Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 7 )

28/01/2013 at 8:37 chiều Để lại bình luận


Thụy Khuê

( Tiếp theo )

Chương 13

Văn Cao

(1923-1995)

Văn Cao ở trong thơ, nhạc, họa, cho nên được giới nghệ thuật ba ngành mến phục. Là tác giả quốc ca, nhưng Văn Cao suốt đời bị chính quyền cộng sản nghi ngờ, tác phẩm bị trù dập, phân biệt đối xử.

Tìm hiểu cuộc đời của Văn Cao cũng là tìm hiểu giai đoạn lịch sử 45-46, mà các văn nghệ sĩ xuất thân từ nhiều ngành nghệ thuật khác nhau, nhiều thành phần chính trị và phi chính trị khác nhau đã theo Việt Minh để tranh đấu cho một lý tưởng: chống Pháp. Những Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước,… đã có một thời hoạt động chung vai sát cánh, nhưng rồi chính trị sẽ phân lìa mỗi người một con đường, một chiến tuyến.

Tìm hiểu Văn Cao tức là tìm hiểu tại sao có sự chia cắt tinh thần và thể xác Việt Nam, tìm hiểu sự tranh giành ảnh hưởng giữa các đảng phái chính trị trên đường giành độc lập, để thoát khỏi cái nhìn một chiều về lịch sử: lịch sử ta-địch trong quá trình đấu tranh giai cấp.

Tìm hiểu Văn Cao là để tìm đến nguồn cội của vấn đề: Văn hoá Việt Nam là một toàn khối, không thể chia đôi. Tâm hồn Việt Nam là một toàn khối, không thể phân liệt. Toàn khối ấy đã thể hiện trong cuộc kháng chiến từ 1945 đến 1950: Hầu hết các văn nghệ sĩ ở mọi khuynh hướng đều cùng nhau chung lòng cứu quốc.

Văn Cao, Phạm Duy hai khuôn mặt điển hình nhất của nền Tân nhạc Việt Nam: cùng theo kháng chiến từ phút đầu. Cùng có công đầu trong cuộc kháng chiến chống Pháp. 1951, Phạm Duy vào thành, Văn Cao ở lại, mỗi người một giới tuyến. Nhưng tác phẩm của họ, mãi mãi sẽ là của toàn thể dân tộc Việt Nam.

● Tiểu sử

Văn Cao là tên thật, họ Nguyễn, sinh ngày 15/11/1923 tại làng Lạch Trai (gần Hải Phòng) mất ngày 10/7/1995 tại Hà Nội. Nguyên quán làng An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Học tiểu học trường Bonnal, trung học trường dòng Saint-Joseph, ở đây được học thêm âm nhạc. Cha là Nguyễn Văn Tề, cai máy nước. Vì cha bị mất việc, Văn Cao phải bỏ học, làm điện thoại viên ở bưu điện Hải Phòng, được một tháng, bỏ.

Cuối 1939, Văn Cao viết ca khúc đầu tiên  Buồn tàn thu, ảnh hưởng Lê Thương, bản nhạc được Phạm Duy đem đi hát khắp nơi. 1940, Văn Cao đi Hà Nội, Huế, Sài Gòn, tiếp xúc với phong cảnh nên thơ và âm nhạc trữ tình của Huế và thơ Hàn Mặc Tử tại Sài Gòn. Từ điển văn học ghi: “1940, vào Nam kiếm sống, làm họa sĩ trang trí nội thất cho cho một hãng tư nhân ở Sài Gòn, gần một năm. Bị chủ quỵt tiền công nên bỏ việc ra Bắc”[1]. Chi tiết này không thấy ghi ở các tài liệu khác. Tựu trung, thời kỳ 1940-43, Văn Cao sáng tác sung mãn nhất. Những ca khúc lịch sử đi đôi với ca khúc lãng mạng trữ tình: Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc, Thu cô liêu, Cung đàn xưa, Bến xuân, Suối mơ, Thiên Thai, Trương Chi… và cũng là thời kỳ gắn bó cộng tác văn nghệ và hoạt động cách mạng giữa hai nhân tài: Văn Cao-Phạm Duy.

Năm 1942, Văn Cao lên Hà Nội học dự thính (auditeur libre) trường Mỹ Thuật Đông Dương, và lần đầu tiên, thơ văn của ông được Vũ Bằng đăng trên Tiểu thuyết thứ bẩy.

1943, triển lãm tranh lần đầu ở Salon Unique – Phòng Triển lãm Độc đáo. Bức tranh Les Suicidés – Những kẻ tự sát của Văn Cao gây tiếng vang trong giới hội hoạ, theo Tạ Tỵ, đã có ý thức cách mạng.

1944, Văn Cao được Vũ Quý, quyền bí thư Thành Ủy Hà Nội, giác ngộ vào Việt Minh, giao công tác viết bài hát cho khoá Quân chính kháng Nhật, sáng tác Tiến quân ca.

1945, Văn Cao vào Đội Trừ Gian. Tháng 7/45, bắn chết Đỗ Đức Phin[2] ở Hải Phòng. Bắn hụt Cung Đình Vận và Võ Văn Cẩm tại Hà Nội. Làm báo Lao Động (bí mật) của Việt Minh[3], Văn Cao tự tay chép lời và nhạc Tiến quân ca vào đá (litho), in trên Lao Động số 1, tháng 11/1944.

1945, sáng tác bài thơ Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc[4], và các ca khúc: Chiến sĩ Việt Nam, Chiến sĩ Hải quân, Chiến sĩ Không quân, Bắc Sơn. Bài Không quân Việt Nam[5] sau này trở thành bài đoàn ca của Không quân Việt Nam Cộng Hoà.

Ngày 17/8/1945, trong buổi mít-tinh của công chức, bài Tiến quân ca được Phạm Duy “cướp micro” hát lần đầu tiên và duy nhất tại nhà Hát Lớn, Hà Nội[6].

Ngày 19/8/1945, Việt Minh “cướp chính quyền”, dàn đồng ca Thiếu niên Tiền phong do Văn Cao điều khiển hát bài Tiến quân ca tại quảng trường Nhà hát lớn.

Ngay sau cách mạng tháng tám, Vũ Quý bị chết trong một hoàn cảnh bí mật[7].

Đầu năm 1946, Quốc hội khoá I công nhận  Tiến quân ca là Quốc ca Việt Nam. 1946, Văn Cao sáng tác bài thơ Ngoại ô mùa đông 46[8].

Theo Tạ Tỵ và Vũ Bằng, Văn Cao có vợ trước cách mạng tháng Tám. Nhưng có lẽ chỉ mới đính hôn, sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/46, Văn Cao và gia đình Thúy Băng rời Hà Nội ra chợ Đại, gần Hà Đông, thuộc Liên Khu Ba, mới chính thức làm lễ cưới ở thôn Ba Thá. Ở Liên Khu Ba không được bao lâu, Văn Cao nhận được chỉ thị lên Phú Thọ, rồi Lào Cai, mở Quán Biên Thùy trá hình làm tình báo trong Liên Khu 10, từ xuân 1947 đến thu 1947. Phạm Duy có lên hát ở đây.

Thu 1947, Văn Cao được lệnh về Vĩnh Yên làm báo Độc Lập. Rồi lại được lệnh trở lên Việt Bắc. Trên đường ngược sông Lô lên Phú Thọ, Văn Cao mục kích chiến địa hoang tàn: Tháng 10/47, quân Pháp gồm mười lăm tiểu đoàn chia làm nhiều đạo tấn công Việt Bắc, mục đích tiêu diệt Bộ chỉ huy kháng chiến, nhưng không thành. Cụ Nguyễn Văn Tố -Bộ trưởng không bộ- bị chết.

Ngày 7/10, Pháp chiếm Sơn Tây.

12/10, Việt Minh kêu gọi triệt để áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến.

13/10 Pháp chiếm Bắc Cạn, Cao Bằng.

20/10 Pháp chiếm Yên Bái. 21/10 Pháp chiếm Chapa.

30/10/47 Pháp chiếm Lao Cai. Bản thảo Kiều Loan của Hoàng Cầm phải ném xuống hồ Ba Bể cùng các bản thảo khác.

Theo Phạm Duy, sau chiến thắng sông Lô, Cục Chính trị điều động các nhạc sĩ viết về Sông Lô để kích động tinh thần chiến sĩ: Lương Ngọc Trác sáng tác Lô Giang, Văn Cao, trường ca Sông Lô[9], Đỗ Nhuận: Du kích sông Thao, Nguyễn Đình Phúc: Bến bình ca,  Phạm Duy: Tiếng hát trên sông Lô[10].

Trường ca Sông Lô được Phạm Duy đánh giá là  “tác phẩm vĩ đại, chẳng thua bất cứ một tuyệt phẩm nào của loại nhạc cổ điển Tây Phương”[11].

Tháng 3/1948, Văn Cao được kết nạp vào Đảng. Sáng tác Ngày mùa. Cuối 1948, Văn Cao được lệnh về Liên Khu Ba. Gặp lại Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Lương Xuân Nhị… Sáng tác Tiến về Hà Nội. Tổ chức triển lãm chung. Bức tranh Cây đàn đỏ của Văn Cao bị phê bình. Giữa 1949, Văn Cao lại được lệnh trở lên Việt Bắc[12]. Chuyến đi rất gian nan nguy hiểm.

Tháng 1/1950, đảng Cộng sản tuyên bố chính thức theo đường lối Trung Quốc, thực hiện đấu tranh giai cấp trên toàn lãnh thổ.

Tháng 8/1950, Đại hội văn nghệ Việt Bắc quyết định loại trừ Tuồng, Chèo, Cải lương, Kịch thơ… bị coi là tàn tích của phong kiến và tư sản, chỉ giữ lại thoại kịch. Phạm Duy bị kiểm điểm. Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ. Văn nghệ sĩ, người vào Liên Khu Tư “vùng tự do” với tướng Nguyễn Sơn, người bỏ về thành như Vũ Bằng, Kim Tiêu, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Phan Tại, v.v…

Tại Việt Bắc, Văn Cao tham gia chiến dịch biên giới. Phụ trách giảng dạy ở trường Âm Nhạc Việt Bắc. Sáng tác: Tiểu đoàn Lũng Vài, Ca ngợi Hồ Chủ Tịch, Công nhân Việt Nam, Toàn quốc thi đua…

1952, Văn Cao được cử đi Mạc Tư Khoa trong phái đoàn Trần Huy Liệu, theo Hoàng Văn Chí, “Văn Cao được gặp nhà nhạc sĩ số một Liên Xô là Chostakovitch”[13]. Các tài liệu khác, không nói đến cuộc gặp gỡ này, vì Chostakovitch cũng có “vấn đề”, số phận trầm luân, tương tự Văn Cao chăng? Hoàng Văn Chí viết tiếp: “Tuy nhiên sau khi đi Mạc Tư Khoa về, Văn Cao bắt đầu tỏ ý thất vọng: Liên Xô không phải là thiên đường như ông vẫn tưởng tượng. Thêm vào đấy, khi ông về nước thì cuộc đấu tố địa chủ cũng vừa bắt đầu, ông được cử đi tham quan mấy vụ đấu tố điển hình ở Việt Bắc”[14].

 Nguyễn Thụy Kha, viết về chuyến đi Liên Xô như sau:

“Được chọn đi thăm Liên Xô trong phái đoàn của ông Trần Huy Liệu, Văn Cao lần đầu tiên xuất ngoại, lần đầu tiên mở mắt nhìn ra thế giới của chủ nghiã xã hội – một lý tưởng mà chàng tôn thờ, đeo đuổi suốt tuổi trẻ (…) Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, cái chết đầy bí hiểm của Vũ Quý -người giác ngộ chàng, dẫn dắt chàng vào con đường cách mạng- đã làm chàng choáng váng (…) Sang Liên Xô, tận mắt nhìn thấy, tiếp xúc với “thành trì của chủ nghiã xã hội”, “Thiên đường của loài người”, Văn Cao mới vỡ lẽ ra nhiều”[15].

Có thể nói, chuyến đi Liên Xô 1952, đối với Văn Cao tương tự như chuyến đi Liên Xô 1936 đối với André Gide: họ đã nhìn thấy mặt thật của “thiên đường”.

1954, hòa bình lập lại, Văn Cao phụ trách ban nhạc đài Phát thanh Hà Nội.

1956, tham gia NVGP với bài thơ Anh có nghe không, đăng trên Giai Phẩm Mùa Xuân. Sáng tác trường ca  Những người trên cửa biển, một đoạn in trên Nhân Văn số 4.

1958, bị kỷ luật, không nặng như các thành viên chính, phải đi thực tế Điện Biên cùng Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng. Đến Hai Lót, Văn Cao đau dạ dày, được đưa về bệnh viện Lai Châu.

Sau Nhân Văn, người ta định chọn Bài ca cách mạng tiến quân của Đỗ Nhuận để thay thế, nhưng rồi Tiến quân ca vẫn được giữ lại. Các tác phẩm khác của Văn Cao bị cấm. Chìm vào quên lãng trong ba mươi năm, Văn Cao sống cô đơn và gian khổ như các thành viên NVGP khác. Ông vẽ bìa sách, minh họa cho các báo, trang trí sân khấu, làm nhạc đệm cho một số phim… Sau ngày thống nhất đất nước, Văn Cao sáng tác Mùa xuân đầu tiên (1976), không được hát, có lẽ vì những câu “Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người”.

 1980, Hiến Pháp mới không ghi Tiến quân ca là quốc ca. Trong các buổi chào cờ, người ta cử nhạc. Không lời.

1981, một cuộc “vận động sáng tác quốc ca” được tổ chức quy mô, có thi tuyển, kéo dài trong 2 năm, nhưng cuối cùng vẫn không chọn được bài nào thay thế.

1983, lễ mừng Văn Cao 60 tuổi được tổ chức. Các bản nhạc Thiên Thai, Trương Chi, Suối Mơ… được tình diễn trở lại.

1988, Văn Cao được chính thức “phục hồi” cùng các thành viên NVGP. Tập nhạc Thiên Thai và tập thơ Lá được phép xuất bản.

18/8/1991, trên báo Tiền Phong chủ nhật số 26, xuất hiện bài viết: Tiến quân ca có hai tác giả? của Tô Đông Hải. Lập luận: Văn Cao chỉ viết phần nhạc, lời của Đỗ Hữu Ích. Văn Cao trả lời, trong bài phỏng vấn của Nguyễn Thụy Kha ngày 7/10/91[16].

1993, Quốc hội xác định: Tiến quân ca là quốc ca Việt Nam.

Văn Cao mất ngày 10/7/1995, tại Hà Nội.

● Tác phẩm

Ca Khúc: Buồn tàn thu (1939), Thiên thai (1941), Suối mơ (1942), Thu cô liêu (1942), Bến  xuân (1942-1945, sửa lời và đổi thành Đàn Chim Việt), Cung đàn xưa (1942), Trương Chi (1942), Vui lên đường, Gió núi, Anh em khá cầm tay, Chiều buồn trên Bạch Đằng Giang (1941), Gò Đống Đa (1942), Thăng Long hành khúc ca (1943),  Tiến quân ca (1944),  Chiến sĩ Hải quân (1945), Chiến sĩ Không quân (1945) Bắc Sơn (1945), Chiến sĩ Việt Nam (1945), Làng tôi (1947), Sông Lô (1947), Ngày mùa (1948), Tiến về Hà Nội (1949), Ca ngợi Hồ Chủ tịch (1949), Mùa xuân đầu tiên (1976)… (Năm sáng tác ghi ở đây không chính xác vì các tài liệu viết khác nhau).

Đã in: Thiên Thai, tuyển tập nhạc Văn Cao (Trẻ, 1988), Lá (Tác Phẩm Mới, 1989), 28 bài; Tuyển tập Văn Cao (Văn Học, 1994) gồm các bài đã in trong Lá, thêm 20 bài nữa.

● Văn Cao có để lại hồi ký không?

Viết về Văn Cao, câu hỏi đầu tiên là: Văn Cao có để lại hồi ký không?

Có hai cuốn sách đáng chú ý: Văn Cao, người đi dọc biển của Nguyễn Thụy Kha[17] trình bày như lời “ký thác” của Văn Cao. Và cuốn Nhạc sĩ Văn Cao, tài năng và nhân cách của Bích Thuận[18] trình bày như lời “ký thác” của bà Văn Cao Nghiêm Thúy Băng.

1- Nguyễn Thụy Kha là một trong những cây bút trẻ gần gụi Văn Cao lúc cuối đời. Tác phẩm viết giọng tự thuật, như lời nhạc sĩ kể lại, nói lên được phần nào tâm sự Văn Cao. Tuy nhiên, có những nhược điểm: Không rõ đâu là lời Văn Cao, đâu là lời Thụy Kha. Không rõ chỗ nào thực, chỗ nào Thụy Kha thêm vào. Thí dụ, đoạn viết về Tiến quân ca, nếu đem so sánh với bản hồi ký đích thực của Văn Cao tựa đề Bài Tiến quân ca in trên Sông Hương[19] năm 1987, thì đã bị cắt xén rất nhiều. Những chỗ có tên Ph. D (Phạm Duy) đã biến mất. Có đoạn sửa đi và thêm vào mấy chữ mơ hồ cho người ta hiểu đó là Nguyễn Đình Thi. Thụy Kha viết: “Căn gác số 171 phố Mông-grăng, Hà Nội chợt lặng phắc như vừa qua bão tố. Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi đã đi chỉ còn lại Văn Cao với bản nháp bài “Tiến quân ca”. Mới ít phút trước, căn gác còn vang lên giọng hát trầm ấm của Văn Cao trong nhịp hành khúc rắn rỏi này. Vẫn còn nguyên gương mặt xạm đen của Vũ Quý. Đôi mắt và nụ cười lấp lánh. Nụ cười thật hài lòng. Vẫn còn nguyên gương mặt đẹp trai của Nguyễn Đình Thi và nụ cười hồn nhiên khi nhẩm xướng âm bài hát. Thi còn nói với Văn Cao: “Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về mật trận Việt Minh xem sao”[20].

 Trong đoạn này, Nguyễn Thụy Kha cho biết: Nguyễn Đình Thi và Vũ Quý chứng kiến sự ra đời của Tiến Quân Ca. Văn Cao hát. Nguyễn Đình Thi nhẩm xướng âm bài hát, tại số 171 phố Mông-grăng, Hà Nội.

Nhưng Văn Cao không viết vậy -Xin đọc toàn bài của Văn Cao trong phụ bản ở dưới- Văn Cao cho biết khi ông sáng tác Tiến Quân Ca thì Phạm Duy ở cùng và: “Anh [Phạm Duy] rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến quân ca”

Văn Cao viết Phạm Duy là người chứng kiến sự ra đời của Tiến Quân Ca. Và ở một đoạn sau, ông mới nhắc đến Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi:

 “Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng.

Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen xạm, đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

– Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?”

 Đoạn văn này có nghiã: Văn Cao đang ở Việt Bắc, lùm cây của Hà Nội không còn nữa, và ông nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý và nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. So với đoạn trên, ông viết về việc Phạm Duy chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca, thì phải hiểu rằng: khi lên Việt Bắc, Văn Cao mới đưa nhạc phẩm cho hai đồng chí Vũ Quý và Nguyễn Đình Thi xem, ông gọi họ là đồng chí, trong khi gọi Phạm Duy là anh, có khác. Cũng không thấy Văn Cao nói đến khuôn mặt đẹp trai của Nguyễn Đình Thi, đấy là Nguyễn Thụy Kha thêm vào. Tóm lại, chỉ cần thay đổi vị trí, thêm, bớt một vài câu chữ, là ý nghĩa văn bản có thể hoàn toàn thay đổi.

 Bài hồi ký tựa đề Bài tiến quân ca của Văn Cao đăng trên Sông Hương năm 1987, không đề ngày viết, được cắt ngắn, thành bài Tại sao tôi viết Tiến quân ca[21], và đề ngày 7/7/76 để có vẻ như viết trước bản Sông Hương. Nhưng cũng không loại trừ khả năng bản Sông Hương được viết từ trước 1976, đến khi được đăng lần đầu, đề ngày 7/7/76, thì bị cắt xén và sửa chữa. Đến năm 1987, thời kỳ đổi mới, Văn Cao gửi cho báo Sông Hương bản đầy đủ.

 Bởi vì khi so sánh hai văn bản, thì bản 7/7/76, ngoài việc cắt bỏ, sửa các lỗi có trong bản Sông Hương, câu văn cũng được “biên tập” lại: ngắn gọn hơn, thêm chấm phẩy, làm mất thi tính trong nguyên tác. Người biên tập lại không có trình độ văn hoá của Văn Cao, ví dụ, câu “những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim” của ông được sửa thành “Những băng cờ đỏ sao vàng đã thay cho những băng vàng bẩn thỉu của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”. Văn Cao không viết như vậy. Một người tự trọng không viết như vậy. Huống hồ tác giả Tiến Quân Ca không thể không biết rõ lịch sử, biết rõ công việc của chính phủ Trần Trọng Kim.

2- Cuốn sách của Bích Thuận có ý lãng mạn hoá và tô điểm cho Văn Cao trở thành nhà cách mạng trung thành với Bác và Đảng. Một điểm đáng lưu ý, ở chỗ bà trích một đoạn hồi ký của Văn Cao, viết về bài Tiến Về Hà Nội, có câu: “Văn Cao viết trong hồi ký: “Tôi còn nhớ trong một buổi họp ở chi bộ Liên Khu Ba, tôi đã hứa với các đồng chí Khuất Duy Tiến, Lê Quang Đạo là tôi sẽ viết một ca khúc về Hà Nội. Tối hôm ấy, tôi đã cùng ăn cơm với anh Lê Quang Đạo. Anh Đạo đã nắm chặt tay tôi và nói…” Trích đoạn này dài hơn một trang[22]. Chỉ nhờ câu “Văn Cao viết trong hồi ký” mà chúng ta biết Bích Thuận đã được đọc hồi ký của Văn Cao, ít nhất là một mảng, ngoài Bài Tiến Quân Ca, đã in trên Sông Hương.

Cuốn sách của Nguyễn Thụy Kha, đoạn mô tả Văn Cao lùng “Việt gian” V.V.C, có những chi tiết mà ngoài Văn Cao không ai biết được. Rồi những câu như: “Sông Hương, quả là một lưỡi kiếm dựng giữa trời xanh – Tiếng nước rơi bán âm – Chợt xé ra một nỗi nhớ sông Hương trong cảm xúc, v.v…”, xem ra rất Văn Cao, lác đác trải dài trong tác phẩm.

 Vậy nguồn của những câu, những chữ ấy là đâu? Nếu lấy từ những trang hồi ký đích thực của Văn Cao, thì hiện giờ toàn bộ cuốn hồi ký ở đâu?

 Nguyễn Thụy Kha và Bích Thuận đã “làm việc” như thế nào với những trang hồi ký mà có thể họ đã được đọc bản chính ấy? Để ghi lại chân dung một người, không gì bằng in thẳng những điều người ấy viết, trước hết, vì tôn trọng sự thật của tác giả và nhất là khi người ấy có bút pháp độc đáo như Văn Cao, vì tôn trọng văn chương của tác giả.

3- Đây là sự kiện thường xẩy ra ở Việt Nam. Phát xuất từ những lý do:

– Sự trừng trị của chính quyền đối với những chữ, những câu, những tác phẩm không đi đúng đường lối của Đảng – kiểm duyệt, tịch thu, cách chức Tổng biên tập, v.v…

– Sự sợ hãi và sự tự kiểm của nhà xuất bản.

– Sự an phận, đồng tình của giới văn học -kể cả những người ở ngoài về in trong nước- nói theo một trí thức nổi tiếng  “cái nước mình nó thế!” Biết nó thế thì phải hành động làm sao cho nó thay đổi đi. Nhưng không. Chấp nhận. Lý lẽ: thà bị cắt, nhưng được in còn hơn không!

– Sự sợ hãi của tác giả, hoặc thân nhân – nếu tác giả đã qua đời. Đặc biệt, đối với những gia đình NVGP, sau gần nửa thế kỷ bị trù dập, không mấy ai còn muốn đối đầu. Họ muốn xoá “dấu chàm” trên trán để có thể sống bình thường. Muốn được chính quyền “nhìn nhận”. Các giải thưởng, huân chương, chính là sự “nhìn nhận” ấy. Những người Nhân Văn “được” giải thưởng lúc cuối đời, bị đứng trước lựa chọn: gia đình hay khí phách. Họ đã chọn gia đình. Nhận giải thưởng không vì tùng phục mà vì thương gia đình, muốn con cháu thoát nạn Lý lịch ba đời mấy đứa con thơ, như lời Lê Đạt.

– Những điều đã bị bỏ, bị sửa, dưới mắt người kiểm duyệt và người bị kiểm duyệt, có thể chỉ là những “chi tiết không quan trọng”. Nhưng nhiều “chi tiết không quan trọng”, bị đục bỏ, thêm thắt, xuyên tạc có thể thay đổi hẳn cục diện tác phẩm. Bằng chứng trước mắt là văn bản Bài Tiến Quân Ca của Văn Cao. Đó là một hình thức ngụy tạo tác phẩm, ngụy tạo sự thật. Nhiều tác phẩm ngụy tạo sẽ dựng nên một lịch sử ngụy tạo.

– Một câu hỏi đặt ra: Tại sao báo Sông Hương, tháng 7-8/1987 do Tô Nhuận Vỹ tổng biên tập và Nguyễn Khắc Phê phó tổng biên tập đã “dám” in đầy đủ bài của Văn Cao không cắt xén, mà sau này không ai “dám” in lại văn bản này?

Tình trạng chung của sách báo miền Bắc trước 1975 và cả nước sau 75, về văn học hay lịch sử cận đại, là đương nhiên phải gạt bỏ những người bị chính quyền coi là “phản động”, là “ngụy”, nghiã là một nửa nước ra ngoài.

Người nghiên cứu nếu muốn tác phẩm của mình tồn tại sau thời kỳ cộng sản, thì không thể chỉ viết về một nửa nước. Không ai cần biết Nguyễn Du, Xuân Hương… có “trung thành” hay “phản động” đối với Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh. Nhưng một cuốn sách viết về văn học thời kỳ Nguyễn Huệ-Nguyễn Ánh mà gạt Nguyễn Du, Xuân Hương… ra ngoài, sẽ là vô dụng.

 

● Văn Cao Phạm Duy trước kháng chiến

Người viết hay nhất và đầy đủ nhất về Văn Cao là Phạm Duy. Phạm Duy có thói quen ghi chép khá cặn kẽ các sự kiện và những sáng tác hay của các bạn. Riêng với Văn Cao, Phạm Duy chép từ những bản nhạc hướng đạo rất ít người biết, đến những lời hai, tuyệt vời của bản nhạc mà ca sĩ lười không hát, như trường hợp Trương Chi.

Tạ Tỵ viết: “Phải thừa nhận rằng, nếu không có giọng hát của Phạm Duy, nhạc Văn Cao cũng khó mà phổ biến; trái lại nếu không có Văn Cao, chưa chắc Phạm Duy đã sáng tác! Cả hai hỗ trợ nhau, cùng dìu nhau đi vào bất tử!”[23]

Văn Cao gặp Phạm Duy lần đầu năm nào?

Theo Phạm Duy là khi ông theo gánh hát Đức Huy-Charlot Miều xuống Hải Phòng, nhưng có chỗ ông ghi 1943, chỗ 1944. Phải đọc kỹ những chi tiết Phạm Duy viết, thì mới biết lúc đó Văn Cao còn  “đang thất nghiệp” và đã sáng tác những bản Buồn tàn thu, Thu cô liêu, Cung đàn xưa… Vậy họ gặp nhau sớm hơn 43-44; chắc chắn trước khi Văn Cao sáng tác Suối mơ và Bến xuân, năm 42, bởi vì Phạm Duy có đóng góp trong hai tác phẩm này, cho nên Tạ Tỵ viết: “Khi hai nhạc phẩm được in ra, tên Phạm Duy xuất hiện lần thứ nhất trước công chúng, bên cạnh tên Văn Cao” [24].

Sở dĩ có sự lộn xộn về ngày tháng, vì Phạm Duy vác đàn đi khắp đất nước, riêng Con đường cái quan (xuyên Việt) ông đi về ít nhất 5 lần trong kháng chiến, và Văn Cao cũng viết: “Tôi thường nhìn Ph. D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng còi tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm”[25].

 Nguyễn Thụy Kha cũng ghi lại lời tâm sự của Văn Cao khi ở Huế năm 1940: “Đầu năm nay nó xuống Hải Phòng. Và “Buồn tàn thu” đã được nó lôi đi hát vang lên trên các nẻo đường xứ Bắc. Và thế là người yêu nhạc chốn Hà Thành đã biết có một Văn Cao tiếp sau Đặng Thế Phong”[26].

Đầu năm nay, tức là đầu năm 1940, nó tức là Phạm Duy. Vậy Văn Cao gặp Phạm Duy lần đầu, khoảng đầu năm 1940, là hợp lý hơn cả. Từ đó phát xuất một tình bạn lâu dài trong sáng tác, trong hoạt động cách mạng.

Về gia cảnh Văn Cao, Phạm Duy viết:

“Văn Cao là tên thật, họ Nguyễn, ra đời sau tôi vài năm tại bến Bính, bên dòng sông Cấm. Cha (hay anh ruột, tên là Tú) làm cai của nhà máy bơm nước ở bờ sông đó nên suốt thời niên thiếu, anh sống trong nhà máy nước này. Học tiểu học tại trường Bonnal, trung học ở trường Saint Joseph, Văn Cao đã có khiếu văn nghệ ngay từ khi còn đi học. Ăn ở trong một căn nhà nhỏ có cái máy bơm rất lớn nằm chình ình giữa nhà suốt ngày đêm hút nước từ dưới sông lên không lúc nào ngừng nghỉ, Văn Cao còn vất vả hơn nữa là phải lấy một tấm phản kê lên máy bơm để làm bàn học. Sau này nhớ tới “giọng máy bơm nước”, Văn Cao sẽ có câu thơ:

Anh muốn giơ tay lên mặt trời

Để vui da mình hồng hồng sắc máu

Mấy năm một điệu sáo

Như giọng máy nước thâu đêm chảy…

                         Anh có nghe không, trong Lá,

                         tuyển tập thơ Văn Cao.

Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà “xổ chữ nho”. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngã vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng”[27].

Nhận xét về thơ Văn Cao, Phạm Duy viết:

“Vào năm 1941 mà anh đã có những câu thơ nghe như thơ Huy Cận:

Sông chầm chậm chảy trong mưa

Nghe chừng cô gái đã thưa nhát chèo

Mưa trong trăng tiếng nhỏ đều

Bến mờ mịt: mấy mái lều bơ vơ

                                                              – Đêm mưa

Chưa gặp Văn Cao nhưng tôi đã biết tài soạn nhạc qua mấy bài nhạc hùng của anh rồi. Khi tới Hải Phòng, sau khi gặp Hoàng Quý tôi tìm đến Văn Cao. Cũng như tất cả thanh niên “mỏ trắng” (blanc bec) thời đó, Văn Cao đang thất nghiệp sau một tháng làm việc tại Nhà Bưu Điện. (…) Gặp tôi đang lập cuộc đời mới trong một gánh hát thì kết thân ngay. Lúc đó, tôi đã tập toẹ đánh đàn với các nhạc sĩ trong ban nhạc Tây của gánh Đức Huy (…) Và tôi đã hát cho Văn Cao nghe. Nghe xong, Văn Cao vội vàng đưa cho tôi dăm ba bài anh ta mới làm xong. Lúc đó bên cạnh hai đứa chúng tôi còn có Đỗ Hữu Ích, con ông chủ bán đồ sắt phố Hàng Đồng, soạn lời ca rất hay. Đa số những bản đầu tay của Văn Cao đều đã được Đỗ Hữu Ích giúp đỡ phần lời ca”[28].

Điểm đáng chú ý là Phạm Duy không hề nhắc đến việc ông giúp bạn làm lời các bài Suối mơ, Bến xuân -vì lần in đầu có tên Phạm Duy. Ngược lại, ông nhắc nhiều đến công của Đỗ Hữu Ích. Có thể vì Phạm Duy đã có một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ Ngàn lời ca, với 45 ca khúc trong 6 năm kháng chiến, trong khi Đỗ Hữu Ích không mấy ai biết đến. Phạm Duy cũng giải thích việc bạn bè phụ giúp Văn Cao:

 “Có đôi khi Văn Cao không hoàn tất vài ba sáng tác của mình, có thể vì anh là người vung vãi tài hoa nhưng thiếu tự tin. Bạn bè ở bên anh có cơ hội giúp anh hoàn thành những gì anh bỏ dở. Cũng nên biết rằng những bài hát đầu tiên của Văn Cao, về phần lời ca, còn có thêm sự phụ giúp rất hữu hiệu của một anh bạn khác là Đỗ Hữu Ích”[29].

“Bạn bè” ở đây, ngoài Phạm Duy, còn có cả Hoàng Quý, Kim Tiêu[30]. Việc tranh chấp sau này về lời bản Tiến quân ca, dường như cũng trong bối cảnh ấy: có thể Đỗ Hữu Ích đã phụ giúp ý kiến. Bởi nếu Đỗ Hữu Ích làm lời cả bài Tiến Quân Ca, thì tại sao ông lại không “kiện” Văn Cao, ít nhất từ sau 1954, mà lại để đến 1991 mới lên tiếng?

Về tính nhút nhát của Văn Cao, Phạm Duy viết: “Lúc đó, Văn Cao đã nổi danh vì những bản nhạc thanh niên và hướng đạo nhưng nếu có ai hỏi anh có phải là nhạc sĩ Văn Cao hay không thì không hiểu vì sao cu cậu cứ trả lời là không!”[31] Văn Cao cũng xác nhận sự nhút nhát này: “Mày ơi! Vì sao mày đưa nàng đến để cùng tập những bài hát đầu tay của tao (…) Tao chỉ là một Văn Cao hết sức nhút nhát trước phái yếu. Nhút nhát đến gàn dở. Tuyết đến rồi qua nhanh khi Sài Gòn lùi lại sau lưng. Mày đã biết rồi đấy, tao bao lần không dám nhận mình là Văn Cao”[32].

Đặt Văn Cao trong bối cảnh Tân Nhạc Việt Nam trước kháng chiến với hai loại Nhạc hùng và nhạc tình, Phạm Duy xác định sự đóng góp của Văn Cao: “Bây giờ hai nhóm Tiếng gọi sinh viên và Đồng Vọng tung ra những bài như Vui Xuân, Bạn Đường, Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước, Đêm Trong Rừng, Bóng Cờ Lau, Nước Non Lam Sơn của Hoàng Quý. Đều là những bài hát hay nhưng chỉ hay một cách bình thường. Văn Cao đóng góp vào loại nhạc hùng này với những bài như Vui Lên Đường, Gió Núi, Anh Em Khá Cầm Tay, Đống Đa, Thăng Long Hành Khúc… Theo tôi, những hướng đạo ca và thanh niên-lịch sử ca của Văn Cao có nhiều souffle (hơi thở) hơn trong câu nhạc và có nhiều tính thơ hơn trong lời ca. Trong những bài ca hướng đạo Anh Em Khá Cầm Tay, Gió Núi ta đã thấy manh nha những phóng bút tuyệt vời của Chiến Sĩ Việt Nam, Bắc Sơn hay Thiên Thai, Trương Chi sau này (…) Về phần nhạc hùng thì bài Đống Đa với câu ca: “Tiến quân hành khúc ca, thét vang rừng núi xa… nó phải dẫn tời bài Tiến quân ca của Cách Mạng Tháng Tám” [33].

Về nhạc tình của Văn Cao, Phạm Duy viết: “Vào đầu thập niên 40, nhạc tình ở Hà Nội nằm trong tay nhóm Myosotis (Hoa Lưu Ly) với những bài như Thuyền Mơ, Khúc Yêu Đương, Hồ Xưa… của Thẩm Oánh, Tâm Hồn Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước và trong tay nhóm Tricéa với những bài như Đoá Hồng Nhung, Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung, Bẽ Bàng của Lê Yên, Cô Lái Thuyền, Biệt Ly của Dzoãn Mẫn. Nhạc tình đang phổ biến dữ dội lúc đó cũng còn là của một người Nam Định, Đặng Thế Phong với ba bài hát mùa Thu: Đêm Thu, Con Thuyền Không Bến và Giọt Mưa Thu… Ở Hải Phòng, nhạc tình là địa hạt của Lê Thương với những bài đầu tay rất hay như Bản Đàn Xuân, Một Ngày Xanh (hay Bên Bờ Đà Giang), Nàng Hà Tiên… Nhất là với bài Thu Trên Đảo Kinh Châu soạn trên âm giai Nhật Bản và đang rất thịnh hành (đến độ đi vào nhạc mục của Hát Quan Họ ở Bắc Ninh).

Trong không khí nhạc tình lãng mạn toàn nói về mùa Thu như vậy, chàng tuổi trẻ Văn Cao cũng soạn ra những bài hát mùa Thu như Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu… nhưng chưa bao giờ anh có cơ hội để phổ biến. Tôi sẽ là người đầu tiên đem nhạc của Văn Cao đi – nói theo lời Văn Cao đề tựa trong một bài hát – gieo buồn khắp chốn. Danh từ người du ca đầu tiên cũng do chính Văn Cao đã gán cho tôi với một sự thèm sống cuộc đời “xướng ca vô loài” như tôi lắm lắm”[34].

 Sau khi phân tích giá trị từng tác phẩm của Văn Cao, Phạm Duy xác định:

“Nếu đem so sánh với những bản nhạc tình của 50 năm Tân Nhạc thì những bài Suối Mơ, Bến Xuân là cực điểm của lãng mạn tính trong ca nhạc Việt Nam. Sẽ không bao giờ có những bài ca lãng mạn như thế nữa! (…) Khi Thiên Thai và Trương Chi ra đời, với tài năng đã đến độ chín mùi, Văn Cao sẽ dắt ta tới đỉnh cao nhất của ái tình cũng như sẽ đưa ta vào cõi sâu thẳm nhất của khổ đau với hai câu chuyện cổ dân gian biến thành hai bản tình ca muôn thủa”[35].

● Văn Cao họa sĩ

Phạm Duy học Mỹ thuật Đông Dương một năm (1940-1941) với các thày Nam Sơn, Georges Khánh, Tô Ngọc Vân… và cùng lớp với Võ Lăng, Đinh Minh, Mai Văn Hiến, Bùi Xuân Phái, Phan Kế An, Quang Phòng, Phan Tại, Nguyễn Thanh Đức, Tạ Thúc Bình, Trần Phúc Duyên… Phạm Duy viết:

“Học trước chúng tôi vài năm là Tạ Tỵ, Phạm Văn Đôn, Trần Văn Lắm, Nguyễn Thị Kim… (…) Tạ Tỵ vẽ dessin hoặc vẽ tranh sơn dầu theo lối cổ điển hay ấn tượng (impressionisme) rất thành công, nhưng anh lại chọn con đường lập thể (cubisme) của Picasso. Ngoài Tạ Tỵ ra tôi không thấy có họa sĩ Việt Nam nào dám đi vào loại tranh đó cả. Tạ Tỵ còn đi xa hơn nữa khi anh đi vào loại tranh vị lai (futurisme)”[36].

Sự cách tân hội họa của Văn Cao, sẽ được Tạ Tỵ[37] nhận định trong bối cảnh chung của hội họa Việt Nam thập niên bốn mươi:

“Vào những năm 40-41, tôi học chung với nhiều bạn nhưng chỉ có vài người có tinh thần tiến bộ như Nguyễn Đăng Trí, Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng. Cả ba đều học dưới tôi vài lớp. (…) Bùi Xuân Phái người Hà Nội, có đôi mắt to sáng, vầng trán cao với bộ râu đỏ hoe và nụ cười khinh bạc (…) Anh thích vẽ phố vì nhà anh ở gần phố Hàng Thiếc, Hàng Điếu, Hàng Hòm là những con phố cổ của Hà Nội ngày xưa (…) Do vậy, về sau anh em thường gọi đùa là “Phái Phố”! Tôi và Bùi Xuân Phái sau này còn rất nhiều dịp sống gần nhau để tạo nên kỷ niệm (…) Còn Nguyễn Sáng, người miền Nam, tình tình nóng nẩy. Sáng cũng có vầng trán thật cao, thân xác khỏe mạnh như lực sĩ (…) Nguyễn Sáng khéo tay lắm, nhất là tranh thiếu nữ vẽ trên lụa (…)

“Phạm Duy và Văn Cao cũng có một thời gian theo học Mỹ Thuật cũng như Phan Tại, nhà đạo diễn kịch sau này, nhưng cả ba đều bỏ ngang, có lẽ vì không thích hợp. Chỉ riêng Văn Cao vẫn vẽ, có vài tác phẩm được trưng bày tại Salon Unique năm 1943 do chính phủ Pháp tổ chức. Tác phẩm mang tựa đề “Những kẻ tự sát” (Les suicidés) với bút pháp phong phú gây được nhiều thiện cảm của giới yêu mỹ thuật lúc ấy. Qua tác phẩm này, ý thức cách mạng đã có ở Văn Cao nhưng chưa ai biết (…)

Văn Cao khi ở Hải Phòng, khi lên Hà Nội, mỗi lần có mặt ở thành phố, Văn Cao thường đến tìm tôi mời lại căn nhà ở trong con ngõ nhỏ đường Hàm Long để khoe tranh mới. Trong khoảng thời gian từ 42 đến 45, tôi đâu biết Văn Cao đã dấn thân vào cách mạng, hoạt động bí mật cho Mặt Trận Việt Minh. Quả thật tôi không để ý đến cách mạng và chính trị nên thường có những lập luận đối nghịch với Văn Cao về sáng tác. Văn Cao cho rằng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi nó phục vụ cho số đông và một bức tranh đẹp phải truyền cảm, gây được ấn tượng tốt cho người xem tranh. Còn tôi cho rằng nghệ thuật, bất cứ ở bộ môn nào, trước hết, phải có bản sắc cũng như đặc tính của nghệ phẩm. Một bức tranh đẹp không cần sự giải thích, chỉ cần sự cảm thông giữa người xem tranh và tác phẩm (…) Nhưng tuy miệng nói vậy, chứ Văn Cao vẽ cũng mới lắm; những bản nhạc như Buồn Tàn Thu, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi, v.v… được in ra đều do Văn Cao trình bày bìa đi rất gần với trường họa lập thể, mà hồi đó chưa có một bản nhạc nào, cuốn sách nào trình bày dưới hình thức đó”[38].

Tạ Tỵ còn gặp lại Văn Cao nhiều lần trong kháng chiến và cũng chính ông là người sẽ thuật lại sinh hoạt hội họa trong kháng chiến. Bây giờ hãy tìm hiểu về giai đoạn cách mạng tháng Tám, giai đoạn Tiến Quân Ca và những ngày lịch sử.

● Tiến quân ca và những ngày lịch sử

1945, là thời điểm bản lề, phát xuất sự phân chia Quốc-Cộng, phân chia Nam-Bắc, phân chia chiến tuyến. Theo Lại Nguyên Ân thì người nghiên cứu ngoài Bắc có rất ít tư liệu văn học về thời kỳ này, phải nhờ đến những bài báo của Vũ Bằng trên Trung Bắc chủ nhật, mà ông vừa tìm lại, mới biết được những sự việc như: “Học giả Trần Trọng Kim trong vai trò thủ tướng; việc khôi phục Hà Nội trong quy chế một thành phố của nước Việt Nam độc lập; việc Hà Nội khôi phục đền Trung Liệt thờ những bậc quản thủ đã tử tiết vì thành phố…”[39]

1945, là năm sôi động nhất của lịch sử cận đại và Tiến Quân Ca lần đầu tiên đến với quần chúng.

Để giúp bạn đọc dễ theo dõi tiến trình hành động và sáng tác của Văn Cao và các văn nghệ sĩ thời đó, chúng tôi xin nhắc lại một số mốc lịch sử sau:

▪ 04/2/1945, Hội nghị tối cao Đồng Minh họp tại Yalta, chia thế giới làm hai khu vực: vùng ảnh hưởng Nga và vùng ảnh hưởng Anh Mỹ.

▪ Tháng 3/1945 (Ất Dậu), nhiều ngàn người chết đói ở Bắc.

▪ 09/3/45, Pháp đầu hàng Nhật.

▪ 10/3/45, Nhật tuyên bố: ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Đông Dương.

▪ 11/3/45, Viện Cơ Mật Huế thông báo: hủy bỏ hiệp ước bảo hộ 1884. Việt Nam khôi phục chủ quyền.

▪ 17/3/45, vua Bảo Đại tuyên chiếu: đích thân cầm quyền theo nguyên tắc Dân Vi Quý.

▪ 17/4/45, Bảo Đại ủy Trần Trọng Kim lập chính phủ, thành phần: Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Trịnh Đình Thảo, Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh, Lưu Văn Lang, Trần Văn Chương, Nguyễn Hữu Thi.

Dùng cờ quẻ LY làm quốc kỳ và tiếp tục lấy  Đăng đàn cung làm quốc ca. Trần Trọng Kim giải thích:

“Nước Việt Nam đã là một nước tự chủ thì phải có quốc kỳ và quốc ca. Bài quốc ca thì từ trước vẫn dùng bài “Ðăng Ðàn” là bài ca rất cổ, mà âm điệu nghe nghiêm trang. Chúng tôi nghĩ: trước khi có bài nào hay hơn và có nghĩa lý hơn thì hãy cứ dùng bài ấy.

 Còn lá quốc kỳ, mỗi người bàn một cách, chúng tôi định đem hỏi mọi người trong nước và ai có ý kiến gì, thì vẽ kiểu gửi về. Có kiểu lá cờ vàng có quẻ Ly ở giữa là có ý nghĩa hơn cả. Chúng tôi định lấy kiểu ấy làm quốc kỳ.

 Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa, nên có câu rằng “Ðầu voi phất ngọn cờ vàng”. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc, lấy dấu hiệu quẻ Ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng, nói ở trong kinh dịch, mà quẻ Ly chủ phương nam. Chữ Ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra bốn phương.

Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ Ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ Ly có đủ các ý nghĩa”[40].

▪ 20/7/45, Nhật trả chính phủ Việt Nam các cựu nhượng địa Pháp: Hà Nội, Hải Phòng Đà Nẵng.

▪ 01/8/45, Đốc lý Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội: tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xoè ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm lính Khố Xanh, Khố Đỏ.

▪ 09/8/45, Nagasaki bị ném bom nguyên tử.

▪ 13/8/45, Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tuyên Quang, quyết định: Tổng khởi nghiã, đoạt khí giới quân Nhật, chiếm chính quyền trước khi quân Đồng Minh đến Đông Dương, lập chế độ Dân Chủ Cộng Hòa.

▪ 14/8/45, Nhật trả Nam Bộ cho triều đình Huế.

▪ 15/8/45, Nhật Hoàng kêu gọi quân đội đầu hàng. De Gaulle cử Leclerc làm tư lệnh Lục quân Pháp tại Đông Dương.

▪ 17/8/45, công chức Hà Nội biểu tình biểu dương ý chí bảo vệ đất nước, cuộc biểu tình biến thành biểu tình ủng hộ Mặt Trận Việt Minh. Phạm Duy cướp micro hát Tiến Quân Ca “lần đầu tiên và duy nhất” tại nhà Hát Lớn Hà Nội.

▪ 19/8/45, biểu tình lớn trước nhà Hát Lớn để nghe tuyên bố của Mặt trận Việt Minh. Bài Tiến Quân Ca được đoàn Thanh Niên đồng ca.

▪ 22/8/45, vua Bảo Đại thoái vị.

▪ 23/8/45, thành lập chính phủ lâm thời với Hồ Chí Minh, chủ tịch.

▪ 02/9/45, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố Độc Lập tại Ba Đình. Vũ Hoàng Chương làm bài thơ Ngày Độc Lập, đăng trên Tiên Phong số 24, ngày 1/12/46.

▪ 09/9/45, quân đội Trung Hoa bắt đầu tới Hà Nội để giải giới quân Nhật.

▪ 05/10/45, tướng Leclerc tới Sàigòn, tuyên bố sẽ bình định Nam Bộ.

▪ 22/12/45, Hồ Chí Minh ký thỏa ước với Việt Quốc và Việt Cách (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt) lập chính phủ liên hiệp.

▪ 13/1/46, Vệ Quốc Quân tấn công bộ đội Việt Quốc tại Việt Trì.

Quân Pháp chiếm xong Nam Bộ, tiếp tục đánh ra Bắc.

▪ 2/3/46, thành lập chính phủ liên hiệp với Hồ Chí Minh, chủ tịch; Nguyễn Hải Thần, phó chủ tịch; Huỳnh Thúc Kháng, bộ trưởng Nội Vụ; Nguyễn Tường Tam, bộ trưởng Ngoại Giao…

▪ 6/3/46, Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ, thừa nhận Việt Nam là quốc gia tự trị trong Liên Hiệp Pháp.

▪ 16/3/46, cố vấn Vĩnh Thụy sang Trùng Khánh.

▪ 17/4/46, khai mạc hội nghị Việt Pháp tại Đà Lạt, Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn. Hội nghị thất bại.

▪ Từ tháng 4/46 trở đi, tình hình rối loạn: quân Tưởng đánh nhau với quân Pháp. Bộ đội Việt Minh đánh nhau với bộ đội Việt Quốc. Nguyễn Tường Tam sang Tàu.

▪ 6/7/46 Khai mạc hội nghị Fontainebleau, Phạm Văn Đồng làm trưởng phái đoàn. Chương trình nghị sự: Việt Nam và liên bang Đông Dương.

▪ 10/9/46, Hội nghị Fontainebleau thất bại.

▪ 14/9/46, đang đêm, chủ tịch Hồ Chí Minh thân hành đến nhà riêng của bộ trưởng Marius Moutet ký thoả ước tạm thời.

▪ 2/11/46, Hồ Chí Minh lập chính phủ mới, không còn tính cách liên hiệp.

▪ 19/12/46, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ[41]

Tóm tắt công việc của chính phủ Trần Trọng Kim trong hơn ba tháng cầm quyền, từ 17/4 đến đầu tháng 8/45:

• Bỏ Bộ Quốc Phòng, lập Bộ Thanh Niên do Phan Anh đảm nhiệm: Bỏ chiến tranh, rèn luyện tuổi trẻ.

• Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng Giáo Dục và Mỹ Thuật soạn thảo một chương trình giáo dục mới.

• Tiếp nhận các phần lãnh thổ bị Pháp chiếm: Nam Bộ và các thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội – Theo Phan Anh, việc này không dễ dàng, vì Nhật chưa muốn trả.

• Tổ chức đại lễ kỷ niệm Nguyễn Thái Học và các liệt sĩ Yên Bái tại vườn Bách Thảo.

• Phá những tượng đài của thực dân Pháp tại Hà Nội. Đặt lại tên Việt cho các đường phố Hà Nội.

• v.v…

Về phía các đảng phái, sự đoạn tuyệt đã rõ ràng từ khi bộ đội Việt Minh và Việt Quốc đánh nhau ở Việt Trì. Phe quốc gia, gồm những đảng đối lập với cộng sản, có khuynh hướng khác nhau: thân Tàu Tưởng Giới Thạch, thân Nhật hoặc thân Pháp. Phe cộng sản: thân Nga, thân Tàu Mao Trạch Đông. Nhưng Việt Minh đã thành công trong việc cổ động toàn dân theo Cách Mạng Tháng Tám.

Riêng về phía văn nghệ sĩ, gần như hầu hết những người không cộng sản cũng tham gia kháng chiến: Tạ Tỵ viết khẩu hiệu cho Việt Minh. Phạm Duy cướp micro hát Tiến quân ca. Vũ Hoàng Chương sáng tác Ngày độc lập với những câu thơ:

“… Hai cuộc tang thương tủi đọa đầy

Núi sông còn có buổi hôm nay

Kinh kỳ tám mặt reo đoàn kết

Sóng đỏ gầm quanh ngọn bút này (…)

Ngoài kia dừng chén mà coi

Núi lay xiềng khoá, sông đòi tự do

Lắng nghe dân tộc reo hò

Bốn phương thét lớn gào to: dân quyền…”

Tạ Tỵ thuật lại việc viết khẩu hiệu cho Việt Minh và Nguyễn Sáng vẽ giấy bạc cụ Hồ: “Trước ngày 19/8/1945 là ngày Việt Minh cướp chính quyền, Lê Quốc Lộc đến tìm tôi nói về tình hình chính trị: “Chúng mình không thể ngồi chờ được nữa, phải hành động!” Tôi hỏi: “Hành động cái gì?” Anh nhìn thẳng vào mắt tôi như dò xét: “Tôi nói hành động tức là phải tham gia cách mạng”. – “Cách mạng nào?” Lộc trả lời với một giọng rắn chắc: “Tôi nói thực với cậu, tôi đang hoạt động cho Mặt Trận Việt Minh; tình thế đã chín mùi rồi. Nếu cậu bằng lòng, tôi mời cậu tham gia Mặt Trận”. Tôi đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Lộc nói tiếp: “Công tác cũng nằm trong khả năng của tụi mình thôi, nghiã là chuyên môn”. Tôi ậm ừ trả lời: “Nếu cậu làm được tôi cũng làm được”. Lộc cười, cặp mắt một mí của anh hơi nheo trông giống như hai sợi chỉ kéo thẳng: “Vậy chúng ta bắt tay vào việc nhé!” (…) Chừng nửa giờ sau, Lộc mang vải, sơn đến với một tờ giấy nhỏ: “Cậu viết giùm mấy khẩu hiệu này”. Nói xong Lộc đi ngay. Tôi mở tờ giấy ra coi, thấy mấy tiếng: “Hoan hô Mặt Trận Việt Minh. Chào mừng Cách Mạng thành công”. (…) Sáng sớm hôm sau Lộc đến nhà tôi thật sớm. Hai tấm khẩu hiệu, Lộc cho vào chiếc bao bột mì, buộc gọn vào yên xe rồi ngồi lên trên, đạp nhanh như có chuyện gì gấp lắm. Ngay buổi chiều hôm đó, nhân có cuộc mít tinh của công chức và dân chúng, Mặt Trận Việt Minh lợi dụng ngay dịp đó, bắn mấy phát súng chỉ thiên và trương cờ đỏ sao vàng cùng khẩu hiệu. Thế là xong! Trang sử Việt Nam đã lật, nhưng nước Việt Nam còn phải kinh qua nhiều giai đoạn nhục nhằn ở mỗi hoàn cảnh đấu tranh để làm nên lịch sử (…) Mấy tháng sau, Tôi được Lê Quốc Lộc giới thiệu vào cơ quan tuyên truyền để vẽ những tấm tranh cổ động. Tiền công cũng đủ sống qua ngày. Trong lúc tôi làm công tác trên thì Nguyễn Sáng được tuyển dụng vào công việc vẽ giấy bạc “cụ Hồ”. Sáng vốn khéo tay và cần cù, rất thích hợp với tài năng. Tôi không biết ai đã giới thiệu Nguyễn Sáng với Bộ Tài Chánh của Việt Minh. Nguyễn Sáng làm việc với một ông cụ tuy già nhưng kẻ chữ còn tinh vi lắm (…) Tất cả mọi loại giấy bạc tiêu dưới chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đều do Nguyễn Sáng vẽ.”[42]

Tạ Tỵ đã phản ảnh rõ tâm trạng và tình thế những người đi theo kháng chiến. Nguyễn Huy Tưởng trong tiểu thuyết Sống mãi với thủ đô và Văn Cao trong Bài Tiến Quân Ca cũng có những cái nhìn tương tự.

● Ngày 17 và 19 tháng tám 1945 và Tiến Quân Ca

Tiến Quân Ca được viết từ mùa thu năm 1944, nhưng đến tháng tám năm 1945, mới có vai trò lịch sử. Chủ động trong hai ngày 17 và 19/8/45. Vậy những tác nhân chính viết gì về những ngày lịch sử đó?

Phạm Duy viết: “Sau khi Nhật đầu hàng, Quân Đội Nhật ở Việt Nam trao trả phủ Toàn Quyền cho phủ Khâm Sai Bắc Bộ. Để tỏ ý chí bảo vệ đất nước, vào ngày 17 tháng 8, công chức Hà Nội được lệnh của vị Khâm Sai Phan Kế Toại đứng ra tổ chức một cuộc mít tinh ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội. Cuộc mít tinh của các ông các bà công chức đang diễn tiến thì bỗng nhiên một lá cờ đỏ sao vàng rất lớn được thả từ bao lơn của Nhà Hát xuống, rồi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao. Thế là cuộc biểu tình của Tổng Đoàn Công Chức bỗng nhiên biến thành cuộc biểu tình của Mặt Trận Việt Minh.

 Hai ngày sau, tức là 19 tháng 8, Việt Minh đích thân đứng ra tổ một cuộc mít tinh khổng lồ cũng ở trước Nhà Hát Lớn Hà Nội. Sau đó đoàn người biểu tình kéo đến bao vây Bắc Bộ Phủ. Ông Khâm Sai Phan Kế Toại đầu hàng ngay. Coi như cướp được quyền hành chánh rồi, đoàn người kéo luôn qua trại Khố Xanh ở đường Đồng Khánh để cướp quyền quân sự. Một ngàn lính Bảo An ở trong trại không kháng cự. Cờ quẻ Ly được hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên.

Thế là cuộc tổng khởi nghĩa thành công tại Hà Nội. Một Ủy Ban Nhân Dân được thành lập ngay hôm đó. Đồng thời tại nhiều địa phương, các đoàn võ trang tuyên truyền được gọi là “Dân Quân Giải Phóng” cũng tới chiếm chính quyền trong tay các tỉnh trưởng hay quận trưởng của một chính phủ mà ông Thủ Tướng là Trần Trọng Kim đã từ chức”[43].

Trong đoạn hồi ký trên, Phạm Duy viết ngắn và rất chi tiết, nhưng ông không hề nhắc đến vai trò của mình trong ngày 17/8/1945, chỉ ghi một người leo lên khán đài cướp micro để hô khẩu hiệu và hát bài Tiến Quân Ca của Văn Cao và trong cuốn hồi ký, ông cho biết những ngày ấy ông ở trong Nam. Điều đó dễ hiểu vì Phạm Duy không thể công khai nhìn nhận mình có “vai trò lịch sử trong những ngày Việt Minh cướp chính quyền” cũng như Lê Đạt không thể công khai nhận mình đã theo Quốc Dân Đảng.

 Nhưng Văn Cao ghi lại rõ ràng, trong hồi ký như sau: “Tôi ở lại một mình trên căn gác vắng[44] vào những ngày đầu thu năm 1944.

Tin từ Hải Phòng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó đã nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi tìm cách giúp đỡ. Năm ấy rét sớm hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn đêm mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

Căn gác được thêm một người ở. Anh Ph. D. là bạn thân của tôi từ Hải Phòng lên. Anh mới nhận nhiệm vụ làm giao thông của tổ chức giữa hai tỉnh Hà Nội và Hải Phòng. Từ lâu, tôi vẫn biết Ph. D là người của đoàn thể, và thường chú ý giúp đỡ tôi. (…) Lần này, Ph. D. lên ở với tôi vào giữa lúc tôi đã muốn bỏ tất cả hội họa, thơ ca, âm nhạc, bỏ tất cả giấc mơ sáng tạo thường đêm đêm đan mãi đan mãi cái vành mũ triền miên trên đầu như một vòng ánh sáng thần thánh.

Một hôm, Ph. D. nói với tôi:

– Văn có nhớ anh Vũ Quý không? Anh ấy vẫn ở Hà Nội? Văn có muốn gặp anh ấy không?

Tôi biết đồng chí Vũ Quý trong những ngày còn là vận động viên bơi lội ở Hải Phòng. Chúng tôi thường tập luyện hàng ngày trên sông Cấm. Từ khi biết anh bị mật thám Pháp bắt hụt, tôi hết sức khâm phục. Thế ra người cộng sản ấy vẫn hoạt động tại Hà Nội. Anh ấy vẫn nhớ đến tôi.

 Tôi đã gặp lại đồng chí Vũ Quý. Anh là người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn, ở đấy quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện của chúng tôi thật hết sức đơn giản.

– Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

– Được.

– Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngõ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và chờ quyết định công tác. Ngày đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

Vũ Quý đến tìm tôi và giao công tác:

– Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, nên phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen cố tìm một cái gì để nói, tìm một âm thanh đầu tiên. (…) Tôi đi mãi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một cái ống bơ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Hình như nó không phải con cái số người đó. Hình như nó là đứa trẻ bị lạc. Không phải cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định – Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt và quay đi. Đêm ấy về gác tôi viết được nét nhạc đầu bài Tiến Quân Ca.

Những ngày ấy, Ph. D. sống chung với tôi. Thỉnh thoảng anh về Hải Phòng và mang tiền bán tín phiếu do các cơ sở gửi lên. Quần chúng ủng hộ Việt Minh ngày càng nhiều.(…)

Tôi thường nhìn Ph. D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng còi tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm. Dưới ngọn đèn dầu, bộ mặt ngăm ngăm đen của anh chỉ thấy ánh lên đôi mắt sâu và trầm lặng. Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh của từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến Quân Ca.(…)

Ngày 17 tháng tám 1945, tôi đến dự cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài “Tiến quân ca” đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên vang theo những đoạn sôi nổi. Ở những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một lúc, những tờ bướm in “Tiến quân ca” được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít-tinh.

Tôi đã đứng lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa nhà Hát Lớn. Tôi đã nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph. D. qua loa phóng thanh. Anh là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát. Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất”[45].

Đoạn hồi ký này xác định năm sự kiện quan trọng:

1/ Bà mẹ Văn Cao vì đói khổ, phải đưa các cháu từ Nam Định ra Hải Phòng, giữa đường bị lạc mất đứa cháu lên ba. Việc này Hoàng Văn Chí có ghi lại đúng như thế.

2/ Phạm Duy ở trong “tổ chức” trước Văn Cao. Điều đó dễ hiểu vì Phạm Duy khi học trường Thăng Long là học trò của Võ Nguyên Giáp.

3/ Phạm Duy “nhắc nhở” Văn Cao tìm gặp Vũ Quý.

4/ Phạm Duy “chứng kiến sự ra đời của bài Tiến Quân Ca” ở căn gác phố Mongrand.

5/ Phạm Duy “buông lá cờ đỏ sao vàng trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát trước quần chúng lần đầu tiên” với “sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng” trong ngày 17/8/1945.

Trước kháng chiến, câu “Tương tiến nhạc sĩ Phạm Duy, kẻ du ca đã gieo nhạc buồn của tôi đi khắp chốn” của Văn Cao đã trở thành huyền thoại.

 Lần này, Văn Cao muốn trả lại vai trò lịch sử của Phạm Duy đối với Cách Mạng Tháng Tám. Vai trò đã bị lịch sử một chiều cuốn đi, cướp mất. Văn Cao muốn cái gì của César phải trả về cho César.

● Không khí ám sát thủ tiêu

Tìm hiểu Văn Cao không thể bỏ qua giai đoạn ông hoạt động trừ gian. Nhưng muốn hiểu rõ hành động ấy, lại phải tìm hiểu không khí thanh trừng giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập. Vũ Bằng viết về không khí thời ấy:

“Bầu không khí ấy là bầu “không khí cảnh sát” mà Việt Minh vừa mới nắm được chánh quyền đã tạo được liền: thu hút dân vì lẽ dám đứng ra đánh thực dân diệt phát xít cứu quốc, nhưng đồng thời cũng cho tiêu luôn các đảng phái không đi một con đường với họ.

Lúc ấy chưa có những chữ rùng rợn như “Đầm Đùn”, “Lý Bá Sơ” nhưng người ta đã mang máng nghe thấy những vụ át các bỉnh bút báo “Việt Nam” ở Hàng Bún Dưới, báo “Sao trắng” đường Bô-Nan Hải-Phòng, hay vụ Ôn Như Hầu có hàng trăm cái xác ôm nhau mà chết… Sức mấy mà không sợ? Sức mấy mà phòng ngừa được bọn cán bộ bịt mắt bưng đi? Nhưng cùng tắc biến, biến tắc!.. liều, đã liều thì liều cho trót, chúng tôi cứ đả kích Trần Huy Liệu[46] và những sơ hở của guồng máy chánh quyền phôi thai của Việt Minh. Và rồi cũng chẳng làm sao hết”[47]

Trong tiểu thuyết Giòng Sông Thanh Thủy[48], Nhất Linh viết về Thanh và Ngọc, cán bộ Việt Minh và Việt Quốc, cả hai đều nhận được lệnh phải thủ tiêu nhau, nhưng họ rơi vào tình yêu, tình yêu đến chết. Nhất Linh mô tả rất rõ bối cảnh “Họ rình nhau như những con thú dữ mà người nào cũng vì một lý tưởng mình cho là cao đẹp”. Nhất Linh đã viết những trang lạnh lùng và rùng rợn về tội ác của con người, nhân danh Cách Mạng. Các nhân vật tự hỏi: “Tại sao mình lại làm một việc độc ác như thế này”. Tại cái “guồng máy”: Họ ở hai guồng máy khác nhau. Đất nước là của chung, nhưng cách phụng sự đất nước của hai đảng, hai guồng máy chỉ đạo, khác nhau.

Tác phẩm của Nhất Linh giải thích hành động của Văn Cao trong kháng chiến: Văn Cao làm việc cho tình báo Việt Minh, tại Quán Biên Thùy năm 1947. Và Quán Biên Thuỳ, theo sự mô tả của Phạm Duy, có không khí rất Giòng sông Thanh Thủy:

 “Vào khoảng đầu mùa hè năm 1947 tôi tới Lào Cai và thấy ở đây có một phòng trà với cái tên là Quán Biên Thùy, bề mặt là một nơi giải trí nhưng bề trong là một tổ chức tình báo. Lúc đó, đối diện với Lào Cai vẫn còn là vùng Trung Hoa Quốc Gia chưa bị nhuộm đỏ hoàn toàn. Tôi gặp Văn Cao ở đây và được mời ở lại hát cho phòng trà này. (…) Quán Biên Thùy đông nhân viên lắm. Tất cả đều là dân Hà Nội. Tôi không để ý nhiều tới hoạt động tình báo của quán này, chỉ ngờ rằng vùng Lao Kai còn khá nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi bị Việt Minh tảo thanh từ vùng trung du, Việt Quốc tập trung ở đây để sẽ lánh sang Trung Hoa. Nhân viên tình báo của Quán Biên Thùy này đang đi lùng Việt Quốc để báo cho Công An tới bắt hay báo cho bộ đội tới tiêu diệt. Tôi biết rằng Việt Quốc trước đây sống nhờ ở tiền thuế của sòng bạc Cốc Lều, nay sòng bạc này phải đóng thuế cho Việt Minh (…) Trong thời gian ở Lào Kai, tôi còn có cái thú tới hút thuốc phiện tại dinh của một lãnh chúa người Nùng là Hoàng A Tưởng (…) Thuốc phiện chẳng bao giờ làm tôi say cả nhưng thứ thuốc phiện được hạ thổ lâu năm của Hoàng A Tưởng lần nào cũng đánh gục hai “anh hùng” kháng chiến là Văn Cao và Phạm Duy.”[49]

Không khí thanh trừng này nằm trong quỹ đạo trừ gian của Văn Cao những ngày đầu cách mạng: ám sát Đỗ Đức Phin. Bi kịch xẩy ra năm 1945, khi ông hoạt động trong đội “Biệt động vũ trang”.

● Văn Cao bắn Đỗ Đức Phin

Tại sao Văn Cao vào đội biệt động vũ trang?

Giả thuyết của Vũ Bằng:

“… Cho tới một ngày kia, lúc Nhật đổ bộ vào Đông Dương, tôi mới lại nghe nói đến Văn Cao hai lần nữa. Đó là lần Nghiêm Xuân Huyến báo tin cho tôi biết con gái anh sắp lấy chồng, mà người chồng đó là Văn Cao và một lần sau khi Việt Minh “át” cô Nga[50]”giao du” với một sĩ quan Nhật bị bắn chết liền, ở Hải Phòng lại xẩy ra vụ bắn Đỗ Đức Phin mà lúc đó ai cũng bảo người bắn là Văn Cao.

Nghiêm Xuân Huyến, sước hiệu[51]là Voi đen (…) Tôi đi lại thường xuyên nhà Voi đen vì anh có ra một tờ tuần báo mười hai trang – tờ Rạng Đông. Sau này (…) anh ra tờ tuần báo trào phúng tên là Con ong do Tam Lang Vũ Đình Chí chủ biên. (…) Xa nhau được ít lâu, tôi nghe thấy Nghiêm Xuân Huyến bị Nhật bắt và “xin âm dương” cho đến chết ở nhà lao. Anh em hồi đó bảo rằng anh bị Nhật giết vì nhà in của anh in truyền đơn cho Việt Minh. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không hiểu cái vụ Nhật bắt và đánh đập tàn nhẫn Huyến cho đến chết có liên quan gì đến vụ con gái Huyến lấy Văn Cao hay không, hay là Văn Cao có liên quan gì đến việc in truyền đơn đó hay không -nếu quả có in truyền đơn tại nhà in của Huyến- chỉ biết sau đó Văn Cao im lìm, không ai biết hành tung ra sao hết cho đến lúc xẩy ra vụ ám sát Đỗ Đức Phin trong một tiệm hút ở Hải Phòng. (…) Cái tên Văn Cao nổi bật lên từ đó. Đối với một số anh em văn nghệ, có một số anh em nói cho đúng, đã lấy làm hãnh diện về điểm đó.

Sau ngày 19/8 tiếng của Văn Cao nổi như cồn”.[52]

Doãn Tòng, bạn đồng hành với Văn Cao trong đội trừ gian, thuật lại các sự kiện: “Năm 1945, ở Hải Phòng có Đỗ Đức Phin là một tên mật thám cho Nhật – nó đã phá hoại nhiều cơ sở của ta, trên có lệnh phải trừ khử nó. Tháng 7-1945, Văn Cao trừ Đỗ Đức Phin. Việc này được đồng chí Nguyễn Khang, Xứ Ủy Bắc Kỳ đồng ý. Nguyễn Đình Thi giao cho Văn Cao khẩu súng 7165. Tổ phân công cho em Trần Liễn là cô Liên thăm dò đường đi lối lại của Đỗ Đức Phin. Cô Liên chơi với em vợ Đỗ Đức Phin, nên rất tiện cho việc điều tra. Văn Cao, Trần Liễn có lần đã đến lớp học tiếng Nhật do Đỗ Đức Phin tổ chức nên biết mặt hắn. Hắn nghiện thuốc phiện, hay hút ở tiệm số nhà 51 phố Đông Kinh. Nắm chắc được cách đi lại ăn ở của hắn, tổ bắt đầu hành động.

Vào khoảng 6 giờ chiều một ngày tháng 7 năm 1945, trời nhá nhem tối, anh em cải trang cho Văn Cao thành một anh cai xe bận quần đen, áo va-rơi, đầu đội mũ cát dầy, đeo đôi kính gọng. Hoá trang vào không ai nhận ra Văn Cao nữa. Văn Cao đạp xe đến phố Đông Kinh, vào ngồi ở một quán nước, đưa mắt quan sát. Khi Trần Khánh ra hiệu bằng cách nhẩy lò cò: có ý là Đỗ Đức Phin đang ở trên, Văn Cao bắt đầu hành động. Anh lên gác thấy rõ Đỗ Đức Phin đang nằm hút thuốc phiện. Bên cạnh là người bồi tiêm. Văn Cao bắn một phát vào đầu Đỗ Đức Phin, tên này gục xuống. Tên bồi tiêm sợ quá, nhẩy qua ban công bám vào ống máng tụt xuống chạy biến. Một số đồng bào nghe tiếng súng nổ, chạy đến nhốn nháo. Văn Cao bình tĩnh nói:” Xin mọi người ngồi im. Tôi chỉ diệt một tên Việt Nam bán nước thôi”.

Nói rồi dưới ánh đêm mờ mờ, Văn Cao nhẩy lên xe đạp đi về nhà tôi thay quần áo. Sau đó Văn Cao lên Hà Nội hoạt động, tôi ở Hải Phòng”[53].

Hành động “trừ gian” này sẽ ở lại trong thơ Văn Cao như một lương tâm trầm uất suốt đời.

● Tại sao Văn Cao không sáng tác ca khúc nữa?

Sau ngày hòa bình lập lại, Văn Cao không sáng tác ca khúc nữa, lý do sâu xa được ghi trong bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Đêm ấy, trong cuộc tâm tình nghệ sĩ của Văn Cao với những ngư phủ trên phá Tam Giang, tôi muốn biết một điều mà với tôi là một bí ẩn thuộc về đời ông:

– Tại sao sau kháng chiến chống Pháp, anh vẫn vẽ, vẫn làm thơ, nhưng người ta không nghe anh hát nữa?

– Hồi nhận lời viết Tiến Quân Ca, tôi không hề chuẩn bị trước để làm một bài hát, mà là một đặc nhiệm nguy hiểm của đội biệt động. Tôi là đội viện biệt động vũ trang. Nhiệm vụ của tôi là trong một đêm, cầm một khẩu súng, vào một thành phố để giết một người. Tôi đã làm xong việc ấy. Đó là chiến tranh và căm thù, đơn giản thôi. Những ngày đầu sau chiến tranh, tôi đã trở lại căn nhà ấy, thấy còn lại một gia đình mẹ góa con côi. Làm sao tôi có thể nói điều cần thiết nhất đối với tôi trong những bài hát sau đó? Nói về chiến công hay phải nói một điều gì khác? Nên tôi im lặng, và chỉ viết nhạc-không-lời.

Giữa tiếng sóng ồ ạt vỗ quanh tàu, dưới đêm sao, tôi vẫn nghe rõ giọng nói dịu dàng của Văn Cao, sâu thẳm đến lạnh người, như thể là tiếng nói đến từ một biển khác. Trời ơi, tôi đã dại dột chọc tay vào vết thương. Nhưng tôi nghĩ, chỉ có những nghệ sĩ lớn mới nuôi cho mình những bi kịch như vậy”[54].

Nhiệm vụ của Văn Cao đã được Nhất Linh làm sống lại với nhân vật Ngọc trong Giòng Sông Thanh Thủy. Vết thương Văn Cao cũng là vết thương Nhất Linh. Nhất Linh viết Giòng Sông Thanh Thủy hai năm trước khi tự vận, như một chúc thư văn học và chính trị gửi lại đời sau: cuối cùng trên dòng Xích Bích, Tào Tháo, Chu Du không còn nữa, chỉ còn lại tiếng thơ Tô Đông Pha, chỉ còn lại tiếng thơ, cho muôn đời…

● Lưu Hữu Phước và Tiếng Gọi Thanh Niên

Viết về Tiến Quân Ca của Văn Cao, không thể không nhắc đến Tiếng Gọi Thanh Niên của Lưu Hữu Phước, bài quốc ca của miền Nam trong thời kỳ chia đôi Nam Bắc.

Lưu Hữu Phước sinh ngày 21/9/1921 tại Cái Răng, Cần Thơ. Học nhạc từ nhỏ. 1940, ông ra Hà Nội học y khoa. Khoảng 1940-44, Lưu Hữu Phước nổi tiếng với những ca khúc lịch sử như Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hát Giang trường hận, Hồn Tử sĩ, Hờn Sông Gianh, Hội Nghị Diên Hồng… và một loạt hành khúc cho sinh viên như: Ta cùng đi, Tiếng gọi thanh niên, Bài hát của thiếu sinh, Bài hát của thiếu nữ Việt Nam, Việt nữ gọi đàn… Sau Cách Mạng Tháng Tám, Lưu Hữu Phước sáng tác Khúc khải hoàn, Ca ngợi Hồ chủ tịch… Ca khúc của Lưu Hữu Phước có ảnh hưởng rất lớn đối với thanh niên từ thập niên bốn mươi đến ngày nay. Trong cuốn sách của Mai Văn Bộ tựa đề Lưu Hữu Phước con người và sự nghiệp[55] không thấy ông nhắc đến hoạt động Quốc Dân Đảng của Lưu Hữu Phước. Điều đó dễ hiểu.

Tô Hoài kể lại, trong một dịp “học tập bảo vệ Đảng”, ông nhận được lá đơn tự tố cáo của Nguyễn Hải Trừng: “thành khẩn bộc lộ thời kỳ Mặt Trận Dân Chủ 1938 ở Sài Gòn, tôi đã sinh hoạt trong một tổ chức phản động là Quốc Dân Đảng. Tổ phản động này gồm ba người là: Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Hải Trừng”[56]. Việc này xẩy ra khi Mai Văn Bộ làm đại sứ tại Paris và Lưu Hữu Phước đang ở trong B, Tô Hoài đưa lá thư cho Hà Huy Giáp, lúc đó là bí thư, nhưng Hà Huy Giáp ỉm đi.

Trong Giòng sông Thanh Thủy, đoạn Nhất Linh viết về nhân vật Ngọc (Quốc Dân Đảng) dẫn Tứ và Nghệ (Việt Minh) đến chỗ Ngọc sẽ đầu độc họ, trên đường xuyên núi rừng, phong cảnh hùng vĩ, Ngọc vừa đi vừa hát:

“Chàng cất tiếng hát cao giọng, đi thật mau cho bước chân ăn nhịp với bài hát mà chàng cố hát thật mau:

Hồn nước muôn năm sống cùng non nước!

Ngày nay ta noi tấm gương anh hùng,

Dù khó thế mấy quyết cùng nhau bước,

Làm cho vang tiếng cháu con nòi giống Tiên Long.

Chàng chuyển sang điệp khúc:

Mau, mau đồng lòng, tay cầm tay, trông cờ nước, ta đều bước,

Tuốt gươm, thề với núi sông …

Hồn nước muôn năm sống cùng …

Bài hát ấy là của Lưu Hữu Phước, đảng viên Việt Quốc trong thời kỳ bí mật từ trong nước truyền ra, do Ninh dạy chàng. Ninh có nói là thay đổi lời đi đôi chút cho nó mạnh hơn và đúng bằng trắc hơn. Trời bắt đầu nắng mỗi lúc một gắt; Nghệ và Tứ không biết là bài hát gì nhưng vì nhịp quyến rũ nên cũng cố bước theo cho đúng nhịp”[57].

Chính Nhất Linh đã sửa lời bài Bạch Đằng Giang của Lưu Hữu Phước cho mạnh hơn và đúng bằng trắc hơn. Lời gốc của Lưu Hữu Phước như sau:

Hồn nước vẫn sống với trời, non, nước

Ngày nay, ta noi tấm gương anh hùng

Dầu khó thế mấy, quyết cùng nhau bước!

Làm cho rõ biết cháu con nòi giống Tiên Long!

Nhưng điều đó không quan trọng.

Quan trọng là Nhất Linh xác nhận: Lưu Hữu Phước theo Quốc Dân Đảng.

Sự kiện này đưa đến một số nghi vấn khác: trong thời kỳ kháng chiến, Lưu Hữu Phước sáng tác rất ít, tại sao? Lưu Hữu Phước thực sự là người của Việt Quốc hay Việt Minh? Nếu ông là người cộng sản, tại sao Tiếng Gọi Thanh Niên lại được chính phủ Nguyễn Văn Xuân (của Bảo Đại) chọn làm quốc ca? Tiếng Gọi Thanh Niên sáng tác tháng 4/1941. Ngày 2/6/1948, bản nhạc này được chính phủ Nguyễn Văn Xuân chọn làm quốc ca, và trở thành quốc ca của Việt Nam Cộng Hoà, sau 1954.

Sau ngày thống nhất đất nước, Lưu Hữu Phước, Bộ trưởng Thông tin văn hoá, ký ba Thông tri cấm lưu hành sách báo “phản động”. Bản đầu, số 218/CT. 75, ngày 20/8/75, trong có danh sách 130 tác giả bị cấm toàn bộ, với những tên tuổi như: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Vỹ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Tạ Tỵ, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Mặc Đỗ, Nguyễn Mạnh Côn, Chu Tử, Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Tuý Hồng, Phan Nhật Nam…[58]

Tất nhiên Lưu Hữu Phước chỉ thi hành chính sách của Trung Ương. Nhưng người nghệ sĩ, khi ký những công hàm huỷ diệt tác phẩm văn học của nửa phần đất nước, hẳn không thể không nghĩ đến hậu quả. Riêng đối với người dân miền Nam hơn 20 năm gắn bó với Tiếng Gọi Thanh Niên, Lưu Hữu Phước đáp lại những ân tình của họ bằng một văn bản tiêu diệt tự do tư tưởng.

● Kháng chiến và văn nghệ sĩ

Trong hoàn cảnh cực kỳ phân hoá giữa Việt Minh và Quốc Dân Đảng, tại sao văn nghệ sĩ lại theo Việt Minh?

 Vì phần lớn không làm chính trị.

 Tạ Tỵ kể rõ các chặng đường từ bước đầu:

“Thủ đô Hà Nội chết cứng trong máu lửa. Cuộc giao tranh gay go ngay từ phút đầu giữa Trung Đoàn Thủ Đô, Tự Vệ Thành và quân đội Pháp. Phần lớn dân chúng đã tản cư. Mọi nhà đều đục tường thông qua nhau, theo lệnh của chính phủ từ mấy tháng trước. (…) Những con đường có cây to được đốn ngã dùng làm chướng ngại vật cản đường xe bọc sắt của Pháp. Không khí trước ngày chiến tranh thật nghẹt thở. Vợ con tôi đã theo ông bà nhạc tản cư về quê cả tháng nay. Gia đình phía tôi cũng vậy. Tôi ở một mình vừa sáng tác vừa vẽ tranh cổ động”[59].

Và ông tìm cách ra khỏi Hà Nội, đi kháng chiến:

“Tôi chọn lối xuyên cửa ô Cầu Dền, qua làng Hoàng Mai rồi men theo bờ ruộng ra đường số 1, con đường xuyên Việt. Tôi chợt nghĩ đến Phạm Duy, không biết Duy ra khỏi Hà Nội bằng ngả nào? Sau này khi gặp lại nhau trong kháng chiến, Duy mới cho biết đã ra khỏi Hà Nội qua ngả Khâm Thiên, tức phường Dạ Lạc. Văn Cao có báo cho Duy biết nhưng Duy không tin”.

Tìm liên lạc với tổ chức:

“Tôi ăn Tết với gia đình xong rồi đến làng Bài Trượng thăm vợ con, trước khi lên đường đi Việt Bắc (…) Từ phủ Đoan Hùng, tôi quay về Phú Thọ, mong gặp anh em quen biết có thể giới thiệu mình với một cơ quan nào đó. Người thì đông, anh em chẳng thấy ai. Nản quá, tôi cũng định quay về quê nhà, bỗng gặp Phạm Duy từ trong một quán cà phê đi ra. Nói chuyện hồi lâu, Duy cho biết sẽ đi Yên Bái. Nếu tôi muốn đi cùng, sáng mai đến chỗ này chờ. Tôi bằng lòng, hỏi Duy có phương tiện gì không? Duy trả lời không, sẽ đi bộ. Ngay buổi chiều hôm đó, tôi quay về chỗ tá túc đêm qua, bán chiếc xe đạp cho người chủ nhà để lấy tiền tiêu. Sáng hôm sau, tôi đeo ba lô đến nơi hẹn. Chờ một lúc, tôi thấy Duy đội mũ ca-lô, mặc bộ ka ki Mỹ, đeo cây đàn trên vai, còn một tay xách chiếc túi đựng quần áo. Chúng tôi cứ men theo đường xe lửa đã bóc hết đường rầy đi ngược lên. Duy không chịu đeo chiếc túi vải lên vai, vừa đi vừa ném về phía trước. Đến nơi, cúi xuống nhặt lên ném nữa. Tôi hỏi:

– Sao làm vậy?

Duy nói:

– Đeo mệt xác, ném khoẻ hơn!

Trong lúc đi đường. Duy nói về chuyện mấy tháng trước. Sau khi ra khỏi Hà Nội, Duy tìm đường lên Vĩnh Phúc Yên, gia nhập đoàn Văn Nghệ Giải Phóng, rồi Việt Trì, bây giờ là Phú Thọ. Duy nói về dự tính tương lai với những bản dân ca. Duy lúc này đã nổi tiếng, chẳng những về hát, mà còn ở sáng tác nhưng ca khúc như Cô hái mơ, Gươm tráng sĩ, v.v…

Năm ấy, chúng tôi mới có 24 tuổi. Đi cùng với Duy rất vui vì Duy hay nói tục. Nhưng sau đó, lại trầm ngâm, có lẽ, trong đầu, Duy đang có dự tính nào đó, có thể, một ca khúc sắp ra đời. Sau cặp kính trắng, đôi mắt Duy long lanh như được chiếu dọi bởi luống ánh sáng kỳ dị. Đến Yên Bái, một thành phố đã tiêu thổ 95%, tôi gặp thêm Văn Cao. Cũng từ nơi đó, tôi và Duy chia tay. Tôi ở lại Yên Bái chơi với Văn Cao vài ngày. Mỗi chiều chúng tôi rủ nhau đi uống rượu, loại rượu đế nặng. Văn Cao trông vẫn thế, sắc mặt tai tái, đôi mắt thật sắc với nụ cười chìm lắng. Có khác chăng chỉ là bộ bà ba nâu, bên ngoài phủ thêm chiếc trấn thủ”[60].

“Văn Cao nổi tiếng từ tiền chiến, trong kháng chiến và mãi mãi, mọi người đều nghe nhạc của anh. Nhưng anh, con người đa tài, ngoài nghệ thuật còn làm nhiều thứ khác.

Tôi lại chia tay với Văn Cao cũng ở Yên Bái. Văn Cao ngược Lào Cai để đi làm công tác tình báo biên giới được ngụy trang bằng một phòng ca nhạc. Phạm Duy có lên Lào Cai và hát ở phòng trà này. Bài Bên Cầu Biên Giới của Duy được sáng tác tại đó.”[61]

Tạ Tỵ đi theo ban kịch truyền bá quốc ngữ được nửa năm thì bị sốt rét nặng, phải về Liên khu Ba (vùng Thái Bình), vẽ tranh hí họa chống Pháp trên báo Cứu Quốc Thủ Đô, sáng tác văn thơ và dạy hội họa. Tạ Tỵ kể về nhiệt tình cách mạng của Văn Cao:

“Một chiều khi gần tối, bỗng Văn Cao và Nguyễn Đình Thi đến thăm. Thật không gì vui hơn, khi nằm một mình trong căn nhà vắng lại được bạn đến thăm. Văn Cao cho biết từ Liên khu 1 mới xuống công tác ở Khu 3, nhân tiện ghé chơi. (…) Nói chuyện tầm phào mãi cũng chán, tôi yêu cầu Văn Cao đọc lại bài thơ “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”. Văn Cao tuy làm nhạc nhưng không có giọng hát, nhạc Văn Cao nổi tiếng nhờ tài hát của Phạm Duy, Bùi Công Kỳ v.v… Văn Cao cũng không có tài ngâm thơ, hát chèo như Hoàng Cầm, nhưng tiếng đọc thơ của Văn Cao nghe rất lạ, nghe ghê rợn như tiếng vọng từ đáy huyệt. (…) Tôi nhớ, đêm ấy Văn Cao nói với tôi:

– Này cậu, tôi có ý định giới thiệu cậu vào Hội Nghiên Cứu Chủ Nghiã Các-Mác[62]cậu nghĩ sao? Tôi thẳng thắn trả lời, không thích chính trị, chỉ yêu nghệ thuật thôi! Trong đêm tối, tôi không nhìn thấy nét mặt Văn Cao và Nguyễn Đình Thi ra sao, nhưng qua câu nói của Văn Cao:

– Không còn con đường nào khác đâu, nghệ thuật cũng phải phục vụ chính trị. Tôi chỉ biết nói thế. Còn tùy cậu. Vả lại, Hội cũng ở gần đây thôi, mất công gì đâu mà cậu ngại?

Tôi không trả lời nói lảng sang truyện khác. (…) Sáng hôm sau, Thi và Văn Cao đều dậy sớm, đi ngay”.[63]

Tạ Tỵ và Phạm Duy cho biết trong thời gian đầu kháng chiến, nghệ sĩ được tương đối tự do sáng tác. Tạ Tỵ vừa vẽ tranh tuyên truyền (hí họa chống Pháp) vừa sáng tác nghệ thuật theo ý riêng mình và có thể triển lãm. Phạm Duy viết:

“Trong ba, bốn năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, những văn nghệ sĩ rời thành thị ra thôn quê đều là những người tự động tham gia cuộc chiến đấu chung và dù có gia nhập vào một tổ chức văn nghệ nào của chính quyền thì cũng được tự do đi lại, tự do sáng tác hay tự do biểu diễn. Dù Đảng Cộng Sản đã có đề cương văn hoá từ lâu[64] quy định mọi sáng tác văn nghệ đều phải có “tính Đảng” nhưng chỉ tới khi có Đại Hội Văn Hoá lần thứ hai được tổ chức ở Bắc Kạn vào năm 1950[65] thì mới có những đường lối văn nghệ được Ban Chấp Hành đưa ra để văn nghệ sĩ ngoài Đảng học hỏi”[66].

Trong không khí còn khá dễ thở, Văn Cao trở lại Liên khu ba năm 1949, và các họa sĩ có thể tổ chức triển lãm chung, Tạ Tỵ kể: “Từ khi có Văn Cao ở gần, chúng tôi mỗi lần gặp lại bàn về chuyện làm phòng triển lãm. Văn Cao cũng vẽ được hai tấm tranh sơn dầu. Anh cho rằng vấn đề mở Phòng Tranh là việc nên làm vì từ ngày kháng chiến, Liên Khu 3 chưa có Phòng Tranh nào. Chúng tôi[67] giao việc liên lạc với chính quyền cho Văn Cao lo, còn tranh, có bức nào bày bức đó. (…) Văn Cao bày hai tác phẩm: Cây đàn đỏ và Đường cấm. Tôi có hai bức: Lìa phố và Chiến tranh. Cả bốn bức là sơn dầu, còn toàn là tốc họa, bút chì vẽ trên giấy. Tuy vậy, phòng Triển Lãm cũng nhiều người xem lắm, nhiều buổi phải chen lấn nhau, làm chúng tôi lên tinh thần, tuy sự trưng bày này hoàn toàn có tính cách biểu dương, chứ không bán. Có bán cũng chẳng ai mua. Sau khi phòng triển lãm bế mạc, Văn Cao gửi tôi giữ giùm hai tác phẩm nói trên vì lý do không ở đây lâu, nhưng sau khi tôi đã “dinh tê”, đến năm 1951, quân Pháp đánh vào quê tôi, lấy đi tất cả!”[68]

Trước đây, người ta chỉ biết bức tranh Cây đàn đỏ của Văn Cao bị phê bình, nhưng nội dung phê bình ra sao, không ai rõ. Nhờ những điều Tạ Tỵ viết về buổi phê bình tranh Mưa Núi của ông, chúng ta có thể đoán được cảnh phê bình tranh Văn Cao: “Tôi vẽ thêm được bức tranh Mưa Núi, vẫn theo kỹ thuật lập thể. Một buổi chiều, tôi nhận được giấy mời đi tham dự buổi họp của Chi Bộ Văn Nghệ Liên Khu (…) Đúng ngày, tôi mang tranh đến một ngôi làng sát chân núi, bên kia sông Đặng. Đến nơi đã có nhiều anh em, tuy vậy, tôi quen rất ít, chỉ có Phái[69], Huyền Kiêu và Lương Xuân Nhị, là bạn.(…)

Sau vài giờ thảo luận sinh hoạt về chiều hướng sáng tác phục vụ kháng chiến, anh trưởng ban Tổ Chức (tôi không nhớ tên) đặt tác phẩm Mưa Núi của tôi trên chiếc giá bằng tre, xong mời anh em phát biểu ý kiến về tác phẩm đó. Mỗi người nói một cách, tôi phải trực tiếp giải thích, bào chữa cho tác phẩm mình có “nội dung cách mạng”. Chắc đã được sắp đặt trước, anh trưởng ban Tổ Chức cho mời một số ông bà già, con nít chăn trâu đến trước bức tranh, hỏi mỗi người về cảm tưởng của họ. Thật khốn đốn cho tôi khi phải chống đỡ với những lời phát biểu vô cùng thật thà vì không hiểu gì về hội họa của những người dân quê mùa chất phác và các em bé chăn trâu, cắt cỏ. Trước cảnh huống đó, tôi muốn phát điên lên, nhưng cố nén giận, giữ vẻ mặt bình tĩnh tới phút chót.

Sau cuộc phê bình khốn khổ, tôi dự đoán được Tổ Chức Chi Bộ Văn Nghệ muốn đối xử với tôi ra sao rồi! Phái và Huyền Kiêu thông cảm, nhưng đứng về phía thiểu số, cũng chẳng đỡ đòn gì được, đành làm ngơ. Cuộc họp chỉ có một ngày. Đáng lẽ sau khi họp xong, tôi phải ở lại vui chơi với anh em, nhưng tối hôm đó, tôi về ngay, nại cớ ngày mai phải đi gặp trưởng Cơ Quan Bình Dân Học Vụ nhận công tác. Cũng kể từ đó, trong tôi đã dứt khoát, nếu có dịp thuận lợi là “dinh tê”, chứ ở lâu không xong!”[70]

Đó là tình hình năm 1949. Và đó là lý do khiến những hoạ sĩ như Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng… bỏ kháng chiến về thành.

 Sự “dinh tê” của văn nghệ sĩ được Vũ Bằng cảm nhận như sau: “Thế rồi tôi rinh tê. Tôi rinh, nhưng không có một chút mặc cảm, là vì tôi quan niệm rằng Hà Nội là đất nước mình, mình có quyền ở đó, còn vấn đề hèn hay không, đó là tùy ở nhân cách của từng người”[71].

● Nhân Văn Giai Phẩm: Thơ Văn Cao

Sau khi hoà bình lập lại, Văn Cao không sáng tác ca khúc nữa. Ông trở lại với hội họa thì Hoàng Cầm đến mời ông viết bài cho Giai Phẩm Mùa Xuân.

Văn Cao nhận lời và làm thơ, vì chỉ có thơ mới nói được những bi đát sâu lắng trong nội cảnh của tâm hồn. Với sự  “đốc thúc” của Hoàng Cầm, Văn Cao dành cả mùa xuân để sáng tác trường ca Những người trên cửa biển.

Lần này trở lại, Văn Cao như người anh cả, đứng lên chỉ mặt bọn người đã làm cho nghệ sĩ phải điêu đứng trong sáng tác từ 1949. Tác giả quốc ca hỏi tội:

“Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả”

“Chúng nó” đây là những khuôn mặt đã tạo dựng nên cái xã hội có nửa mặt:

“Một nửa thế giới

Một nửa tâm hồn

Một nửa thế kỷ

Chưa khai thác xong”.

“Chúng nó” đây là những con người:

“… những con người khôn ngoan

Không có mồm

Mắt không bao giờ nhìn thẳng”

“Chúng nó” đây là những vi khuẩn đã len lỏi vào sự sống của con người:

“Chúng nó còn ở lại

Trong những tủ sách gia đình

Ở điếu thuốc trên môi những em bé mười lăm

Từng bước chân các cô gái

Từng con đường từng bãi cỏ từng bóng tối

Mắt quầng thâm còn nhỡ mãi đêm”

Và một lần nữa tác giả Tiến Quân Ca kêu gọi mọi người đứng lên bảo vệ tự do như đã từng bảo vệ tổ quốc:

“Vào một cuộc đấu tranh mới

Để mở tung các cánh cửa sổ

Mở tung các cửa bể

Và tung ra hàng loạt hàng loạt

Những con người thật của chúng ta.”[72]

Những lời kêu gọi thiết tha trên đây của Văn Cao làm rung động những tâm hồn yêu tự do, yêu nghệ thuật và yêu đất nước. Chỉ riêng những kẻ cảm thấy mình bị gọi là “chúng nó” mới động lòng. Xuân Diệu thốt lên những lời tàn nhẫn:

“Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (…)

Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (…)

Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:

Ngồi đây ta gõ mạn thuyền

Ta ca trái đất còn riêng ta! (…)

Những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.

Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:

Ta là đàn chim bay trên mây xanh

Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan…

… Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng

Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!

Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài “Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc”, hay như bài “Ngoại ô mùa đông 46″[73]

Ta đi trong nhà đổ

Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình

Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh

Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…

Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp

Gió lạnh khi qua viện tàng thư

Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ

Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (…)

Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?

Bao giờ nghe được bản tình ca

Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật

Bao giờ

Bao giờ chúng nó đi tất cả (…)

Trên đất nước ta “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (…)

Những con người của chúng ta, từ Cách Mạng Tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái Đất cũng biết chúng ta vĩ đại!”[74]

Lời Xuân Diệu chứng minh những điều Văn Cao viết về “chúng nó” là đúng. Xuân Diệu còn cho biết: Đảng chưa bao giờ hiểu nghệ thuật của Văn Cao. Tất cả những sáng tác tuyệt vời của Văn Cao đều bị Đảng coi là “thuốc độc”. Tóm lại, Đảng chỉ lợi dụng bài Tiến Quân Ca.

 Nhưng Văn Cao không thuộc về Đảng. Văn Cao là nghệ sĩ của dân tộc. Nếu nhạc Văn Cao đưa người vào mộng, thì thơ Văn Cao xoáy vào thực tại cuộc đời: phần đời thực với Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, Ngoại ô mùa đông 1946, Những người trên cửa Biển và phần nội tâm sâu xé của con người mất tự do trong các bài thơ ngắn, cô đọng đau thương những giọt nước mắt không rơi ngoài tim mình như lời thơ Thanh Tâm Tuyền.

 Nhạc sĩ kỳ tài, Văn Cao còn là nghệ sĩ tiên phong trong hội họa và thi ca. Ngày nay khó tìm được họa phẩm của Văn Cao nhưng theo Tạ Tỵ, Văn Cao đã tự trình bày bìa những bản nhạc của mình bằng những bức tranh avant garde. Nếu tìm lại được những bản nhạc đó, ta có thể có ý niệm về hội họa tiên phong của Văn Cao.

Riêng về thơ, Văn Cao âm thầm tiếp tục con đường tân tạo. Mỗi chặng sống, ông viết những tác phẩm giá trị.

Cúi xuống lầm than của kiếp người, Văn Cao đã để lại những hình ảnh kinh hoàng của trận đói tháng ba năm Ất Dậu. Nếu không có Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, chúng ta không thể hình dung cảnh xe xác lăn trong xóm cô đầu của một Hà Nội bán linh hồn:

“Tiếng xe ma chở vội một đêm gầy

Xác trụy lạc rũ bên thềm lá phủ (…)

Ta về gác chiếu chăn gào tự tử

Trên đường tối đêm khoả thân khiêu vũ

Kèn nhịp xa điệu múa vô luân

Run rẩy giao duyên khối nhạc trầm trầm

Hun hút gió nâng cầm ca nặng nhọc

Kiếp người tang tóc

Loạn lạc đòi nơi xương chất lên xương

Một nửa kêu than, ma đói sa trường

Còn một nửa lang thang tìm khoái lạc!”

Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc song hành với Tiến quân ca, là những tiếng bi thương và hùng tráng, báo hiệu một dân tộc vùng đứng lên kháng chiến. Ngoại ô mùa đông 1946 viết về ngày toàn quốc kháng chiến, với một bút pháp độc đáo, kinh hoàng, gây hoang loạn:

“Phố chết rồi vài mảnh rêu ngơ ngác

The thé thất thanh giọng kêu tàn ác

Quạ dăm con, chập choạng cánh dơi xa

Lơ láo tường vôi, than bụi dui nhà (…)

Cửa ô cần lao

Cửa ô trụy lạc

Cửa ô trầm mặc

Mấy bức tường hồng rơi xuống cùng trâm

Một dẫy phố nghiêng cả thành Hà Nội

Dòng ngõ chợ xưa máu dâng ngập lối

Mấy xác quân thù bên cống tanh hôi

Sọ nứt toang óc chảy lẫn với ròi

Xóm âm u

thành khối đen đặc quánh

Ơi ai ngâm mình hố lạnh

Gió mùa rú ghê người

Trăng đông dầm khe rãnh

Lưỡi lê đậu sương rơi…”[75]

Kháng chiến không chỉ là hào hùng, là hoa treo đầu súng. Kháng chiến còn là chiến tranh, chết chóc, tàn phá, kinh hoàng… Ngoại ô mùa đông 46 là bài thơ khốc liệt nhất viết về toàn quốc kháng chiến. Trong những năm đầu, người nghệ sĩ còn được tự do sáng tác, mới có thể có Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc và Ngoại ô mùa đông 1946, in trên báo Tiên Phong. Đó là Văn Cao thời kháng chiến.

Thời NVGP, Văn Cao viết trường ca Những người trên cửa biển, bài ca lịch sử của Hải Phòng, gắn liền với cuộc đời Văn Cao, từ lúc sinh ra dưới thời Pháp thuộc, đến cuộc kháng chiến đẫm máu mà Văn Cao đã phụng sự hết mình. Văn Cao chờ đợi một mùa xuân khi hoà bình lập lại. Nhưng ngày dứt chiến tranh cũng là ngày chia đôi đất nước, ngày những con bạch tuộc hiện hình:

 Vợ xa chồng

 Anh xa em

Chiều Nam chiều Bắc cùng sầu

Tiếng thức dậy niềm cô đơn nuối tiếc

Gió bão tới đâu cũng không một lúc

Rụng hết lá vàng

Ngày báo hiệu mùa xuân mầm nở mầm tàn

Có người tự nhiên tiếc bàn tay đã mất

Từng đêm đau nhức vết đạn trên mình

Trong những ngày khó khăn chồng chất

Kẻ thù của chúng ta xuất hiện

Những con rồng đất khi đỏ khi xanh

Lẫn trong hàng ngũ

Những con bói cá

Đậu trên những dây buồm

Đang đo mực nướng

Những con bạch tuộc

Bao tay chân cố dìm một con người

Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt [76]

Văn Cao trở lại vị trí chiến sĩ trừ gian. Lần này cuộc cách mạng sẽ xẩy ra trên mặt trận tư tưởng, bằng ngòi bút. Và những kẻ sợ Văn Cao vạch mặt, chỉ tên đã hoảng loạn tinh thần, viết nên những điều cuồng dại.

Sau Nhân Văn, Văn Cao vẫn làm thơ. Lần này thơ ông đi sâu vào nội tâm con người. Một con người:

Có lúc

một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ

có lúc

ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt

có lúc

nước mắt không thể chảy ra ngoài được[77]

Con người bị cầm tù tư tưởng âm thầm nhìn cái chết chậm, như bức tường vô tri, nhích dần, nhích dần trên thân xác mình:

Cái bức tường lê từng bước một

Đến gần chân chúng tôi hàng ngày

Chúng tôi nhìn chậm chạp

Châm chạp một cái chết

Thời gian đang héo thời gian đang rụng[78]

Bài thơ khóc Nguyễn Huy Tưởng, nhưng là điếu tang những người bị mất tự do. Bài thơ bị cấm trong ba mươi năm. Kiên trì, Văn Cao vẫn tiếp tục vẽ bằng thơ. Lần này ông phác họa chân dung một kẻ xưa kia là bạn:

Tôi đã gặp lại anh

Im lìm như một bức ảnh

Người anh dẹt như một con dao

Gây nhiều vết thương cho bạn hữu

Anh mang trong tôi nhiều bộ mặt

Đâu là cái cuối cùng

Chỉ còn hai con mắt

Trắng dã không thể lừa dối[79]

Bài Ba biến khúc tuổi 65, tổng kết cuộc đời Văn Cao trong một tình thế chính trị không lối thoát. Biến khúc I viết về thời kháng chiến trừ gian:

Một người cho tôi con dao găm

Không biết dùng làm gì

đêm nhìn qua cửa sổ

một khoảng trống đen

tôi ném vào khoảng trống …

bỗng nhiên có tiếng ngã ngoài sân

một người trúng tim đã chết

tôi không hề biết người ấy

tôi là kẻ không muốn giết người

chỉ biết bóng tối

 mà tôi đã ném dao.

Những lời tự họa đớn đau của Văn Cao đã gặp những lời tự phán kinh hoàng của Nhất Linh trong Giòng sông Thanh Thủy: Khi anh đã lọt vào guồng máy, anh sẽ phải giết người, anh sẽ có «bàn tay bẩn» (JP Sartre).

Biến khúc II viết về bi kịch của người Nhân Văn:

Tôi đi trên phố

bỗng nhiên mọi người nhìn tôi

một ai đó kêu lên: thằng ăn cắp

tôi chạy

tôi chạy

tại sao tôi chạy?

tôi không hiểu tôi

cả phố đuổi theo tôi

xe cộ đuổi theo tôi

tôi chạy bạt mạng

gần hết đời

tới chỗ chỉ còn gục xuống

tỉnh dậy mồ hôi chảy

tôi lại thấy tôi là người chưa phạm tội.

Chạy hết trọn đời, nhưng người Nhân Văn không tìm ra lối thoát. Biến khúc III, viết về mạng lưới công an trị:

Tôi rơi vào mạng nhện

mạng nhện cuốn lấy tôi

không còn cách gì gỡ được…

muốn phá cái mạng nhện

tôi không đủ tay[80]

Sau Nhân Văn, người ta vẫn không dám đối xử với tác giả Tiến Quân Ca như những thành viên khác của NVGP. Họ đành đưa Văn Cao vào bóng tối. Không nhắc tới. Không cho in. Không cho hát. Không cho vẽ. Trong ba mươi năm. Nhưng Văn Cao vẫn hiện diện. Hiện diện bằng sự vắng mặt. Người dân miền Nam vẫn nghe những tuyệt tác của Văn Cao qua tiếng hát những ca sĩ thượng thặng Thái Thanh, Hà Thanh, Khánh Ly… Và người dân miền Bắc mỗi lần chào cờ là một lần hội ngộ với Văn Cao.

Sau này, khi đất nước ra khỏi chế độ toàn trị, lá cờ đỏ sao vàng gắn liền với Đảng Cộng Sản sẽ không còn lý do tồn tại. Nhưng Tiến Quân Ca là xương thịt của một nghệ sĩ thiên tài, suốt đời đóng góp cho nghệ thuật chân chính và tranh đấu cho tự do của đất nước, sẽ mãi mãi còn lại. Bởi khó có tác phẩm nào thay thế được Tiến Quân Ca trong lòng dân tộc Việt Nam.

 

   

Phụ lục

Hồi Ký của Văn Cao:

Bài Tiến quân ca

                   

Bài đã bị cắt:

Tại sao tôi viết Tiến quân ca

 

Sau Triển lãm Duy nhất 1944 (Salon unique), tôi về ở một căn gác hẹp đầu phố Nguyễn Thượng Hiền. Ba bức tranh sơn dầu của tôi tuy được bày vào chỗ tốt nhất của phòng tranh -nhà Khai Trí Tiến Đức- và được các báo giới thiệu cũng không bán nổi. Hy vọng về cuộc sống bằng hội họa tại Hà Nội không thể thực hiện được. Anh bạn nhường cho tôi căn gác ấy là người đã xuất bản mấy bản nhạc đầu tiên của tôi cũng không nói đến tiền nhuận bút. Tôi chưa bao giờ nhận được tiền nhuận bút về các bản nhạc viết hồi đó dù đã trình diễn nhiều lần ở các tỉnh từ Bắc tới Nam, tôi cũng không nhận được tiền nhuận bút về thơ và truyện ngắn. Đối với những cây bút trẻ, việc đăng báolà một vinh dự, người ta phải mua báo và còn phải mua thêm nhiều tờ để tặng người yêu, tặng bạn thân. Hàng ngày tôi nhờ mấy người bạn họa sĩ nuôi cơm và giúp đỡ phương tiện cho làm việc. Cuộc sống lang thang ấy không thể kéo dài nhiều ngày. Muốn tìm việc làm thì không có chỗ. Hà Nội lúc ấy lại đang đói. Những người bạn nuôi tôi cũng gặp nhiều khó khăn.

Căn gác 45 ấy bắt đầu đông người thêm. Mấy người bạn tôi cũng bỏ Hải Phòng để lên đây kiếm việc. Họ đều là những bạn hướng đạo, trước đây chưa hề phải lo đến chuyện làm ăn. Những năm trước, chúng tôi thường kéo tới nhà nhau để sống hàng tháng trời bắt gia đình phải nuôi hay thỉnh thoảng mang lều đi ra ngoài thành phố, về những nơi có núi đồi để cắm trại và ca hát. Đầu tiên chỉ có hai người tới ở chỗ tôi, sau đấy lại thêm ba người nữa và có người chỉ mới biết tôi qua bạn bè cũ. Căn gác 45 ấy biến thành một cái quán trọ của những người thất nghiệp. Hàng ngày mỗi người đi tìm bạn bè trên phố để kiếm ăn. Đêm đêm họ phải nằm trên cái sàn nhà lát gỗ. Bởi vì tôi chỉ có một cái giường nhỏ. Chủ nhà đã cắt điện vì tôi không có tiền trả hàng tháng. Tôi phải làm việc với một ngọn đèn dầu. Đã hết những câu chuyện tâm tình, những ước mơ và khát vọng của tuổi thanh niên. Mỗi đêm, chúng tôi chỉ nhìn thấy nhau với những bộ mặt chán chường thất vọng. Đôi lúc có những bộ mặt thấy vui hơn. Đấy là dấu hiệu thắng lợi của những người gặp may trong ngày đã kiếm được một bữa ăn ngon, hay một số tiền nhỏ do bạn bè bố thí. Chúng tôi ở với nhau không ai nghĩ đến sự giúp đỡ nhau. Mạnh ai tìm lấy việc, tìm lấy cơm ăn hàng ngày. Không chí hướng. Không mục đích.

Buổi sáng mỗi lần ra đi, tôi thấy họ vẫn nằm ôm nhau trên sàn gác, dù nắng đã chiếu vào giữa nhà. Thấy tiếng kẹt cửa họ cũng không buồn cựa quậy. Có lúc trở về vào hai ba giờ chiều tôi vẫn thấy họ nằm như buổi sáng. Anh em thường gọi đấy là những ngày phải “gồng”. Tiếng “gồng” có nghĩa là chịu đói. Tiếng “gồng” theo nghĩa võ là chịu đòn. Nhóm thất nghiệp còn đặt thêm nhiều từ để chỉ sự đói: ép gồng, ép rệp. Những cảnh “gồng” thường diễn ra ở căn gác xép ấy.

Người “giải gồng” -có nghĩa là giải được sự đói- giỏi nhất là tôi. Mỗi buổi sáng ra đi tôi thường không biết là sẽ đi đến đâu và sẽ làm gì, và chỉ cầu vào sự may mắn: may gặp bữa ăn ở nhà một người bạn, may gặp một người bạn mời ăn ở dọc đường. Nhờ những năm học vẽ tại Hà Nội, tôi có một số bạn nên gặp được nhiều may mắn. Nghe tiếng chân của tôi lao trên mấy bậc thang gạch, mấy anh bạn trở mình nói với nhau: “Nó hôm nay lại thấy về sớm?” Tôi nhìn các bạn nằm trên sàn gác nhịn đói không biết nói gì thêm. Cái đói đã trói chúng tôi lại một nơi này.

Có một lần tôi khệ nệ xách lên gác một con cá mè dài gần một sải tay. Cả bọn vùng dậy. Mặt anh nào cũng sáng hẳn lên:

– Ở đâu ra cái của này?

– Bà mẹ Nguyễn Đình Phúc cho đấy.

Tôi chỉ kịp ngồi thở, vì đã phải đi bộ xách cá từ Hàng Than về. Bà mẹ nhạc sĩ ấy nay đã mất rồi, nhưng chúng tôi không thể quên ngày chúng tôi nhờ mẹ mà có một bữa đỏ lửa trên sân gác, một bữa “tiệc” với món cá luộc chấm muối chưa bao giờ ngon lành và no nê đến thế. Hình như chỉ có một buổi tối hôm ấy thôi có người trong chúng tôi mới kể đến những chuyện về tình yêu.

Thế rồi bỗng nhiên họ rẽ nhau đi hết trong một ngày. Và căn gác bỗng lạnh vắng. Bọn họ đã tìm được công việc trong một dịp may. Một người chủ thầu chợ Hà Đông nhận tất cả làm nhân viên dán vé. Riêng tôi không thể làm nghề ấy được. Tôi ở lại một mình trên căn gác vắng vào những ngày đầu thu năm 1944.

         

          Sau Triển lãm Duy nhất 1944 (Salon unique), tôi về ở một căn gác hẹp đầu phố Nguyễn Thượng Hiền. Ba bức tranh sơn dầu của tôi tuy được bày vào chỗ tốt nhất của phòng tranh -nhà Khai Trí Tiến Đức- và được các báo khen ngợi nhưng cũng không bán nổi. Hy vọng về cuộc sống hội họa, tại Hà Nội không thể thực hiện được. Anh bạn nhường cho tôi căn gác ấy, là người đã xuất bản mấy bản nhạc đầu tiên của tôi, cũng không thấy nói đến tiền nhuận bút. Tôi chưa bao giờ nhận được tiền nhuận bút về các bản nhạc viết hồi đó dù đã trình diễn nhiều lần ở các tỉnh từ Bắc tới Nam, tôi cũng không nhận được tiền nhuận bút về thơ và truyện ngắn. Đối với cây bút trẻ, việc đăng báo là một vinh dự. Người ta phải đi mua báo và còn mua thêm nhiều tờ để tặng người yêu, tặng bạn thân. Hàng ngày tôi nhờ mấy người bạn họa sĩ nuôi cơm và giúp đỡ phương tiện cho làm việc. Cuộc sống lang thang đó không thể kéo dài nhiều ngày. Muốn tìm việc làm thì không có chỗ. Hà Nội lúc ấy lại đang đói.

Tin từ Hải Phòng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó đã nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi tìm cách giúp đỡ. Năm ấy rét sớm hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn đêm mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

Căn gác được thêm một người ở. Anh Ph.D. là bạn thân của tôi từ Hải Phòng lên. Anh mới nhận nhiệm vụ làm giao thông của tổ chức giữa hai tỉnh Hà Nội và Hải Phòng. Từ lâu, tôi vẫn biết Ph. D là người của đoàn thể, và thường chú ý giúp đỡ tôi. Tôi nghĩ làm cách mạng là phải bỏ văn nghệ, con đường của người làm cách mạng là phải thoát ly phải hy sinh như gương chiến đấu của các đồng chí mà tôi đã được biết qua sách báo. Nhưng tôi vẫn có thể làm khác vói việc thoát ly -tôi chỉ hiểu tổ chức đến thế- có thể là bằng sáng tác, bằng những hành động mà tôi dễ làm nhất như nhận dạy hát cho một đoàn thanh niên về những bài ca yêu nước, hay tham gia những buổi biểu diễn giúp đỡ người nghèo v.v… Tôi chỉ biết sáng tác một số ca khúc về đề tài lịch sử, kêu gọi xa xôi lòng yêu nước. Tôi chưa dám làm một bài ca cách mạng. Và cũng chỉ có thế thôi, thanh niên học sinh và anh em hướng đạo đã khuyến khích tôi. Sự khuyến khích ấy đẩy tôi vào nghề nhạc sau này. Lần này, Ph. D. lên ở với tôi vào giữa lúc tôi đã muốn bỏ tất cả hội họa, thơ ca, âm nhạc, bỏ tất cả giấc mơ sáng tạo thường đêm đêm đan mãi đan mãi cái vành mũ triền miên trên đầu như một vòng ánh sáng thần thánh.

Một hôm, Ph. D. nói với tôi:

– Văn có nhớ anh Vũ Quý không? Anh ấy vẫn ở Hà Nội? Văn có muốn gặp anh ấy không?

Tôi biết đồng chí Vũ Quý trong những ngày còn là vận động viên bơi lội ở Hải Phòng. Chúng tôi thường tập luyện hàng ngày trên sông Cấm. Từ khi biết anh bị mật thám Pháp bắt hụt, tôi hết sức khâm phục. Thế ra người cộng sản ấy vẫn hoạt động tại Hà Nội. Anh ấy vẫn nhớ đến tôi.

         

         

Tin từ Hải Phòng lên cho biết mẹ tôi, các em và các cháu tôi đang đói khổ. Bà đưa các đứa nhỏ ấy từ Nam Định ra Hải Phòng, dọc đường để lạc mất đứa cháu con anh cả tôi. Nó mới lên ba. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Có thể nó nằm ở dọc đường trong đám người chết đói năm ấy. Các anh tôi cũng đang chờ tôi tìm cách giúp đỡ. Năm ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ với cả quần áo. Có đêm tôi phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Đêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu.

Tôi đã gặp lại đồng chí Vũ Quý. Anh là người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn, ở đấy quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện của chúng tôi thật hết sức đơn giản.

– Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

– Được.

– Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngõ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và chờ quyết định công tác. Ngày đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

Vũ Quý đến tìm tôi và giao công tác:

– Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, nên phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen cố tìm một cái gì để nói, tìm một âm thanh đầu tiên. Nhưng đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh gì hơn những tiếng nghe buồn bã hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn và lòng tôi thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động gì có thể là mạo hiểm hy sinh chứ không chuẩn bị để lại quay về làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi mãi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một cái ống bơ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Hình như nó không phải con cái số người đó. Hình như nó là đứa trẻ bị lạc. Không phải cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định – Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt  và quay đi. Đêm ấy về gác tôi viết được nét nhạc đầu bài Tiến Quân Ca.

 

Những ngày ấy, Ph.D. sống chung với tôi. Thỉnh thoảng anh về Hải Phòng và mang tiền bán tín phiếu do các cơ sở gửi lên. Quần chúng ủng hộ Việt Minh ngày càng nhiều. Các báo chí gửi về các cơ sở như “Cờ Giải Phóng” và “Cứu Quốc”cũng tăng thêm số lượng. Tất cả đã chất đầy mặt bàn tôi. Những tin đấu tranh ở các tỉnh được phản ảnh đầy đủ trên báo chí. Tin chiến khu được mở rộng. Tin về các đội du kích thành lập. Rồi những tặng phẩm gửi tôi có thêm cả máy ảnh, ống viễn kính, cả những bì gạo. Mỗi vật tiếp nhận càng cho thấy sự phát triển lớn mạnh thêm của phong trào quần chúng đô thị và nông thôn. Những cột báo không đăng hết được danh sách những người ủng hộ Mặt trận.

Tôi thường nhìn Ph. D. mỗi lần anh đóng gói đi xa và lắng nghe tiếng còi tàu ngoài ga Hàng Cỏ để chờ một chuyến tàu đêm. Dưới ngọn đèn dầu, bộ mặt ngăm ngăm đen của anh chỉ thấy ánh lên đôi mắt sâu và trầm lặng. Anh rất tôn trọng những phút tôi ngồi vào bàn với tập bản thảo và chờ đợi âm thanh của từng câu nhạc được nhắc đi nhắc lại. Anh là người chứng kiến sự ra đời của bài Tiến Quân Ca.

Ngày nay tôi vẫn không sao nhớ nổi, dù nhớ đủ mọi kỷ niệm, rằng mình đã soạn nhạc bằng phương tiện nào, một cây đàn ghi-ta, một măng-đô-lin hay một băng-giô. Cũng không nhớ tôi đã mượn đàn của ai và ở đâu. Có thể bài “Tiến quân ca” đã soạn trên một chiếc ghi-ta Ha-oai chăng? Bởi vì tôi đã quen sáng tác trên cây đàn này những năm trước đây.

Tôi đã gặp lại đồng chí Vũ Quý. Anh là người vẫn theo dõi những hoạt động nghệ thuật của tôi từ mấy năm qua, và thường khuyến khích tôi sáng tác những bài hát yêu nước như Đống Đa, Thăng Long hành khúc ca, Tiếng rừng, và một số ca khúc khác. Chúng tôi gặp nhau trước ga Hàng Cỏ. Chúng tôi vào một hiệu ăn. Ở đây quyết định một cuộc đời mới của tôi. Câu chuyện giữa chúng tôi thật hết sức đơn giản.

– Văn có thể thoát ly hoạt động được chưa?

– Được.

– Ngày mai Văn bắt đầu nhận công tác và nhận phụ cấp hàng tháng.

Ngày hôm sau anh đưa tôi lại nhà một đồng chí thợ giày ở đầu ngõ chợ Khâm Thiên để ăn cơm tháng và cho quyết định công tác. Đây là lần đầu tiên chấm dứt cuộc sống lang thang của tôi.

Vũ Quý đến tìm tôi và giao công tác:

– Hiện nay trên chiến khu thiếu bài hát, phải dùng những điệu hướng đạo. Khoá quân chính kháng Nhật sắp mở, anh hãy soạn một bài hát cho quân đội cách mạng chúng ta.

Phải làm như thế nào đây? Chiều hôm ấy tôi đi dọc theo đường phố ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen, tôi cố tìm một cái gì để nói. Tìm một âm thanh đầu tiên. Những đường phố quen thuộc ấy thường không vang một âm thanh gì hơn những tiếng nghe buồn bã hàng ngày. Hôm nay phố đông người hơn và lòng tôi thấy vui hơn. Tôi đang chờ nhận một khẩu súng và được tham gia vào đội vũ trang. Tôi đang chuẩn bị một hành động gì có thể là mạo hiểm hy sinh chứ không chuẩn bị để lại quay về làm bài hát. Thật khó nghĩ tới nghệ thuật lúc này. Tôi đi mãi tới lúc đèn các phố bật sáng. Bên một gốc cây, bóng mấy người đói khổ trần truồng, loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì, trong một cái ống bơ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mắt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Đôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không có mảnh vải che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Hình như nó không phải con cái số người đó. Hình như nó là đứa trẻ bị lạc cũng không phải là cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó đã nằm trong đám người chết đói dọc đường Nam Định – Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt,  và quay đi. Đêm ấy về căn gác tôi đã viết được nét nhạc đầu tiên của bài  Tiến quân ca.

Bài hát đã làm trong không biết bao nhiêu ngày tại căn gác hẹp số 45 phố Nguyễn Thượng Hiền bên một cái cửa sổ nhìn sang căn nhà hai tầng, mấy lùm cây và một màu trời xám. Ở đấy thường vọng lên những tiếng xe bò chở xác người chết đói đi về phía Khâm Thiên. Ở đấy hàng đêm mất ngủ vì gió mùa luồn vào từng khe cửa, vì tiếng đánh chửi nhau của một anh viên chức nghèo khổ thiếu ăn dưới nhà vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đấy tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đấy có những tiếng đập cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại.

Tin từ Nam Định lên cho biết mẹ tôi và các em đã về quê và đang bị đói. Họ đang tìm mọi cách để sống qua ngày như mọi người đang chờ một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, của các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ nhiều hôm. Tất cả đang chờ tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào, tôi chỉ biết đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta trong khóa quân chính đầu tiên ấy, để biết họ hát như thế nào. Ở đây tôi đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị cho họ có thể hát được

Đoàn quân Việt Minh đi

Chung lòng cứu quốc

Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa

Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát mở đầu cho tiếng cồng vang vọng.

Đoàn quân Việt Minh đi

Sao vàng phấp phới

Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than

Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những đoàn chiến sĩ áo chàm đang dồn bước, mà cả một đất nước đang chuyển mình.

Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca:

“Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng”

hay trong Đống Đa:

“Tiến quân hành khúc ca

Thét vang rừng núi xa…”

Lời trên đã rút ngắn thành tên bài Tiến quân ca và tiếng thét ấy ở đoạn cao trào của bài hát:

“Tiến lên! Cùng thét lên!”

“Chí trai là đây nơi ước nguyền”

Trên mặt bàn chỗ tôi lam việc, tờ “Cờ giải phóng” đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Võ Nhai.

Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều mây và nhiều hy vọng.

Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen xạm, đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

– Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?

Tôi không kịp trả lời, chỉ nhìn thấy đôi mắt của Thi thật lạc quan và tin tưởng. Sau này Thi làm xong bài “Diệt phát xít” trước tôi. Bài “Chiến sĩ Việt Nam” của tôi và bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi ngày ấy không có dịp in trên tờ báo do chúng tôi cùng phụ trách.

Bài hát đã làm trong thời gian không biết bao nhiêu ngày, tại căn gác hẹp số 45 Nguyễn Thượng Hiền, bên một cái cửa sổ nhìn sang căn nhà hai tầng, mấy làn cây và một màn trời xám. Ở đây thường vọng lên những tiếng xe bò chở xác người chết đói về phía Khâm Thiên. Ở đây hàng đêm, mất ngủ vì gió mùa luồn vào tung khe cửa, vì tiếng đánh chửi nhau của một gia đình anh viên chức nghèo khổ, thiếu ăn, vọng qua những khe sàn gác hở. Ở đây tôi hiểu thêm nhiều chuyện đời. Ở đây đêm đêm có những tiếng gõ cửa, những tiếng gọi đêm không người đáp lại.

Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em đã về quê và đang đói. Họ đang phải tìm mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ, theo thói quen tôi đi. Tôi chưa gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây tôi đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được

Đoàn quân Việt Nam đi

chung lòng cứu quốc

Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa…

Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát mở đầu cho tiếng cồng vang vọng.

Đoàn quân Việt Nam đi

Sao vàng phất phới

Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…

Không, không phải chỉ có những học sinh khóa quân chính kháng Nhật đang hành quân, không phải chỉ có những đoàn chiến sĩ áo chàm đang dồn bước. Mà cả một đất nước đang chuyển mình.

Tên bài hát và lời ca của nó là một sự tiếp tục từ Thăng Long hành khúc ca:

“Cùng tiến bước về phương Thăng Long thành cao đứng”

– Hay trong Đống Đa:

“Tiến quân hành khúc ca

Thét vang lừng núi xa…”

Lời trên đã rút ngắn thành tên bài Tiến quân ca và tiếng thét ấy ở đoạn cao trào của bài hát:

“Tiến lên! Cùng thét lên!”

“Trí trai là đây nơi ước nguyền”

Trên mặt bàn chỗ tôi lam việc, tờ “Cờ giải phóng” đăng những tin tức đầu tiên về những trận chiến thắng ở Võ Nhai.

Trước mắt tôi mảnh trời xám và lùm cây của Hà Nội không còn nữa. Tôi đang sống ở một khu rừng nào đó trên kia, trên Việt Bắc. Có nhiều may và nhiều hy vọng.

Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười thật hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen xạm. Đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh. Tôi nhớ lại nụ cười hồn nhiên của đồng chí Nguyễn Đình Thi, khi xướng âm lần đầu tiên nhạc điệu bài hát đó. Thi nói với tôi:

– Văn ạ, chúng mình thử mỗi người làm một bài về Mặt trận Việt Minh xem sao?

Tôi không kịp trả lời, chỉ nhìn thấy đôi mắt của Thi thật lạc quan và tin tưởng. Sau này Thi làm xong bài “Diệt phát xít” trước tôi. Bài “Chiến sĩ Việt Nam” của tôi và bài “Diệt phát xít” của Nguyễn Đình Thi ngày ấy không có dịp in trên tờ báo do chúng tôi cùng phụ trách.

 

         

         

Tháng 11-1944, tôi tự tay viết bài Tiến quân ca lên đá in, trong trang văn nghệ đầu tiên của tờ báo Độc Lập, còn giữ lại nét chữ viết của một anh thợ mới vào nghề.

Một tháng sau khi báo phát hành, tôi từ cơ quan ấn loát trở về Hà Nội. Qua một đường phố nhỏ (bây giờ là đường Mai Hắc Đế) tôi chợt nghe tiếng đàn măng-đô-lin, từ một căn gác vọng xuống. Có người đang tập Tiến quân ca. Tôi dừng lại và tự nhiên thấy xúc động. Một xúc động đến với tôi hơn tất cả những tác phẩm, tôi đã được ra mắt, ở các rạp hát trước đây. Tôi nhận ra được vài chỗ nhịp điệu còn chưa hoàn chỉnh. Nhưng bài hát đã in ra rồi. Bài hát đã được phổ biến. Có thể những người cùng khổ, mà tôi đã gặp trên bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát.

Ngày 17 tháng tám 1945, tôi đến dự cuộc mít-tinh của công chức Hà Nội. Lá cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài “Tiến quân ca” đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên vang theo những đoạn sôi nổi. Ở những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng đã thay những băng vàng của chính phủ Trần Trọng Kim. Trong một lúc, nhưng tờ bướm in “Tiến quân ca” được phát cho từng người trong hàng ngũ các công chức dự mít-tinh.

Tôi đã đứng  lẫn vào đám đông quần chúng trước cửa nhà Hát Lớn. Tôi đã nghe giọng hát quen thuộc của bạn tôi, anh Ph.D. qua loa phóng thanh. Anh là người đã buông lá cờ đỏ sao vàng  trên kia và xuống cướp loa phóng thanh hát. Con người trầm lặng ấy đã có sức hát hấp dẫn hàng vạn quần chúng ngày hôm đó, cũng là người hát trước quần chúng lần đầu tiên, và cũng là một lần duy nhất.

Ngày 18 tháng tám 1945, đội thiếu niên tiền phong đến tìm tôi nhận nhiệm vụ mới. Tôi không biết giao việc gì cho các em lúc này khi chúng tôi không phải nhờ các em làm nhiệm vụ trinh sát như trước đây các em đã giúp chúng tôi hết sức thông minh và dũng cảm. Chúng ta sẽ bắt tay vào nhiệm vụ mới của cách mạng. Các em sẽ quay về với công việc học tập hàng ngày của các em. Lúc này… lúc này chúng ta hãy tập hát. Một dàn đồng ca được thành lập ngay trong Trụ sở Hướng đạo tại phố Hàng Trống, nơi chúng tôi thường sinh hoạt với các em. Tôi đã hướng dẫn các em học bài Tiến quân ca để ngày hôm sau làm lễ chào cờ.

Lúc ra về, một em bé khệ nệ ôm một gói khá to và nặng đến gặp tôi. Đó là một em làm việc quét dọn ở nhà in Lê Văn Tân. Tôi ngạc nhiên nhìn em mở bọc giấy ra trước mắt các đội viên: một gói truyền đơn mà em đã từng đêm trốn lại buồng máy, tự xếp chữ và in lấy được vài trăm tờ theo một khẩu hiệu em đã được xem trên báo Cứu Quốc ngày gần khởi nghĩa. Tôi chợt nhìn đôi mắt đầy tự hào của em. Đôi mắt em đẹp quá! Tôi ngờ ngợ như đã nhìn thấy đôi mắt ấy từ bao giờ. Đôi mắt của những đứa trẻ bị lạc!

         

         

Tới lúc cần hành động, tôi lại bị ốm nặng, và phải đưa những vũ khí mà tôi giữ cho một đồng chí khác. Ngày 17-8-1945, tôi cố gắng đến dự một cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Ngọn cờ đỏ sao vàng được thả từ bao lơn nhà hát lớn xuống. Bài Tiến quân ca đã nổ như một trái bom. Nước mắt tôi trào ra. Chung quanh tôi, hàng ngàn giọng hát cất lên, vang theo những đoạn sôi nổi. Những cánh tay áo mọi người, những băng cờ đỏ sao vàng, đã thay những băng vàng bẩn thỉu  của chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.

Ngày 19 tháng tám 1945, một cuộc mít-tinh lớn họp tại quảng trường Nhà hát lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát “Tiến quân ca” chào lá cờ đỏ sao vàng. Các bạn nhỏ này, ngày nay đã lớn tuổi rồi, có còn nhớ lại cái buổi sáng tháng tám nắng vàng rực rỡ ấy? Nhớ lại giọng hát của họ lẫn với giọng tôi vô cùng xúc động chào lá cờ cách mạng? Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng thét căm thù vào mặt bọn đế quốc với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.

Bài “Tiến quân ca” đã là của dân tộc Việt Nam độc lập kể từ ngày hôm đó. Nay nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến lên thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bài “Tiến quân ca” hẳn còn vang vọng mãi tác dụng của nó như thuở nó ra đời trong buổi bình minh kỷ nguyên mới của lịch sử đất nước.

Văn Cao

(Sông Hương, số 26, tháng 7&8/1987, trang 1-5)

         

Ngày 18-9-1945, một cuộc mít-tinh lớn, họp tại quảng trường Nhà hát lớn. Dàn đồng ca của Thiếu niên Tiền phong hát “Tiến quân ca”, chào lá cờ đỏ sao vàng. Các bạn nhỏ này, ngày nay đã lớn tuổi rồi, có còn nhớ lại cái buổi sáng tháng Tám, nắng vàng rực rỡ ấy, nhớ lại giọng hát của họ lẫn với giọng tôi, vô cùng xúc động chào lá cờ cách mạng. Hàng chục ngàn giọng hát cất lên, thét lên tiếng thét căm thù bọn đế quốc, với sự hào hùng chiến thắng của cách mạng.

Bài “Tiến quân ca” đã là của dân tộc Việt Nam độc lập kể từ ngày hôm đó.

7-7-1976

Văn Cao, cuộc đời và tác phẩm – NXB Văn Học, 1996, trang 86-92

[1] Nguyễn Huệ Chi, Vân Long, Từ điển văn học, bộ mới, Thế Giới, 2003, mục từ Văn Cao.

[2] Bị Việt Minh coi là gián điệp cho Nhật.

[3] “Giữa lúc ấy (1944), thì một người đồng hương của Văn Cao, tên là Vũ Quý vì hoạt động cho Việt Minh ở Hải Phòng nên bị Nhật lùng bắt. Anh ta trốn lên Hà Nội, đến ở nhờ Văn Cao và tuyên truyền cho Văn Cao theo Việt Minh. Văn Cao được giới thiệu để viết bài và vẽ tranh cho tờ báo Lao Động là cơ quan của Việt Minh xuất bản ở ngoại ô Hà Nội, đồng thời căn gác của Văn Cao được Vũ Quý dùng làm lớp học để giảng chính trị cho những thanh niên mới gia nhập đoàn thể Việt Minh” (Hoàng Văn Chí,  Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 220). Nhiều nơi nhầm với báo Độc Lập mà Văn Cao cộng tác năm 1947 ở Vĩnh Yên.

[4] In trên Tiên Phong số 9, tháng 4/46.

[5] In trên Tiên Phong tháng 8/1946

[6] Theo hồi ký Văn Cao tựa đề Bài Tiến quân ca (Sông Hương số 26 tháng 7/1987)

[7] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, nxb Lao Động 1991, trang 65.

[8] In trên Văn Nghệ số 2, tháng 4/1948.

[9] Mùa đông 1947, in trên Văn Nghệ số 1, tháng 3/48.

[10] Làm ở Tuyên Quang, 1947.

[11] Phạm Duy, Hồi ký cách mạng kháng chiến, trang 122.

[12] Theo Hoàng Văn Chí, vì sợ gia đình Văn Cao về thành, Việt Minh điều động Văn Cao lên Việt Bắc (Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, trang 221).

[13] Hoàng Văn Chí, sđd, trang 221.

[14] Hoàng Văn Chí, sđd, trang 221.

[15] Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, nxb Lao Động 1991, trang 65.

[16] Văn Cao vui và buồn sang tuổi cổ lai hy, đăng lại trên Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, Văn Học, trang 423.

[17] Nxb Lao Động 1991.

[18] Nxb Thanh Niên, 2005.

[19] Sông Hương số 26 tháng 7/1987.

[20] Nguyễn Thụy Kha, sđd, trang 29.

[21] In trong Thiên thai, tuyển tập nhạc Văn Cao, Trẻ, 1988, in lại trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, trang 86.

[22] Bích Thuận, Nhạc sĩ Văn Cao, tài năng và nhân cách, Thanh Niên 2005, trang 77-78.

[23] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Thằng Mõ, Hoa Kỳ 1990, trang 39.

[24] Tạ Tỵ, Phạm Duy còn đó nỗi buồn, Văn Sử Học, Sài Gòn 1971, trang 47.

[25] Văn Cao, Bài tiến quân ca, Sông Hương số 26, tháng 7/1987.

[26] Nguyễn Thụy Kha,  Văn Cao người đi dọc biển, trang 17.

[27] Phạm Duy, Hồi ký I, Thơ Ấu Vào Đời, trang 234-235.

[28]  Phạm Duy, Hồi ký I, trang 236-237.

[29] Phạm Duy, Hồi ký II, Cách mạng kháng chiến, trang 49-50.

[30]  Kim Tiêu là một trong những danh ca hàng đầu trước kháng chiến đã hát nhạc Văn Cao tuyệt vời như Thái Thanh hát nhạc Pham Duy, nhưng số phận ông vô cùng bi đát. Phạm Duy nhắc đến vai trò của Kim Tiêu trong việc truyền bá ca khúc Văn Cao: “Trong đám nam ca sĩ lúc đó, tôi cho rằng Kim Tiêu là người hát hay nhất. Trong khi tôi vác bài Buồn tàn thu đi lưu diễn ở trong Nam thì ở Hà Nội, chính nhờ giọng hát Kim Tiêu mà những bài Thiên Thai, Trương Chi của Văn Cao được nổi tiếng” (Phạm Duy,  Hồi ký II, trang 56- 57).

 Về số phận người danh ca này, Tạ Tỵ cho biết: Kim Tiêu về thành trước ông nhiều tháng, nhưng sau vì chống đối, bị Pháp bắt và buộc tội là Việt Minh: “Vào tù, anh vẫn không sợ, dù bị đánh đập tra khảo thế nào, anh cứ coi thường. Pháp nhốt anh vào xà-lim (Cellule), anh vẫn ca hát, những bài hát của Việt Minh. Sáng nào, anh cũng nắm chặt tay vào song sắt hát bản Tiến quân ca của Văn Cao để đánh thức mọi tù nhân khác dậy. Từ ngoài khu kháng chiến, Văn Cao được tin, cảm động lắm, làm một bài thơ bí mật đem vào Hà Nội, rồi nhờ các cán bộ tình báo nội thành đưa vào Hoả Lò cho ca sĩ Kim Tiêu. Tôi có được đọc cả bài thơ, nhưng lâu ngày, bây giờ chỉ nhớ vài câu:

 … Người danh ca ấy nằm trong ngục

 Hà Nội nhớ tôi, hát bài ca cũ

 Tiếng ca như buổi sớm trong

 Tiếng ca vang vang phá phách

 Xà-lim nổ tung ra

Cả Hoả Lò vỡ toang thành khối nhạc!…

 Câu chuyện về ca sĩ Kim Tiêu, tôi chỉ biết tới đấy, còn sau này, Kim Tiêu sống hay chết trong tù, tôi không hay”  (Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, trang 114)

 Trong đoạn viết về Bến Xuân, Nguyễn Thụy Kha có nhắc đến người ca sĩ giọng vàng nhưng không (dám?) nêu tên, và sau cùng có câu “Và đau đớn nhất là chàng đã chết trong cơn đói không thể nào sống được (Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 28). Tại sao? Tìm kỹ thì chúng tôi thấy trong tạp chí Âm Nhạc, Minh Hiền viết:  “Kháng chiến, Kim Tiêu ở lại hoạt động vùng địch. Ông đã bị bắt. Trong tù, Kim Tiêu vẫn hát vang những bài cách mạng. Khi được thả, ngay giữa Hà Nội tạm chiếm, trong một liên hoan sinh viên, Kim Tiêu đã hát Sông Lô của Văn Cao mà không hề sợ sệt chút nào. Rất tiếc, sau hoà bình, do bị nghi ngờ được thả ra tù vì đã khai báo, Kim Tiêu buồn chán đi lang thang. Càng buồn ông càng hát hay. Kim Tiêu đã hát đến hơi thở cuối cùng ở Ga Hàng Cỏ”. (Minh Hiền, Những giọng vàng một thủa, tạp chí Âm Nhạc số 3-4-5, 1994, trang 43-44.) Bi kịch Kim Tiêu chắc hẳn còn nhiều u uẩn.

[31]  Phạm Duy, Hồi ký II, trang 49.

[32]  Nguyễn Thụy Kha, Văn Cao người đi dọc biển, trang 23.

[33]  Phạm Duy, Hồi ký I, trang 237-239.

[34] Phạm Duy, Hồi ký I, trang 240-241.

[35] Phạm Duy,  Hồi Ký I, trang 247- 249.

[36] Phạm Duy, Hồi ký I, trang 183.

[37] Tạ Tỵ, sinh năm 1921 tại Hà Nội, là họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ theo lối lập thể từ 1940. Tạ Tỵ theo kháng chiến từ những ngày đầu. Tháng 5/1950, sau khi bức tranh lập thể Mưa núi, bị phê bình gay gắt, ông quyết định về thành. Năm 1951, ông tổ chức cuộc triển lãm tranh lập thể đầu tiên với 60 tác phẩm tại Hà Nội. Năm 1953, bị động viên đi lớp Sĩ quan Thủ Đức. Ông tiếp tục sự nghiệp hội họa tại Sài Gòn, với hai cuộc triển lãm lớn năm 1956 và 1961. Tạ Tỵ phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, cấp bậc sau cùng là Trung Tá. Sau 1975, ông bị đi cải tạo và đưa ra Bắc. 1981 được tha về. 1982, cùng gia đình vượt biển. Viết hồi ký Đáy Địa ngục (nxb Thằng Mõ, 1985, Hoa Kỳ). Năm 2004, sau khi vợ ông từ trần, Tạ Tỵ trở lại sống tại Sài Gòn và mất ngày 24/8/2004. Tạ Tỵ, như Vũ Bằng nhận xét là “một nghệ sĩ “trọn vẹn”, ngoài môn vẽ, viết, thơ ca, anh lại còn có tài về nhạc và trình diễn”. Ông để lại những trang hồi ký giá trị về sinh hoạt văn nghệ Việt Nam, từ tiền chiến đến thập niên 80.

[38] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, trang 18-34.

[39] Lại Nguyên Ân, Đôi lời dẫn giải, trong Vũ Bằng, các tác phẩm mới tìm thấy, mạng Viet-studies.

[40] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, hồi ký, chương 4, đã có trên Internet.

[41] Theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, việc từng ngày

[42] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Thằng Mõ, Hoa Kỳ, 1990, trang 41 và 47.

[43] Phạm Duy,  Hồi Ký II, Cách mạng kháng chiến,  trang 30-31.

[44] 171 phố Mongrand nay là số 45 Nguyễn Thượng Hiền.

[45] Văn Cao, “Bài tiến quân ca”, hồi ký, Sông Hương số 26, tháng 7/1987.

[46] Trần Huy Liệu lúc ấy là Bộ Trưởng Thông Tin.

[47] Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo, Tủ sách Nam Chi, nxb Phạm Quang Khai, Sài Gòn, 1969, trang 160.

[48] Nhất Linh viết sai chính tả: thực ra là Dòng sông Thanh Thuỷ.

[49] Phạm Duy, Hồi Ký II, trang 105- 107.

[50] Trong băng ghi âm, Hoàng Cầm cho rằng Văn Cao bắn cô Hoàng Thị Nga, chắc ông lầm, vì cả Vũ Bằng lẫn Văn Cao đều không xác định việc này. 

[51] Sước hiệu tức biệt hiệu.

[52] Vũ Bằng, Văn Cao – Một nghệ sĩ tài hoa, Văn Học số đặc biệt Văn Cao, tháng 11/1970, Sàigòn, in lại trong Văn Cao cuộc đời và tác phẩm, trang 173.

[53] Doãn Tòng thuật lại, theo ghi chép của Bích Thuận, sđd, trang 197-198.

[54] Hoàng Phủ Ngọc Tường, Cảm nhận Văn Cao, Hợp Lưu số 8, đặc biệt Văn Cao, tháng 12/1992.

[55] Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước con người và sự nghiệp, Trẻ, 1989.

[56] Tô Hoài, Chiều chiều, Hội Nhà Văn, 1999, trang 195.

[57] Nhất Linh, Giòng Sông Thanh Thủy, tập 1, trang 214.

[58] Bản Thông tri và toàn bộ danh sách các tác phẩm, tác giả bị cấm, in trong cuốn Văn hoá Văn nghệ… Nam Việt Nam của Trần Trọng Đăng Đàn (nxb Thông Tin, 1993), phần Phụ Lục II, từ trang 697 đến 754.

[59] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Thằng Mõ, 1990, trg 53.

[60] Tạ Tỵ, sđd, trang 55-56.

[61] Tạ Tỵ, sđd, trang 57.

[62] Tức là Đảng Cộng sản, ngày 11/11/1945, tuyên bố “tự giải tán”, đổi tên thành Hội nghiên cứu chủ nghiã Mác ở Đông Dương, mục đích thu phục toàn dân.

[63] Tạ Tỵ, sđd, trang 68-69.

[64] Tức là bản Đề Cương văn hoá Việt Nam do Trường Chinh viết năm 1943.

[65] Tại đại hội này Hoàng Cầm phải treo cổ kịch thơ của mình.

[66] Phạm Duy, Hồi ký II, trang 111-112.

[67] Tức là Tạ Tỵ, Bùi Xuân Phái, Lương Xuân Nhị…

[68] Tạ Tỵ, sđd, trang 99.

[69] Bùi Xuân Phái.

[70] Tạ Tỵ, sđd, trang 102.

[71] Vũ Bằng, Bốn mươi năm nói láo, trang 167.

[72] Văn Cao, Anh có nghe thấy không, Giai Phẩm Mùa Xuân.

[73] Bài Ngoại ô mùa đông 46 của Văn Cao đăng trên Văn Nghệ số 2, tháng 4-5/1948.

[74] Xuân Diệu, Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao, in trong Dao có mài mới sắc, Văn Học, 1963, tr. 101-114. Bản điện tử của Lại Nguyên Ân, Talawas.

[75] Văn Cao, Ngoại ô mùa đông 1946.

[76] Văn Cao, Những ngày báo hiệu mùa xuân, Nhân Văn số 4, ra ngày 30/9/56

[77] Bài Có lúc.

[78] Bài Với Nguyễn Huy Tưởng.

[79] Bài Về một người.

[80] Bài Ba biến khúc tuổi 65.

Chương 14

Phùng Cung

(1928-1998)

Phùng Cung đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lý do, hoặc lý do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử lý nặng, hoặc hàng ngàn người đã “liên hệ” xa gần với NVGP. Mỗi cá nhân là một trường hợp, một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ.

Phùng Cung cũng là khuôn mặt văn nghệ sĩ cuối cùng trong nhóm NVGP mà chúng tôi đề cập trong loạt chân dung, trước khi bước sang địa hạt trí thức. Nhưng không có nghiã là những người khác không có giá trị: Mỗi con người đã góp phần vào việc đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến ngày nay là một giá trị, một biệt cách. Chỉ riêng trong phong trào NVGP không thôi, sự can trường của Hữu Loan không giống sự can trường của Phùng Cung. Lòng nhiệt tình của Phùng Quán không dễ ai sánh được. Sự đóng góp của Bùi Xuân Phái không giống Nguyễn Sáng. Kịch của Hoàng Tích Linh không giống kịch của Chu Ngọc. Mỗi văn nghệ sĩ là một chân dung mà ký ức lịch sử văn học sẽ không thể bỏ qua.

Sau này, khi nhắc đến Phùng Cung, người ta thường cho rằng ông bị tù vì truyện “Con ngựa già của chúa Trịnh”. Sự thực phức tạp hơn nhiều, nó nằm trong toàn bộ thái độ sống và sáng tác của Phùng Cung. Chúng tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên do sâu xa đã đưa Phùng Cung vào vòng tù tội và bị theo dõi suốt đời. Nguyên do ấy có thể tóm tắt như sau:

• Một tinh thần bất khuất không đầu hàng bạo lực cách mạng.

• Một sự nghiệp thơ văn chống lại chiến tranh và xây dựng văn hoá dân tộc.

● Tiểu sử Phùng Cung

Những chi tiết đáng tin cậy nhất về Phùng Cung nằm trong bài Nhà thơ Phùng Cung của Phùng Hà Phủ, con trai Phùng Cung, nay đã qua đời.

Phùng Cung sinh ngày 18/7/1928 tại làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, Vĩnh Yên. Mất ngày 9/5/1998 tại Hà Nội. Quê tổ xã Cam Lâm, quận Đường Lâm, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Vĩnh Yên, quê sinh và Hà Tây, quê tổ của Phùng Cung đều thuộc tỉnh Sơn Tây. Họ Phùng ở Cam Lâm dòng dõi Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương.

Con trưởng một gia đình giàu có, đông con, được gửi đi trọ học ở Sơn Tây, đỗ bằng Trung Học – Brevet. Tháng 4/45, Nhật đảo chính Pháp, Phùng Cung trở lại quê nhà.

Tháng 9/45, Phùng Cung, 17 tuổi, được bầu làm chủ tịch liên xã Hồng Châu-Liên Châu. Tên xã do ông đặt và tên ấy vẫn còn giữ đến ngày nay. Phùng Cung làm chủ tịch xã được 2 năm.

Tháng 10/1947, Pháp chiếm Tông và Sơn Tây, Phùng Cung chạy lên Việt Bắc cùng mấy anh em trai. Tại quê nhà, gia đình bị liên lụy vì có con đi làm cách mạng.

Phùng Hà Phủ viết: “Khi lên chiến khu, bố tôi làm công tác thông tin ở liên khu 10 Việt Bắc, cơ quan thông tin của ông Nguyễn Tấn Gi Trọng (bác sĩ Trọng sau này làm công tác chuyên môn tại trường Ðại học Y Dược Hà Nội và là người giúp mẹ tôi theo học lớp dược tá khi hòa bình lập lại). Sau một thời gian làm tại liên khu 10, bố tôi mới chuyển sang an toàn khu và làm công tác văn nghệ, cùng sống và làm việc với các ông Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài,… cho đến khi hòa bình lập lại (1954) thì cùng với cơ quan Hội văn nghệ về tiếp quản thủ đô Hà Nội”[1].

Trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất, gia đình bị quy vào thành phần địa chủ cường hào. Cha ông bị đem ra đấu tố, rồi bị đưa lên giam giữ ở trại Cò Nỉ – Thái Nguyên. Khi ấy, Phùng Cung đang làm việc trong cơ quan văn nghệ kháng chiến ở Tuyên Quang. Phùng Hà Phủ viết: “Khi bố tôi hay tin, bố rất nóng lòng chuyện nhà và muốn quay về xem sự thể ra sao. Những bạn bè thân trong cơ quan biết chuyện như ông Tô Hoài (lúc này đang phụ trách công tác Ðảng – Ðoàn của Cơ quan văn nghệ) đều khuyên nên thật bình tĩnh, chờ Ðảng sẽ sửa sai. Trong một lần kết hợp đi công tác, bố tôi có tìm lên thăm và những mong gặp mặt để tiếp tế cho cụ. Nhưng tới nơi thì được một người bạn tù già cùng lán với cụ, chưa kịp nói câu nào vội vã dẫn bố lên khu đồi trọc phía sau trại giam và chỉ cho bố lùm đất mà ngọn sắn làm dấu mới héo lá. Quá bất ngờ trước cái chết của cụ, bố tôi quay ngay về Hà Nội, bố rất buồn, suy nghĩ nhiều và tránh mọi sự tiếp xúc với bên ngoài.”[2]

1954, Phùng Cung làm việc tại Hội Văn Nghệ.

1956, tham gia phong trào NVGP với truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh[3].

Theo Phùng Hà Phủ, tháng 5/1961 công an đến nhà bắt Phùng Cung. Theo Nguyễn Hữu Hiệu, đó là ngày “19 tháng Chạp năm Canh Tý” tức ngày 4/2/1961. Ông bị tịch thu tất cả bản thảo và bị giam vào Hỏa Lò Hà Nội. Rồi bị chuyển đi các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái) và Phong Quang (Lào Cai), bị tù 12 năm, với 11 năm biệt giam, không có án.

Trong suốt thời gian từ khi ông tham gia NVGP năm 1956 đến tháng 5/61, khi ông bị bắt, Phùng Cung vẫn sáng tác đều, không hề nhụt tay trong sự lên án chế độ.

Tháng 11/1972 được tha về. Phùng Cung làm nghề thợ đinh, vẫn âm thầm sáng tác, vẫn bị công an đến thăm dò và kiểm soát. Ông phải chép bản thảo làm nhiều bản gửi nhiều nơi. Phùng Cung mất năm 1998 tại Hà Nội.

● Sáng tác chui, bản thảo gửi

1- Nguyễn Chí Thiện gặp Phùng Cung tại trại Phong Quang, năm 1970, Phùng Cung đang nằm bệnh xá vì bị lao phổi. Nguyễn Chí Thiện hỏi Phùng Cung:

“- Anh tù đã 10 năm rồi, anh sáng tác được nhiều không?

Anh Cung lắc đầu:

– Mấy năm đầu rầu rĩ, lo nghĩ về vợ con, không làm gì được. Sau đó có viết một số truyện ngắn trong đầu, nhưng không nhớ nổi. Đành chuyển sang thơ. Làm cũng được ít thôi, độ vài chục bài”[4].

2- Phùng Quán viết: “Được trả lại tự do, việc đầu tiên là anh cùng với vợ sửa lễ “Tạ ơn cao rộng cho được sống để trở về quê quán”. Rồi yên phận hẩm hiu, anh tránh thật xa mùi bút mực. Anh xoay trần làm nghề đập đinh, phụ với vợ thêm nghề bánh rán, nuôi ba đứa con trai đang sức ăn, sức lớn. Song hình như mùi dầu nhờn, gỉ sắt, mỡ rán vẫn không át được mùi bút mực. Những lúc rảnh tay, anh ngồi buồn thiu, thỉnh thoảng chấm ngón tay vào đáy chén trà cặn, viết một từ gì đó lên mặt bàn”[5].

3- Về việc bản thảo và giữ gìn bản thảo, Ngô Minh thuật chuyện được Phùng Quán dẫn đến gặp Phùng Cung lần đầu, năm 1986: “… rồi ông đứng lên mở ngăn kéo bàn lục tìm hồi lâu mới lấy ra một tập vở bé bằng bàn tay, bìa bọc giấy xi măng cáu bẩn, cầm đến đưa cho Phùng Quán: “Sau mười hai năm khổ ải, mình về với vợ con là mừng. Nghĩ đến tù đày là sợ lắm.” Phùng Cung trầm ngâm: “Quán ạ, mình cố quên hết văn chương. Nhưng không sao quên được. Đêm ngủ thơ nó cứ kéo về trong mộng. Thế là mình thủng thẳng ghi lại từng ngày. Như là viết nhật ký. Đây là những bài thơ nho nhỏ về chuyện quê nhà. Nhưng bây giờ thì gay rồi. Hôm qua chú công an khu vực đến chơi nhà, bỗng dưng chú cười hỏi: “Chào bác Phùng Cung, nghe nói dạo này bác lại viết thơ nữa à?”. Chỉ câu hỏi vui thế mà làm mình nổi da gà. Sợ quá. Tập thơ này toàn hình ảnh quê, mình viết để giải khuây, không có “chuyện gì” trong đó cả. Nhưng nếu mà họ thu mất thì tiếc lắm. Nên Quán cứ giữ hộ cho mình cho chắc.”(…)

Phùng Quán đưa cho tôi xem tập thơ chép tay. Tập vở mỏng, giấy học trò đen hùn. Trong đó mỗi trang chép một đến hai bài thơ, bài nào cũng ngắn, có bài chỉ hai ba câu, bốn năm câu giống như thơ Haiku của Nhật Bản, nét chữ Phùng Cung viết bằng bút chì rất nắn nót, hoa tay, nhưng không ghi tên tác giả. Tôi liếc bài thơ hai câu đầu tiên nhan đề là “Bèo”, bỗng nổi da gà: Thơ ghê quá, bất ngờ quá:

 Lênh đênh muôn dặm nước non

Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh (…)

Trên đường về lại Hồ Tây, tôi bảo anh Quán: “Anh để em giữ tập thơ này cho. Anh giữ cùng chưa chắc an toàn”. Anh Phùng Quán đồng ý. Thế là tôi mang vào Huế. (…)

Tôi đã chọn hai chùm thơ Phùng Cung và đưa tập thơ viết bút chì của Phùng Cung cho nhà văn Nguyễn Khắc Phê, lúc đó là phó Tổng biên tập Sông Hương, sau này một giai đoạn là Tổng biên tập. Tạp chí Sông Hương năm 1988 đã hai lần giới thiệu thơ Phùng Cung với những bài như “Nghiêng lụy”, “Bèo”, “Người làng”, “Chiếc lá rụng”, “Cô lái đò”, rút trong tập thơ chép tay bằng bút chì ấy. (…) Một lần nữ nhà văn Hà Khánh Linh ở Huế ra Hà Nội, anh Phùng Quán cũng dắt đến thăm nhà thơ Phùng Cung ở Bưởi. Buổi trưa hôm đó Phùng Cung, Phùng Quán và ông Nguyễn Hữu Đang mời cơm nữ sĩ Hà Khánh Linh. Tại bữa cơm ấy Phùng Cung cũng đưa cho Hà Khánh Linh một tập thơ chép tay như thế, nhưng viết bằng bút mực, chứ không phải bút chì (…) Mới hay, gửi cho bạn bè giữ hộ là cách “lưu trữ” thơ của Phùng Cung. Ông phải chép thành nhiều bản để đề phòng bị mất”[6].

● Xuất hiện lại trên văn đàn

Như vậy, lần đầu tiên Phùng Cung xuất hiện trở lại, là trên báo Sông Hương ở Huế năm 1988, với các bài thơ Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái đò.

Nguyễn Hữu Hiệu, hay về nước, đã gặp Phùng Cung và nhiều nhà văn NVGP. Ông đem bản thảo của Phùng Cung ra hải ngoại: Bài Dạ Ký được đăng lần đầu trên tạp chí Khởi Hành của Viên Linh[7] năm 1996, tiếp đó là Ván cờ khai xuân[8] và Phòng tuyên truyền địa ngục[9].

Năm 1995, nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin in tập Xem đêm của Phùng Cung, gồm 200 bài thơ, là nhờ Quang Huy: “Tập thơ Xem đêm được in ra có phần cổ vũ, trợ giúp không nhỏ về tài chính của ông Đang và sự nhiệt tình của ông Quán. Ngoài ra cũng phải kể đến sự quý trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản đồng thời là người viết tựa cho cuốn sách này”[10].

Năm năm sau khi Phùng Cung qua đời, Lâm Thu Vân cho in tại hải ngoại, cuốn Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản[11] gồm tập thơ Trăng ngục (35 bài làm trong tù, từ 1961 đến 1972) và 11 truyện ngắn (10 truyện mới và Con ngựa già của chúa Trịnh). Năm sau, sách tái bản dưới tựa Phùng Cung Trăng ngục[12] có thêm 74 bài thơ trích trong Xem đêm.

Về tập Xem đêm, Nguyễn Hữu Đang viết: “Khi đón nhận nó với cái tên ngộ nghĩnh Xem Đêm, tôi nghĩ ngay đến một câu của thi hào cổ đại Horace như đã “ứng” vào trường hợp này: “Tôi sẽ không chết tất cả” (nguyên văn tiếng La Tinh Non omnis moriar, ngụ ý sau khi thi sĩ qua đời, tác phẩm của ông là một phần con người ông sẽ còn sống mãi), Phùng Cung cũng hoàn toàn tin tưởng lạc quan ở sức sống lâu dài của thơ ông như Horace nghĩ về thơ mình. Và cố nhiên bấy lâu ông hằng mong thơ ông chóng thoát ly bản thảo để sức sống kia được thử thách và cống hiến”[13].

Thơ Phùng Cung in được là nhờ Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, những người bạn “trong cuộc” và vài người “ngoài cuộc” như Quang Huy và nhóm Sông Hương ở Huế gồm Ngô Minh, Hà Khánh Linh và Nguyễn Khắc Phê ủng hộ. Còn sĩ phu Bắc Hà thì sao?

Xem đêm ra mắt độc giả trong nước từ 1995. Về mặt giá trị văn học, thơ Phùng Cung không thua gì những tập thơ khác của các nhà thơ NVGP đã được in ra. Nhưng “giới sành thơ” ngoài Bắc không ai nhắc đến Phùng Cung. Từ điển văn học cũng không có mục từ Phùng Cung trong khi Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Phùng Quán, có. Phải chăng vì Phùng Cung chưa bao giờ được chính thức “xoá án”? Chưa bao giờ được công khai “hồi phục” như những thành viên khác của NVGP?

Nhưng còn một lý do nữa, có lẽ quan trọng hơn: là mọi người ngại, không nhắc đến Phùng Cung, không phải vì Xem đêm, mà vì nội dung toàn bộ tác phẩm của Phùng Cung, dù chưa in ở trong nước, nhưng đã có nhiều người biết hoặc đã đọc qua.

Cái khiến người ta ngại, chính là tư tưởng của Phùng Cung. Một tư tưởng độc đáo và ngược hướng với người cùng thời, kể cả các thành viên NVGP, trên nhiều địa hạt: Bảo tồn văn hoá, lòng ái quốc, cách mạng mùa thu, kháng chiến chống Pháp, chiến tranh Nam-Bắc, tình nước và tình người.

Chưa một nhà thơ, nhà văn nào dám đi xa như thế, viết những lời đả kích mãnh liệt như thế về quốc ca, quốc thiều, về cách mạng mùa thu, về chính sách văn hoá của Đảng Cộng Sản, về những tín điều đã mê hoặc người Việt Nam trong suốt thế kỷ qua. Và đó là lý do chính khiến Phùng Cung bị 12 năm tù. Rồi khi được thả, ông vẫn bị gạt ra ngoài vòng “chấp nhận” của nhiều người trong và ngoài đảng.

Tìm hiểu Phùng Cung là tìm hiểu dòng tư tưởng yêu nước đối lập với các quan niệm chính thống và đi ngược lại niềm tự hào dân tộc cố hữu, nhưng là kim chỉ nam cho một dân tộc mới: sự chuyển giáo dục chiến tranh và giáo dục hận thù thành giáo dục hoà bình và giáo dục văn hoá.

 

● Phùng Cung và lớp chỉnh huấn Thái Hà

NVGP bị dẹp cuối tháng 12/1956. Trong năm 57, mọi việc “bình thường” trở lại. Đến tháng 2/1958 sự thanh trừng mới bắt đầu với hai “lớp học” ở ấp Thái Hà.

1- Trần Dần ghi trong nhật ký một số dữ kiện về Phùng Cung, trước ngày “đi học”:

27/2/58 PhCung: Tự dưng học hành đến nơi mà Liên Hiệp Hội lại cho PhCung nghỉ công tác. PhCung lo. Không hiểu sao. Có phải vì các ông ấy sợ mình ở đấy đâm lộ chuyện hay không? Hay là vì cái “giả vía”, các ông ấy mới cho mình là cái thằng mất dậy? Đã mất dậy thì thôi, không dậy cho nữa, để mà biết tay!

Tôi hỏi Ph Cung xem cái “giả vía” ấy có gì?

PhCung cười hì hì, kể lại:

– Cũng chả có gì hì… Có một chỗ mình bảo là cái “đảng mạ”, hì, nghiã là cái thứ mạ, mình gọi là “đảng mạ”, dùng tiếng quê vậy cho nó vui, hì… Lại có chỗ mình định ca ngợi các đồng chí chuyên gia, thì mình cũng dùng tiếng quê, bảo là “các ông ấy béo mà phương phi như tây đoan”, “cái đệm các ông ấy nằm mà bà con ta nằm thì ngủ không biết khi nào trở dậy được”, hì, mình cứ nói tiếng quê vậy, để bà con nhân dân ta đọc cho nó vui… hì…

Tôi lo dựng tóc gáy:

Anh viết thế mà anh bảo là tiếng quê! Anh có bị đánh mất xác cũng không oan…

Về sau tôi hỏi HtLinh [14] Linh bảo:

– Cái thằng, nó cứ có cái lối thế. Nó cho rằng viết phải đả cái gì một tí thì mới oai. Anh em khỏi cười.

– Ai bảo nó thế?

– Ấy thế mới khỉ!… Nó cứ nghĩ như thế cơ chứ![15]

Vậy, trước lớp Thái Hà, Phùng Cung vẫn sáng tác đều và vẫn châm biếm Đảng.

2- Phùng Hà Phủ viết: “Cũng khoảng thời gian này,[16] bố tôi bị đình chỉ công tác để làm kiểm thảo. Bố tôi ít đến cơ quan và chỉ viết ở nhà, một số bạn thân của bố tôi thường lui tới như Trần Dần, Hoàng Cầm, Ðặng Ðình Hưng…”[17]

3- Phùng Quán cho biết về những truyện ngắn Phùng Cung viết trong thời kỳ này:

“Anh còn một tập truyện ngắn, đâu như tám truyện thì phải, cũng một dòng “ngựa, voi”, chưa kịp ra mắt bạn đọc thì đã bị cái khách quan khắc nghiệt “bảo lưu” cùng với tài năng của tác giả. Truyện nào viết xong anh cũng đưa tôi đọc. Truyện nào cũng làm tôi say mê vì vẻ đẹp của ngôn từ. Cái kho ngôn từ dân dã của anh dường như vô tận. So với tất cả văn xuôi của tôi đã in ra, tôi có cảm giác mình là người nước ngoài viết tiếng Việt”[18].

Tóm lại, từ tháng 12/1956, khi NVGP bị đóng cửa, đến tháng 5/61, khi Phùng Cung bị bắt, ông vẫn sáng tác và các bạn đều đọc. Theo Tô Hoài, bài Dạ Ký lúc bấy giờ đã nổi tiếng lắm[19].

4- Phùng Cung là đảng viên, vào đảng ở Việt Bắc, chưa rõ năm nào. Vậy ông phải đi cả hai lớp chỉnh huấn Thái Hà. Tuy nhiên chưa bị tội nặng, vì ở lớp này, Hoàng Cầm, Lê Đạt đều “bao che” Phùng Cung, một nhà văn trẻ. Hoàng Cầm viết trong bài “tự thú” như sau: “Tôi đi động viên Phùng Cung viết chuyện, và khi Phùng Cung viết “Con ngựa già của Chúa Trịnh” đưa tôi xem bản thảo đầu tiên, tôi có góp ý kiến vào việc diễn tả: “Chỗ con ngựa vào cung Vua, nên tả cho đáng ghét hơn”. Khi Phùng Cung đưa bản thảo lần thứ hai, tôi chữa văn và thêm nhiều câu diễn tả cảnh đẹp, diễn tả con ngựa càng ngày càng béo”[20].

Lê Đạt viết: “Tôi lại viết “lời toà soạn” cho chuyện “Con ngựa già” của Phùng Cung đả kích và vu khống lãnh đạo văn nghệ không chú ý đến các nhà văn trẻ”.[21]

Hai lời “thú nhận” trên đây chứng tỏ Hoàng Cầm, Lê Đạt trong lớp Thái Hà, nhận mình chủ mưu, Phùng Cung chỉ là đàn em.

5- Về Thái độ của Phùng Cung ở Thái Hà ấp, Trần Dần ghi:

29/4/58 Phùng Cung

– Nhục lắm. Mẹ nó. Mình xin về nhà có được không nhỉ? (…) Có nên xin ra biên chế không? Tôi nhìn PhCung, ái ngại cho anh quá. Đâu như trong khi học tập, anh ta “hỗn” quá, bị đuổi khỏi lớp làm sao ấy… Tôi khuyên anh, rằng nên đầu hàng đi; rằng chỉ có một con đường, “họ” là chân lý, mình đầu hàng, là phải; rằng không nên xin ra biên chế, lúc này việc ấy có thể là một sự tiến công của tư tưởng thù địch; rằng không nên coi là nhục, oan ức gì nữa, mà cứ nghĩ lại xem tổng cộng cái bồ chữ mình đã chửi vào lãnh đạo nó to như thế nào, còn oan và nhục gì nữa? PhCung xem ý không thông gì lắm. Tôi thấy khổ! Một con người có cái gan “tử vì đạo” là PhCung, than ôi, cái đạo anh định chết vì nó chính là cái đạo phản cách mạng, sao mà anh chưa tỉnh ngộ ra hử anh?”[22]

Tại lớp Chỉnh huấn Thái Hà, Phùng Cung đã có thái độ cứng rắn, không đầu hàng, “tử vì đạo” như Trần Dần ghi.

6- Về tình trạng tự kiểm thảo của mọi người sau lớp Thái Hà, Trần Dần ghi:

Ngày 7/5/58 Kiểm thảo sáng tác. Đảng đoàn HNVăn để cả một tuần này, để cho Nhân Văn viết lại cái phần kiểm thảo sáng tác! Theo như đồng chí NxSanh[23] nói, thì tuần trước, phần đó viết chưa sâu, vì thiếu thời giờ, thì tuần này viết lại cho kỹ. Mà phải viết sao cho có thể dùng in công khai được. Sau khi mọi người đã nộp cái của quốc cấm, nghiã là cả một đống những Nhân Văn Giai Phẩm rồi, thì tập trung ở cả một phòng, viết kiểm thảo (…) Anh nào anh nấy lăn vào viết. Lắm hình dung từ, lắm tiếng tự phê dao búa! (…) Tôi cũng không kém. Bao nhiêu hình dung từ phản cách mạng, phản động, phản Đảng, phản bội, chống chế độ, xét lại, tờ-rốt-kít. Không còn thiếu chữ gì. Giặc bút, viên đạn xét lại, mũi tên độc địa của chủ nghĩa cá nhân đồi trụy, chủ nghĩa vô chính phủ và đầu óc làm phản v.v… Tôi sáng tác thêm nhiều chữ nữa để mà miêu tả chân tướng mình, cho nó hết lòng một thể. Chắc các đồng chí lãnh đạo đọc một loạt kiểm thảo bọn tôi lần này thì phải bựt cười lắm đấy! “Trước kia thì nói nhẹ chúng cũng không nghe. Bây giờ thì chúng lại còn tự sỉ vả gấp triệu lần sự phê bình của lãnh đạo!”[24]

7- Về hình phạt và tâm trạng chung, Trần Dần ghi:

Ngày 12/5/58, Tình hình

Cuộc đấu tranh cứ lộn đi lộn lại từ B[25] sang A[26] lại A sang B, báo chí cứ xoay đi xoay lại mãi, cứ như một cái nồi khổng lồ của vô sản chuyên chính, ninh đi ninh lại cho nó dừ cái chủ nghiã xét lại ra.

Tôi chịu cái hình phạt ấy, nhẫn nại và đau khổ. Hình phạt của một người bị bung dừ. Không còn cách nào. Đây không phải là một sự trừng trị cá nhân; mà đây là “chúng ta” trừng trị một phong trào, một trào lưu tư tưởng của chủ nghiã xét lại… Tôi vừa là một tội nhân. Vừa phải cố tách mình ra, làm một đao phủ thủ, hành hạ cái chủ nghĩa xét lại có thực trong tôi và đám Nhân Văn”[27].

8- Vể sự phải tố bạn để thoát thân, Trần Dần kể:

21/5/58 “Thực ra, trước khi HCầm báo cáo, tôi dự định là giữ VCao và ĐđHưng lại, như là “giữ một nửa thành phố, chỉ đầu hàng một nửa” (…). Nên báo cáo tổ, bị hỏi, bị dồn, bị truy nữa, tôi vẫn giấu quanh, không chịu thúc thủ cái một nửa thành phố đó! Đến lúc HCầm báo cáo, tức HCầm “rendre”[28] hai ông bạn quý đó rồi. PhVũ lên tố thêm VCao. LĐạt thì chỉ xác nhận, tố thêm tí tỉnh, còn bao che ĐdHưng nhiều. Hơn nữa, qua báo cáo HCầm và LĐạt, thì tôi “được” đưa lên mũi nhọn, “được” hội trường chờ đợi rất ghê!

Bão lúc ấy chầu chực trên đầu lâu tôi!

Tôi phải tính kế, vừa thoát thân, vừa thoát cho 4 thằng đang bị dồn đánh ghê gớm (TD, HC, LĐ, TPh)[29] vừa để sao cho VCao, ĐdH hiểu mình, qua cái ý ngầm của bản báo cáo!

Cụ thể, tức là tôi nghĩ rằng: “Bây giờ chỉ còn con đường duy nhất, là đầu hàng Đảng. Không có con đường khác. Mà đã hàng thì hàng thực sự, về sau mới thực sự trời êm bể lặng được. Thế nào là hàng thực sự? Hàng thực sự là: mỗi người phải ra mà gánh lấy cái phần bão, do chính trách nhiệm mình gây ra! 4 thằng đang chịu cái trận bão đó rồi, còn hai ông anh VCao, ĐdHưng thì xin nhờ đến vai hai ông, mang vác lấy cái phần của các ông! (…)

Thực tế đã chứng minh cho giá trị chủ trương đó. Quả nhiên: ngay trong lớp học, bão cũng đã ngàn đi dần dần trên đầu 4 thằng, và sau khi chuyển mạnh sang đầu 2 thằng kia ít bữa, rồi nó cũng ngàn đi.

Đến sau lớp học nữa, thằng nào cũng đều được sống trong một không khí được giải vây tương đối dễ thở. Với thời gian chắc nó sẽ càng dễ thở hơn.

Chỉ có cái là trong bộ 6[30] thì có một sự phân hoá của trách móc, hằn thù… HCầm có vẻ khổ! LĐạt tự cho mình là oai nhất, “đúng nhất, vừa mức nhất, không vấy cho ai!”, LĐạt cho tôi là “quá mức!”, ĐdHưng thì kẻ cả: “Tất nhiên có chuyện đó, nhưng đã thuộc lịch sử rồi. TPhác khó hiểu, vừa ghét HCầm, vừa ghét VCao mà vẫn nối lại một phần, còn đối tôi thì lại bảo là: “anh ghê nhất, anh giỏi nhất!”[31]

Đoạn nhật ký Trần Dần trên đây và đoạn Hoàng Cầm kể lại trong băng ghi âm về buổi “báo cáo điển hình” hơn 10 tiếng đồng hồ của ông tại Thái Hà ấp, hoàn toàn ăn khớp với nhau. Trần Dần giải thích tại sao phải đầu hàng trước hệ thống cưỡng bách thẩm vấn, cho biết điều kiện viết những bản tự thú và sự bắt buộc phải tố bạn để cứu mình. Trần Dần đã vạch trần chế độ toàn trị trong vài hàng nhật ký: Sự tan nát tình bạn và sự giẻ rách hoá con người.

 

● Phùng Cung bị bắt

1- Trần Duy viết:

“Chính việc anh Phùng Cung bị bắt làm tôi rất lo sợ và đau buồn, vì Phùng Cung không tham gia Nhân văn ngoài bài viết “Con ngựa già của Chúa Trịnh” nhằm vào một nhân vật có tên tuổi trong Hội Nhà Văn (Nguyễn Tuân). Nhưng vì anh Phùng Cung có một số bài viết đầu tay đã chuyển cho một số đàn anh xem để biết, rồi không hiểu bằng cách nào đó những bản thảo ấy lại vào tay lãnh đạo (tôi không được đọc những bài viết ấy) (…)

Tôi nhớ một cuộc họp tại trụ sở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du năm 1957 dưới sự chủ tọa của Hà Minh Tuân, Nguyên Hồng… người đến họp có đông văn nghệ sĩ, trong đó có Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần…, qua những câu hỏi, những lời xác minh của các anh Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần thì đúng Phùng Cung là tác giả của những bài viết kể trên, và như vậy bản án đã úp lên đời Phùng Cung một tội trạng. Tôi còn nhớ câu của Nguyên Hồng nói sau khi kết thúc buổi họp: “Các anh lúc bình thường đối xử với nhau có vẻ trí thức lắm, nhưng lúc có sự việc xảy ra thì các anh đối xử với nhau không bằng lũ chăn trâu!”. Ra đến cổng anh Nguyên Hồng vỗ vào vai tôi và bảo: “Đã biết sợ chưa!”.

Quả tình tôi rất sợ, tất nhiên sợ về pháp luật là chính nhưng sợ hơn nữa là nhân tâm con người, sự tàn nhẫn của những con người đã bán rẻ nhân phẩm của mình để tự cứu mình, giẫm lên sinh mạng của những người khác để tự thoát thân”[32].,

Theo Trần Duy, Phùng Cung bị tố năm 1957 và Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần là ba người tố. Nhưng so sánh với những tài liệu khác, không thấy nơi nào ghi 1957 có việc tố Phùng Cung. 1957 là năm tương đối yên tĩnh. 1958, tại lớp chỉnh huấn Thái Hà, Hoàng Cầm và Lê Đạt còn cố “gỡ tội” cho Phùng Cung. Vậy việc tố Phùng Cung, nếu có, phải xẩy ra vào khoảng 1960-1961, trước khi ông bị bắt, bị tịch thu bản thảo. Tóm lại Trần Duy đã nhớ nhầm năm.

2- Phùng Hà Phủ viết:

“Một buổi sáng như thường lệ, khi mẹ tôi đi làm (lúc đó hai anh em tôi còn nhỏ, chưa đến tuổi đi học), thì ở nhà, căn hộ mà gia đình tôi ở bị công an mang xe ô tô đến vây bắt khám xét. Sau khi khám nhà và tịch thu toàn bộ sách vở, tài liệu, bố tôi bị đưa ngay vào giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Ðó là tháng 5/1961. Kể từ ngày đó mãi cho đến thời gian chuẩn bị ký hiệp định Paris (1973), tức là 12 năm sau, bố tôi mới được tha về nhà. Thời gian đầu bố tôi bị giam ở Hỏa Lò (Hà Nội), sau đó đưa lên Bất Bạt (Sơn Tây), rồi Yên Bình (Yên Bái), Phong Quang (Lào Cai)”.

“Bố tôi bị bắt và giam giữ nhưng không có án mà gọi là đi tập trung cải tạo (…)

Sau này lúc mãn hạn tù, mẹ tôi mới biết bố tôi luôn là đối tượng bị giam cấm cố trong xà lim, bị hạn chế tôi đa tiếp xúc với thân nhân.

Nhớ lại theo bố tôi kể “khi xẩy ra chuyện”, buổi sáng đó bố tôi được triệu tập tới cơ quan để họp. Đến nơi thấy mọi người xung quanh đều có ý lảng tránh mình, thậm chí không dám mời nhau uống chén nước. Ngay cả những bạn rất thân và thường lui tới nhà cũng tìm cách lánh mặt. Ngay sau đó bố tôi bị đem ra kiểm điểm trước cuộc họp, mà thực chất gần như một buổi đấu tố thời “cải cách” của Liên Hiệp Hội Văn Học Nghệ Thuật (gồm cả đại diện bên văn nghệ quân đội). Chủ trì cuộc đấu tố gồm các ông Võ Hồng Cương, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh… Cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy đều tham gia vào việc “đấu tố”. Ngày hôm đó, ông Trần Dần là người đứng lên “tố” để hai ông Lê Đạt và Hoàng Cầm làm chứng dối. Tội chính mà bố tôi bị “tố” là mang lòng hận thù cách mạng sau cái chết của bố mình. Lôi kéo người khác cùng về hùa để lăng mạ lãnh đạo và còn viết nhiều chuyện chưa in khác – Tất cả nội dung đều tập trung vào lãnh tụ và Đảng Cộng Sản như: Dạ ký, Chiếc mũ lông, Quản thổi, Kép Nghế… Việc bố tôi bị bắt sau đó là do tham gia làm báo Nhân Văn nhưng theo mẹ tôi còn nhiều lý do khác nữa (…)

Từ ngày ra tù bố tôi sống như người bị câm, hầu như không quan hệ với ai ngay trong các bạn văn quen biết cũ. Những người trực tiếp “tố” bố tôi ngày xưa đều cảm thấy hối hận về việc làm của mình và xin lỗi bố tôi.”[33]

Phùng Hà Phủ, không ghi rõ ngày “xẩy ra chuyện” -khi đó hai anh em mới 4 và 2 tuổi- chỉ ghi lại những gì trong ký ức nghe cha mẹ kể lại. Buổi đấu tố này, những người chủ trì khác với buổi Trần Duy kể lại, nhưng có những chi tiết đúng như Nguyễn Hữu Hiệu viết trên báo Khởi Hành.

3- Nguyễn Hữu Hiệu viết:

“Theo lệ thường, mỗi năm, hội viên Hội Nhà Văn phải viết bá cáo, tự thuật, tự đánh giá mình đọc trước lãnh đạo.

Trong đợt học tập cuối năm 1960, tổ học tập gồm bọn bốn người cứng đầu kia[34]bị trực tiếp đặt dưới quyền tổ trưởng Võ Hồng Chương[35]. Trong đợt học tập này T.D.[36] được lãnh đạo viết bản tố cáo dài gần 40 trang viết tay chữ nhỏ như kiến. Phùng Cung bị đấu hai buổi trước đông đảo văn nghệ sĩ tại trụ sở Hội Nhà Văn; bị tố cáo là tên phản động ngoan cố nhất của “Nhân Văn Giai Phẩm”.

Chế Lan Viên, cuối cùng, mới đứng lên đề nghị phải lập tức điều công an đến khám nhà và bắt Phùng Cung.

Nỗi đau nhục bị phản bội chưa qua thì họa khám nhà đã đến. Ngày 19 tháng Chạp năm Canh Tý 1960 [tức là ngày 4/2/1961] công an vây kín ngõ, xồng xộc vào nhà, lục soát, dầy xéo lung tung, tịch thu toàn bộ bản thảo gồm trên ba chục truyện ngắn và rất nhiều thơ. Phùng Cung bị đưa vào Hỏa Lò Hà Nội.

Sau đó, ông bị đưa đi biệt giam qua các trại Bất Bạt (Sơn Tây), Yên Bình (Yên Bái), Bảo Thắng (Lào Kai) từ đầu 1961 đến cuối 1972. Suốt trong mười một năm bị biệt giam, Phùng Cung bị lao nặng và nhiều bệnh trầm kha khác. Khi được phóng thích ông vẫn bị quản chế rất chặt tại địa phương.(…)

Khi làn sóng Dân chủ đích thực -giấc mơ đời của Phùng Cung- dâng lên de dọa nhận chìm Liên Xô “Thành đồng của Cách Mạng” thì Phùng Cung không được làm “bất cứ việc gì liên quan đến chữ nghĩa” kể cả việc làm gia sư. Đều đặn hàng tuần công an đến nhà thăm hỏi sức khoẻ, ngồi ì trong nhà khiến không ai dám bén mảng tới. Đông Âu sụp đổ, hình thức quản chế cũng theo đà “đổi mới” theo, nghiã là công an vẫn đến thăm hỏi như xưa nhưng nhẹ nhàng và ít thường xuyên hơn. Hiện Phùng Cung đang sống lây lất với gia đình tại một căn nhà âm u, lụp xụp tại vùng Quần Ngựa ngoại thành cũ”[37].

Nguyễn Hữu Hiệu viết rất rõ ràng, đúng trật tự lô-gíc, chắc chắn ông đã nghe Phùng Cung kể lại. Tóm lại, có 2 buổi đấu tố Phùng Cung cuối năm 1960, Trần Duy được dự buổi có Hà Minh Tuân và Nguyên Hồng chủ trì.

Hoàng Cầm kể chuyện Phùng Cung

Trong băng ghi âm, Hoàng Cầm nói về việc Phùng Cung bị bắt như sau:

Theo tôi, trong truyện Con ngựa già của chúa Trịnh, Phùng Cung ám chỉ một số người, như Nguyễn Công Hoan, Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi… trước kia có tài, bây giờ đi hầu hạ một cách đê tiện, chẳng khác gì con ngựa kéo xe cho bà Phi, ông Chúa. Vì bài đó, Phùng Cung mua sự căm ghét của những người mà anh ám chỉ. Truyện này không phải anh chủ ý đem đăng ở Nhân Văn, mà hoàn toàn là do tôi, vì anh quý mến tôi nên những gì viết xong anh thường đem cho tôi đọc và sửa. Việc đăng bài ở Nhân Văn là hoàn toàn do tôi. 

Sau vụ NVGP, năm 1958, mọi người đã đi cải tạo đợt đầu rồi, nhưng người ta vẫn cho Phùng Cung làm việc ở Hội Nhà Văn, chứ không đuổi. Chỉ cho làm việc lặt vặt quét dọn nhà cửa, rửa ấm chén… với lương nhân viên hành chính độ 40 đồng. Còn hai anh Trần Dần và Lê Đạt, sau khi đi chăn bò ở Chí Linh với Tử Phác và Đặng Đình Hưng về, năm 1959 chưa được cơ quan sắp xếp đi lao động chỗ khác, nhưng bắt buộc mỗi buổi sáng phải đến Hội Nhà Văn. Có Phùng Cung ở đấy, họ lại hội họp trò chuyện. Mà ba ông này thảo luận văn nghệ, thì có khi họ nói to, ví dụ anh Phùng Cung cứ chê cái thứ văn giẻ rách của hai ông Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, cả hai đều là lãnh đạo Hội Nhà Văn. Vì vậy họ thù. Ông Nguyễn Đình Thi lúc ấy là tổng thư ký, ông ghét cay ghét đắng Phùng Cung.

Sau khi đóng cửa Nhân Văn đến năm 1960, anh viết được độ 20 truyện ngắn[38], tôi đọc khoảng 10 truyện, tất nhiên không sắc nước bằng Con ngựa già của chú Trịnh, nhưng đều có những nét rất đặc biệt, mang tâm trạng bi phẫn. Lại có truyện rất humour, trào lộng và sâu sắc. Tôi và Lê Đạt mượn độ dăm ngày rồi trả lại, riêng anh Trần Dần mượn hơn một tháng. Thế mà không hiểu lầm sao, hai ông Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông lại biết là anh vẫn viết văn chửi chế độ. Theo Phùng Cung, thì chính hai ông này gửi công văn sang Sở Công An Hà Nội, bảo Phùng Cung là phần tử xấu, nhờ Công An xử lý cho nghiêm. Phùng Cung nói với tôi: “Hai thằng khốn nạn, khi tôi làm thư ký công đoàn, tôi lo cho tất cả mọi gia đình anh em, sao nó nỡ đối xử với mình như vậy!” Tôi bảo: “Chắc nó ghét cậu chứ gì!”

Công an bịa chuyện có đơn khiếu nại của một thiếu nữ hàng xóm bị anh hãm hiếp, nên họ gọi anh lên để điều tra. Có lệnh khám nhà, bắt và tịch thu toàn bộ bản thảo, bản nháp các tác phẩm của anh. Tóm lại, chỉ có ba người mượn đọc là tôi, Lê Đạt và Trần Dần, mà tại sao anh bị bắt.

Sau này tôi nghe chị Thoa, vợ anh kể lại: Anh vẫn khăng khăng nghĩ như thế suốt mãi đến sau này, tức là trong 30 năm trời, anh cho rằng Trần Dần đã đem nộp tập truyện ngắn của anh cho Ban Tuyên Huấn hay Bộ Công An. Vì thế các ông Thông và Thi mới biết và làm công văn gửi Bộ Công An nên anh bị bắt. Anh rất thù Trần Dần. Tôi nói thế nào cũng không nghe, anh luôn luôn trả lời: “Ông đừng nhắc chuyện ấy với tôi, tôi không muốn nghe đến cái tên ấy nữa, thằng bán bạn, thằng phản bạn”. Vì Trần Dần giữ một tháng mới trả, rồi anh bị bắt, nên anh nghi, anh nghĩ ra thế thôi, chứ còn Trần Dần có làm gì hay không thì làm sao ai biết được. Riêng tôi và Lê Đạt đều nghĩ rằng Trần Dần không thể làm cái việc như thế, vì có làm như thế cũng không gỡ lại được những kỷ luật mà người ta đã giáng xuống đầu anh. Những nghi ngờ nó gậm nhấm tâm hồn anh Cung, anh khổ quá nên anh gần như có lời nguyền là không bao giờ anh gặp lại Trần Dần nữa, lời nguyền đó anh nói với vợ anh.

Khi anh bị giam, tôi không dám viết thư vì sợ quản giáo kiểm soát, để phân trần cho Trần Dần. Tôi biết anh không nghi cho tôi, vì tính nết tôi anh quá hiểu, khi làm thư ký công đoàn, anh đã giúp đỡ vợ chồng tôi nhiều lắm, chính anh làm đơn cho tôi có hộ khẩu ở Lý Quốc Sư. Tôi chỉ nhắn chị Thoa mỗi lần lên thăm anh, nói hộ rằng: “Tôi đã hỏi anh Dần, anh ấy bảo là mình đọc rất chậm, có khi nghiền ngẫm 2, 3 ngày một truyện, mà anh ấy viết có phải để in ấn gì đâu, nên mình không vội, chứ không cho ai mượn cả. Vậy Cung đừng nên hiểu làm như thế mà anh em thù ghét nhau vô lý lắm, tôi nhờ chị ấy nói thế”. Nhưng về chị ấy kể: “Anh vẫn khăng khăng, chuyện này không thể tha thứ được, Trần Dần với tôi là kẻ thù rồi, anh Cầm đừng thanh minh vô ích”.

Đến khi được về, anh vẫn thế, anh bảo: “Dù anh Trần Dần không phải như thế, nhưng cái chuyện kia nó đã ăn vào đầu tôi rồi, tôi yêu cầu anh đừng nhắc đến nữa, càng nhắc càng gợi sự đau lòng”. Thế là tôi không dám nhắc đến nữa. Trong anh em có gì mâu thuẫn với nhau, như Văn Cao và Lê Đạt, có lần mâu thuẫn với Đặng Đình Hưng về vấn đề văn nghệ, tôi luôn tìm cách giảng hoà, nhưng lần này, trong 30 năm, tôi không làm được.

Mãi đến lúc sắp kỷ niệm ông Đang 80 tuổi, tất cả anh em xúm lại, cùng họp nhau ở nhà Phùng Quán bên cạnh Hồ Tây, thì lúc bấy giờ Phùng Cung mới đưa tay bắt tay Trần Dần: “Thôi thế nhé Dần, thôi không có chuyện gì với nhau nữa nhé!” Trần Dần chỉ nói: “Không phải lỗi tại tôi”. Nhưng Phùng Cung không thân với Trần Dần được nữa nên cũng không đi lại. Phùng Cung ở gần nhà ông Đang, kết nghĩa anh em, vì cùng đi tù, tôn ông là anh cả, Phùng Cung, rồi đến Phùng Quán, là ba anh em kết nghiã.

Khi anh bị đi tù, chị Thoa lên thăm trên trại giam, từ Lào Cai phải đi thêm 40 cây số nữa, rồi rẽ đường rừng 10 cây số mới đến chỗ anh ở. Hai lần đầu nhất định không tiếp, anh đóng vai tàn nhẫn, cố ý để người vợ trẻ đẹp, trung hậu của anh phải giận, phải nản chí mà về đi lấy chồng khác. Khi về chị kể lại, thì tôi khuyên: Anh phẫn chí mới làm như thế, lần sau lên thăm, chị xin quản giáo cho phép ở lại, làm việc gì cũng được, miễn là được gặp chồng. Chị nghe tôi, lần sau chị xin quản giáo cho ở lại, chờ 2 ngày, thì anh phải tiếp, nhưng anh khuyên vợ: “Em nên về nhà nuôi con, lập lại cuộc đời vì anh đi tù không biết ngày nào ra, có khi chết trong tù”. Chị bảo: “Em quỳ xuống chân anh ấy em khóc, anh đừng nghĩ như thế, anh đã bị như thế này thì cố gắng làm việc, theo đúng kỷ luật, rồi thế nào cũng có ngày về.” Nhưng anh ấy kiên quyết: “Em về lấy chồng đi!”

Nhưng chị ấy cứ kiên trì lên thăm, vài lần sau, anh ấy mới thuận, vợ chồng lại chuyện trò âu yếm như trước.

Đến khi được về, sau này anh kể với tôi: Mình bị giam trong rừng thuộc huyện Hoàng Xu Phì, trong suốt 12 năm, không một ngày nào trông thấy mảnh trời xanh, vì ở rừng, chỉ thấy trời âm u qua kẽ lá. Đến khi được về, ra đến đường cái, bấy giờ mới biết mảnh trời xanh, anh như người bị mê sảng, mất phương hướng, mặc dù trời nắng, người anh run lên, không biết đây là đâu, lạc cả hồn đi, không biết mình ở thế giới nào.

Tôi nhớ anh được về vào năm 1972 thì phải, B52 đang đánh Hà Nội trong 12 ngày. Anh về Hà Nội vắng ngắt, đèn phòng thủ lờ mờ, đèn báo động, về đến nhà cửa khoá không biết vợ con sơ tán ở đâu. Đêm ấy anh phải ngủ ngoài hiên và dự trận B52 ném bom ầm ầm.

Hôm tôi và bà vợ xuống thăm, chị khóc gọi: “Anh Cung ơi, anh Cầm, chị Yến xuống thăm mình đây này!” Tôi chưa nhìn thấy anh, không phải vì mắt tôi cận thị mà vì cái phòng tôi tối, không biết anh đứng đâu, mà chị Cung lại gọi, thì hoá ra, khi định thần lại, tôi thấy anh đứng trong góc nhà, ngay cạnh tủ chè, kề bức tường. Một bóng ma! Người nhợt nhạt, anh nói thều thào như sắp chết. Tôi phải hỏi lại chị: “Cô Thoa ơi! Chú ấy nói gì đấy?” Chị Thoa trả lời: “Em cũng chả nghe rõ đâu, nhìn mồm thì em đoán là anh ấy nói rất vui trông thấy anh chị xuống thăm!” Tôi chạy lại ôm hai cánh tay anh, thương vô cùng, người đúng như một hồn ma, gầy gò, sờ thịt nhão ra, đi lần từng bước, không nói được một câu nào cho ra lời. Nếu tôi không đăng bài Con ngựa già của chúa Trịnh, trên Nhân Văn thì anh đâu đến nỗi này!”[39]

● Lệnh bắt Phùng Cung

Tổng hợp những thông tin của Hoàng Cầm, Phùng Hà Phủ, Nguyễn Hữu Hiệu và Trần Duy, chúng ta có thể hình dung các sự kiện đã xẩy ra như sau:

Việc Phùng Cung nghi Trần Dần sẽ mãi mãi là một nghi vấn khó giải đáp, trừ khi có những tài liệu mới. Nhưng không loại trừ khả năng lãnh đạo biết việc này từ một nguồn tin khác. Hoàng Cầm không nhắc đến hai buổi học tập đánh Phùng Cung, có lẽ ông tránh kể lại việc này.

Tóm lại, có thể tóm tắt sự kiện như sau:

Lãnh đạo biết việc Phùng Cung viết văn chống Đảng. Một mặt, giao cho Nguyễn Đình Thi và Hoàng Trung Thông chính thức yêu cầu công an Hà Nội bắt. Một mặt, giao cho Chế Lan Viên tổ chức các buổi hội thảo đánh Phùng Cung. Vậy, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông và Nguyễn Đình Thi, ba người ghét Phùng Cung, đều được Tố Hữu ra lệnh tổ chức bắt Phùng Cung.

Trong đợt học tập cuối năm 1960, T.D. tức Trần Dần, được chỉ định viết bản tố cáo dầy gần 40 trang, (Trần Dần từng xác nhận việc bắt buộc phải khai các bạn, để thoát). Sau bài tố của Trần Dần, Hoàng Cầm và Lê Đạt, phải đứng lên phụ họa, xác định các tác phẩm mà Phùng Cung viết trong mấy năm qua ngụ ý chống đảng là có thật.

Nhưng bi kịch này có thể đã được dàn dựng trước, vì những yếu tố sau:

1- Sau lớp Thái Hà, Phùng Cung vẫn tiếp tục sáng tác và tụ họp với Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt. Thái độ ngông nghênh này làm gai mắt lãnh đạo. Nguyễn Hữu Hiệu viết:

 “Quả thật sau đợt học tập này, những anh em “Nhân Văn” hầu hết đều không dám qua lại nhà nhau, có chạm mặt ở cơ quan cũng không dám chào hỏi nhau, len lén cúi đầu sợ sệt. Riêng có bọn “chúng nó bốn thằng” là Phùng Cung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt vẫn bất chấp, ngang nhiên quấn quýt, trao đổi văn chương, chuyện trò rôm rả, nhất là khi gặp nhau tại trụ sở Hội Nhà Văn 84 Nguyễn Du. Thái độ ngông nghênh này làm gai mắt lãnh đạo. Khi nào Công an chịu bỏ qua?”[40]

2- Bài Dạ Ký đã “nổi tiếng” lắm trong giới văn học và công an lúc đó. Tô Hoài viết:

“Nghe nói Phùng Cung hay chén chú chén anh với đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, được phong chức “tay truyện ngắn nhất Đông Dương”. Chắc là ở chiếu la đà với nhau, ăn nói càng ganh nhau, ngổ ngáo, bạt mạng. Đương viết tập Dạ Ký đã nghe đồn là tài lắm, dữ lắm”[41].

3- Cuối 1960, khi Phùng Cung bị gọi lên kiểm thảo, bộ ba Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt đã bị đánh tan nát rồi. Trần Dần, Lê Đạt, phải đi chăn bò, chăn trâu, bị cách ly, bị coi là “hai tên nhà thơ phản động nhất nước”. Trong hoàn cảnh ấy, liệu họ có quyền từ chối khi được lệnh phải tố Phùng Cung hay không?

4- Việc tố này, chẳng qua là một sự dàn cảnh, để cho mọi người thấy rõ “bộ mặt tồi tệ của bọn Nhân Văn”, “bọn chúng tố cáo lẫn nhau”, để Chế Lan Viên có cớ ra lệnh khám nhà và bắt tên phản động ngoan cố nhất của Nhân Văn Giai Phẩm”.

5- Chế Lan Viên đã đóng đúng vai trò Tố Hữu trong việc bắt Trần Dần, nhưng một cách “đường đường chính chính”,  không ám lậu như Tố Hữu.

6- Ba người nắm hồ sơ và hoạt động đắc lực nhất trong vụ thanh trừng NVGP là Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông và Đào Vũ. Nhưng Chế Lan Viên khôn khéo hơn hai người kia, không viết bài đánh nên không có văn bản “để đời”.

7- Chế Lan Viên thù Phùng Cung vì bài Dạ Ký, trong đó Phùng Cung vẽ biếm họa một số chân dung văn học, đặc biệt bốn vị “tứ bất tử”: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh và Nguyễn Đình Thi, lại có thêm “đương kim vô địch khôn” Tô Hoài, tuy Phùng Cung châm biếm cả các bạn đồng hành Quang Dũng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

8- Chế Lan Viên không thể thích bức chân dung “nhà thơ giả thiểu số” chuyên dùng khoa “Phật vận” tức là “lấy tiếng chó làm chuẩn để cân đong đánh giá sự gian ngay” mà Phùng Cung viết về mình. Bài Dạ Ký đối với bốn vị lãnh đạo văn nghệ “tứ bất tử” là không thể chấp nhận được. Đặc biệt với Chế Lan Viên, sự “phạm thượng” có thể sánh ngang vụ Việt Bắc đối với Tố Hữu.

9- Phùng Cung bị bắt, bị tịch thu toàn bộ bản thảo gồm trên ba chục truyện ngắn và rất nhiều thơ – theo Nguyễn Hữu Hiệu. Vậy những bản thảo này hiện ở đâu? Từ khi được tha về cho đến lúc mất, Phùng Cung chỉ viết lại hay sửa lại được 10 truyện ngắn, in năm 2003 tại hải ngoại.

● Dạ Ký, tai họa của Phùng Cung

Dạ Ký là cái họa lớn của Phùng Cung, lớn hơn Con ngựa già của chúa Trịnh.  Trong Cát bụi chân ai, đoạn viết về Phùng Cung, giọng Tô Hoài vẫn còn cay đắng:

“Phùng Cung công tác chạy hiệu ở văn phòng cơ quan hội văn nghệ từ trên Tuyên Quang. Ở rừng những việc tủn mủn không tên, sổ sách công văn, giữ thư viện, làm lán mới, đi chặt củi, vác gạo, khiêng người ốm ra trạm xá, thui chó liên hoan (…) Phùng Cung ở cơ quan nào dạt đến, không nhớ. Chơi vui, cũng không để ý, kể cả việc hệ trọng khi tôi nhờ Phùng Cung đi đưa chị Nam Cao xuống Hoàng Đan tìm mộ anh ấy. Đọc truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh” của Phùng Cung đăng trên báo Nhân Văn tôi cũng gật gù đại khái “thằng này viết được. Nhưng còn hộc máu ra mới nên cơm cháo đấy, con ạ”. Cũng điếu đóm tập tành như mình ngày xưa, đâu đã mà có sừng có mỏ ngay.

Phùng Cung bị bắt khi “nhân văn, nhân võ” đã được dọn dẹp êm ắng, đã tàn. Nghe nói Phùng Cung hay chén chú chén anh với đám Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, được phong chức “tay truyện ngắn nhất Đông Dương”. Chắc là ở chiếu la đà với nhau, ăn nói càng ganh nhau, ngổ ngáo, bạt mạng. Đương viết tập Dạ Ký đã nghe đồn là tài lắm, dữ lắm”. Tôi không thể tưởng tượng một Phùng Cung thế nào (…) anh chàng mặt xanh xám vỏ dưa hấu về vệt vết nặn trứng cá, cứ ngồi lừ rừ bên bàn đọc sách, có lúc gãi ghẻ hay lúi húi làm gì, con mắt đo đỏ mà tinh vặt, như chú mèo vờ lù rù rình chuột.(…)

Lại bao nhiêu năm sau. Chặp tối, một người bước vào cửa. Dáng cù rù, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà là cái bóng Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chì mờ mờ.

– Phùng Cung phải không?

– Tôi đây.

– Còn sống về được à?

– Cũng không hiểu tại sao anh ạ.

(…)

– Anh có biết tôi phải tù bao nhiêu năm?

– Không biết.

– Vâng tù biệt giam mười một năm.

Đã tù, lại biệt giam, lại bệnh lao, thế mà không chết rũ tù. Thế nào, người tù biệt giam mười một năm vẫn hiện được về. Lại lâu lắm không gặp gỡ. Ngỡ như Phùng Cung đã làm sao. Nhưng một hôm, có người sở Công an đến nhờ tôi ký chứng nhận quãng công tác ở cơ quan sau cùng Phùng Cung làm việc, trước khi phải tù.

Tôi hỏi người công an trẻ tuổi cầm giấy.

– Chứng nhận để làm gì?

– Có liên tục công tác mới đủ năm cầm sổ hưu. Thủ tục ạ.

– Liên tục cả ở cơ quan nhà tù?

Anh công an cười hồn nhiên, chào”cám ơn bác”.

Gần đây, nghe Phùng Cung đã chuyển lên ở trên Quần Ngựa. Nghe nói đã khấm khá, làm nhà mới. Lại thấy bảo đương viết, viết hồi ký-hay tiếp tục Dạ ký, sau hơn ba mươi năm, hả đời? Định có hôm nào lên chơi, vẫn chưa đi được”[42].

Những dòng trên đây phản ảnh khá rõ tình cảm Tô Hoài dành cho cái xóm “nhà lá” mà ông gọi mỉa là “nhân văn, nhân võ”. Đặc biệt Phùng Cung, hồi trẻ, được ông tả: “anh chàng mặt xanh xám vỏ dưa hấu về vệt vết nặn trứng cá, cứ ngồi lừ rừ bên bàn đọc sách, có lúc gãi ghẻ hay lúi húi làm gì, con mắt đo đỏ mà tinh vặt, như chú mèo vờ lù rù rình chuột”. Phùng Cung làm việc dưới quyền ông ở Việt Bắc, chỉ được ông giao cho việc vặt, đại loại “công tác chạy hiệu”, làm “những việc tủn mủn”, “đi chặt củi, vác gạo, khiêng người ốm ra trạm xá, thui chó liên hoan”… Việc quan trọng nhất được ông sai là “đưa chị Nam Cao xuống Hoàng Đan tìm mộ anh ấy”. Và khi đọc Con ngựa già của chúa Trịnh, Tô Hoài nghĩ “thằng này viết được. Nhưng còn hộc máu ra mới nên cơm cháo đấy, con ạ”. Sau khi đi tù 12 năm, về, đến thăm, Tô Hoài rủa thầm “Đã tù, lại biệt giam, lại bệnh lao, thế mà không chết rũ tù”. Ấy thế mà vẫn không chừa, vẫn lại chứng nào tật ấy: “Lại thấy bảo đương viết, viết hồi ký-hay tiếp tục Dạ ký, sau hơn ba mươi năm, hả đời?”

Những dòng này viết năm 1990, hơn bốn mươi năm sau khi NVGP bị dẹp, mà giọng Tô Hoài vẫn chưa thôi miệt thị và hằn học, như vậy đủ biết mấy trang Dạ Ký của Phùng Cung, nặng nợ đến thế nào.

Nhưng chỉ một Dạ Ký thôi, có lẽ chưa đủ để lĩnh án 12 năm. Dạ Ký là cái cớ làm cho những người lãnh đạo văn nghệ bị Phùng Cung biếm họa nổi giận. Chế Lan Viên ra lệnh bắt. Việc tù tội tiếp sau, dựa trên toàn bộ tác phẩm thơ văn của Phùng Cung, một nội dung phanh phui tận gốc chính sách tiêu diệt văn hoá của Đảng:

– Giải thoát và Mộ phách viết về sự bức tử nghề ca trù và tuồng chèo cổ.

– Biệt tích là sự thủ tiêu nghề thợ mộc chân chính.

– Mạt kiếp viết về cái đói và cái chết của người cùng đinh.

– Phòng tuyên truyền địa ngục, là cơ quan dụ con người bỏ trần gian về địa ngục.

Như vậy, Phùng Cung đã viết về chính sách thủ tiêu văn hoá của Cách Mạng Tháng Tám, từ 1956, tức là 6 năm sau khi Đại Hội Văn Nghệ Việt Bắc tháng 8/1950 ra chỉ thị tiêu diệt tuồng, chèo, cải lương. Phùng Cung viết về sự tiêu diệt ca trù, một sản phẩm văn hóa của vùng đất tổ Hùng Vương mà Mộ phách -mồ chôn phách- là tác phẩm tiêu biểu. Chính sách tiêu diệt văn hóa này, sẽ tiếp diễn với sự chôn vùi văn nghệ sĩ và trí thức của phong trào NVGP 1956; sự thiêu hủy văn học miền Nam sau 1975, và vẫn còn tiếp diễn đến ngày nay, qua việc cấm in, tịch thu sách, cách chức tổng biên tập, chia đất, bán rừng, coi nhẹ di sản văn hoá của tiền nhân… Một cái nhìn rộng và xa như vậy, phải được khởi viết từ đất Tổ: Phùng Cung, người Sơn Tây- nước Văn Lang.

● Đất Sơn Tây – nước Văn Lang

Sơn Tây phát sinh hai tài năng lớn trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm: Quang Dũng và Phùng Cung. Quang Dũng, sinh năm 1921, tại xã Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây [43] khắc hình ảnh vùng đất tổ, trong lòng người Việt qua những câu thơ:

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì”

Quang Dũng đi vào lòng người miền Nam, không qua ngả Tây tiến mà qua Đôi mắt người Sơn Tây do Phạm Đình Chương phổ nhạc. Đại gia đình Thăng Long -Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc- có một người anh chết ở Sơn Tây trong kháng chiến. Có lẽ vì vậy mà Phạm Đình Chương đã phổ thơ Quang Dũng bằng những nét nhạc tuyệt vời, với một tâm hồn đồng điệu. Nhờ bản nhạc Đôi mắt người Sơn Tây của Phạm Đình Chương mà nước “sông Đáy chậm buồn qua phủ Quốc” thấm vào hồn người nghe, dù họ chưa hề đặt chân lên đất tổ bao giờ. Những nghệ sĩ đích thực luôn luôn có khả năng truyền cảm vượt tuyến, nối tình đất và tình người trong khoảng khắc câu thơ, tiếng nhạc.

Còn Phùng Cung?

Là người thông bác lịch sử, gắn bó với đất đai và văn hóa lâu đời của dân tộc, Phùng Cung, đã dùng ngôn ngữ quật khởi, ngôn ngữ “rừng rú” của Đường Lâm để bảo tồn nền văn hoá Việt một cách quyết liệt và toàn diện.

Bài của Nguyễn Hữu Hiệu có một thông tin về nguồn gốc họ Phùng: “Quê tổ của Phùng Cung ở Đường Lâm, Sơn Tây, vốn dòng dõi Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng”. Chỉ Phùng Cung mới có thể cung cấp cho Nguyễn Hữu Hiệu thông tin này. Bởi lẽ: Đường Lâm là một tên xưa, đã biến mất từ đời Lê, chỉ người gốc Đường Lâm mới biết, và khi Nguyễn Hữu Hiệu viết câu này năm 1996, Đường Lâm chắc chưa được “khôi phục” lại với khu “di tích lịch sử – văn hoá Đường Lâm”, như ngày nay – không rõ việc khôi phục này có do các nhà khảo cổ giám định, hay chỉ là sự bài trí màu mè để lôi kéo du khách. Vậy việc Phùng Cung dòng dõi Phùng Hưng là khả thể. Nhưng không phải cứ dòng dõi Phùng Hưng thì trở thành anh hùng. Dòng dõi và đất sinh có thể giải thích sự can trường và lòng bất khuất ở một con người như Phùng Cung. Sinh trưởng trong cái nôi lịch sử Sơn Tây, từ một ông tổ chống ngoại xâm lâu đời nhất, cái khí phách ấy, sự kiên cường ấy, không thể giải thích cách nào khác, ngoài đất đai, sông núi và lịch sử.

Nhưng trước hết, tại sao lại Sơn Tây?

Đất Sơn Tây có gì đáng nói?

Miền Bắc có bốn vùng đất cổ, đã trụ các kinh đô xưa:

1- Sơn Tây thuộc nước Văn Lang, có kinh đô của Hùng Vương, Trưng Vương, Phùng Vương, Ngô Vương.

2- Ninh Bình, có kinh đô Hoa Lư của nhà Đinh, nhà Tiền Lê, và những năm đầu nhà Lý.

3- Hà Nội là kinh đô Thăng Long của nhà Lý, Trần và Hậu Lê.

4- Thanh Hoá có Lam kinh còn gọi là Tây kinh, kinh đô đầu tiên của nhà Hậu Lê, do Lê Thái Tổ dựng lên ở phía đông núi Lam Sơn, có cung điện nhà Lê ở phủ Yên Trường và Vạn Lại, có gò Phật Hoàng, mộ tổ nhà Lê, có Thành nhà Hồ tức Tây đô, có Ly cung của nhà Hồ ở huyện Vĩnh Lộc…

Trong bốn vùng lịch sử này, Sơn Tây lâu đời nhất.[44]

Vì vậy mà trải các triều Đinh, tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn, các vua, dù có thay đổi cách gọi, là lộ, là  trấn, là thành, là xứ, không vua nào dám đụng đến “bờ cõi” Sơn Tây, bởi đó là “bờ cõi” Văn Lang, nơi vua Hùng dựng nước, với những bia, miếu, đền… những địa danh lịch sử như Phong Châu, Mê Linh, sông Hát… Sơn Tây còn là trung tâm của nước Việt cổ, một địa điểm chiến lược và tâm lý. Vì vậy, khi dàn trận Thu Đông 1947, Pháp  đã chiếm Tông và Sơn Tây trước, để làm bàn đạp đánh lên Việt Bắc, cũng là một đòn tâm lý đánh vào não trạng người Việt.

● Sự sát nhập Sơn Tây vào Hà Nội

Năm 1965, chính quyền miền Bắc sát nhập Sơn Tây vào Hà Đông. Từ 1975 đến 1978, Sơn Tây bị nhập vào Hà Sơn Bình. Từ 1978 đến 1991, Sơn Tây bị nhập vào Hà Nội. Từ 1991, Sơn Tây bị nhập vào Hà Tây. Đến tháng 8/2007, thị xã Sơn Tây[45] được nâng cấp lên thành phố Sơn Tây và năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây bị sát nhập vào thủ đô Hà Nội. Đường Lâm[46] như vậy, ngày nay đã thuộc vào tỉnh Hà Nội. Những sự “sát nhập” này, luôn luôn thay đổi, tùy tiện và lúng túng, không do một chính sách địa lý, chính trị, văn hoá có nghiên cứu khoa học và lịch sử làm hậu thuẫn. Sự  “sát nhập” toàn bộ thành phố Hà Tây -trong có thị trấn Sơn Tây- năm 2008 vào Hà Nội, cũng như việc ủi nền cổ thành Đại La để tổ chức lễ hội ngàn năm Thăng Long, bất chấp ý kiến các chuyên viên khảo cổ, có thể hiểu như thế nào?

– Rằng để kịp thời phục vụ “lễ hội ngàn năm Thăng Long”, nên cần làm đẹp Hà Nội và “bành trướng” Hà Nội về phía đất tổ Hùng Vương chăng?

– Rằng để cho nhà, đất lên giá theo đúng đơn đặt hàng của bọn đầu cơ bất động sản?

– Rằng để xác định sự chính thống của nhà nước Việt Nam, tự xưng thời đại cộng sản như một triều đại “mở nước”,  ngang với triều Lý, với tổ Hùng Vương chăng?

Cái tin nhà nước định “rời đô” về chân núi Ba Vì, bất chấp ý kiến chuyên gia, lại càng làm cho các giả thuyết trên đây, đặc biệt giả thuyết sau cùng, thêm vững chắc.

Sự phá vỡ bờ cõi Văn Lang, bất chấp lịch sử, văn hoá, cũng không đi ra ngoài quỹ đạo truyện ngắn của Phùng Cung. Truyện của ông xoáy vào toàn bộ chính sách văn hoá của đảng cộng sản: từ việc loại trừ phần văn hóa cổ dân gian, như chèo, tuồng, ca trù, thời kháng chiến, đến sự phá vỡ vùng đất tổ Hùng Vương hiện nay, là hậu quả của chính sách phi văn hoá, xuất phát từ 1950 khi đảng cộng sản quyết định áp dụng chính sách  đấu tranh giai cấp trên toàn lãnh thổ để xây dựng một nhà nước do vô sản độc quyền lãnh đạo.

● Đấu tranh giai cấp giữa chó và người

Dưới mắt Phùng Cung, chính sách Đấu Tranh Giai Cấp của Đảng Cộng Sản, được mô tả dưới dạng phân chia giai cấp giữa  Chó và Người.

Giai cấp mà ông gọi là chó thuộc thành phần những kẻ “úp mặt hôn mê liếm lộc”, những kẻ “cưỡng bức ngữ ngôn”, những kẻ “tình nguyện trọn kiếp bút nô”, những kẻ “ngợi ca tội ác”… Và trong bối cảnh “chó đô hộ người” các công tác dò thám, hãm hại, thủ tiêu, đều đạt đỉnh điểm. Sự triệt tiêu văn hoá trở thành quốc sách. Chưa một ngòi bút nào đi xa đến thế trong việc mô tả xã hội toàn trị. Tư tưởng chủ đạo này chi phối toàn bộ tác phẩm của Phùng Cung, mỗi truyện có nhiệm vụ biểu trưng một vấn đề mà nhà văn đưa ra. Cách nhìn xã hội chó-người này, sẽ sống lại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, sau này. Con ngựa già của chúa Trịnh, tác phẩm duy nhất của Phùng Cung in trong thời NVGP, tả bọn quần thần như những con ngựa già suốt đời nhắm mắt bịt tai cúi đầu phủ phục lãnh tụ.

Ngay từ Con ngựa già của chúa Trịnh, Phùng Cung đã lấy đất Sơn Tây làm nền cho tác phẩm: từ vùng đất tổ, phát xuất giống ngựa nòi, sau này sẽ bị thế quyền làm mai một, mất giống. Lão Nông là hình ảnh đầu tiên về người nông dân chân chính của vùng đất tổ.

Con ngựa già của chúa Trịnh viết về con thần mã Kim Bông của lão Nông ở Sơn Tây, có sức vượt nghìn dặm với cái thế “cao đầu phóng vĩ” của nòi ngựa chiến. Bất cứ cuộc đua nào, Kim Bông cũng đứng đầu. Tin đồn đến tai chúa Trịnh, nhà chúa bèn cử người đến mua con ngựa quý. Dù luyến tiếc vô cùng, lão Nông bắt buộc phải giao ngựa về kinh. “Kim Bông phi như gió, trả lại đằng sau những đồi núi, cây cỏ hỗn độn của vùng Sơn Tây. Chỉ trong nửa ngày đã về đến Thăng Long”. Về kinh, Kim Bông trở thành con vật sủng ái, được kéo xe hầu chúa. Sống trong nhung lụa, thần mã được ngự tại mã đài ngày ngày chỉ ăn và tắm. Chúa ban áo mão cân đai, đặc biệt cái mũ cánh chuồn, như hai chiếc lá đa che tai, che mắt, chỉ để lộ mỗi con ngươi nhìn thẳng về phía trước. Rồi đến lúc can qua, chúa cần con ngựa chiến dũng mãnh ngày xưa, nhưng than ôi, con thần mã đã quen thói cung đình, bao nhiêu năm che tai, bịt mắt, khi tháo mũ áo ra, nó hoa mắt, đầu choáng váng, chân không phóng được nữa. Thần mã cố sức bình sinh, dốc hết tàn lực rồi ngã vật xuống đất, đứt ruột mà chết.

Kim Bông tượng trưng cho những tài năng lớn, khi đã mũ ni che tai, quỳ gối, úp mặt, phục vụ thế quyền, để tìm bổng lộc, đều trở thành những con ngựa già, vô dụng. Kim Bông là “nhân vật” đầu tiên, từ “thần mã” xuống “chó” mà Phùng Cung mô tả.

Là một trong những truyện ngắn hay nhất thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm, cùng với Tiếng sáo tiền kiếp của Trần Duy,  Con ngựa già của chúa Trịnh mang tính chất ẩn dụ tế nhị, kín đáo và sâu sắc, khó có thể kết tội công khai tác giả.

Dạ ký là một bút ký tưởng tượng hài hước về những nhân vật chính trong vụ NVGP, bên nguyên cũng như bên bị, mập mờ những chân dung: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Tô Hoài…, cả người thầy học cũ của tác giả cũng có mặt… đến Quang Dũng, Văn Cao, Hoàng Cầm, Tử Phác, Lê Đạt… Không chỉ tứ trụ triều đình được phác họa dưới những nét châm biếm, mà cả những bạn đồng hành cũng không thoát khỏi… tất cả đều bị cuốn theo cơn lốc, dưới chân một ngọn tháp, “trên đỉnh tháp là một tàn vàng chóe loé, hơi giống mặt trời chiều lúc gần xuống núi; có phần sáng hơn mặt trời. Bên cạnh tàn vàng là một lá cờ đại, xung quanh lá cờ đại là hàng ngàn cờ nhỏ – đều màu đỏ rực. Từ cờ đại đến cờ nhỏ đều quay tròn. Diềm cờ không dính tua kim tuyến mà là lưỡi câu thép ngoại. Cờ tạo gió, gió nhân thành bão, thì ra cờ bay mà tiếng gầm rú hãi hùng như vậy. Tôi lạnh cả người, cầm sẵn trong tay một cái chết móc hàm”[47].

Dạ Ký biếm họa một thời đại cuồng điên, người người lớp lớp phục xuống trước một ngọn tháp vĩ đại, “chạy vòng quanh tháp – như đèn kéo quân”; “hàng ngàn cờ nhỏ – đều màu đỏ rực”, “một rừng cờ” có “lưỡi câu thép ngoại”; “cờ bay mà tiếng gầm rú hãi hùng”…

Chưa có tác giả miền Bắc nào dám viết về bác Hồ, về lá cờ búa liềm và ngày 19/8 như thế. Dạ ký là bức tranh châm biếm hãi hùng về sự tung hoành của lá “cờ có lưỡi câu thép ngoại”, là điềm báo hiệu 12 năm tù không án của Phùng Cung. Nhưng “tội” của Phùng Cung, không chỉ là đã nặn ra một “con ngựa già”, và vài trang “dạ ký” phạm thượng, mà còn ở những truyện ngắn sâu xa khác, tất cả viết trong khoảng 1957-1960, thời kỳ NVGP bị đàn áp sôi sục nhất.

Chính những tác phẩm này mới đưa đến 11 năm biệt giam. Chúng bày ra những cảnh trường bi đát của một thời đại u tối mà ngày nay chúng ta đang cần tìm hiểu.

Ðó là số phận mạt kiếp của những người như lão Thiều, suốt đời sống trong đói nhục, cuối cùng, lão đục đáy cót ngô để ăn cắp, bị ngô tưới xuống đè chết.

Mạt kiếp là một trong những truyện ngắn thê thảm nhất về cái đói, trong xã hội phân chia giai cấp chó-người.

Vẫn trong bối cảnh Sơn Tây, Ba Vì, vẫn trên nền đất tổ. Ngay từ dòng đầu, không khí bạo lực bốc lên qua giọng văn mạnh, phũ, như một bức họa phổ nhạc, với những âm thanh loang lổ, màu sắc hoắc loạn: “Chiều xuống chới với trên đầu làng Chu Trần. Một con chó vàng nhạt, hơi gầy đứng trên bờ đê nghến phía tây nam nơi mặt trời như một chậu máu, loang vãi từ đỉnh Ba Vì hắt lại. (…)

Thình lình tiếng tù và rúc ba hồi dữ dằn từ cầu Ðạc Ba -điếm tuần của làng- gió tiếp âm, gom tiếng dữ trình làng. Mấy nhà gần điếm còn nghe được cả tiếng “hự hự” của kẻ phạm pháp đang chịu đòn bằng đấm đá, lên gối vào ngực, vào bụng. Nghe đủ tiếng động, đàn chó làng cất tiếng tập thể tru lên một lúc rồi im bặt, quý hồ đủ tư cách chó, bởi dẫu có mỏi mõm cũng chẳng ăn nhằm gì”.

Ðó là khúc chó tru dạo đầu cho thân phận lão Thiều. Thiều không phải tên của lão, lão tên là Vị, Thiều là tên đứa cháu ngoại. Lão có một quá khứ tù mù, có thể trước lão đã có thời chân đi giày săng đá, đầu đội mũ chào mào khố xanh, khố đỏ, nhưng bây giờ thân tàn ma dại, không biết vợ bỏ hay vợ chết, lão ở nhờ nhà con rể cả chục năm rồi. Ăn uống phải tự túc, gặp lúc nhà ai có việc gọi đến, lão còn được miếng no. Nhiều ngày chẳng ai đoái hoài, lão đói rã họng, đành thậm thọt vụng trộm củ khoai, bắp ngô của làng. Bị tuần bắt được trói gô vào cột đình, đánh, lão chày mặt ra chửi đổng. Lão nghĩ bụng “no nên bụt, đói ra ma”, “ngũ cốc còn ghê hơn thuốc phiện, chưa rã họng chưa biết!”, “trên đời này ông sợ nhất cái đói, ông khinh nhất cái đói, ông căm thù nhất cái đói”.

Ăn nói kiểu Chí Phèo; Chúa, Phật, chả coi ra gì, bất kỳ quỷ ma thần thánh gì lão cũng theo tuốt miễn có cái bỏ vào mồm, lão làm tất tần tật: đánh thần trùng, bốc mả, nhảy xuống ao cứu trẻ chết đuối, không từ một việc nào. Vì cứu trẻ ở xóm đạo, lão được mang tên thánh Phê Đô Vị, rồi xóm đạo hết việc, lão mon men đến chùa, giúp bà vãi đốn tre, cạp rổ cạp rá… Lão đã trải hết các “thời”, vậy mà lão vẫn sống.

Cho tới cái năm ấy. Lão cố nhớ lại: “Năm ấy là năm gì nhỉ? Nước sông Hồng vua Thủy dâng to hơn mọi năm nhiều. Nước tràn lên đánh úp bờ bãi, cướp trắng hoa màu chưa đến tuổi thu hoạch, đe dọa đê điều đe dọa cả một vùng đói kém!”

Chẳng biết lão Thiều có ý nói kháy cái năm bốn nhăm thần thánh ấy, cái năm quái gở trùng hợp đói, lụt và biến cố lịch sử vĩ đại của cuộc cách mạng nào không.

Dám lắm, đến nước này, lão còn nể gì. Lão đổ tội cho cái năm thổ tả ấy, vì nó mà lụt lội tràn lan khắp nơi. Đói quá, lão Thiều chẳng còn nể nang gì nữa, lão chửi cái đói “Mày đang tâm biến người thành chó, chó thành người!”. Lời chửi đổng của lão cũng mập mờ đầy ý nghiã, chẳng biết lão chửi cái đói, chửi thần thánh, hay thoá mạ cách mạng. Đường cùng, lão tính nước cờ chót: liều chết, lão lội lụt vào tận đáy cót ngô của nhà Tư Tâm, đục cót cho ngô chảy xuống, lão hứng bằng hai ống quần, nhưng không ngờ, ngô chảy mạnh quá. “Ðói, lạnh, nặng, cả ba lực giáp công, lão không sao ngóc đầu lên được. Chỉ trong chớp mắt lão nghỉm hẳn”[48].

Mạt kiếp được viết với bút pháp lạnh lùng gần như châm biếm, vô cảm hóa nghịch cảnh, và đó chính là nghệ thuật trình bày cái bi đát trong thân phận con người sâu sắc nhất: Từ cái năm ấy, cái năm đói ấy, Lão Thiều bị nghiền nát nhân phẩm, lão cố ngóc đầu lên để được sống làm người, sống như người, nhưng cuối cùng lão bị quật ngã, bị tiêu diệt.

Biệt tích là truyện phó Lâm, người thợ không hội nhập được với “đời sống mới”‘. Người thợ mộc đầy lương tâm và nhân cách này không thể chấp nhận lối “ăn thật làm dối” của Ủy Ban Nhân Dân. “Với phó Lâm, tua, mộng là tuyệt kỹ, khi vào mộng, không tháo ra, chêm lại làm đau gỗ!”[49], nhưng bây giờ Ủy Ban lại bắt Phó Lâm phải làm nhanh, đóng bàn không cần tua, mộng gì cả, cứ ghép lại bằng đinh năm phân, chặt mũ, đóng ngậm là đủ. Ông chủ tịch xã lại còn ra lệnh:

“- Cứ mẫu ấy mà đóng!

Phó Lâm lo âu xoa hai bàn tay vào nhau:

– Dạ! Thưa ủy ban không làm được ạ!”

Phó Lâm lẩm bẩm trả lời bằng những dạ thưa, không làm được ạ, dạ thưa, khó quá ạ…. cho tới lúc bị đuổi về. Ít lâu sau, phó Lâm đi đâu biệt tích… Có người đồn thấy phó Phó Lâm vai vác rìu, tay sách hòn đục ngược dòng sông lên núi Tản Viên, bước trên nước như đi đường vậy. Bà Lâm được tin lạnh cả người! Ở đây không ai còn lạ gì chuyện đức Thánh trên đỉnh núi Tản cứ ba năm lại một lần xuống núi tìm thợ giỏi lên sửa điện đài trên ấy. Bà Lâm chờ chồng ba năm, sáu năm, rồi chín năm… không thấy về, bà chọn tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân làm giỗ.

Biệt tích phác những nét mơ hồ nhưng vô cùng xác thực về một thời mà những cái chết bí ẩn, những sự mất tích, biệt tích của con người khá thường xuyên. Thời mà những giá trị đạo đức nghề nghiệp không còn chỗ đứng. Thời mà dốt nát, cẩu thả, lên ngôi. Phó Lâm, kẻ muốn bảo tồn đạo đức nghề nghiệp, đã bị gọi về trời. Phó về trời, như bị mất tích, như bị thủ tiêu, như tự thăng cùng thần núi Tản, để giữ mãi cái chân chất của nghề tổ, giữ trọn phong cách của một nghệ nhân chân chính.

Chắc chắn Phùng Cung có dự Đại hội Văn Nghệ 1950 ở Việt Bắc, và ông là nhà văn duy nhất đã phản ảnh lại chính sách chôn sống tuồng chèo, ca trù, của đại hội, trong hai tác phẩm: Giải thoát và Mộ phách: “Từ nay cái nghề ca trù càn rỡ dông dài phải tự tay đào sâu, chôn chặt, không để nấm mồ, không luyến tiếc”[50].

Giải thoát viết về sự phá sản của nghề hát chèo ở làng Ô. Cái thế “cao đầu phóng vĩ” của con Kim Bông, loài ngựa chúa, được thể hiện lại trong nhân vật Cả Miêng, hay Trùm Nhất ở làng Ô, kẻ được coi là Bố cái đại vương của làng Vân Ô, nơi ngự trị của thần tổ nghề hát chèo, trên một giải đất cao, thế đất chim Phượng cạnh dòng sông Hát – sông Đáy.

Văn Phùng Cung luôn luôn có cái uy của đất tổ, cái đẹp của nghề tổ, cái trách nhiệm của bố cái -cha mẹ- trong nhiệm vụ bảo tồn văn hoá và lịch sử.

Ở thế cao đầu phóng vĩ như thế, Phùng Cung một mình một ngựa, cầm cương chống lại giai cấp mà ông gọi là “chó” của bọn tàn phá văn hoá dân tộc, tàn phá những nghề tổ: nghề mộc, nghề chèo, nghề ca trù… đã nuôi sống con người. Bỏ nghề đi, là cắt đứt cuộc sống, là tiêu diệt nghệ thuật cùng miếng cơm, manh áo. Mà Mộ phách là một giá trị độc đáo.

● Mộ phách

Mộ phách viết về thời kỳ cấm ca trù, đập đàn đáy, chôn phách. Bi kịch của vợ chồng kép Tư Chản và Ðào Khuê cả đời gắn bó với cây đàn tiếng hát, không khỏi gợi nhớ đến Cô Tơ và Chánh Thú trong Chùa đàn của Nguyễn Tuân. Tư Chản có hai con, một trai một gái, chỉ mong sao cho chúng sau này lớn lên nối tiếp nghề tổ để được no ấm một đời. “Thằng Thuyên, con trai độc nhất, khi nó mới biết lẫy, ông đã nắn ngắm bàn tay của nó và lấy làm mãn nguyện. Ngón tay dài, ắt hẳn dài hơn tay bố, mai ngày nhẹ nhàng nhấn, vuốt dây tơ”.

Ngoài thằng con, Tư Chản chỉ còn cây đàn là quý: “Ðàn này của cụ Kép thân sinh của Tư Chản để lại”, “cụ Kép chọn gỗ, thuê thợ Kim Sa đóng cây đàn này lúc Tư Chản mới tám tuổi. Ðáy đàn bằng gỗ dâu vàng, cần đàn bằng gỗ xâng chun, trục vặn bằng gỗ sứa. Phần trên của đáy đàn, hai khoáy gỗ đối nhau như hai con mắt. Cây đàn lên tiếng ngân vang gần một nửa thế kỷ. (…) Ba ngôi âm thanh của đàn đáy “Tiếng tòng! tiếng dụng! tiếng dênh!” hợp thành đựng trong bầu đáy; nhà nghề gọi là “hồn đàn bất tử!”

Tư Chản, coi đàn như người cha, như ông tổ, đàn là nguồn nghệ thuật và nguồn sống: “Tư Chản quan tâm đến cây đàn nằm đây như nâng giấc một người cha ốm. Trên bàn thờ sát vách bên trái, -cố để khuất mắt người lạ- cây đàn được nằm trong tư thế, dày, trục nghiêm trang. Trên đáy phủ tấm khăn the màu hoàng yến, nay đã ngả màu lõi mít che bụi và che tất cả. Ngày nào ông cũng hai lần nâng tấm khăn, nhìn kỹ toàn cây đàn. Sóc, vọng hai lần mỗi tháng; vào buổi tối, ông đều lau bụi, và bàn tay lại chạm khẽ lên dây tơ, lặng nghe tiếng xa xưa vọng lại. Ông đứng ngẩn ngơ, quên, nhớ, mông lung. Trước khi quay lưng ông không quên chắp tay thành kính vái cây đàn đủ bốn vái.”

Thế rồi thời thế thay đổi, thằng Thuyên lớn lên đi bộ đội cầm súng thay đàn… Vợ chồng Tư Chản không còn được tự do đàn hát kiếm sống như trước nữa, nhưng trong lòng vẫn “nhớ dồn thương góp”, âm thầm lấy đêm 17 tháng 8[51] cúng tổ tiễn thu. Họ chờ lúc trăng khuya, cổng đóng then cài, tìm lại nghề cũ, tiếng đàn chen tiếng phách, nổi chìm giọng ngâm tha thiết của những đêm xưa… “Khúc “Cung bắc” đang chơi vơi như đò chưa cập bến. Bỗng tiếng chó sủa rộ từ phía nhà thím Vượng hắt sang. Ðàn phách im bặt. Hai linh hồn đang rong ruổi quá khứ vụt trở về thực tại. Chó vẫn sủa dai dẳng. Ngờ đâu tiếng tơ, tiếng phách đã leo rào, lọt đến tai người, va vào miệng chó”.

Từ đêm đàn ca vụng trộm đó, hai vợ chồng nơm nớp lo sợ, sợ người và sợ chó, sợ cả chó người. Rồi chuyện gì phải đến đã đến. Thuyên, đứa con trai duy nhất, đang đợi được kết nạp vào Ðảng, dưới sự chỉ đạo của Đảng, đã ra tay xử lý cây đàn. Thuyên khẳng định: cây đàn đáy chính là “đồn địch”. Và như một chiến sĩ can trường, Thuyên xông vào tóm lấy cổ “địch”:

 “Thuyên hăng hái nhảy tới bên cạnh bàn thờ, tóm lấy cây đàn đáy – Cây đàn va vào vách “Cang!” một tiếng từ đàn đáy vọng ra như tiếng kêu cứu thất thanh của một tội nhân đến giờ hành quyết”.

Kêu cứu cũng vô ích, cây đàn không thoát khỏi định mệnh oan trái của mình. Sau khi bị đập tan tành, xác đàn bị hoá kiếp lần nữa: trở thành mớ củi nấu nước tắm cho cậu quý tử: “Lửa cháy vù vù dưới thùng nước tắm. Ông Chản đang loạn bước ngoài ngõ, ngoài vườn, xéo nát cả luống rau mới cấy. Tai ông nghe lửa réo và ngửi thấy mùi đàn cháy khen khét như một vật có xương có thịt. Ông thảng thốt nghe rõ tiếng đàn từ trong cháy phi ra. […] Ông hỏi vợ có nghe tiếng gì không?[52]

Từ đấy, Tư Chản cứ trầm trầm đi tìm lại tiếng đàn, mấy tháng sau ông mất. Đào Khuê chọn ngày cúng chồng rồi tìm miếng lụa liệm cỗ phách của mình, nó tên là Kim phách. Kim phách cũng có một sử thi lẫy lừng không kém cây đàn đáy của Tư Chản. Đào Khuê mai táng  Kim phách trong ngôi mộ chôn cạnh bờ ao.

Mộ phách ngân lên như tiếng khóc tiễn đưa thi ca, âm nhạc về bên kia thế giới trong một thời mà nghệ thuật đích thực bị xử lý như một phạm nhân. Với Mộ phách, Phùng Cung đã để lại những âm giai bất tử về sự bức tử một cây đàn và sự tuẫn tiết của một cỗ phách. Và qua đó là sự tàn phá nền văn hoá cổ Văn Lang.

● Từ bà Huyện Thanh Quan đến Phùng Cung

Sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn gỡ cung điện Thăng Long đem về Huế. 1831, vua Minh Mạng lấy hai chữ Hà Nội, tên một tỉnh nhỏ phía bắc nước Tàu, đặt cho Thăng Long. Nhà Nguyễn gỡ cung điện vua Lê và đổi tên Thăng Long thành Hà Nội nhằm xoá tinh thần phò Lê trong lòng người dân đất Bắc, nhưng không qua mắt được nhà thơ: Bà Huyện Thanh Quan, thày dạy con gái vua Minh Mạng, sáng tác bài Thăng Long thành hoài cổ, một kiệt tác hoài Lê, một sự phản kháng âm thầm và mãnh liệt của kẻ sĩ Bắc Hà “nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia”, vậy mà Gia Long không hề đốt sách và Minh Mạng không dám lấy tên Gia Long đặt cho Bắc thành.

175 năm sau, thống nhất xong Nam-Bắc, chính quyền miền Bắc đổi tên Sài Gòn thành Hồ Chí Minh, vẫn sách lược cũ của nhà Nguyễn, kèm thêm chiến dịch cải tạo và nghị quyết tiêu diệt hầu như toàn bộ văn học miền Nam. Kết quả: hơn 35 năm sau, cái tên “cúng cụ” của thủ đô miền Nam vẫn không thu phục được nhân tâm. Với dân chúng miền Nam, nó vẫn chỉ là vết tích tủi nhục của sự bại trận, sự  “mất nước”, đúng như tình cảm bà Huyện dành cho nhà Nguyễn.

Vì sao? Vì bất cứ chính quyền nào, chính sách văn hoá cũng vẫn là cốt tuỷ. Đối xử một cách văn hoá với người bại trận là phương sách uỷ lạo lòng người. Bởi văn hoá ở trên chính trị. Đối với văn hoá, không thể áp dụng chính sách diệt trừ địch thủ như trong chiến tranh.

Không phải cứ loại Tự lực văn đoàn, văn học xã hội chủ nghiã sẽ trở thành lãnh đạo. Không phải cứ tiêu diệt  Nhân Văn Giai Phẩm, thì những Tố Hữu, Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi… sẽ ngời sáng mãi mãi trên vòm trời văn học Việt Nam. Không phải cứ đốt hết văn học miền Nam, thì văn học miền Bắc sẽ trở thành độc nhất vô nhị. Bởi văn học không phải là một vùng chiến địa, để một còn một mất, mà là vùng hoà bình, sống chung, càng nhiều tác phẩm hay, nền văn học của một nước càng thêm sáng giá. Việc loại trừ những tác giả lớn của văn học Việt Nam trong suốt thế kỷ XX ra ngoài vì lý do chính trị, đã thu nhỏ nền văn học Việt Nam, trong lòng một bàn tay, đã bị cắt hết ngón -là những tinh tuý của dân tộc- chỉ còn lại những công thần, bịt tai, bịt mắt như những Con ngựa già của chúa Trịnh mà Phùng Cung mô tả.

Đó là tiếng kêu tha thiết nhất mà Phùng Cung để lại trong tác phẩm, tiếng chim báo bão về nền văn hoá Việt đang bị thu gọn và tự hủy, từ việc bảo tồn đất tổ Hùng Vương đến sự loại trừ các giá trị tinh thần không theo đúng đường lối của Đảng.

● Đường Lâm thi chí, một nền thơ

chống chiến tranh và tù ngục

Những thành viên NVGP đều tham gia kháng chiến, nhưng sau chiến tranh, họ đã có những suy nghĩ khác:

– Ở Văn Cao, là niềm hăng say tuyệt đối ban đầu: vào đội trừ gian, sáng tác quốc ca. Sau khi hoà bình lập lại, Văn Cao không còn sáng tác ca khúc nữa.

– Ở Hoàng Cầm, chiến thắng chỉ là giấc mộng, kể cả trong giai đoạn sôi nổi nhất.

– Ở Lê Đạt, đọng lại hình ảnh máu lửa tiêu thổ kháng chiến, là tội đốt quê hương.

– Ở Trần Dần là bản hùng ca lụa Việt Bắc mà đói khát và bệnh tật phủ lên xác anh hùng.

– Ở Quang Dũng là hình ảnh hãi hùng của đoàn quân không mọc tóc.

Các thi sĩ trên đều thấy hậu quả chiến tranh và rút ra bài học của mình.

Phùng Cung có một hướng đi khác hẳn: ông không nhìn hậu quả chiến tranh để hối hận như các bạn. Ông cũng không đổ trách nhiệm lên đầu kẻ thù như người khác. Phùng Cung coi chiến tranh -chống Pháp và chiến tranh Nam-Bắc- đều phát xuất từ căn bệnh của dân tộc: bệnh hiếu chiến. Chứng nan y này đã thấm vào máu, khó có thể chữa được. Đối lập với Văn Cao trong quan niệm yêu nước, Phùng Cung phê bình quốc ca.

Trăng ngục là bản hùng ca phản chiến, kết tội Cách Mạng Mùa Thu, nhìn sự hiếu chiến của dân tộc như nguyên nhân sau xa nhất của hai cuộc chiến trong thế kỷ XX: chống Pháp 46-54 và thống nhất đất nước bằng võ lực, chống Mỹ và chiếm miền Nam 54-75. Trăng ngục tập hợp những sáng tác trong tù. Vì không có giấy bút, không thể viết truyện nhẩm, nên Phùng Cung “bắt buộc” phải làm thơ. Trăng ngục biểu hiệu những tư tưởng đối lập khác lạ, đầy bất khuất, trong những dòng chữ bị cầm tù suốt đời của tác giả. Tác phẩm chứa đựng những lời thơ mạnh, khẳng khái, đanh thép, như những mũi dao nhọn, đục thủng màng lưới bủa vây nhà thơ, đánh sụp bức tường xà lim, để lộ diện con người tự do, sẵn sàng chịu trả giá cho hành động và tư tưởng của mình, chống lại toàn bộ hệ tinh thần yêu nước chủ chiến.

Vào đầu là bài Biển cả, làm tại trại biệt giam Bất Bạt năm 1961, Phùng Cung bị tù tại chính Sơn Tây, vùng đất tổ. Nhà thơ ví chế độ toàn trị như biển cả:

Biển cả khoác triều phục đại dương

Hợm mình – uy nghi đồ sộ

Song đòi phen

Nghiêng ngửa – đáng thương (…)

Hỡi biển cả!

Diện tuy rộng

Nhưng thiếu những giác quan cần thiết

Lòng tuy xanh – sâu

Xanh sâu đầy mặn chát….

Nộ cuồng sóng vỗ

Trống trải bơ vơ

Chiều quả phụ

Bình minh vô vọng phương mờ…

Ôi! Bao yên lặng thanh cao

Ðều chìm

Trong thét gào man rợ…

Bố Cái đã bị bắt, bị tù trên đất Đường Lâm: tất cả đều đã sụp đổ. Dân tộc, bây giờ, không đứng trước quân nhà Đường phương Bắc, mà đối diện với biển cả mênh mông của chế độ cực quyền.

Người dân hỏi ý cha. Bố Cái trả lời:

Biển cả mênh mông

Như biển cả

Trước mắt trẻ thơ

Mỗi tinh cầu

Chỉ là chấm nhỏ

Càng tối đen càng nhìn rõ xa xanh.

Nhà thơ trình bày trước mắt chúng ta hai thực thể: một bên là thế quyền lồng lộng, khoác “Triều phục Đại Dương”; một bên là sinh linh “trăm họ”, những con người.

Đại dương có đầy đủ phương tiện để vùi lấp trăm vạn sinh linh trong một trận thủy triều. Còn con người, con người lấy gì chống lại? Con người chỉ có ánh mắt. Mắt trẻ thơ. Dưới ánh mắt của đứa bé, cái thế quyền lồng lộng ấy là gì?

– Chẳng là gì cả, nó chỉ là con số không. Bởi dưới mắt đứa bé: “Mỗi tinh cầu chỉ là chấm nhỏ, càng tối đen, càng nhìn rõ xa xanh”.

Rồi Bố Cái chỉ cho dân cách đối phó với bạo lực cách mạng:

Thì nhắm mắt

Thì bưng tai

Nhưng phải đâu khiếp sợ

Chỉ điếc đui vừa đủ

Để làm ngơ.

Bài Biển cả tung trên trang đầu tập Trăng ngục như một thách đố trí tuệ, gói gọn triết lý tương đối và trung dung của tác giả đối với cực quyền toàn trị. Phùng Cung đòi hỏi sự hài hoà trong vũ trụ, đòi hỏi quyền sống cho những cái nhỏ, cái lớn, đòi hỏi sự bình đẳng không những về mặt chính trị văn hóa mà cả về thiên nhiên môi trường.

Bài Trăng ngục rất ngắn, tập trung những tái tê bất hạnh của một đời tù biệt giam trong xà lim:

Trăng qua song sắt

Trăng thăm ngục

Bỗng ta chợt tỉnh – sững sờ

Trên vai áo tù

Trăng vá lụa

Ngày xưa ơi!

Xa mãi đến bao giờ…

Trong tù, chỉ có vầng trăng, chỉ còn vầng trăng. Trăng quấn quýt. Trăng là áo. Trăng là ngày xưa. Trăng là vợ. Trăng là tri kỷ. Trên vai áo tù trăng vá lụa một câu tuyệt bút, là sự hài hoà giữa mềm và cứng, giữa tù và lụa, giữa  trăng và áo, giữa xa và gần, giữa xót xa và âu yếm, giữa tự do và tù tội. Nhà thơ đã kêu gọi sự hài hoà đó trong bài biển cả, nhưng không thấy biển cả trả lời, chỉ một vầng trăng đáp lại.

● Ai liều tảo mộ chiều nay

Phản chiến là tư tưởng chủ yếu trong tập Trăng ngục. Phản chiến toàn diện, bất cứ “thể loại chiến tranh” nào, vì đối với Phùng Cung “dấu tích tàn phá của chiến tranh vệ quốc hay xâm lược” cũng như nhau. “Tất cả chỉ là sự bày đặt, buôn bán máu xương của ma vương quỷ dữ!”[53]

Trong bài Gãi đất Phùng Cung gọi những kẻ chủ chiến là bọn:

Lái buôn binh lửa

Ôi! binh lửa triền miên

Tuổi trẻ gái – trai

Bị lôi đi – hết

Dờ dịt sức già gãi đất.

Bởi chiến tranh nào cũng chôn sạch tuổi trẻ, chỉ để lại những người già ngồi gãi đất.

Thu xa là bài chinh phụ ca mới, phản bác những anh hùng ca chính thống của Tố Hữu, Chính Hữu… cả những anh hùng ca bàng thống của Trần Dần, Phùng Quán…  Thu xa là giấc mơ phản chiến, chống Cách Mạng Mùa Thu, kết án tử hình chiến tranh, kêu gọi con người hãy làm tình yêu, làm hoà bình, đừng làm chiến tranh, hãy thôi chém giết:

Gió vàng đếm lá vàng rơi

Mười hai bến nước

Em ngồi quay xa

Xa quay gấp

Làn tơ vội đứt

Em nhủ lòng

Tơ đứt vì xa

Tơ vương vó ngựa quan hà

Xa in dấu ngựa

Canh gà gọi thu

Quan hà lộng gió chinh phu

Rừng thu tắm máu

Máu thu gội chiều

Tơ vàng nhỏ giọt lệ điều

Đăm đăm tay vẫn chiều chiều quay xa

Xa quay nhẹ

Làn tơ vẫn đứt

Em hỏi lòng

Tơ đứt vì đâu

Sông ngân lỡ bắc nhịp cầu

Mà người trần thế

Mang sầu thiên cung.

Tất cả thi sĩ miền Bắc, không ai dám đả động đến “Cách Mạng Mùa Thu”, bởi đó là “chính nghiã tuyệt đối” được “tất cả mọi người” công nhận. Trừ Phùng Cung. Phùng Cung không. Phùng Cung đi ngoài quỹ đạo. Phùng Cung là người đầu tiên dám dùng những hình ảnh kinh hoàng như “Rừng thu tắm máu, máu thu gội chiều” để viết về Cách Mạng Mùa Thu.

Rồi hai chữ quay xa, tại sao lại  quay xa mà không quay tơ? Chữ xa nhập nhoè nhiều ý nghĩa: xa vừa là guồng tơ, guồng cửi; nhưng xa còn là bánh xe chiến tranh như chiến xa; xa còn là xa lià đứt đoạn. Người chinh phụ ở đây, không chỉ là nạn nhân của chiến tranh, chịu hậu quả của chiến tranh như những người chinh phụ thời xưa nữa, mà chính nàng cũng góp phần vào bộ máy chiến tranh, nàng đang quay bánh chiến xa, nàng đang “tắm máu rừng thu” như chồng. Ống kính độc đáo của nhà thơ, quay lại cảnh toàn thể dân tộc lao vào cuộc chiến tàn khốc: ống kính duy nhất của thi ca Việt Nam đã chụp bắt được trách nhiệm mỗi cá nhân trong chiến tranh, nam cũng như nữ.

Nhưng Phùng Cung không chỉ dừng lại ở đấy, ông còn đi sâu hơn, để truy lùng thủ phạm chiến tranh, ông đã đụng đến cả những biểu tượng được tôn sùng nhất:

Cờ máu rợp trời

Lợm gió!

Tiếng quốc thiều tăng âm

Cực đại thét gào

 

“Thề phanh thây uống máu!…”

Ta lùng trong kho nhớ

Nhẩm biên niên sử

Xin hỏi loài người

Có quốc thiều nào man rợ thế không?

Hỏi tội cách mạng mùa thu chưa đủ, nhà thơ còn hỏi tội quốc ca, quốc kỳ. Chưa nhà thơ nào dám đưa ra những lời buộc tội gay gắt về những biểu tượng “thiêng liêng” như thế: Có quốc thiều nào man rợ thế không?

Bên cạnh những hình ảnh dễ sợ “cờ máu rợp trời lợm gió”, bên cạnh những lời buộc tội không khoan nhượng, rằng trong “kho nhớ của loài người”, không thấy có “quốc thiều nào man rợ” như thế; là những lời thơ trữ tình đẫm lệ gửi cho quê hương  tan nát vì chiến tranh, lầy nước mắt:

Quê hương ơi!

Ðường quan lầy nước mắt

Ðiệu sáo hết du dương

Mây chìm

Gió ngủ (…)

Sông sâu bặt tiếng gọi đò

Chim hãy cùng ta

Gọi cành xanh ngóc dậy

Để một lần

Quê hương thấy lại quê hương

Ráng chiều ngụy tạo bình minh

Lá thuyền tình

Chỉ lênh đênh giữa dòng.

Phùng Cung là người chữ duy nhất trên đất Bắc, đối với hai cuộc chiến, đã nhìn thấy và đã dám nói ra cái giá quá đắt phải trả cho hòa bình đã mất. Dưới mắt nhà thơ, chiến tranh không chỉ là những thúc giục lên đường, không chỉ là những tiếng hô xung phong, mà đằng sau tất cả cờ xí rợp trời là bộ mặt kinh hoàng của thần chết:

Phát lệnh chia bôi…

Ngọn gió giao liên

Gửi tiếng xa gần

Trống phát dẫn

Gia nô thần chết cầm dùi

Dấm dúi vùi nông

Chiều bạc mệnh

Khói hương ơi!

Ðền miếu tan rồi!…

Năm tận tháng cùng

Hòng hõng mong thư tuyến lửa.

Những hình ảnh “gia nô thần chết” trong thơ Phùng Cung, hoà cùng những xác “người chết hai lần” trong ca từ Trịnh Công Sơn, đã hợp thành dòng máu của anh em giết nhau. Trong buổi liên hoan mừng chiến thắng, Phùng Cung âm thầm đếm lại những đốt xương tàn:

Tiếng gia tiên

Thổn thức dưới mồ

Những lúc chim về

Tím lịm chân mây

Ai liều tảo mộ chiều nay

Mà hương tảo mộ bay đầy hoàng hôn.

Hướng về những linh hồn quá trẻ đã bị vay tuổi để xuất trận, Phùng Cung tảo mộ con, liệm hồn mẹ, những người mẹ bạc đầu hương khói trên những nghiã trang giả, mồ không xác:

Con vừa mười sáu tuổi đời

Nửa đêm vay tuổi lấy người chiến tranh

Ðèn con tiễn đến cổng đình

Quay về hụt bước ngỡ mình chiêm bao

Khe Sanh – Dốc miếu là đâu

Vắng con nhớ đến bạc đầu cô đơn

Máu chiều gội đỏ hoàng hôn

Nghiã trang mồ giả, nắm xương không mồ

Ðồng chiều gió tím mấp mô

Nén hương đẹn khói, mấy mùa khóc vay.

Và dưới mồ tiếng Phùng Cung nhắn lên, ngược dòng với Văn Cao, Lưu Hữu Phước: Này thanh niên ơi! Đừng bao giờ chọn giải pháp chiến tranh cho dân tộc.

● Xem đêm

Là tập thơ của người Việt cổ, “người Rừng”, thơ Đường Lâm thi chí, của Bố Cái bị cầm tù trên Bất Bạt. Tất cả đã bị tàn phá, từ thân cây ngọn cỏ, đến cả đọt sương, đến cả tâm hồn, đến cả khổ đau và hạnh phúc, cũng không còn như xưa… Xem đêm là một hình tượng mới, một hành động chữ mới, mỗi chữ là tinh cầu, chỉ cần vài câu đã gói trọn bầu trời nhật nguyệt thực sau Nhân Văn. Ở Hoàng Cầm là những  đêm kim, đêm mộc, đêm thủy, đêm hoả, đêm thổ. Ở Phùng Cung là nghe đêm, xem đêm… Xem đêm là một vũ trụ không ánh sáng của những số kiếp bọt bèo, những người bị tù chung thân vì tội chữ:

Lênh đênh muôn dặm nước non

Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh

                                       (Bèo)

Xem đêm là sự đậm đặc của những con chữ nguyên chất, con chữ quê mùa, chưa bị văn minh xâm lấn, chưa bị lừa lọc tấn công, chưa bị chủ nghiã nhiễm độc, chưa bị chuẩn hoá theo một mẫu mực nào. Trong đêm miên viễn ấy, người và vật nhập quyện vào nhau trong một trạng thái dung hợp vật chất, tinh thần. Thơ cô đọng như Đường thi, một vài chữ đủ gánh cả phận người. Sự giao thoa giữa  vật thể, tiếng động, không gian là đặc tính của Đường Lâm thi chí:

Đêm về khuya

Trăng ngả màu hoa lý

Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông

                                                               (Đò khuya)

Đêm, trăng, hoa lý, tiếng gọi đò, sông… là những yếu tố của một cảnh đêm có thể chất hoàn toàn khác nhau. Nhờ một hành động chữ, chúng đã hoá mộng. Để được sống lại trong một không gian khác, để tạo ra nghịch cảnh của một đời người. Sự cô đơn tuyệt đối của con người bị cô lập suốt đời, được nhà thơ biểu hiện dưới một màn trăng đêm không người, mà có “tiếng gọi đò” như “con nhện vô hình” giăng nối hai bờ xa cách. Hai quang cảnh, một của thiên nhiên hiện thực, diễm ảo: Đêm về khuya trăng ngả màu hoa lý và một của tâm thức cô đơn tuyệt đối Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông, của kẻ bị cách ly, lưu đầy, bị đoạt tự do và cướp ánh sáng mà Nguyễn Mạnh Tường gọi là Un Excommunié – Kẻ bị khai trừ.

Nhưng tất cả nghịch cảnh, cách ly, đều đã có mà đều đã không. Đã xẩy ra và đã không còn nữa: sắc sắc không không, như một sự giao thoa triết học Đông Tây phi thường, mới lạ.

Một bài thơ khác:

Quất mãi nước sôi

Trà đau nát bã

Không đổi giọng Tân Cương

                                                               (Trà)

Đây chính là thơ Đường Lâm nói chí. Chỉ có ba “nhân vật”: Trà, nước, giọng, ba yếu tố thuần khiết của một cuộc thiết trà. Bỗng chữ quất hiện lên như một hung thần và chữ Tân Cương sừng sững như một người Rừng, một chí lớn, một sự cương cường mới bị giam hãm ở Tân Cương, trại tập trung các trí thức Trung Hoa bị Mao Trạch Đông đày đi gánh phân, biến cuộc thiết trà thành một cuộc tra vấn tàn phũ, mà kẻ thẩm tra quất trà đến nát bã nhưng trà sĩ vẫn không khai, không đổi giọng bất khuất.

Thơ Phùng Cung có chí Phùng Hưng.

Một bài thơ về mẹ:

Mồ hôi mẹ

Tháng ngày đăm đăm

                                                   nhỏ giọt

Con níu giọt mồ hôi

Đứng dậy làm người

                                       (Mẹ)

Một giọt mồ hôi mẹ, đủ tác thành khí phách con. Chữ đi từ núi Tản, mỗi chữ là một giọt thép. Đọc thơ ấy, sẽ hiểu tại sao con người ấy bị biệt giam 11 năm. Bởi không có phép gì “cải tạo” được tâm hồn và chí khí của ngọn Ba Vì. Vẫn về người phụ nữ, lần này là người vợ:

Lưng áo em

Ngoang vôi trắng xóa

Cái trắng này vắt tận trong xương

                                       – Mồ hôi xương

Chân dung người vợ cũng toát ra cái can trường trắng của đất Mê Linh. Sự can trường dũng cảm hàng ngày của người vợ phải đương đầu với miếng cơm manh áo, để nuôi con, để tồn tại. Và một tinh thần phản chiến, kiên cường và dứt khoát, rùng rợn, trong cung cách Đường thi:

Mỗi chiến thắng

Một lần gươm tắm rượu

Ruồi vẫn qua lùng máu

                              sa trường

                                             – Gươm báu

Bài Nghe đêm gói trọn nỗi cô đơn cuối đời của con người bị lưu đầy, vì chữ nghiã, từ tuổi thanh niên đến lúc đầu bạc:

Đêm chợt nghe

Trong gối vọng tiếng ru

Lắng tai mới rõ

Tiếng tóc mình chuyển bạc

                                               – Nghe đêm

Đó là sự cô đơn của kẻ một mình một ngựa trên hành trình mở nước và dựng nước về phía văn hóa, tình nước và tình người.

[1] Phùng Hà Phủ, Nhà thơ Phùng Cung, in trong cuốn Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản (Văn Nghệ, California 2003); in lại trong  cuốn Phùng Cung (Trung Tâm Dân Chủ Cho Việt Nam, Canada 2004) và Talawas.

[2] Phùng Hà Phủ, bđd.

[3] Đăng trên Nhân Văn số 4.

[4] Nguyễn Chí Thiện viết về Phùng Cung, Phùng Cung truyện và thơ, Văn Nghệ, 2003, phụ lục, trang 397.

[5] Phùng Quán, Hằng Nga thức dậy, tài liệu Talawas.

[6] Ngô Minh, Phùng Cung trong tôi, Huế, 3-2008, tài liệu Talawas.

[7] Khởi Hành bộ mới, số 1 và 2, tháng 11 và 12/1996.

[8] Khởi Hành số 4, tháng 2/1997.

[9] Khởi Hành số 7 và 8, tháng 6 và 7/ 1997.

[10] Phùng Hà Phủ, bđd.

[11] Văn Nghệ Cali, 2003.

[12] Trung Tâm Dân Chủ Cho Việt Nam, 2004.

[13] Nguyễn Hữu Đang, Con người Phùng Cung và những bài thơ hay trong tập Xem Đêm, Hợp Lưu số 94, tháng 4-5/2007.

[14] Hoàng Tích Linh.

[15] Trần Dần ghi, Văn Nghệ, 2001, trang 238-239.

[16] Tức là thời gian báo Nhân Văn bị cấm.

[17] Phùng Hà Phủ, bđd.

[18] Phùng Quán, Hằng Nga thức dậy, tài liệu Talawas.

[19] Theo Tô Hoài, trong Cát bụi chân ai.

[20] Những lời thú nhận của Hoàng Cầm, Văn Nghệ, số 12, tháng 5 năm 1958.

[21] Những lời thú nhận của Lê Đạt, Văn Nghệ, số 12, tháng 5 năm 1958.

[22] Trần Dần ghi, trang 253.

[23] Nguyễn Xuân Sanh.

[24] Trần Dần ghi, trang 257.

[25] B là văn nghệ sĩ, theo cách xếp hạng của Đảng.

[26] A là trí thức.

[27] Trần Dần ghi, trang 260.

[28] Tức là khai.

[29] Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Tử Phác.

[30] Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao, Tử Phác, Đặng Đình Hưng.

[31] Trần Dần ghi, trang 267-268.

[32] Trần Duy, Một câu hỏi còn chưa được trả lời, đăng ngày 10/7/2009, mạng Talawas.

[33] Trích Phùng Cung truyện và thơ, Văn Nghệ, California 2003.

[34] Tức là Phùng Cung, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt.

[35] Chắc là Võ Hồng Cương.

[36] T.D. chắc là Trần Dần.

[37] Nguyễn Hữu Hiệu, Phùng Cung, Khởi Hành, Bộ mới số 1, tháng 11/1996, trang 7.

[38] Có chỗ ông nói là hơn 10 truyện. 

[39] Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện vói bạn bè.

[40] Nguyễn Hữu Hiệu, bđd.

[41] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, Hồng Lĩnh, California, 1993.

[42] Cát bụi chân ai, Hồng Lĩnh, California, 1993, trang 120-123.

[43] Nay là Hà Tây, thuộc Hà Nội.

[44] Sơn Tây là vùng rộng lớn, cuối thế kỷ XIX bao trùm nhiều tỉnh và thị trấn ngày nay: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây và một phần Hoà Bình và Tuyên Quang. Sơn Tây có hai huyện quan trọng: Phúc Thọ và Bạch Hạc. Huyện Bạch Hạc, Việt Trì, thuộc phủ Vĩnh Tường, trung tâm Sơn Tây, là đất Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang. Sông Lô và Sông Thao gặp nhau ở Ngã Ba Bạch Hạc. Huyện Phúc Thọ, thuộc phủ Quảng Oai, đời Hán là đất Mê Linh, nơi Hai Bà sinh trưởng và đóng đô. Có Hát giang, tức sông Đáy. Có xã Cam Lâm thuộc quận Đường Lâm là nơi sinh của Phùng Hưng và Ngô Quyền. Có đền Phùng Vương và Ngô Vương ở xã Cam Lâm. Có miếu Hai Bà ở xã Hát Môn. Hai huyện Tùng Thiên và Bất Bạt có núi Ba Vì (Sơn Tinh Thuỷ Tinh), ba ngọn rất cao, hình tròn như cái tán, lớn nhất đất Bắc.

[45] Gồm hai huyện Phúc Thọ và Minh Nghiã, thuộc phủ Quảng Oai.

[46] Theo Ngô Thì Sĩ và Phan Huy Chú, Đường Lâm là đất hai huyện Hoài An, (nay là huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây) và Mỹ Lương (nay là đất các huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây và Lương Sơn, Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình).

[47] Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản Văn Nghệ, California 2003, trang 312.

[48] Mạt kiếp, Phùng Cung truyện và thơ chưa hề xuất bản, Văn Nghệ, California 2003, trích dẫn từ trang 27 đến 67.

[49] Biệt tích, sđd, trang 155.

[50] Mộ phách, sđd, trang 204.

[51] Ngày 17/8 ở đây có ý nghiã chính trị: 17/8/1945, trong buổi mít-tinh của công chức, bài Tiến Quân Ca được Phạm Duy “cướp micro” hát lần đầu tại nhà Hát Lớn, Hà Nội. 19/8/1945, Việt Minh “cướp chính quyền”, bài Tiến Quân Ca được dàn đồng ca Thiếu niên Tiền phong do Văn Cao điều khiển hát tại Nhà Hát Lớn.

[52] Các trích đoạn tên đây rút trong Mộ phách, sđd, từ trang 205 đến trang 234.

[53] Dạ ký, sđd, trang 286.

 ( Còn nữa )

 

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 6 ) Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 8 )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Một 2013
M T W T F S S
« Dec   Feb »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 54,979 hits

%d bloggers like this: