về thân thế của bác, bác xuất thân trong một gia đình hoàng phái, nhiều đời làm quan dưới triều Nguyễn phải không ạ?

– TD: Gia đình nhà tôi, các ông tổ theo Gia Long, theo Gia Long từ những trận như trận Rạch Ngầm và ông cao tổ nhà tôi Trần Quang Khương là trợ lý cho Lê Văn Duyệt, trong gia phả có ghi rõ như thế. Đến đời Gia Long, vua Gia Long gả con gái của bà Hậu ở trong miền Nam cho ông Khương. Sau đến đời Thiệu Trị thì gả bà Đồng Phú công chúa cho ông cố nhà tôi là Trần Quang Phổ. Như thế nhà tôi hai đời làm phò mã của triều Nguyễn. Ông nội tôi, Trần Quang Trinh làm tham tri Bộ Lễ, rồi thượng thư Bộ Hình trong một thời gian rồi về hưu, sau ra làm tổng đốc Quảng Bình, Quảng Trị. Tôi sống trong một gia đình phong kiến và tôi cũng ý thức được là phong kiến cũng đã suy tàn chứ không còn hưng thịnh gì, thành ra tôi có một nỗi buồn. Vừa buồn vừa bế tắc. Sau khi đỗ tú tài, chưa biết làm gì, tôi đi hướng đạo. Hướng đạo giúp cho tôi được nhiều lắm, một là có ý thức về xã hội, hai là tạo cho tôi một cái nhìn về thiên nhiên, biết cái cảnh quan, cái đẹp của thiên nhiên, ví dụ như đi cắm trại, chơi lửa trại hay là làm những sưu tập về hoa, lá; vậy cái ý thức về thiên nhiên, tôi đã có từ khi bắt đầu đi hướng đạo, và sự mâu thuẫn giữa tôi và xã hội cũng do hướng đạo mà ra, vì hướng đạo cho mình ý thức làm những bonnes actions, những điều tốt, thì mình đã bắt đầu đi vào những bi kịch của xã hội: người già, người ốm, người ăn mày, v.v… Đấy là một thay đổi lớn trong đời tôi.

– TK: Tại sao bác lại chọn trường Mỹ Thuật Đông Dương mà không học ngành khác? Hội họa với bác có duyên nợ như thế nào?

– TD: Khi tôi đỗ tú tài xong thì ba tôi muốn tôi học trường Hậu Bổ, muốn tôi học lại chữ Nho để ra làm quan. May sao tôi thoát được và ra Hà Nội. Tôi ra Hà Nội khoảng năm 1939-40, thì cũng hoang mang, chưa biết học trường nào, các bạn tôi đã vào trường Y, trường Luật, v.v… Cũng may tôi gặp hai anh bạn là anh Mai Văn Năm và anh Võ Lăng, các anh ấy học trường Mỹ Thuật. Một hôm tôi đến chơi thì thấy đúng trường Mỹ Thuật mới là nơi mình gửi gấm cuộc đời của mình. Tôi nộp đơn, người ta nhận ngay. Tôi học chỉ có một năm auditeur libre (dự thính viên) một năm dự bị thì tôi được vào trường.

Cũng thời kỳ ấy, gia đình tôi bắt đầu có những thay đổi, khi đó bắt đầu đảo chính: Nhật đảo chính rồi Pháp đảo chính, Việt Minh đảo chính v.v… Đứng trước những thay đổi lớn của xã hội, một con người không có gì để nương tựa cả thì cái nỗi hoang mang của nó rất lớn, vì thế tôi không biết đi đâu. Cho nên cái mà tôi vẫn bíu vào là cái mỹ thuật. Anh Phùng Quán có nói đại ý “làm thơ giúp cho anh đứng dậy được”, thì chính cái hội họa, chính cái mỹ thuật, đã làm cho tôi sống lại được. Vì trong thời kỳ đói -năm Ất Dậu- thì không có người thanh niên nào lúc bấy giờ mà không trải qua cái khủng hoảng ấy. Không phải vì mình theo cách mạng, cũng không phải vì yêu đất nước gì cả, nhưng là một khủng hoảng tâm lý kinh khủng về cái chết của con người. Thì vấn đề chết đặt ra cho mình cũng rất ghê và (vấn đề) con người đặt ra cũng ghê. Cái nguy hiểm nhất là thế này: mình đã đi vào cái đẹp của con người thì lúc bấy giờ trước cái chết của con người: con người dơ xương ra, những người đàn bà không còn thân thể đàn bà nữa đi trôi giạt ngoài đường,… tất cả những cái đó nó gây cho mình một bế tắc không biết lối nào mà thoát ra cả.

– TK: Như vậy có phải vì đứng trước tình trạng ấy thì bác, ở tuổi thanh niên, đã quyết định hành động và vì thế mà bác theo cách mạng, có phải như vậy không?

– TD: Lúc bấy giờ thì đứng về mặt… không cách mạng đi nữa thì cũng phải làm một cái gì đó cho nó cách mạng và cũng không hiểu cách mạng là cái gì cả. Lúc đó tôi quen một anh bạn là anh Lê Hữu Kiều, trước là tráng sinh trong hướng đạo, sau anh ấy ra, thì hình như là đảng viên thì phải, gặp tôi anh rất mừng. Một lần anh ấy dắt tôi lên đồn điền Hiệp Hòa ở Bắc Giang, tiếp xúc với một số sinh viên, tôi mới biết là tất cả đều ở trong tổ Việt Minh, lúc bấy giờ tôi không ý thức được cách mạng là gì cả. Tôi thấy họ chống Nhật. Mà tôi lại là một người thích nghệ thuật Nhật nhất. Phát-xít nói vậy thôi chứ tôi chẳng hiểu phát-xít là cái gì cả. Tôi không có ý thức gì về chính trị, nhưng anh Lê Hữu Kiều bảo tôi nên tham gia vào hoạt động đó vì (mình là) thanh niên, tôi bảo ừ thì làm. Anh ấy bảo tôi chuyển những truyền đơn, hay những tờ báo về Hà Nội. Thật ra lúc bấy giờ tôi không hiểu những nguy hiểm của việc làm ấy đâu, khi đó tôi quen với gia đình mà bây giờ là vợ tôi, cả gia đình ở hỏa xa, nên đi lại dễ dàng. Tôi chuyền những truyền đơn, báo chí về Hà Nội, tôi đi với người là vợ tôi bây giờ Lê Bạch Tuyết, em ruột của Lê Thanh Đức, lúc bấy giờ cô ấy còn bé thôi, độ mười bốn, mười lăm tuổi thôi, tôi lúc ấy đã hai mươi hai, hăm ba tuổi rồi. Cô ấy quen với tụi Nhật đóng trong xưởng máy Đông Anh, thành ra những chuyện đó không sao cả, đưa về Hà Nội xuôi lọt và thậm chí tôi với anh Lê Thanh Đức còn tổ chức in truyền đơn ở Sơn Tây. Vậy tôi bước vào cách mạng, vào Việt Minh mà không có ý thức gì về chính trị cả, hoàn toàn không ý thức. Tất cả những yếu tố đưa tôi vào cách mạng không phải là vì tinh thần cách mạng mà chỉ là ý định của một người thanh niên muốn làm một cái gì có ích thế thôi, chứ không có ý thức gì về dân tộc, về cách mạng, không có ý thức gì to lớn cả.

– TK: Khi đi theo cách mạng như thế, thì tâm trạng bác như thế nào? Thưa bác, bác có thể giải thích cái việc tại sao bác theo Việt Minh trong khi bác không biết gì về Việt Minh cả?

– TD: Khi tôi bước vào cách mạng, khi tôi bước vào cuộc kháng chiến, thì tôi cũng bần thần như người – cười,  tôi hay nói đùa với mọi người- cũng như cái anh nhẩy dù mà dù không mở, tôi cứ lao, may sao mò mẫm thế nào lại mò đúng cái nút dù bật dây, còn không thì cũng rơi ngã lăn kềnh ra thôi. Vì thế, ý thức của một người làm cách mạng thì tôi không có, nhưng tôi vẫn đi trên con đường cách mạng, tất nhiên tôi không phải là AQ, tôi đi với ý thức của người thanh niên, tất nhiên là do phong trào đẩy tôi đi, đi vào một cuộc phiêu lưu để tìm một cái vui, cái mới trong đời mình. Khi vào Việt Minh, lúc ấy, tôi cũng không biết là Việt Minh có nhiều đảng đâu. Tôi không biết Việt Minh là gì cả. Anh bạn bảo: “Cậu vào Việt Minh thì cậu phải vào cái đảng Dân Chủ”. Tôi bảo: “Chết! Tôi không bao giờ thích vào đảng nào cả, tôi không có ý thức về đảng”. Anh ấy bảo trong Việt Minh có đảng Dân Chủ, khi ấy tôi cũng không biết là đảng Dân Chủ do ông Hoàng Minh Chính phụ trách tổng thư ký của đảng. Nhưng khi tiếp xúc lần đầu tiên thì tôi rất thích anh này, người hồ hởi, cởi mở, tôi đối với anh cũng rất thân.

– TK: Trở lại với gia đình bác một chút, khi Việt Minh lên nắm chính quyền, gia đình bác cũng trải qua một cuộc gia biến rất nặng, thưa bác, sự thể đã xẩy ra như thế nào?

– TD: Khi tôi còn đi học, thì cuộc đảo chính ấy xẩy ra. Ba tôi bị bắt cùng với Bửu Trưng, cùng với Phạm Quỳnh, bị giam cùng một nơi. Cái sốc đó đối với tôi buồn vô cùng. Ba tôi là Trần Công Hoàng – làm quan ở Thừa Phủ. Lúc bấy giờ trôi nổi lắm trong thời quan lại, làm quan nhưng cũng không ra sao cả, cách chức lên, cách chức xuống cũng buồn lắm. Ở Thừa Phủ, Bửu Trưng bị bắt thì ba tôi cũng bị bắt cùng. Khi đó cụ Huỳnh, tức cụ Huỳnh Thúc Kháng đấy, ra ngoài (Bắc) để làm phó chủ tịch (trong chính phủ Lâm Thời). Khi trước, ở trong Huế, tôi có quen với cụ Huỳnh -hiện nay tôi vẫn còn giữ cái ảnh ba tôi chụp với cụ Huỳnh- tôi đến tìm cụ Huỳnh ở Phủ Thủ Tướng. Gặp tôi cụ hỏi: “Mày đi đâu?” Tôi bảo: “Con đến tìm cụ”. Tôi đưa vấn đề ba tôi bị bắt. Thế ông cụ bảo: “Cha mày bị lúc nào? Tôn Quang Phiệt nó có ở đấy không?” Lúc bấy giờ Tôn Quang Phiệt là chủ tịch Thừa Thiên. Tôi bảo: “Có”. Ông bảo: “Để tao viết cho Tôn Quang Phiệt”. Ông viết cho Tôn Quang Phiệt một cái thư. Tôi về Huế tìm ông Tôn Quang Phiệt, tôi đưa. Ông Tôn Quang Phiệt gặp các ông Nguyễn Duy Trinh, v.v… thì 15 ngày sau, chính bản thân tôi vào xin cho ba tôi về. Cầm giấy của ông Tôn Quang Phiệt, tôi đến gặp anh Ngọc là trưởng ban công an, lúc bấy giờ chưa gọi là Công An mà gọi là Trinh Sát, tôi đưa giấy, thì hôm sau cụ tôi được về. Như cô Thụy Khuê cũng biết, những người cùng bị giam thời đó với ba tôi, ông Phạm Quỳnh và bác tôi là Bửu Trưng, thì sau khi Tây nhẩy dù xuống Phong Điền, tất cả những người đó đều bị chết cả. Vì thế, tôi rất mừng là đã cứu được ba tôi lúc bấy giờ. Vậy đời tôi bước vào cách mạng, ân, oán đều có cả.

– TK: Mặc dù vậy bác vẫn tham gia kháng chiến Việt Minh vả bác còn đi đánh trận nữa, bác đã từng đánh trường bay Gia Lâm, vậy trận đánh trường bay Gia Lâm như thế nào, xin bác thuật lại.

– TD: Khi bắt đầu kháng chiến thì thật quả tình tôi không có ý thức về cuộc kháng chiến là gì cả, đánh nhau thế nào tôi cũng không biết. Nhưng khi tôi gặp anh Hoàng Minh Chính, anh bảo: “Mày về chuẩn bị đi ra an toàn khu”. Tôi cũng chẳng hiểu an toàn khu là gì. Hoàng Minh Chính bảo tôi: “Ngày mai cậu đến nhận giấy tờ rồi đi cùng với Đỗ Đức Dục, với Vũ Đình Hòe”- khi đó tôi đang sinh hoạt trong đảng Dân Chủ. Tôi về nhà thì hôm sau nhận được giấy ra an toàn khu. Tôi nhớ là ra Ngã Tư Sở rồi cứ đi dốc lên phía trên, lên Hương Canh, Vĩnh Yên, Phú Yên gì đó… Một hôm Hoàng Minh Chính đến tìm tôi hỏi: “Hiện nay cậu đang làm gì?” Tôi bảo: “Tôi không làm gì cả, cậu bảo tôi lên an toàn khu, tôi chẳng biết an toàn khu ở đâu cả”. Hoàng Minh Chính bảo tôi: “Hay là mày đi đánh trường bay Gia Lâm đi”. Hoàng Minh Chính rủ tôi đi, ừ thì đi. Tôi hỏi: “Đánh như thế nào, làm cái gì?” Ông ấy bảo: “Bây giờ mày về tổ chức hộ gạo và lên hộ danh sách dân quân ở các nơi đi về, và cậu liên lạc với tỉnh ủy Bắc Ninh”. Tôi cũng làm theo lời Hoàng Minh Chính. Đến khi đánh trường bay Gia Lâm lần đầu tiên, thì tôi với Hoàng Minh Chính ở trên cái trụ sở ở trên gác của nhà máy ở Gia Lâm để nhìn thẳng vào trường bay Gia Lâm. Lần đầu tiên, Hoàng Minh Chính cũng chưa ý thức được rõ ràng gì về sự chỉ huy, tôi nghĩ như thế, vì thấy tay ấy chỉ đốt mấy cái pháo thăng thiên như thế thôi, thì ở trong đó mới bắt đầu nổ. Khi Tây biết mình bắn ở đó, thì tôi thấy nó bắn sang và bắn rất chuẩn; ví dụ bắn cái nhà sập. Tôi và Hoàng Minh Chính đang ngồi, thì cái bàn đổ, rơi xuống đất và nổ luôn cái nhà. Tôi bảo Hoàng Minh Chính: “Thôi, đi xuống đi!” Nhưng Hoàng Minh Chính là một tay rất gan, tay ấy cứ ngồi mãi, không xuống. Khi cái nhà sập hoàn toàn rồi, Hoàng Minh Chính mới xuống. Trận đột kích đầu tiên đó thất bại. Trận thứ hai cũng thất bại và anh Hoàng Phi gì đó, chiến sĩ đầu tiên, chết ở trường bay Gia Lâm cùng với một sĩ quan Nhật. Sau mấy trận thất bại, Trung Ương gọi Hoàng Minh Chính lên, thay chỉ huy, đưa Đặng Viết Châu về thay. Trận cuối cùng là Hoàng Minh Chính chết, tôi tưởng là Hoàng Minh Chính chết nhưng Hoàng Minh Chính không chết. Tôi đi đưa khẩu đại bác 75 vào tận trong sân bay, Tây tìm ra được địa điểm và bắn, tôi và anh Đặng Viết Châu lại bê khẩu đại bác 75 chạy ra ngoài. Khi đó tôi cứ tưởng là Hoàng Minh Chính chết rồi.

– TK: Nhưng rút cuộc thì Hoàng Minh Chính không bị chết như chúng ta đã biết, còn riêng bác thì sau trận Gia Lâm bác còn làm những việc gì nữa cho kháng chiến?

– TD: Hoàng Minh Chính trước khi đi, dặn tôi: “Nếu tao chết thì mày mang tất cả những cái này về cho vợ tao, cho Hồng Ngọc”. Tôi cũng nghe như thế, thì hôm đó truy điệu xong, anh Đặng Viết Châu bảo tôi đi tìm vợ Hoàng Minh Chính, ở đâu khu Vân Đình. Chị Hồng Ngọc đóng ở một cái đình chỗ Vân Đình. Tôi vào hỏi, có chị ấy ra, tôi bảo:  “Anh Hoàng Minh Chính trước khi chết có để tất cả những cái này cho chị”. Tôi còn nhớ, cái ví với cái bút Shaffer và cái ảnh chị Hồng Ngọc. Chị ấy khóc và bảo: “Anh ấy không chết đâu, anh ấy nằm trong kia kìa”. Như thế là Hoàng Minh Chính còn sống. Tôi vào thăm Hoàng Minh Chính. Xong rồi tôi về, gặp anh Đặng Viết Châu, anh bảo: “Bây giờ tớ giới thiệu cậu đến Khu 10 đi”. Giới thiệu tôi với ông Song Hào, khi đó là bộ chỉ huy của Khu 10, đóng trên sông Lô. Song Hào nhận tôi, đưa tôi làm địch vận. Anh Song Hào có nói là hiện nay phần tiếng Pháp không có ai, vậy ông giúp hộ phần tuyên truyền và địch vận ở Khu 10. Tôi nhận và làm việc ở đó như làm truyền đơn dưới quyền chỉ huy của anh Lưu Văn Lợi và anh Chiến Sĩ[1] là một người Đức phụ trách về địch vận. Lúc bấy giờ có cả Lê Đức Nhân Kerkhof, thỉnh thoảng tôi lên bộ chỉ huy nhận chỉ thị của họ về cách thức viết như thế nào, vận động Tây da đen thế nào và tôi vẽ tranh về địch vận. Tôi cũng làm cho vui thôi, thật ra vẫn không có ý thức gì về cách mạng cả.

– TK: Thưa bác, vậy trong kháng chiến bác đã quen với ông Phan Khôi chưa?

– TD: Không, khi tôi đi dự lớp học thì mới học với ông Phan Khôi. Thực ra Phan Khôi đối với tôi là một bậc cao niên, tôi không phải là bạn bè với ông ấy, nhưng khi về lớp chỉnh huấn ấy tôi mới biết là có ông Phan Khôi.

– TK: Trong lúc ấy bác có gặp nhóm Lê Đạt và Trần Dần không ạ?

– TD: Không. Hoàn toàn không… Nói thật với cô, tuy bước vào hội họa, nhưng tôi rất ngại văn nghệ sĩ, tôi cho đấy là thành phần không phải cho tôi chơi. Xuất thân từ một gia đình phong kiến, chết là chết chỗ đó, thành ra trong tôi có cái dè chừng, bạn bè tôi cũng rất xa lạ, không chơi với ai cả. Thật ra tôi không chơi với ai hết. Trong thời kỳ học ở trường cũng thế. Nói ra thì anh em cười. Lúc bấy giờ tôi chỉ quen với một số bạn bè người châu Âu, ví dụ mấy người Tây, nói chuyện với nhau thôi, rất ít chơi với anh em. Thành thử cái cách biệt và cách nhìn của anh em với tôi, người ta chẳng thích tôi và tôi cũng chẳng thích ai cả. Đến khi tôi đi kháng chiến cũng thế. Có một cô tên là Yolande Santé, cô ấy rất quý tôi, trước kháng chiến có gặp tôi, hỏi tôi: “Tại sao mày không nghĩ đi về Pháp?” Tôi bảo: “Cũng đơn giản thôi tại vì tao là người Việt Nam”. Hỏi: “Mày có ý thức gì về chính trị không?” – Tôi chẳng có ý thức về chính trị cả. Vậy cái chuyện không đi kháng chiến hay chưa đi theo Pháp là một ý thức không nằm trong chính trị, không là gì hết. Tôi không thích, thế thôi.

● Làm thư ký toà soạn báo Nhân Văn

– TK: Thưa bác, xin bác nhắc lại việc bác quen cụ Phan Khôi trong lớp Chỉnh huấn ở Việt Bắc như thế nào?.

– TD: Khi ở Huế tôi nghe tiếng ông Phan Khôi, nhưng đến khi vào học lớp chỉnh huấn thì tôi mới biết ông Phan Khôi. Lớp đó là lớp đầu tiên. Tôi có biết lớp đó đâu. Sở dĩ tôi học lớp đó, một phần là do anh Tô Ngọc Vân giới thiệu. Anh Vân viết cho tôi một cái thư bảo: Anh có tranh hay không để dự triển lãm và có lớp học, anh nhớ liên lạc với Tổng Bộ Việt Minh, về học cho vui. Vì đi học cho nên tôi mới biết ông Phan Khôi, người ta xếp tôi cùng tổ của ông Phan Khôi. Tôi còn nhớ tôi vào tổ đó cùng với Đào Duy Dếnh là Đào Phan[2] với Nguyễn Tử Nghiêm[3] và mấy người nữa. Đó là lần đầu tiên tôi biết và tiếp xúc với ông Phan Khôi. Qua trình bày lý lịch, ông Phan Khôi bảo: “Ủa, thế gia đình nhà anh là dòng Thọ Xuân Hương với lại Gia Hưng à?” Tôi bảo: “Vâng, Gia Hưng là bên bà cố tôi”. Ông hỏi: “Nhà anh thuộc dòng Minh Mạng hay Thiệu Trị?” Tôi bảo: “Chính thuộc về Thiệu Trị đấy ạ”. Ông và tôi nói chuyện, và qua câu chuyện ông làm quen với tôi, do đó ông thân với tôi và tôi thấy ông yêu tôi, tôi cũng quý ông.

– TK: Thưa bác, trong trường hợp nào bác đã quen với nhóm chủ trương báo Nhân Văn?

– TD: Nhân Văn à? – cười- Nhân Văn, thật ra tôi không quen anh Lê Đạt, tôi biết anh Lê Đạt khi anh về phụ trách báo Văn Nghệ. Đáng lẽ người ta cho Nguyễn Hữu Đang nhưng người ta để Lê Đạt về đấy cùng với Nguyễn Hữu Đang phụ trách Văn Nghệ. Tôi không biết Trần Dần, tôi cũng không biết Hoàng Cầm. Mãi sau khi họp ở 51 Trần Hưng Đạo, đưa bài Nhất định thắng của Trần Dần -hôm đó là cuộc hội rất lớn- kết tội bài đó. Tôi với ông Phan Khôi ngồi gần nhau, hôm đó tôi không biết Trần Dần, ông Phan Khôi nói với tôi: “Thật ra bài đó chẳng có gì hay nhưng nó phạm thượng, tại vì nói đến màu cờ trong một đêm mưa, không có hướng đi lên, bài đó bị đánh vì thế”. Thứ hai, bài thơ nói đến em, là em nào? Người ta quy rằng Trần Dần như thế là ngã về địch, bị gián điệp. Ông Phan Khôi bảo: “Làm gì có thứ gián điệp gì mà nhanh thế, gián điệp nào mà rõ ràng thế? Gián điệp thì phải tổ chức quy mô, có bài có vở, chứ tổ chức gì lạ kỳ thế. Anh tìm thử xem cô này là cô nào, có thật là gián điệp không”.

Khi đó mình cũng là thanh niên, nghe ông Phan Khôi bảo thế tôi cũng tò mò, tôi lên gần nhà thờ Tin Lành, ở đó tôi nghe nói là có một cái crèche, như là nhà trú ban đêm cho những người tàn tật, người già. Cô Khuê là một trong những người mà nhà thờ Tin Lành dùng, một là để dạy, hai là trông nom cái nhà đó. Tôi nghe như vậy thôi, tôi về nói với ông Phan Khôi: “Cô này là giáo viên, hiền lành, không phải là gián điệp”.  Ông Phan Khôi cũng nói với tôi: “Quy cho người ta là gián điệp, là chính trị, nhanh quá, không nên quy nhau như thế rất nguy hiểm; anh em vừa ở kháng chiến về, chưa hiểu đầu đuôi mà tự nhiên chụp cho nhau cái mũ gián điệp như thế rất nguy hiểm”. Vì thế cho nên tôi không quen biết những người này nhưng vì ông Phan Khôi, tôi đứng trên quan điểm của ông Phan Khôi, tôi rất ủng hộ ông Trần Dần mà tôi không biết ông Trần Dần là ai cả. Tôi cũng không biết ông Hoàng Cầm. Tôi biết anh Lê Đạt vì tôi cùng về báo Văn Nghệ, tôi phụ trách in cho Đại Hội Văn Nghệ, những cái tranh múa sạp, gì gì đó, vì thế mà tôi biết anh Lê Đạt rõ ràng. Do ông Phan Khôi tôi biết nhóm Lê Đạt và Trần Dần.

– TK: Từ việc có cảm tình và ủng hộ nhóm chủ trương báo Giai Phẩm Mùa Xuân đến việc làm thư ký tòa soạn cho báo Nhân Văn cũng khá xa, vậy thưa bác trong hoàn cảnh nào bác đã nhận lời làm thư ký tòa soạn báo Nhân Văn?

– TD: Một hôm ông Phan Khôi rủ tôi đi chơi, khi đi lên đường Phan Chu Trinh bây giờ, ăn phở. Ăn xong đi ra, thì thấy bọn Minh Đức và tất cả mọi người tụ tập ở gần cái nhà trước quán ăn ấy, có cả Lê Đạt, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hoàng Cầm đang dứng giữa đường, bàn to chuyện lắm. Thấy ông Phan Khôi và tôi đi qua thì mọi người hô ầm lên:  “Trần Duy đây rồi!” Tôi chưa hiểu và ông Phan Khôi cũng không hiểu gì cả, đứng lại nói chuyện mới biết là hiện nay anh em định ra một tờ báo và thiếu người làm. Thực ra lúc ấy người nào cũng sợ dây vào chính trị, dây vào báo chí lúc bấy giờ ai cũng sợ cả. Tôi thì cho rằng làm báo có cái gì đâu mà sợ, nếu mục đích chính của tờ báo là thơ, văn nghệ, thì chẳng có gì, tôi bảo: “Tôi làm cho”. Sẵn đó có cả ông Phan Khôi thì mọi người bảo mời cả Trần Duy, mời cả bác Phan, bác Phan đứng làm chủ nhiệm hộ cho Trần Duy. Thực ra lúc ấy không ai dám đứng tên, sau vụ Trần Dần không ai dám đứng. Lê Đạt lúc bấy giờ là cán bộ của đảng rồi, không làm. Nguyễn Hữu Đang không dám làm. Lúc ấy chỉ có tôi, tôi bảo: “Tôi làm được vì đứng về mặt tổ chức, ấn loát, nhà in, tôi hiểu, tôi có thể làm được”. Ông Văn Cao mấy lần lên gặp tôi đặt vấn đề này nọ, ông Phan Khôi cũng rất thắc mắc, hỏi: “Ở trong này vai trò của ông Văn Cao là gì mà ông ấy tích cực như thế?” Tôi bảo đùa với ông Phan Khôi: “Anh em vẫn gọi ông ấy là ông tiên chỉ trong làng thơ đấy”. Ông Phan Khôi cười. Đại khái như thế, tôi vào Nhân Văn không có mục đích lớn cũng như tôi bước vào kháng chiến chẳng có mục đích gì cả, thấy vui thì làm thôi, nghịch nghịch, thấy có thể làm được mà không có hại thì làm.

– TK: Thưa bác sau đó việc tổ chức tờ báo Nhân Văn đã xẩy ra như thế nào? Ai quyết định nội dung bài vở trong tờ báo? Ai điều hành tờ báo?

– TD: Tờ báo nó như hội chợ ấy, chẳng có ai phụ trách ai cả, cãi cọ nhau như ngoài chợ trời ấy cô Khuê ạ. Cãi cọ lung tung, giấy tờ luộm thuộm. Vai trò ông Phan Khôi thì không ai đếm xỉa đến ông ấy cả, người ta chỉ mượn tên ông ấy thôi. Thỉnh thoảng ông đến cũng không ai hỏi ý kiến ông cả, ông ấy có đọc bài vở gì đâu. Tất cả bài vở là do Đang và Đạt quyết định và bài vở tập hợp vào tôi, khi thiếu bài hoặc mise mà không có thì bảo tôi làm cái remplissage lấp lỗ trống hoặc thu dọn bài này, bài nọ, trang mấy, trang mấy có tranh, thì bảo tôi làm. Sự thật ra quyết định bài vở phần lớn là Đang, quyết định nội dung bài là Đạt. Còn thầy cò thầy kiện là ông Văn Cao. Ông Trần Dần, ông Hoàng Cầm là đứng sau lưng. Người chủ động và trực tiếp với tôi là Lê Đạt, người chủ động bài vở là ông Nguyễn Hữu Đang.

Tất nhiên là tôi không quyết định được bài vở rồi, nhưng có bài nào cần thiết thì Lê Đạt bảo: “Ông viết đi, vấn đề này ông viết được, ông viết hộ tôi, ví dụ như tự do sáng tác hay là gì đó thì ông cứ viết, ông lại hơi có cái giọng humour thì ông làm cho tôi… không phải chuyện cười, những chuyện thời sự ông đi góp nhặt các nơi”. Thì tôi phụ trách mục đó và tôi đề TD, là Trần Duy đó. Sau khi mise những bài chính rồi thì tôi là người lấp remplissage phần còn lại của tờ báo. Sự thực ra người ta không bao giờ hỏi ông Phan Khôi về một cái gì cả.

– TK: Đến việc tiền in báo, ai bỏ tiền ra in báo Nhân Văn? Thưa bác, ông Minh Đức có vai trò gì trong việc in báo Nhân Văn mà bị tội nặng như thế?

– TD: Nó là như thế này: anh Hoàng Cầm có nói là đi vay tiền, thực tế là không vay được. Khi nhận lời thì không có quỹ nào cả, không có đồng tiền nào cả, anh Minh Đức cũng không có tiền, ông Đang không có tiền, bọn anh em thì không ai dám đứng tên chứ đừng nói chuyện bỏ tiền ra. Ngày đầu tiên tôi đến, anh Minh Đức bảo: “Hay là tôi với ông, hai thằng cùng đi vay giấy đi”. Đến vay mấy nơi như nhà in Xuân Thu… nhưng đầu tiên thì đến nhà in Cộng Lực gần chợ Đồng Xuân, Cộng Lực bảo:  “Tôi chịu thôi, chúng tôi nhận in thì phải có giấy của Thông Tin Bắc Bộ cho, chúng tôi không có giấy cho vay”. Chúng tôi xuống gặp ông Đỗ Huân[4], ông ấy cười: “Nếu in thì tớ in cho các cậu, chứ còn cho vay thì tớ không có tiền cho vay”. Có một người khuyên tôi là đi tìm ông Liên và tìm ông Nguyễn Bắc[5], thì tôi đến tìm Nguyễn Bắc, ông ấy cũng hồ hởi, cũng vui lắm, bảo: “Các cậu phải có giấy phép rồi thì mới ra báo”. Tôi bảo có giấy phép rồi, trên Báo Chí Bắc Bộ có cho rồi. Nguyễn Bắc xem, rồi bảo: “Thế được rồi, để tôi nói với Liên cấp giấy cho các cậu”. Tôi đến tìm anh Liên, anh Liên có ký cho tôi giấy mua ba ram giấy. Tôi đến cùng với Minh Đức, đến hiệu bán văn phòng phẩm bên Trường Thi đó, tôi mua được ba ram giấy. Số báo đầu tiên ra vỏn vẹn trong ba ram giấy, bán hết, được tiền ngay. Trong hai hôm, nhận được tiền liền, đếm tiền đủ có thể mua thêm sáu ram giấy. Vậy, trước chỉ có ba ram giấy thôi, sau khi bán hết số báo đầu tiên, đủ tiền thừa để mua sáu ram giấy. Số thứ hai ra là với sáu ram giấy.

 Vậy báo ra là không mượn ai cả, không xin ai hết, tự bỏ tiền mua. Ai bỏ tiền? Minh Đức cho vay tiền. Minh Đức cho vay tiền. Tôi cũng nghĩ anh Minh Đức là người rất tội vì anh Minh Đức là người có nghĩa với anh Đang, chắc anh Đang và Minh Đức cũng có bàn với nhau cho nên Minh Đức đi giật tiền của vợ, giật tiền nhà sách, đưa cho tôi, cũng rất khổ sở chứ không vui vẻ gì. Nhưng Minh Đức là con người rất nhiệt tình, cho nên sau Minh Đức bị tù, tôi nghĩ tôi thương mãi vì tay này chẳng làm gì cả mà đi tù, không dính gì với Nhân Văn hết, chỉ ở ngoài, chỉ là người đã từng ủng hộ anh Đang khi còn ở trong Thanh Hóa và chính Minh Đức là người đã nghĩ ra cách in một lần chạy ba bốn màu. Minh Đức là người có rất nhiều sáng kiến, tội nghiệp anh Minh Đức không có tội gì để lĩnh tù cả. Thực ra Minh Đức đưa tiền để tôi đi mua. Vậy thì tất cả tiền nong là do Minh Đức.

– TK: Thưa bác, ngoài số tiền ông Minh Đức bỏ ra lúc đầu, Nhân Văn còn có nguồn tài trợ nào khác không ạ?

– TD: Một thời gian chúng tôi nhận được rất nhiều mandat, rất nhiều tiền gửi đến ủng hộ hoặc mua báo trước. Việc này ông Phan Khôi có hỏi tôi rằng: “Những mandat đó anh còn giữ không?” Tôi bảo còn giữ. Ông bảo: “Tốt nhất là anh mang trả lại, đừng dùng tiền đó, báo bán đến đâu lấy tiền đó sử dụng chứ đừng lấy tiền mà anh không biết nguồn ở đâu, tôi là người có kinh nghiệm chuyện đó, có những lần tôi làm ở Trung Bộ, tôi nhận một món tiền rất lớn mà tôi không biết ở đâu, hóa sau ra là tiền của mật thám thành ra nguy hiểm. Tốt nhất là anh không biết nguồn tiền này ở đâu, anh ra bưu điện trả lại”. Tất cả số tiền đó tôi dồn lại và làm theo lời ông Phan Khôi, tôi mang trả lại. Vậy tiền ra báo là không vay mượn ai cả. Đầu tiên là do ba ram giấy, do Sở Văn Hóa Hà Nội cho phép. Ba ram giấy ra được số báo đầu tiên, bán chạy, tất cả tiền mặt đưa về tôi vội vàng mua ngay sáu ram giấy.

– TK: Thưa bác, về điền kiện in ấn, việc in ấn có dễ dàng không? Tại sao ông Đỗ Huân chủ nhà Xuân Thu lại chịu in báo Nhân Văn và ông ấy nhận in trong điều kiện nào?

– TD: Không ai nhận in cả. Một hôm tôi đi gặp Đỗ Huân. Đỗ Huân hỏi: “Đi đâu mà buồn thế?” – “Đi tìm một nhà in”. Đỗ Huân cười bảo tôi: “Tớ in cho cậu cho!” Tôi thấy tay này là một tay đứng đắn, không bao giờ nói đùa cả, tôi bảo: “Ông nói thật đấy à?” Đỗ Huân bảo: “Có gì đâu mà thật hay đùa, tớ là nhà in, cậu in báo thì tớ in cho”. Nguyên nhân tại sao Đỗ Huân nhận thì tôi không biết, hay là do một cái gì đó, hoặc Đỗ Huân là của ai thì tôi cũng không biết được. Chỉ biết khi Đỗ Huân nhận in thì ở Hà Nội không có nhà in nào dám in. Tôi đã lên hỏi các nhà in, không ai dám in cả. Trừ Đỗ Huân. Nhà in Xuân Thu nhận in mà anh em Xuân Thu cũng rất vui vẻ, không có vấn đề gì. Mãi khi đến khi tờ Nhân Văn bị đình chỉ, thì anh em nhà in mới quay ra đấu tranh chống Nhân Văn thế thôi, còn trong thời kỳ tờ báo đang in, anh em đối với chúng tôi rất vui vẻ, chữa bài vở nửa đêm nửa hôm không có chuyện gì cả.

– TK: Thưa bác, bác có thể xác nhận lại một lần nữa là tờ Nhân Văn không nhận tiền của ai cả không ạ?

– TD: Tờ báo từ đầu khi nó ra đến khi đóng cửa, không nhận một đồng xu nào của ai cả – Trần Duy nhấn mạnh. Có người nói rằng tôi nhận tiền của Durand, tôi có nói với mọi người là: “Tôi không biết ông Durand. Không biết ông Durand là ai cả. Hơn nữa, nếu nói ông Durand là một nhà trí thức thì nói thật với anh là người trí thức Pháp không bao giờ làm mật thám đâu. Trí thức Pháp là trí thức Pháp, nhiều khi còn chống cả mật thám. Tôi không bao giờ nghĩ là ông Durand nào đó, là một nhà nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam, về cổ học Việt Nam mà là mật thám thì tôi không tin”. Công an có hỏi tôi: “Ông Durand quan hệ với anh thế nào?” Tôi bảo: “Tôi có biết ông ấy đâu mà tôi quan hệ”. Có người lại cho rằng tôi nhận tiền của Ủy Ban Quốc Tế. Tôi bảo tôi cũng không biết Ủy Ban Quốc Tế nằm ở đâu mà làm sao tôi nhận được tiền. Trong quá trình làm báo, tôi không tiếp xúc với một người Âu nào cả, một người ngoại quốc nào hết. Thật ra có mượn một người thế tôi, nhưng rồi sau người đó cuỗm một số tiền còn lại, nó đi đâu mất, anh em cũng không biết gì, đúng thời đóng cửa Nhân Văn[6]. Thành ra tiền nong chẳng có. Còn ngân phiếu, tôi trả lại, nghĩa là Nhân Văn tay trắng, không có một đồng xu nào cả, từ khi nó lên, tay trắng và khi đổ thì cũng chẳng có một đồng xu nào trong quỹ cả.

● Nội bộ báo Nhân Văn                                                                          

– TK: Thưa bác, trên báo Nhân Văn có một số tên viết tắt không biết là ai, ví dụ như bác, ngoài tên Trần Duy và Y Du, bác còn ký những bút hiệu nào khác nữa?

– TD: TD này, Trần Duy này, chỉ có ba tên đó thôi, tranh tôi vẽ vẫn đề là TD.

– TK: Còn người ký Trần Y Du là ai?

– TD: Cũng là tôi.

– TK: Pha Y là ai?

– TD: Là Phái. Phái có vẽ mấy bức tranh chụp mũ hay gì đó.

– TK: XYZ là ai ạ?

– TD: Có thể là Đang, vì trong tòa soạn chỉ có tôi, Đang và Đạt. Anh em ở ngoài thì họ để tên thật. Còn những mục thay thế hoặc lấp chỗ trống, có thể là Đang, có thể là Đạt, có thể là tôi.

– TK: Thế XYZ là Tổ Ba Người phải không ạ?

– TD: Không, XYZ là một người thôi. Có thể là Đang, có thể là Đạt, gọi là mục để lấp chỗ trống, không quan trọng. Nếu quan trọng thì viết tên rõ ràng. Thật ra lúc bấy giờ nó như cái chợ trời, không ai quyết định được ai cả, nó cứ quân hồi vô phèng, nó không thành một tổ chức quy mô nào cả, cho nên người ta cứ bảo người này, người kia là công an cài vào; thực ra công an chẳng cần cài, người ta cứ đứng ngoài đường nghe cũng biết tình hình như thế nào rồi; việc đó không có gì bí ẩn, bí mật cả, tất cả gặp đâu nói đó, chứ không thành một tổ chức chính trị gì cả.

– TK: Thế, Tổ Ba Người là ai ạ?

– TD: Tôi không nhớ có cái tên này.

– TK: Thưa bác, còn những bài ký tên Người quan sát là Lê Đạt hoặc Nguyễn Hữu Đang phải không ạ?

– TD: Vâng. Còn ký tên Y Du là tôi.

– TK: Tranh cũng là việc chính của bác, vậy trong thời kỳ ấy bức tranh nào đã gây ấn tượng mạnh nhất và đã làm cho bác bị lôi thôi nhất?

– TD: Tôi có vẽ một bức tranh, có lẽ đó là hậu họa lớn nhất trong đời tôi, là Ốc sên không cánh mà bay trong tờ Giai Phẩm Mùa Xuân[7], chính bức tranh chết của tôi đó, nó là cái họa lớn trong đời tôi. Nó không phạm ai cả ngoài những người cơ hội, mà ở trong đảng thì cô Thụy Khuê biết – cười… Cơ hội là chính! Thực ra đảng viên mà chết được như… mấy ông đảng viên -chân chính- mới là hay. Cho nên Sáng nó có vẽ một bức tranh mà không ai hiểu được là Kết nạp đảng, tranh đó mới là cái chất của Sáng. Sáng bảo: “Tao không bao giờ coi thường đảng viên, nhưng đảng viên kết nạp ở đâu, chứ đảng viên kết nạp ở văn phòng, ăn sung mặc sướng thì đảng viên làm gì, đảng viên phải chết ngoài mặt trận, phải thừa sống ra chết tao mới phục”. Tranh ấy gây xao động một lúc nhưng thực ra không ai hiểu được tư tưởng của Nguyễn Sáng, cho nên bức tranh Kết nạp đảng, cô Thụy Khuê có thấy không, phải ở mặt trận, ở tiền tuyến, thì giá trị của người đảng viên mới có. Còn không thì tất là đều là cơ hội. Khi tôi vẽ Ốc sên không cánh mà bay thì tôi biết là tôi đưa đầu vào máy chém rồi.

– TK: Về sáng tác, khi viết những truyện như Người khổng lồ không tim và Tiếng sáo tiền kiếp là bác có ý gì? Bác cũng chính trị lắm đấy chứ?

-TD: Người khổng lồ không tim không phải tôi nói là người đảng viên không tim. Người đảng viên là người khổng lồ, trong số những người khổng lồ đó có người không tim chứ không phải là người khổng lồ nào cũng không tim cả đâu. Vì ở trong đó cũng có Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng là cụ Hồ, Nam Tào Bắc Đẩu… tất cả là những ông trung ương tốt, bên cạnh đó có những ông trung ương xấu. Vậy ở trong tập thể đó có những người tốt, có những người xấu. Còn Tiếng sáo tiền kiếp, nó được đẻ ra sau thời kỳ chỉnh huấn: Con người ta ai cũng qua cuộc đời cũ cả, đến lúc đó bắt tôi bỏ cuộc đời cũ đi nhập vào cuộc đời mới, thì liệu có làm được không? Thành thử Tiếng sáo tiền kiếp… là cái ray rứt của con người, muốn đi đến bỏ cái cũ nhưng bỏ như thế nào, bỏ làm sao, mà cái divorce như thế rất khó, thành thử chính Boudarel đã nắm được nội dung truyện đó. Ông Nguyễn Đình Thi, ông Đồ Phồn bảo: “Nó là thằng phản động từ xương từ tủy”, đại khái như thế. Tôi bảo tôi chẳng có gì là phản động ở trong ấy cả, nếu có phản động chăng thì là như thế này: tôi không thích một cái đảng chính trị nào cả -đấy là cái phản động lớn nhất đấy- không riêng một cái đảng nào, đảng nào cũng thế thôi. Nếu có cái đảng nào gọi là đảng quân chủ, thì tôi cũng không theo, mặc dù bố mẹ tôi là dòng dõi con nhà vua. Nói chung là tôi không thích một cái đảng nào cả, và đến bây giờ tôi cũng không tán thành một đảng nào cả và bản thân tôi cũng không thích vào một đảng nào hết, có chăng là sự bảo vệ con người trong một cộng đồng nào đó, mục đích chính của tôi vẫn là yêu cái đó. Đừng gây xáo trộn lớn, hiện nay đất nước mình xáo trộn nhiều quá, xáo trộn về ngôn ngữ, về chữ nghĩa, về chữ quốc ngữ,… Tôi có nói với anh em rằng ngay tiếng Pháp, đứng về pháp cú, grammaire vẫn có vấn đề mà tại sao từ mấy trăm năm nay người ta vẫn để nguyên, có những cái không hợp lý mà họ vẫn để, ví dụ những thay đổi từ al sang aux, từ ou thêm  x vẫn có những exceptions, những cái không hợp lý người ta vẫn để từ mấy trăm năm nay. Vậy tại sao mình luôn luôn thay đổi, cải cách. Nếu hòn sỏi mà cứ lăn mãi thì không bao giờ dính vào đâu được. Cái đất nước mình cứ luôn luôn thay đổi, cải cách, cải tạo, rốt cuộc không bao giờ đứng được một chỗ nào. Riêng tôi, không bao giờ tôi vào một cái đảng nào cả. Cái đảng chính của tôi vẫn là đảng con người thôi.

– TK: Thưa bác, cụ Phan Khôi viết bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ khá mạnh, vậy có thể nói là cụ Phan Khôi có một vai trò quan trọng gì trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không?

– TD: Ông Phan Khôi, cái người mà ông ấy chống nhất là Nguyễn Đình Thi, ông cho Nguyễn Đình Thi là người lũng đoạn trong đó và ông cho rằng, tất cả những người như Tô Hoài,… cho nên ông Phan Khôi chỉ chống những người trong ban lãnh đạo văn học nghệ thuật thôi, chống lại sự lũng đoạn trong những cái giải chấm, ở trong văn học nghệ thuật. Anh em cũng không yêu cầu gì cả và ông cũng không có quyền hạn gì cả. Ông không quyết định gì hết: bài vở ông không quyết định vì bài vở là đưa qua Lê Đạt, Lê Đạt đưa cho tôi và chính tôi là người mise, trình bày tờ báo. Thiếu thừa chỗ nào thì tôi nói với anh em thêm cái này cái nọ. Cái mục remplissage là tôi làm chứ không phải ai làm cả. Mise tờ báo lên cho tờ báo chạy là tôi. Tiếp xúc với nhà in là tôi.

Vai trò Phan Khôi trong báo Nhân Văn không có gì cả. Ông không là chủ động, không chỉ đạo, ông không có ảnh hưởng trong tờ báo. Có ảnh hưởng trong tờ báo có mấy người: Văn Cao là ngầm rồi, Trần Dần, Hoàng Cầm đi vào một nhánh rồi, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang. Còn số mà tập họp những anh em khác, tất cả bài vở… thành phong trào như Đất Mới… là do ảnh hưởng của Nhân Văn rồi nó đẻ ra những người cộng tác chứ không phải là những người cộng tác nằm đầu tiên trong nhóm chỉ đạo của Nhân Văn, là hai người chủ chốt, hai cái đầu đấy, một người là đường lối tư tưởng, một người đường lối chính trị, mà Lê Đạt là người điều chỉnh, gọi là cái phanh ấy, cái thắng đấy, khi nào đi quá thì chính Lê Đạt cũng kêu và chính Lê Đạt là người chống Nguyễn Hữu Đang và chính Lê Đạt có nói với tôi: “Tất cả những bài vở mày đừng đưa cho thằng Đang trước và thằng Đang có bài gì thì mày đưa cho anh em xem trước, mày đừng tự động cho lên”. Chính Lê Đạt bảo tôi như thế, vì thế cho nên cái bài Nguyễn Chương ấy, ông Phan Khôi ông ấy phản đối ghê lắm.

– TK: Bác muốn nói đến bài Trả lời Nguyễn Chương của báo Nhân Dân trên Nhân Văn số 2 phải không ạ? Bài ấy ký tên ba người nhưng do ai viết?

– TD: Bài ấy là Đang viết đấy chứ. Vì nói thực với cô Thụy Khuê là có hai người trong nước Việt Nam làm báo mà tôi phục nhất, Nguyễn Hữu Đang là một, Phan Khôi là hai. Báo chí viết rành mạch, rõ ràng. Nhất là Đang viết giỏi lắm, cho nên cái bài ấy, cô đọc lại mà xem, nó mực thước lắm, đúng là bài về polémique, phải nói là thầy về polémique, phân tích rõ ràng. Đang viết bài đó và bảo: “Bọn mày đứng hộ tao”. Thì mấy người, tôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần đứng[8]. Sau ông Phan Khôi gọi tôi bảo: “Thực ra bài đó ai viết? Các anh làm báo thế các anh chết, tất cả là những người có tên có tuổi mà lại mượn tên người khác, ông Đang viết một bài như vậy tại sao không dám đứng tên mà lại để tên các anh?”

Sự thực thì Nguyễn Hữu Đang viết bài đó rất hay, bài đó trả lời Nguyễn Chương, không phải bốn người kia viết, ông Đang viết, vì thế khi ông Phan Khôi phát hiện ra, ông ấy mắng tôi: “Anh làm thư ký tòa soạn mà làm như thế rất nguy hiểm”. Ông Phan Khôi hay mắng tôi lắm.

– TK: Thưa bác, trên báo Nhân Văn còn có một bút hiệu nữa là Trần Công, vậy Trần Công có phải là Trần Duy không ạ?

– TD: Trần Công không phải là Trần Duy. Ông Đồng gọi tôi lên Phủ Thủ Tướng để bàn về việc có nên ra nữa hay không và tất cả việc đó nên thu xếp thế nào thành một yêu cầu nội bộ chứ đừng thành một cuộc đấu tranh, thì tôi cũng nhận lời và tôi cũng xem như thế là đúng. Khi tôi về báo cáo điều đó thì anh em có vẻ bất bình, cho rằng tôi đầu hàng chính phủ và đầu hàng ông Đồng, họ cho rằng như thế là tôi phản bội anh em, bán đứng anh em, thành ra định đưa Trần Công thay thế, khi đó gây cho ông Phan Khôi một phản ứng rất lớn, ông cho rằng anh em làm việc với nhau vì tình nghĩa chứ có phải vì quyền lợi gì đâu mà làm như thế, ông có nói rằng nếu Trần Duy không làm nữa thì ông cũng không nhận trách nhiệm gì nữa cả, do đó mà sau rồi cũng thôi, không tiến hành nữa. Vậy thì Trần Công không phải là Trần Duy.

– TK: Chuyện này khá quan trọng, nó cũng là đầu mối của sự chia rẽ giữa bác và các anh em trong báo Nhân Văn, vậy xin bác thuật lại đầu đuôi, bác lên gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng ở giai đoạn nào của tờ Nhân Văn?

– TD: Tôi gặp anh Phạm Văn Đồng, ông Đồng gọi tôi lên, khi đó là số 3 rồi. Bắt đầu số 3. Khi đó có những tin đồn là Nhân Văn muốn ngả về những mouvement, những phong trào đòi dân chủ ở Hung hay là ở Nam Tư gì đó, thì anh Đồng có cho gọi ban biên tập và tòa soạn lên, cuối cùng anh em bảo Trần Duy lên gặp, thì tôi lên. Việc tôi lên gặp ông Đồng cũng có một số anh em tán thành, một số không tán thành, cho rằng như thế là tự mình ràng buộc với… chính quyền. Nhưng tôi nghĩ rằng anh không thể nào vượt chính quyền được và anh không thể nào vượt khỏi tổ chức của đảng được, không thể chống lại được nó, làm cái gì cũng phải nằm trong cơ sở tổ chức của đảng thôi. Tôi lên gặp ông Đồng. Thái độ của ông Đồng rất cởi mở, gặp tôi bảo: “Tôi hiện nay rất bận, bao nhiêu khách đang chờ tôi bên Phủ Chủ tịch cho nên tôi cũng nói qua để anh biết rằng tôi ủy cho anh Phan Mỹ thay tôi để giải quyết những vấn đề gì của anh em còn vướng mắc, theo tôi thì đừng nói chữ đấu tranh, các anh cần gì, yêu cầu gì, các anh cứ việc đề ra và chúng tôi giải quyết chứ đừng đấu tranh, đòi hỏi cái gì mà phải đấu tranh”. Ông Đồng quay sang nói với anh Phan Mỹ: “Hiện nay tôi phải sang họp, anh ở đây gặp các anh ấy, có vấn đề gì các anh đề xuất mà anh có thể giúp được thì anh cứ giúp”. Ông Đồng đi thì tôi ngồi nói chuyện với anh Phan Mỹ một thời gian, anh Phan Mỹ bảo: “Các anh cần gì, vấn đề tài chính thì tất nhiên chính phủ làm được việc đó, các anh cần mua giấy thì chúng tôi cấp giấy cho các anh mua”.

Xong việc ấy tôi về gặp anh em ở một cái quán nhỏ đầu Hàng Nón, mọi người ở đấy, có Văn Cao, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, … và tôi. Một lúc thì Đang đến, tôi nói chuyện tôi gặp như thế thì tất cả mọi người trừ Lê Đạt, đều cho rằng thái độ của tôi là thái độ đầu hàng. Ông Phan Khôi có hỏi một câu: “Mình đánh ai mà mình đầu hàng?” Đó là câu ông hỏi anh em, ông cho rằng anh em làm việc với nhau vì tình nghĩa chứ không phải vì quyền lợi gì đâu mà làm như thế. Sau đó ông Phan Khôi hỏi tôi: “Anh gặp ông Đồng thì ông có nói gì không?” Tôi nói: “Ý ông Đồng là tất cả những điều yêu cầu về báo chí, về văn học nghệ thuật, thì nên đề đạt chứ đừng nói chuyện đấu tranh”. Khi đó tôi có nói với anh Lê Đạt, Lê Đạt bảo: “Khổ lắm, việc này là do ông Đang, ông Đang lúc nào cũng quá khích và cần làm to lên”. Thì khi đó, thực ra cũng nói với cô Thụy Khuê rằng, ông Đang ông ấy bảo: “Không sợ gì cả! Vì đã có hội nghị quốc tế, có tất cả các thứ… và lãnh đạo không dám làm gì đâu!” Vì thế anh em Nhân Văn ở trong một cái thế tiến lùi cũng rất khó và khi đó, bản thân tôi thấy cũng rất nguy hiểm. Khi đó ông Song Hào có cho ông Mặc Ninh đến nhà tôi, Mặc Ninh nói câu này: “Anh Song Hào dặn tôi nói với cậu rằng làm gì thì làm nhưng cậu phải đề phòng, nếu anh em cán bộ tập kết nêu khẩu hiệu biểu tình rằng chính các cậu là người phá hoại phong trào đoàn kết, phong trào tập kết thì các cậu sẽ ở vào một thế rất nguy hiểm, cho nên anh Song Hào dặn tôi nói với cậu là làm đến đâu thì suy nghĩ cho kỹ chứ đừng đẩy đến chỗ bế tắc là nguy hiểm lắm đấy”.

– TK: Sau đó bác đã quyết định như thế nào, và nội bộ Nhân Văn đi đến đâu? Xin bác cho biết về Nhân Văn số 6, số bị chính quyền chận lại và sau đó Nhân Văn bị đóng cửa hẳn.

– TD: Xong số 3 thì tôi chuẩn bị mấy số sau, tôi chuẩn bị cái affiche về Ba Lan thì chính tôi lên tiếp xúc với sứ quán Ba Lan, họ cho tôi tất cả tài liệu, affiche, tranh ảnh về Ba Lan và tôi đang định làm số đó. Nhưng sau vụ tôi lên gặp ông Đồng ấy, thì ông Đang ông đùng đùng ông tự động thay đổi. Lê Đạt cũng bảo cái chuyện mà Đang lên nhà in tự động thay đổi nội dung rất là nguy hiểm. Thì rồi xẩy ra việc mà bên công an can thiệp, nhưng không can thiệp đến ban biên tập, không can thiệp đến người, chỉ đình số báo lại và không cho phát hành. Nếu số báo ấy ra thì chưa biết tình hình sẽ đi đến đâu. Tất cả số báo đó tôi hoàn toàn không biết, tôi không biết nội dung như thế nào cả và tôi cũng chưa thấy nó vì người ta chặn ngay khi nó đang sous presse, đang còn in và không cho phát hành, như thế số báo ấy tôi không nắm được và tôi không biết nó như thế nào cả. Có những việc không bàn với tôi mà nó thành vấn đề thì chuyện đó tôi không chịu trách nhiệm. Tôi hoàn toàn không biết. Tôi định ra affiche Ba Lan, về văn học và hội họa Ba Lan, chứ tôi không viết về chính trị, nếu người ta hỏi tôi thì không phải là tôi phủi tay nhưng vì tôi không biết thành ra tôi không nhận nó. Chính Lê Đạt là người bảo tôi rằng: “Cậu đừng nghe lời thằng Đang vì thằng Đang nó quá tả trong những vấn đề này, cậu nhớ rằng mục đích chính của chúng mình là đi vào văn học nghệ thuật chứ không phải đi vào đấu tranh chính trị”. Còn những người ném đá giấu tay… thì ở trong đó có nhiều lắm. Nhưng thực ra Lê Đạt, tôi vẫn công nhận, Lê Đạt dù sao chăng nữa vẫn là đảng viên, là người từ Bộ Chính Trị, từ ông Trường Chinh mà đi xuống, thành thử Lê Đạt nó cũng có cái ngại của nó mà không dám làm quá, khi nào nó cũng ở một tư thế chính trực hoặc rất cân bằng, nó không như Đang. Sự thật Đang là người có tư tưởng chứ không phải là người bơ vơ như Hoàng Cầm hay Trần Dần đâu. Đang nó có tư tưởng. Đang có chủ trương chính trị rõ ràng, vì thế cho nên Lê Đạt rất ngại Đang và khi nào Lê Đạt gặp Đang là cũng cãi nhau. Ông Phan Khôi hay chép miệng thở dài: “Tôi cứ tưởng các anh gặp nhau, thống nhất với nhau rồi làm việc, chứ tôi thấy các anh cứ gặp nhau cãi nhau thế này thì không nên làm cái gì cả”

● Sau Nhân Văn

– TK: Thưa bác, sau khi Nhân Văn bị đóng cửa thì tình hình sinh hoạt của bác như thế nào? Bác đã làm gì để sinh sống và có nhận được trợ cấp gì không?

– TD: Sau thời kỳ Nhân Văn thì tôi cũng khổ sở vì con cái, vợ con, cũng có những mâu thuẫn trong gia đình và khi đó tôi thấy trước mắt tôi, ví dụ anh Văn Cao thì buồn đi uống rượu, anh Đặng Đình Hưng buồn, uống rượu, Trần Dần buồn, đi uống rượu, Phùng Quán, trẻ con như thế mà cũng uống rượu, thì tôi cũng sợ. Bây giờ mình không tìm ra được một lối đi, thì phải có một cái dung hòa, vì thế tôi viết thư cho anh Đồng, tôi bảo tình hình như thế, tôi không được vẽ mà không biết vẽ như thế nào. Ông Đồng có viết vào đơn của tôi, gửi về cho ban Tuyên Giáo. Một hôm, tôi được ông Võ Hồng Cương, trưởng ban Tuyên Giáo của Bộ hay gì đó, anh ấy ở Lý Thường Kiệt, gọi tôi đến. Tôi đến, thì anh ấy nằm trên võng, biết tôi đến cũng không ngồi dậy chào, vẫn nằm, hỏi tôi rằng: “Ai cho cậu viết đơn lên Phủ Thủ Tướng?” Tôi bảo: “Chẳng ai cho phép tôi cả, đấy là vấn đề tôi kêu, vì tôi không được làm việc, không được sinh hoạt, hiện nay tôi không có một trợ cấp gì cả thì tôi viết thư hỏi thủ tướng rằng tình hình của tôi là gì, chứ tôi không có tư tình gì với Thủ tướng cả, tôi có viết thư nói là tình hình hiện nay của tôi rất khổ cực, tôi là họa sĩ, tôi theo đảng như thế, tôi đánh trường bay Gia Lâm như thế… mà hiện nay tình hình không ra sao cả.” Thì ông Đồng viết thư cho ban Tuyên Giáo là nên giải quyết, ban Tuyên Giáo giới thiệu tôi với anh, thì tôi đến anh thôi. Ông ấy hỏi: “Bây giờ cậu còn vẽ được không? Cần vẽ thì có vẽ được không?” Tôi bảo: “Từ xưa đến giờ có bao giờ tôi bỏ vẽ đâu mà tôi không vẽ được”. – “Thế cho cậu về với Nguyễn Bắc ở Sở Văn Hóa được không?” – “Tôi bây giờ cần làm việc chứ chẳng cần biết ở đâu cả.” – “Thế bây giờ lương cậu thế nào?” – “Tôi không có lương. Hiện nay, tôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác, bốn anh em có lĩnh một trợ cấp gọi là trợ cấp đặc biệt của ban Tuyên Giáo, mỗi tháng lúc bấy giờ độ 5 đồng mấy, 6 đồng gì đó. Đấy là khoản chi tiêu đặc biệt không nằm trong ngân quỹ nào cả. Sổ đó hàng tháng, hàng năm, bốn năm người như chúng tôi đến ký nhận, cái đó gọi là tài khoản đặc biệt của ban Tuyên Giáo Trung Uơng chứ tôi không có lương, không có gì cả”. Ông ấy bảo:  “Được rồi, cậu về đây có lương tử tế”. Khi đó họ cho tôi lương như cán sự 3, cán sự 4 gì đó, cái thứ cán bộ xã. Tôi bảo thôi được rồi, miễn là tôi có lương là được rồi.

– TK: Thưa bác, như vậy công việc Sở Văn Hóa giao cho bác là phải làm gì? Bác có được vẽ hay phải làm việc khác?

– TD: Thì khi đó là đang mở một cái công ty mỹ thuật, nó cũng là hoàn cảnh cho tôi để tôi làm affiche, làm đồ họa. Làm đồ họa thì có cái nguy hiểm là anh vẽ quảng cáo cho một công ty, như thế là hội họa phải chạy theo khách hàng, hôm nay yêu cầu vẽ cái này, mai cái kia, một ngày phải làm bao nhiêu affiche theo số nhận của ban chủ nhiệm. Tôi phản đối, tôi bảo nếu hội họa mà bắt tôi sản xuất như máy thì tôi không vẽ được. Tôi có thể vẽ phục vụ chính trị nhưng phục vụ theo chiều hướng đặt đâu vẽ đấy thì tôi không vẽ nổi. Đại khái như thế rồi cuối cùng tôi cũng thôi. Còn một chuyện này nữa: Khi tôi vẽ, thì một hôm tôi cũng nghịch thôi, vẽ một  affiche rồi dưới tôi ký TZ, thì khi đưa lên tất cả mọi người xôn xao rằng có thể Trần Duy vẽ cái này chăng? Mấy hôm sau, Hội cử người lên gặp ban chủ nhiệm, đề nghị xóa chữ TZ đi; thì anh Thân Trọng Sự, phụ trách, anh ấy bảo rằng người ta vẽ ký ở một góc như thế… Vẽ affiche quảng cáo không cần tên người ký. Anh Sự nói với tôi: “Thôi đừng ký nó lôi thôi ra cho cậu, cho công ty”. Từ ngày đó tôi biết là tôi không thể làm được việc gì cả rồi và khi tôi về thì cũng không có lương gì nữa.

– TK: Vậy làm sao bác xoay sở để sinh sống được, bác phải làm nghề gì để sống?

– TD: Thế thì, một hôm bên công an gọi tôi: “Theo ý anh thì bây giờ anh cần gì?” Người hỏi là ông Dương Thông. Tôi bảo: “Tôi không cần gì cả, cho tôi vẽ thôi”. Ông Dương Thông bảo: “Tưởng yêu cầu cái gì chứ việc ấy thì dễ. Anh cần vẽ thì anh cần như thế nào?” –  “Tôi chỉ cần được vẽ và người ta sử dụng cái vẽ của tôi”.

Khi đó có Trần Việt Châu, nguyên là công an nhưng bị huyền chức gì đó, cũng mở phòng bán tranh, tôi dựa vào tay này. Tay này bảo tôi rằng: “Anh ký tên khác đi, đừng ký tên đó nữa”. Tôi mới lấy tên con gái tôi là Nhị Hà ký tất cả các tranh lụa nho nhỏ để bán, nhờ tên đó mà tôi sống được đến 5, 6 năm, bán cho những người ở Đông Âu, Nga, Tiệp Khắc, Bulgarie, Hongrie, Nam Tư, v.v… Bán được và người ta cũng mua nhiều tranh. Trong thời gian đó tôi sống nhờ cửa hàng tranh đó. Khi tôi bước vào học nghệ thuật, tôi không nghĩ rằng sau này tôi làm cái nghề, nó là divertissement (giải trí) muốn có cái gì cho vui, agrémenter (điểm trang) cuộc đời mình bằng nghệ thuật chứ không định kiếm ăn bằng nghề này. Cho nên điều đó với tôi vẫn thanh thản lắm cô Thụy Khuê ạ. Với tôi không có gì là ghê lắm, vì tôi không cho đấy là một nghề để sinh sống, nhưng đến bây giờ qua 40, 50 năm rồi, nhờ đó mà tôi sinh sống, tôi hiểu rằng chính nó là nồi cơm của tôi thật. Suốt trong thời kỳ đó, tôi đi triển lãm, vẽ bưu thiếp… tất cả là sinh sống bằng tranh thôi, ngoài ra không sinh sống được bằng cái gì khác. Nhưng tôi biết, tôi không làm giống các anh kia.

– TK: Bác không làm giống các anh kia có nghĩa làm sao ạ? Các anh kia làm gì và tình bạn của bác với họ còn nữa hay đã tan nát hết cả sau vụ Nhân Văn?

– TD: Nghiã là tôi không tự hủy mình bằng cách uống rượu, bê tha mà tôi phải cố gắng hết sức để tránh vì tôi biết những điều đó có thể đưa đến chỗ không hay. Ví dụ như các anh Đặng Đình Hưng, Văn Cao, Phùng Quán,… các anh ấy buồn, uống rượu. Tôi không. Không làm việc đó. Tôi cũng không chơi với các anh ấy nữa, sau rồi thôi, việc ai người ấy làm, góc tôi tôi sống, không quan hệ gì nữa. Cho nên người ta cho rằng tôi rút lui trong một cái hũ hay trong hốc hang như con chuột nhưng mà sự thật ra thì tôi cũng không muốn cái gì trong cuộc đời tôi nữa. Khi đó -đối với tất cả- le traîte (kẻ phản bội) là tôi. Vì thế cho nên mọi người có thể là rất xa tôi, cũng không ai muốn gần tôi, ngay cả lãnh đạo cũng vậy, đến bây giờ người ta vẫn chưa hiểu tôi là cái gì và người ta cho tôi là một cái thằng bất khả, không chơi được. Mà tôi cũng thấy là không làm sao cả. Năm nay tôi cũng 90 tuổi rồi, không cần chứng minh, giải thích điều gì nữa cả.

– TK: Thưa bác, trong số những người bạn đồng hành của bác, có hai người mà bác còn giữ một cảm tình rất đặc biệt cho đến bây giờ, đó là Phan Khôi và Nguyễn Hữu Đang. Tại sao vậy?

– TD: Tôi có nói rằng: có hai người làm báo mà tôi phục nhất là Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi. Ông Phan Khôi khi tôi viết Tiếng Sáo Tiền Kiếp, thật ra là để chống cái chỉnh huấn, chống chuyện bắt mọi người từ bỏ dĩ vãng của mình, thì Tiếng Sáo Tiền Kiếp không khác hơn là cái reminiscence[9] của con người, bây giờ muốn bỏ quá khứ đi thì bỏ như thế nào? Muốn đeo nó lên thì đeo thế nào? Ông Phan Khôi bảo tôi rằng cái đó thì được nhưng tôi hỏi anh nếu ôm cái quá khứ đó thì anh phải giải quyết nó như thế nào? Anh không giải quyết mà chỉ đưa vấn đề ra thì không được. Ông ấy bàn với tôi, tôi bảo: “Chính cháu viết thế thôi chứ cháu không hiểu phải giải quyết thế nào đâu bác ạ.” Ông Phan Khôi cười bảo: “Thế bỏ lửng à!” Đại khái như thế, thì thôi bỏ lửng chứ tôi không giải quyết. Thật ra, vì ông Tố Hữu ông ấy cứ nói đi nói lại mãi câu của Mao Trạch Đông: “Trí thức không bằng cục cứt, vì cục cứt nó còn có ích, người ta bón ruộng. Trí thức các anh ngồi mát ăn bát vàng không bằng cục cứt.” Vậy thì, ông Phan Khôi ông ấy cho rằng: nếu trí thức như cục cứt thì trí thức nó đi đến đâu? Giải quyết như thế thì anh giải quyết cái gì? Ích lợi của trí thức nó thế nào? Vậy lớp học này toàn là cục cứt cả à? Vì thế vai trò của Phan Khôi trong đời tôi cũng có điều làm tôi suy nghĩ.

– TK: Nguyễn Hữu Đang cũng là một người mà bác rất kính trọng phải không ạ?

– TD: Vâng, Đang là một người rất đáng trọng. Đang là một người, nói cách khác là c’est un penseur qui se respecte[10] Đang không phải là người vớ vẩn. Đang là một người có tư tưởng. Đang là một người có tư cách. Cho nên khi Nhân Văn làm thì đúng là tất cả cái mouvement đó là của Đang chứ không phải của Lê Đạt. Tôi đã nói là có hai người làm báo mà tôi phục nhất là Nguyễn Hữu Đang và Phan Khôi. Vì Nguyễn Hữu Đang viết giỏi lắm, chữ chặt chẽ, không lọt một sơ xuất nào trong hành văn của Đang. Cho nên bài trả lời Nguyễn Chương ấy, cô đọc kỹ lại mà xem, bài viết giỏi vô cùng, nó rành mạch, nó rõ ràng từng khu, từng khúc, không xô bồ. Đang là người giỏi. Tôi chụp rất nhiều ảnh Đang, bây giờ tôi vẫn còn giữ những ảnh trước khi Đang chết. Đối với tôi, Đang là một người tôi trọng, tôi rất trọng. Cô có biết thời kỳ Đang bị quản thúc, chưa bao giờ ai sống mà lại có cái  dignité (sự tự trọng) như thế bao giờ. Cô cứ thử tưởng tượng mà xem, không có cái gì ăn, anh ấy gửi tất cả những cái chậu cho các hộ ăn tập thể khi người ta vo gạo, anh chắt lấy nước ấy anh quấy anh ăn. Thứ hai là anh ấy lên Hà Nội xin tất cả các họa báo của Liên Xô về anh đổi cho trẻ con, để lấy cóc, lấy dế ăn cải thiện. Thán phục anh ấy vô cùng. Tội ghê lắm. Chị có biết không, anh ấy đi nhặt tất, tất cả các thứ tất rách rưới của tất cả mọi người, về đưa cho vợ Phùng Cung, anh ấy bảo: “Cô hấp rồi cô giặt cho tôi, cái nào rách cô vá lại cho tôi, tôi đi”. Tất cả cuộc đời anh ấy chỉ có một cái xe đạp, tàn tạ đến độ không thể ai nghĩ đấy là cái xe có thể đạp được, vậy mà anh vẫn viết, dán ở xe đạp: Tôi chỉ có cái xe đạp này làm vốn, nếu tôi chết thì cái xe đạp này tôi tặng cho thằng cháu tôi. Đại khái như thế. Nguyễn Hữu Đang là người có nhân cách. Vì thế cho nên Nguyễn Hữu Đang là con người, cô phải nhớ là khi Nguyễn Hữu Đang đến, Tố Hữu làm như kẻ cả, ban ơn, vỗ vai Đang, Đang nó lấy tay nó hất đi. Đang nó có dignité lắm cô ạ.

– TK: Thưa bác, bây giờ nhìn lại hoạt động của Nhân Văn Giai Phẩm, có điều gì bác muốn nói thêm nữa không?

– TD: Đứng về xã hội, về con người thì trách nhiệm rất lớn vì nó đẩy một số trí thức vào cuộc. Ví dụ Đặng Văn Ngữ, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường… là những người trí thức, thực tâm không có ý đồ xấu. Anh Nguyễn Mạnh Tường không có gì xấu cả. Anh Đào Duy Anh, nhất là anh Đặng Văn Ngữ là một nhà bác học, không có gì xấu. Tôi rất ân hận là đã đưa họ vào Nhân Văn vì họ quen với tôi. Ông Đào Duy Anh quen với tôi, Đặng Văn Ngữ quen với tôi, Nguyễn Mạnh Tường quen với tôi mà tôi đưa họ vào. Một lần anh Đặng Văn Ngữ hỏi tôi: “Thực ra các ông là cái gì? Nhân Văn là cái gì? Anh nói thật với tôi đi, giữa tôi và anh, anh nói thật đi, có gì quan hệ với ngoại quốc không?” Tôi trả lời: “Nó chẳng có gì cả anh ạ, nó là cuộc Cải Cách Ruộng Đất lần thứ hai trong giới văn nghệ thôi, vì tôi không biết Tây, Tàu và cũng không định đưa các anh vào chỗ chết đâu, chính bản thân chúng tôi đang chết”. Đại khái như thế.

– TK: Nếu bây giờ làm lại tờ Nhân Văn thì bác có làm nữa không?

– TD: Cười – Một là bây giờ không còn, không còn sức lực để làm nữa. Hai là bây giờ báo chí cũng không nên làm cái gì cả, tôi hiểu báo như thế nào rồi. Báo là một thứ tiếng nói của đảng, báo là tiếng nói của chính trị, báo là tiếng nói của cách mạng. Anh ra một tờ báo để anh nói thật cái gì thì khó lắm. Thì khó lắm. Đến những người to lớn như những ông Kiệt v.v… đứng ra làm một tờ báo chưa chắc đã được, huống gì bọn mình. Ra để làm cái gì? Ra nói cái gì? Nếu bây giờ có ra lại được một tờ báo, bản thân tôi không bao giờ làm lại một tờ báo như thế cả. Ngay bây giờ tôi có viết một số bài vở, sắp ra một quyển sách, nhưng tôi cũng không nghĩ là quyển sách ấy có thể xuôi lọt được, huống chi là tờ báo. Tờ báo bây giờ phải là báo cách mạng. Báo bây giờ là báo tiếng nói của đảng, báo tiếng nói của nhân dân v.v… Mình ra tờ báo thì mình nói cái gì bây giờ? Có đúng như thế không? Cho nên nói rằng vui thì có cái vui, buồn cũng có cái buồn. Cái gì trong cuộc đời cũng dở dang, con người mình cũng dở dang, năm nay 90 tuổi rồi, không biết mình đi đúng hay mình đi sai, mình đi đúng thì mình sống đến 90 tuổi, mà mình đi sai thì đã chết từ năm 50 tuổi rồi. Bây giờ đi đến 90 tuổi rồi thì cũng không biết con đường đã đi là con đường nào. Ai ghét mình? Ai yêu mình? Mình nên yêu ai, nên ghét ai? Thực tế ra sống đến chừng này tuổi tôi không nghĩ là tôi ghét ai cả, nhưng yêu ai thì cũng rất khó.

– TK: Thưa bác, trước khi chia tay, bác có điều gì muốn gửi gấm đến thính giả, đến giới trẻ không, xin bác nói ra.

– TD: Nhiều thứ nói lắm. Bây giờ trong đầu tôi có nhiều thứ để nói lắm. Mà nói thì có nói được hay không? Nói lúc nào? Nói thời nào? Nói vấn đề gì? Nhiều vấn đề lắm. Có những cái mình cũng phải tự hạn chế mình trong những điều mình nói. Không phải mình sợ, nhưng mình có nói được không? Nói có tác động hay có ích lợi gì không? Và nên nói như thế nào? Cái buồn của tôi là cái buồn đó. Vì thế cho nên cái vẽ của tôi là vẽ để quên đi cái gì đó, cũng để cho có việc làm. Việc làm đẹp, không xúc phạm đến ai cả. Ví dụ tôi vẽ người thiểu số, vẽ cây, vẽ cành, vẽ đền chùa… Bây giờ thì vẽ đền chùa cũng không được rồi, tại vì bây giờ người ta cải tạo lại, người ta làm lăng nhăng không thể vẽ được. Ngày xưa có những chùa đẹp, còn những gì cổ kính, bây giờ chỗ nào cũng sơn son thếp vàng, ngay những ông tượng trong chùa bây giờ cũng vàng chóe ra, cho nên bây giờ cái khủng hoảng của anh em là người ta vẽ đủ các thứ, người ta xếp đặt, … nhưng thực ra, vẽ thì không biết vẽ cái gì, phố cổ thì không còn nữa, nhà cửa mọc lên dở dở dang dang, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu. Những nhà cổ, chùa cổ, bây giờ sơn son thếp vàng, người ta làm mới hết cả rồi, cũng không vẽ được. Cái khủng hoảng của họa sĩ bây giờ là vẽ cái gì? Vẽ như thế nào?

– TK: Xin thành thật cảm ơn họa sĩ Trần Duy.

Chương trình văn học nghệ thuật RFI

ngày 28/6 và 12, 19, 26/7/2008

 [1] Trong bài nghiên cứu tựa đề “Les Doktors germaniques dans le Viet Minh- Những nhân sĩ Đức trong hàng ngũ Việt Minh”, Heinnz Schutte xây dựng lại chân dung những người lính Lê Dương (Légion étrangère) gốc Đức đảo ngũ sang Việt Minh vì lý do chính trị, giúp Bộ Tham Mưu. Tất cả có khoảng 12 người, học vấn cao; đặc biệt ba người: Erwin Borchers tức Chiến Sỹ (1906-1989), Rudy Schroder (1911-1977) tức Lê Đức Nhân còn có tên là Kerkhof, và Ernst Frey tức Nguyễn Dân (1915-1994) giữ địa vị then chốt trong những năm đầu xây dựng quân đội Việt Minh, nhưng sau họ bị thất sủng (ngoài ra còn kể Georges Wachter tức Hồ Chí Thọ và Walter Ullrich tức Hồ Chí Long). Họ là những trí thức trẻ, từ 1933 đã chống Hitler chạy sang Pháp. Khi Pháp Đức chiến tranh, người Đức bị giam một nơi, muốn thoát tù, năm 1939, họ phải đăng lính Lê Dương. Được gửi sang Đông Dương năm 1941, tại đây, thấy rõ bộ mặt thực dân, họ chống lại và theo cộng sản. Móc nối được với Việt Minh, năm 1945, họ đào ngũ, theo Việt Minh. Là những người có học và chuyên môn cao, lại được huấn luyện trong đội ngũ Lê Dương, một đội ngũ thiện chiến nhất của Pháp, trong đó lính Lê Dương gốc Đức là những phần tử ư tú nhất, Bochers tức Chiến Sỹ trở thành Uỷ Viên Chính Trị với chức trung tá chỉ huy Địch Vận. Ernst Frey tức Nguyễn Dân, Cố vấn quân sự cho Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Sơn, giúp Võ Nguyên Giáp kiện toàn kiến thức quân sự, vì ông Giáp xuất thân nghề giáo, phải học đánh nhau từ A đến Z. Rudy Schroder Lê Đức Nhân làm trung tá, cầm quân đánh thổ phỉ lập nhiều chiến công. Nhưng từ 1950-1951, khi đã được Trung Cộng ủng hộ; những người Đức và nói chung những người da trắng này đều bị thất sủng, bởi họ không thần phục những lãnh đạo đảng cộng sản một cách mù quáng, họ trở thành những cái gai. Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp tìm cớ loại họ, buộc họ trở về Âu Châu. (Les Doktors germaniques dans le Viet Minh- Những nhân sĩ Đức trong hàng ngũ Việt Minh, Aséanie 15/6/2005, trang 61-86).

[2] em Đào Duy Anh.

[3] hoạ sĩ NguyễnTư Nghiêm.

[4] Chủ nhà xuất bản Xuân Thu.

[5] Sở Văn Hoá.

[6] Trần Duy muốn nói đến nhân vật Diên Hồng.

[7] Thực ra là trong Giai Phẩm Mùa Thu, Tập I.

[8] Thực ra bài này ký tên: Hoàng Cầm, Hữu Loan và Trần Duy.

[9] Ký ức vô tư.

[10] Một nhà tư tưởng biết tự trọng.

© 1984-2012 Thụy Khuê

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Nhân văn giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc ( 13 ) TÌNH YÊU LÍNH ĐẢO ( thơ )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Một 2013
M T W T F S S
« Dec   Feb »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: