Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 4 )

28/01/2013 at 1:27 chiều Để lại bình luận


Thụy Khuê

 (Tiếp theo )

Chương 7

Biện pháp thanh trừng

● Tình hình từ tháng 12/1956 đến tháng 2/1958 

Nhân Văn Giai Phẩm xuất hiện từ tháng 8/1956 đến tháng 12/1956. Cuối tháng 12/1956, tất cả những tờ báo có khuynh hướng theo NVGP, đều bị đình bản.

 Từ 20 đến 28/2/1957, tại Đại Hội Văn Nghệ II, họp ở Hà Nội, có khoảng 500 đại biểu, Trường Chinh kêu gọi đấu tranh “đập nát” NVGP.

Tuy nhiên Trung Quốc chưa dẹp phong trào “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, cho nên Đảng Lao Động chưa thể mạnh tay với trí thức văn nghệ sĩ: đầu  tháng 4/1957, Hội Nhà Văn chính thức thành lập thay Hội Văn Nghệ, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh vẫn được bầu vào ban chấp hành. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, 65 Nguyễn Du, do Tô Hoài, Hoàng Cầm, Đoàn Giỏi phụ trách. Hoàng Cầm đại diện miền Bắc, Đoàn Giỏi, nhà văn tập kết, đại diện miền Nam. Tô Hoài làm chủ nhiệm. Theo Hoàng Cầm, Tô Hoài thường lấy cớ đi sáng tác, để ông quán xuyến mọi việc, cho nên trong vòng mười tháng, ông đã in được tập Bài thơ trên ghế đá của Lê Đạt cùng với thơ Vĩnh Mai; tập thơ Quang Dũng và Trần Lê Văn. Vừa chuẩn bị xong tập thơ Hữu Loan, chưa kịp in, thì có lệnh đình chỉ để chuẩn bị cho một lớp học chính trị, nhưng thực chất là lớp học tập toàn thể văn nghệ sĩ để đấu -có thể nói là đấu hơn địa chủ nữa- đấu tư tưởng NVGP[1].

Ngày 10/5/1957, Hội Nhà Văn ra tuần báo Văn, với Nguyễn Công Hoan, chủ bút, Nguyễn Tuân, phó chủ bút, Nguyên Hồng, tổng thư ký. Lúc đầu Văn theo đường lối chính thống, nhưng đến khi Thế Toàn trên báo Học Tập của Đảng lên tiếng chê báo Văn “nghèo nàn”, “xa rời thực tế cách mạng”, Nguyên Hồng bèn trả lời[2] phê bình Thế Toàn “quan liêu”, “trịch thượng”.

Cuộc bút chiến giữa Văn và Học Tập khiến Bộ Chính Trị chú ý. Rồi Văn dần dần thay đổi thái độ: một số cây bút cũ trong NVGP xuất hiện lại trên Văn. Văn số 21 ra ngày 27/9/1957 đăng bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán. Số 24, ra ngày 18/10/57 đăng kịch thơ Tiếng hát của Hoàng Cầm. Số 28, ngày 15/11/1957, bài thơ Hãy đi mãi của Trần Dần, và số 30, ngày 29/11/1957, hý hoạ của Trần Duy chế giễu chế độ văn nghệ của Đảng.

Năm 1957, Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên, có ghé Bắc Kinh học hỏi kinh nghiệm. Cuối năm 1957, Mao Trạch Đông hạ lệnh đánh phái hữu. Tố Hữu, Huy Cận, Hà Xuân Trường[3] được cử sang học tập Trung Quốc. Khi họ trở về, Đảng mới thực thụ áp dụng chính sách đàn áp của Bắc Kinh.

Ngày 6/1/1958, Bộ Chính Trị ra nghị quyết số 30 về văn nghệ. Tinh thần nghị quyết dựa trên hai điểm chính:

1- Trình bày các hiện tượng chống lại đường lối văn nghệ của Đảng:

“Về văn học nghệ thuật, ranh giới giữa tư tưởng văn nghệ của Đảng và tư tưởng văn nghệ tư sản đã bị xóa nhòa. Trên tuần báo Văn và trong một số sách xuất bản hoặc tái bản, đã biểu hiện khuynh hướng xa rời thực tế đời sống của nhân dân lao động ở nông thôn và thành thị, thoát ly chính trị và không nhằm đúng những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong giai đoạn mới. Những tình cảm cá nhân chủ nghĩa đang có chiều hướng phát triển, những chủ đề lớn do đời sống thực tại đề ra không được chú ý. Hình ảnh công nông binh phấn đấu dũng cảm trong hòa bình mờ nhạt trong văn thơ và trong các tác phẩm nghệ thuật khác. Nhiều quan điểm văn nghệ của giai cấp tư sản lại được nêu lên.

Cuộc tranh luận giữa tạp chí Học Tập và báo Văn gần đây lại là một biểu hiện cụ thể của cuộc đấu tranh giữa đường lối văn nghệ của Đảng với khuynh hướng chống lại hoặc xa rời đường lối đó. Tư tưởng chủ đạo biểu hiện trên báo Văn chính là tư tưởng tách rời đường lối văn nghệ phục vụ công nông binh, tách rời những nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong giai đoạn hiện tại, tách rời sự lãnh đạo của Đảng.”

2- Phải tìm cách giải quyết ngay:

“Rõ ràng những phần tử chống chủ nghĩa xã hội, chống Đảng đã nhân chỗ sơ hở của ta mà tiếp tục tiến công ta về mặt tư tưởng dưới hình thức văn nghệ. Sự hoạt động của những phần tử phá hoại trong giới văn nghệ là một hiện tượng hết sức nguy hiểm, một vấn đề cấp bách cần giải quyết (…) Chúng truyền bá những tài liệu và những báo chí phản động. Dưới chiêu bài “chống giáo điều, máy móc”, chúng gieo rắc những nọc độc của chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ, nhằm lôi kéo văn nghệ sĩ đi vào con đường nghệ thuật tư sản suy đồi. Trước những hoạt động có hại đó, số đông văn nghệ sĩ, kể cả một số văn nghệ sĩ đảng viên, đã mất cảnh giác hoặc bị động, không kiên quyết đấu tranh, thậm chí một số còn hùa theo chúng”.

Văn bị đình bản ở số 36, ra ngày 10/1/1958, trong có đăng bài Ông Năm Chuột của Phan Khôi.

Tháng 2, 3 và 4/1958, Đảng Lao Động tổ chức hai “hội nghị” quan trọng ở ấp Thái Hà.

 

● Biện pháp thanh trừng đối với văn nghệ sĩ: “Hội nghị” Thái Hà

Thi hành tinh thần nghị quyết số 30, ngày 6/1/58 của Bộ Chính Trị, Đảng tổ chức hai lớp học tập đấu tranh “chống bọn Nhân Văn Giai Phẩm” ở Thái Hà ấp, chính thức gọi là hai “Hội nghị nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, kết hợp với hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của hội nghị các Đảng Cộng Sản và các Đảng Công Nhân họp ở Mạc Tư Khoa cuối năm 1957”. Duy chỉ có Hồng Cương, gọi thẳng tên là hai lớp chỉnh huấn chính trị.

“Hội nghị” đầu, tổ chức tháng 2/58, dành riêng cho 172 đảng viên, theo Lê Đạt là để học tập cách “phát hiện” và “tố giác”, chuẩn bị cho hội nghị sau, tháng 3-4/58, 304 người, gồm các đảng viên, quần chúng và những người ngoài đảng đã tham gia NVGP, dốc toàn lực đấu tranh chống NVGP. Phương pháp này đã áp dụng trong Cải Cách Ruộng Đất dưới hình thức khác: Giảm Tô là giai đoạn một, Cải Cách Ruộng Đất chính thức là giai đoạn 2. Và cũng đã áp dụng trong thời điểm đánh Trần Dần: Đại hội Tuyên huấn trước, rồi Đại hội Văn nghệ sĩ. sau.

Văn Cao, Đặng Đình Hưng, Phùng Cung… “được” dự hội nghị đầu, vì là đảng viên. Lê Đạt, Hoàng Cầm, Trần Dần, Tử Phác… chỉ “được” đi hội nghị sau, vì Lê Đạt đã bị khai trừ khỏi Đảng từ tháng 5/57, sau khi in bài thơ dài Cửa hàng Lê Đạt, bị cấm. Hoàng Cầm không ở trong đảng. Trần Dần, Tử Phác đã xin ra khỏi đảng từ trước. Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Duy, là những  “phần tử xấu”, không được dự cả hai “hội nghị”. Ở “hội nghị” thứ hai, mọi người phải viết bài “thú nhận”, sau đăng báo.

Thành quả hai  “hội nghị” được chính thức ghi lại trong bài Cái ổ chuột “Nhân Văn Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận”, như sau:

“Đầu năm 1958, có hai cuộc hội nghị của anh chị em công tác văn nghệ, nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, kết hợp với hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của hội nghị các Đảng Cộng Sản và các Đảng Công Nhân họp ở Mạc Tư Khoa cuối năm 1957. Hội nghị đầu, tháng 2 năm 1958, gồm 172 người dự. Hội nghị sau, tháng 3 năm 1958, gồm 304 người dự.

Qua hai cuộc hội nghị ấy, tất cả những “nhân vật” bỉ ổi đã được phát hiện, tất cả nhũng âm mưu, luận điệu, thủ đoạn đều bị vạch trần. Những con chuột đã phải bò ra khỏi cống. Những người tự giác hay không tự giác gần gũi với những con chuột ấy cũng đã tự giác tự phê bình. Đây là bước cuối cùng của trận chiến đấu chống «Nhân văn-Giai phẩm» trong thời kỳ 1956-1958.

Qua sự phát hiện của hai cuộc hội nghị nói trên, chúng ta được biết nhóm phá hoại “Nhân văn-Giai phẩm” bao gồm những tên “đầu sỏ”, những “cây bút” đã viết “hoặc nhiều hoặc ít” cho “Nhân văn-Giai phẩm” như: Thụy An, Nguyễn hữu Đang, Trần thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn văn Tý, Phùng Quán, Hoàng tích Linh, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huế, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn khắc Dực, Hoàng tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn thành Long, Trần lê Văn, Lê đại Thanh v.v…

Nhưng đó không phải là tất cả (còn những tên chưa ra mặt). Và cũng không phải tất cả những “cây bút” trên đây đều có những hành động phá hoại giống nhau, hoặc phá hoại với những mức độ giống nhau. Có bọn đầu sỏ, có bọn phụ họa, có người bị lôi cuốn vì ngây thơ chính trị…[4].

Những dòng đây trên đưa đến hai nhận xét:

1- Những tên tuổi liệt kê trong danh sách, đã được xếp đặt theo trật tự “tội” nặng, nhẹ: trí thức đứng đầu, rồi mới đến văn nghệ sĩ.

2- Tuy Hồ Chí Minh thân chinh và gửi thêm Tố Hữu, Huy Cận, Hà Xuân Trường đi học tập chính sách đàn áp ở Trung Quốc, nhưng khi thi hành, Đảng tránh nói đến Bắc Kinh, mà nêu cao việc “nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính Trị” và “hai bản Tuyên Ngôn và Tuyên Bố của Đảng Cộng Sản và Đảng Công Nhân Mạc Tư Khoa cuối năm 1957”.

● Hoàng Cầm thuật lại tổ chức “hội nghị” Thái Hà

Theo Hoàng Cầm trong băng ghi âm:

Hội nghị Thái Hà được tổ chức tại trường Tuyên Huấn Trung Ương, trước là trường Đại Học Nhân Dân, gần lăng Hoàng Cao Khải, trên đường từ Gò Đống Đa xuống Ngã Tư Sở, trước cửa Đại Học Thủy Lợi.

Giảng viên là cán bộ từ Trung Ương lên Bộ Chính Trị, các bộ trưởng… có Lê Duẩn, Hoàng Tùng… không thấy Trường Chinh. Lê Đức Thọ chỉ đến hôm khai giảng, không nói gì. Tố Hữu là giám đốc trường, ban lãnh đạo cạnh Tố Hữu có những tay chân đắc lực như Nguyễn Đình Thi, Huyền Kiêu, Chính Hữu, Vũ Tú Nam, Huy Cận, Xuân Diệu…

Có khoảng 300 người, chia làm 15 hay 16 tổ, mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó, và một thư ký. Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Hữu Loan, Phùng Quán, Quang Dũng, Trần Lê Văn… mỗi người một tổ, anh em Nhân Văn không được 2 người ở chung một tổ, họ sợ để 2 người, sẽ hỗ trợ cấu kết với nhau khó điều khiển.

Tổ của tôi có Nguyễn Khải là tổ trưởng. Lê Khang, tổ phó, Bàng Sĩ Nguyên, thư ký. Như vậy là họ đánh mình giáp là cà, chứ không đánh xa xôi gì, tức là họ để cho Nguyễn Khải, một đảng viên sắc sảo, trẻ tuổi, rất trung thành với xã hội chủ nghiã, làm tổ trưởng. Được chọn làm tổ trưởng thì phải là người chống bọn Nhân Văn một cách quyết liệt. Nguyễn Khải là tay mới nổi tiếng, được ông Tố Hữu thích lắm, mới viết một bút ký tên là Xung đột, đăng ở Văn Nghệ Quân Đội về cuộc đấu tranh chống những linh mục, giám mục mà người ta cho là những kẻ phản động, làm việc cho phòng nhì Pháp, vì là công giáo nên được ở lại miền Bắc. Một bên là chính phủ ta, đảng ta, một bên là công giáo. Nguyễn Khải viết truyện ấy được các cấp lãnh đạo ca ngợi lắm cho là người sắc nước trong cuộc đấu tranh. Tôi rất ngại Nguyễn Khải, ngại cái trò sắc sảo, mới lên, được Trung ương tín nhiệm.

Anh Lê Khang, tổ phó, là người đã đi sát với tôi từ 1952, trước đó, anh là đoàn trưởng và là chính trị viên của đoàn văn công trường Lục quân Việt Nam đóng bên Trung Quốc. Anh Lê Khang là người thẳng thắn, tốt bụng.

Tôi sợ và ghê tởm nhất là thư ký Bàng Sĩ Nguyên[5], trước kia hắn là chính trị viên cho đoàn tôi ở Việt Bắc, lúc đó hắn là kẻ vô danh tiểu tốt, có viết lách vớ vẩn. Hắn có một vở kịch dở lắm, trong vòng thảo luận với anh em có lần tôi lấy ví dụ viết kịch như Bàng Sĩ Nguyên là dở, chuyện đến tai hắn, hắn thù tôi từ đấy, hắn bịa chuyện tôi đạo văn nhưng không có hiệu quả gì. Người xấu lắm, mắt lồi, trắng dã, mồm vêu, răng vẩu, người gầy đét, má hóp nhỏ tí, thấy cấp trên thì khúm núm, cổ rụt lại. Bây giờ hắn lại làm thư ký của tổ, thì mình vào tay nó rồi, tha hồ nó bới móc.

Sau 15 ngày học “lý thuyết”, bắt đầu vào kiểm điểm. Ban lãnh đạo cho 7 ngày để viết kiểm điểm, không phải lên lớp, mỗi người cứ lặng lẽ viết. Tôi viết khoảng 100 trang giấy học trò, có thể coi là bản hồi ký cực đúng về những việc đã diễn ra từ khi hoà bình lập lại. Viết tự kiểm điểm thì phải tự tố lên, tự mình xỉ vả mình, để trên người ta thấy mình “thành khẩn học tập”, và như vậy là có kết quả.

Vào giai đoạn phải đem bản khai của mình ra đọc cho tổ nghe, để tổ phê phán trước, giai đoạn này kéo dài độ nửa tháng; thì một hôm Quang Dũng đến tìm tôi, gọi ra chỗ kín đáo, anh bảo: Tôi bị nó đấu dữ quá, nó bảo tôi là bí thư Quốc Dân Đảng, chui vào làm chủ báo Nhân Văn để phá hoại toàn bộ văn nghệ sĩ. Tôi hỏi: Thế ai làm tổ trưởng bên ấy? Anh nói: Bùi Huy Phồn (hay ai tôi không nhớ rõ lắm, nhưng cũng vào cái loại ấy, tức là cực kỳ trung thành với Tố Hữu). Tôi bảo:  Cái thằng ấy nó làm tổ trưởng thì nguy thật. Quang Dũng mặt tái đi, chắc sáng nay nó đấu anh ghê lắm, anh cầu cứu tôi: Ông nói làm sao cho cả lớp, cả trường biết, tôi có tham gia Nhân Văn đâu, tôi có bao giờ họp hành gì đâu, tôi đã nói tôi chẳng biết gì về Nhân Văn cả, anh Hoàng Cầm xin bài thì tôi đưa một bài thơ tình mà cũng chỉ đăng ở Giai Phẩm. Thương bạn quá, lúc đó mà bị kết án là trùm Quốc Dân Đảng thì sợ thật, có thể nó đem ra xử bắn ngay. Tôi an ủi anh: Anh yên chí, tôi đã viết tỉ mỉ, tôi báo cáo hết mọi việc Nhân Văn từ đầu đến cuối rồi. Hôm trước tôi đã đọc xong 100 trang báo cáo cho tổ rồi, còn đang trong tình trạng phê phán toàn tổ. Thế là tôi báo ngay cho Nguyễn Khải, bảo Khải chiều nay lên báo với lãnh đạo là tôi xin lên “báo cáo điển hình” vì tôi là người hoạt động số một, ngay từ khi chưa có Nhân Văn đến khi báo đóng cửa. Tôi xin báo cáo tất cả mọi hoạt động và ý nghiã của nó cho toàn trường. Nguyễn Khải hoan nghênh lắm, vừa mới bước vào kiểm điểm mà Hoàng Cầm đã xin lên nói điển hình như thế, giúp toàn trường đạt kết quả mau chóng.

Ngày hôm sau tôi lên báo cáo từ 7g30 đến 11g30, nghỉ cơm trưa, rồi nói từ 2g đến 5g30, nghỉ cơm tối, rồi lại tiếp tục từ 7g30 đến 11g đêm, tổng cộng hơn 10 tiếng đồng hồ. Sau 11g30 trưa hôm đó, anh Quang Dũng đến tìm tôi vui vẻ: Ông cứu sống tôi đấy. Nó buộc tội Quang Dũng chỉ vì nó tìm được cái ảnh anh chụp bên Vân Nam, mặc áo đại cán Tôn Dật Tiên, lại chụp chung với Nhất Linh. Chụp ảnh với trùm Quốc Dân Đảng Nhất Linh là chết rồi! Tuổi trẻ, óc giang hồ, lại mê văn Nhất Linh, cho nên anh lấy tên Dũng, nhân vật của Nhất Linh mà đặt tên mình.

Sau khi tôi đọc bài báo cáo điển hình rồi thì về lớp học đến phần phê phán tác phẩm. Nguyễn Khải lấy quyền tổ trưởng át giọng, trấn áp, tôi muốn phân trần điều gì, hắn cắt ngay: Im mồm đi!  Hắn còn bảo tôi: Gái đĩ già mồm!, Bàng Sĩ Nguyên là tay khốn nạn nhất, chỉ bới lông tìm vết. Họ dành 5 ngày để phê phán tác phẩm của tôi. Phê phán ghê lắm, từng bài thơ một, phê phán cả ngày, từng câu, từng chữ, dùng đủ mọi danh từ, thơ đểu, vu cáo cho Đảng… Xong thơ đến văn, tên Bàng Sĩ Nguyên phê phán ghê nhất, rồi đến Nguyễn Khải sắc sảo ra cái vẻ có học hơn, anh Lê Khang chỉ ôn tồn nói rằng  tôi không hiểu gì lắm về thơ, làm thơ không đúng với chính sách của Đảng. Anh đúng là con người có tình.

Sau báo cáo của tôi thì có ba người mừng là Quang Dũng, Trần Lê Văn và Thanh Châu, nhưng ông Văn Cao bảo tôi hèn: Mày báo cáo như thế là hèn, việc gì mày phải khai hết ra? Mày bán anh em à?

Không, tôi chỉ nói sự thật, tôi không bịa chuyện gì, tôi không vu khống anh em. Tôi đã có kinh nghiệm những lớp chỉnh huấn từ trước, họ biết hết, nếu mình giấu cái gì. Ngay hôm bắt đầu viết kiểm thảo thì ông Nguyễn Đình Thi đã loan tin cho cả trường biết anh Đang và “đồng bọn” đã bị bắt, gây chấn động hết cả, bởi vì lúc bấy giờ văn nghệ sĩ cũng như nhân dân, tất cả đều như con cá nằm trong cái rọ, họ muốn bắt con nào thì bắt. Vì vậy, tôi thấy không thể giấu họ bất cứ chuyện gì, kể cả những chuyện không cần phải nói như chuyện chúng tôi hút thuốc phiện ở nhà Tử Phác có cả Văn Cao. Vì thế mà anh Văn Cao cho là tôi hèn nhát, chưa bị đánh đã sợ run lên, phản bạn. Từ đó tôi và Văn Cao xa nhau và cuối cùng thì hầu như không còn là bạn nữa[6].

● Những lời buộc tội

Để biết rõ tinh thần và phương pháp chỉnh huấn ở ấp Thái Hà, chúng ta nên đọc qua bài viết của ba người trách nhiệm cấp lãnh đạo trong trường: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi và Võ Hồng Cương.

 

♦ Tố Hữu trong bài “Ý nghĩa một cuộc đấu tranh trong văn nghệ” in trên báo Học Tập, dựa vào tinh thần nghị quyết 6/1/58, lên án gắt gao:

“Dưới ánh sáng mới ấy[7] đã bật rõ ranh giới giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa cái mới và cái cũ; mỗi người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội đều đã có thể nhìn thấy,  phân biệt rõ ràng những con người và những con quỷ, những hoa thơm và những cỏ độc trong văn nghệ”[8].

Sau khi ca tụng “Hai văn kiện có ý nghĩa quốc tế lớn lao của Mạc Tư Khoa” đã giúp cho “Trung Ương Đảng ta”  chuyển biến, “có con mắt sáng để nhìn đúng tình hình”, Tố Hữu xác định:

“Không thể nào khác, muốn là “kỹ sư tâm hồn” xã hội chủ nghĩa, không thể nào không tự cải tạo bản thân văn nghệ sĩ thành những tâm hồn xã hội chủ nghĩa thật sự (…) Càng không thể để lén lút vào trong hàng ngũ văn nghệ, những con rắn độc thù địch phun nọc giết người.”(…) Đó là tiêu chuẩn chính trị để phân rõ ranh giới: ai là thù, ai là bạn. Không thể mập mờ”.

Rồi ông đe doạ:

“Mỗi văn nghệ sĩ lại phải tự trả lời dứt khoát: ủng hộ hay phản đối đường lối văn nghệ của chủ nghĩa Mác–Lênin, đường lối văn nghệ phục vụ công nông binh, phục tùng chính trị, theo yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng và phục tùng sự lãnh đạo của Đảng?”

“Đã đến lúc cách mạng đòi hỏi mỗi văn nghệ sĩ và mỗi cán bộ văn hóa “duyệt lại” những tư tưởng, tình cảm của mình, những sáng tác và công tác trong ba năm qua, và dưới ánh sáng của tư tưởng xã hội chủ nghĩa, làm một cuộc phê phán thật nghiêm trang, không khoan nhượng đối với mình, đối với bạn, đối với địch”. (…)

“Thông qua cuộc đấu tranh lần này mà lột trần bộ mặt gian ác của những phần tử phản cách mạng, chống chế độ, chống nhân dân, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Phải lôi chúng ra ánh sáng, xé toạc mặt nạ của chúng mà ném xuống đất.”

Rồi ông “vạch mặt” những “tên phản động”:

“Chúng là những tên phản trắc, có kẻ như Phan-Khôi một đời đã năm lần phản bội Tổ quốc, kẻ đã từng phục mạ “người An-nam là chó, và đã là chó thì phải ăn cứt” để “thuyết phục” người khác đầu hàng địch, mà vẫn dương dương tự cho mình là “học giả tiết tháo”, và được kẻ đồng bọn phong cho là “anh hùng của ba trăm nô lệ” (!)

Chúng là những con buôn “mác-xít”, “cách mạng” đầu lưỡi như Trương-Tửu, Trần-Đức-Thảo mà thực chất là những tên tơ-rôt-skit vô tổ quốc đã từng nấp dưới nách của địch chống lại cách mạng, suốt đời thù ghét những người cộng sản và tất cả những ai tin yêu (…) Chúng là những kẻ đầu cơ cách mạng, như Nguyễn-Hữu-Đang (…) Gặp nhau trong một mục đích chung, chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ, chống phe xã hội chủ nghĩa, chống Đảng lãnh đạo, tất cả bọn chúng đã liên minh thành một khối, phối hợp hoạt động phá hoại trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, trong các hội văn học nghệ thuật, một số cơ quan văn hóa, trong giới đại học, v.v… (…) Trên thực tế, rõ ràng chúng đã làm như những tay sai của địch thực hành kế hoạch phá hoại của Mỹ-Diệm ở miền Bắc là “chống cộng trong lòng cộng”.

Cuối cùng, Tố Hữu nhấn mạnh đến sự kiện:

“Cuối năm 1956, nói đến báo Nhân văn và các tập Giai phẩm, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ: “Đó là những hạt giống xấu gieo trên miếng đất của những tư tưởng sai lầm”. Bởi vậy, vấn đề không phải chỉ là vứt bỏ những hạt giống xấu, mà còn là dọn lại đất cho tốt[9]”.

Lời kết luận của Tố Hữu xác định hai điểm:

– Khi Trường Xuân đến họp, tuyên bố bác Hồ cũng có “cảm tình” với Nhân Văn, bác nói: không nên dùng dao mổ trâu để giết gà, là Trường Xuân đã phản ảnh chỉ thị ở cấp trên cùng, bởi không ai dám bịa một chuyện như thế về “bác Hồ” dưới thời đại Hồ Chí Minh.

– Khi Tố Hữu tuyên bố: Nhân Văn Giai Phẩm là những hạt giống xấu, không những phải vứt bỏ mà còn phải dọn lại đất cho tốt. Ông cũng phản ảnh trực tiếp chỉ thị của Hồ Chí Minh. Trường Xuân và Tố Hữu thi hành sách lược của vị lãnh tụ, riêng Tố Hữu thực hiện ý nghiã thâm sâu của cuộc thanh trừng: nhổ cỏ phải nhổ tận rễ.

♦ Nguyễn Đình Thi tổng kết chủ trương của NVGP, cũng trên báo Học Tập, qua 6 điểm:

1. Bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản là không “nhân văn”, là “chà đạp con người”, bôi nhọ những đảng viên cộng sản là “khổng lồ không tim”, không phải là “cộng sản chân chính”, xuyên tạc sự giáo dục của Đảng là “rập khuôn đầu óc và tâm hồn”, văn học nghệ thuật xã hội chủ nghĩa là “công thức, giả tạo”, đẻ ra những “thi sĩ máy”. Dưới chiêu bài “đề cao con người”, “chống công thức”, báo Nhân văn, Giai phẩm đã đề cao chủ nghĩa cá nhân, “tự do” cá nhân, đòi quyền, “tự do” cho những lối sống và tình cảm ích kỷ trụy lạc.

2. Phản đối chuyên chính, đòi “dân chủ”, “tự do” theo lối tư sản trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. Đả kích từ Mậu dịch, quản lý hộ khẩu, Bưu điện, cơ quan báo chí, bệnh viện, cho tới Quốc hội, nói chung là đả kích vào bộ máy Nhà nước của ta, đòi tự do đối lập với Chính phủ, trong lúc bọn phản động đang âm mưu phá hoại và một vài giới tư sản đang tiến công ta.

3. Đưa ra chiêu bài “chống sùng bái cá nhân” để xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng là “đảng trị” (…) Đem đối lập quần chúng với lãnh đạo, khích quần chúng chống lãnh đạo (…)

4. Phỉnh nịnh đầu óc quốc gia chủ nghĩa tư sản, đả kích Liên-xô, cho sự giáo dục con người ở Liên-xô là “rập khuôn”, văn học nghệ thuật Liên-xô là “công thức”, không có giá trị. Vin vào khẩu hiệu “trăm hoa đua nở” để xuyên tạc đường lối văn học nghệ thuật của Trung quốc (…)

5. Phủ nhận những thành tích to lớn của nhân dân ta, của Đảng ta trong công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, phủ nhận những kết quả to lớn của Cải cách ruộng đất (…)

6. Riêng về văn nghệ, thì trong Nhân văn, Giai phẩm đã đề xướng “trăm hoa đua nở” theo lối tự phát vô chính phủ, “hoa lành, hoa độc, hoa thối, hoa thơm” đều có quyền nở tự do như nhau. Thực chất là nó đòi hủy bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu khẩu hiệu “trả văn nghệ về cho văn nghệ”, “văn nghệ và chính trị vỗ vai nhau hai bên cùng có lợi” v.v…[10]

Nguyễn Đình Thi luôn luôn có hành động của một thuộc hạ chân thành, ông áp dụng đúng chính sách đường lối của Tố Hữu, của Đảng, để tiến thân.

 

♦ Võ Hồng Cương, Cục phó Cục Tuyên huấn, trong bài tổng kết “Cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn nghệ hiện nay[11] tóm tắt toàn bộ hành trình đấu tranh của NVGP, chỉ “chân tướng phản động chính trị của những tên cầm đầu”: Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Thụy An, Minh Đức, và coi phong trào NVGP là cuộc đấu tranh giai cấp giữa chủ nghiã xã hội và chủ nghĩa tư bản trên ba khái niệm chính:

1- Đấu tranh giữa hai đường lối chính trị khác nhau.

2- Đấu tranh giữa hai đường lối văn nghệ khác nhau.

3- Đấu tranh giữa hai thế giới quan và nhân sinh quan khác nhau.

Hồng Cương nhấn mạnh đến những nguy cơ “xụp đổ chế độ”:

“Hạ được tập thơ Việt Bắc và hạ được Tố Hữu xuống là hạ được cả giá trị văn nghệ kháng chiến xuống và hạ được sự lãnh đạo văn nghệ của Đảng và Chính phủ xuống. (…)

Chúng nói Trung Ương Đảng ta, thậm chí nói các lãnh tụ ta là “dốt văn nghệ”.Chúng rêu rao rằng Đảng và Chính phủ ta là “bọn ngu khờ cầm quyền” (l’ignorance au pouvoir) không thể lãnh đạo được văn nghệ (…).

Chúng vu khống chế độ ta là cộng sản thời trung cổ (communisme du moyen âge), là cộng sản phong kiến (communisme féodal), chế độ ta là cộng sản suy đồi (dégénérescence du communisme), chúng xuyên tạc và nguyền rủa Chỉnh huấn của ta là đồi trụy tinh thần (avilissement de l’esprit), là nô dịch hoá tư tưởng (esclavage de la pensée). Chúng chế giễu chính sách đãi ngộ của ta là “bổng lộc” vua ban, huân chương của ta là “mề đay” của đế quốc. Không khác gì Phan Khôi đã ví chế độ ta với một triều đại phong kiến nào đó[12]”.

Lời buộc tội của Hồng Cương, có vẻ mạnh mẽ nhưng khác hẳn lối nhìn đao phủ của Tố Hữu: Hồng Cương xác nhận NVGP là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai quan niệm khác nhau về chính trị, văn nghệ, nhân sinh. Ông kín đáo biện hộ và đồng tình. Vậy, không phải mọi người có quyền đều táng tận lương tâm. Hồng Cương là một nhân cách.

 

● Bao nhiêu người bị liên lụy?

1/ Danh sách nhóm NVGP, ghi trong bài Cái ổ chuột “Nhân Văn Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận[13] có tên 34 người:

“Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy, Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Trần Công, Trần Thịnh, Phan Vũ, Hoàng Huế, Huy Phương, Vĩnh Mai, Như Mai tức Châm Văn Biếm, Hữu Thung, Nguyễn Khắc Dực, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Thanh Bình, Yến Lan, Nguyễn Thành Long, Trần Lê Văn, Lê Đại Thanh” v.v…[14]

2/ Danh sách những người ký tên dưới các bài viết, hoặc cộng tác với 5 số báo Nhân Văn và 5 cuốn Giai Phẩm, gốm có: Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo (nxb Minh Đức), Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, Trần Duy, Nguyễn Sáng, Phùng Quán, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Tô Vũ, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Phan Khôi, Hữu Loan, Phùng Cung, Trần Lê Văn, Phác Văn, Huy Phương, Lê Đại Thanh, Hoàng Yến, Nguyễn Tư Nghiêm, Trần Công, Hoàng Huế, Hồng Lực, Bùi Xuân Phái, Trương Tửu, Đào Duy Anh, Bùi Quang Đoài, Mai Hạnh, Chu Ngọc, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trúc Lâm, Phan Vũ, Hoàng Tích Linh, Đặng Văn Ngữ, Trần Thịnh, Hữu Tâm, Thanh Bình, Trần Phương, Thanh Châu, Châm Văn Biếm, Hoàng Tố Nguyên, Cao Nhị, Trần Hải An… gồm 47 người.

Hai danh sách trên đây không hoàn toàn giống nhau, vì ngoài Nhân Văn và Giai Phẩm, còn có một số sách báo khác, cùng xu hướng, như Trăm Hoa của Nguyễn Bính, Đất Mới của sinh viên, hoặc Tự Do Diễn Đàn[15] và Sách Tết 1957[16]; hoặc tạp chí Sáng Tạo (kịch trường và điện ảnh) của nhóm Trần Thịnh-Trần Công. Ngoài ra còn có những bài in trên các báo khác như Văn, 1957, sau khi NVGP bị đình bản.

3/ Lê Hoài Nguyên cho biết: “Số người gọi là tham gia NVGP tại Hà Nội do Bộ Công an và Công an Hà Nội quản lý, do tác giả (LHN) thống kê được gồm khoảng 170 người. Số bị xử lý nặng khoảng gần 100 người, còn số bị đưa vào danh sách để phân loại xử lý tính trên toàn miền Bắc ở tất cả các lĩnh vực phải tới hàng ngàn người. Bởi vì các ấn phẩm của phong trào NVGP đã được đón nhận nồng nhiệt, được hưởng ứng không chỉ ở Hà Nội, mà xuống đến tận các vùng nông thôn miền núi[17]”.

Như vậy chúng ta tạm nhận con số gần 100 người bị xử lý nặng của Lê Hoài Nguyên.

Trong danh sách chính thức năm 1959, thiếu tên hai người: Phan Tại và Phùng Cung, mặc dù cả hai đều bị đi tù, có thể vì Phan Tại và Phùng Cung, năm 1959, chưa bị tố giác. Hai trường hợp này cần tìm hiểu.

● Phan Tại và nhóm Sáng Tạo

Trong phiên toà ngày 19/1/1960, xử Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Lê Nguyên Chí[18], Phan Tại bị kết án 6 năm tù giam và 3 năm mất quyền công dân.

Tại sao kịch tác gia Phan Tại, chủ đoàn kịch Sông Nhị, lại bị kết án nặng như vậy? Ngoài tội trốn vào Nam, ông còn những tội gì nữa?

Tổng hợp lời những nhân chứng và những bài viết, ông đã phạm những “tội” sau đây:

– “Chứa chấp” Thụy An – Thụy An ở chung nhà với ông bà Phan Tại.

– Nhà Phan Tại – Thụy An là một “câu lạc bộ văn nghệ”- Tập kịch, chiếu phim, hội họp.

– “Nhóm” Thụy An-Phan Tại cùng với nhóm Sáng Tạo của Trần Thịnh-Trần Công chủ trương thành lập hội điện ảnh độc lập. Đả phá phim tuyên truyền Liên Xô. Đổi mới kịch nghệ và điện ảnh theo lối Tân hiện thực- Néoréalisme Ý và Nhật. Thụy An, Cao Nhị, Nắng Mai Hồng, Vũ Phạm Từ, Kỳ Nam… viết những bài giới thiệu, phê bình điện ảnh. Họ tổ chức chiếu lại những phim hay đã chiếu ở Hà Nội trước 1954, do Thụy An viết thuyết minh, trong đó có những kiệt tác tân hiện thực như “Miếng cơm cay đắng – Riz amer”, “Chiếc xe đạp – La bicyclette” của Ý, “Rashomon”, “Những đứa trẻ Hiroshima”, “Anh gắng nuôi con” của Nhật, v.v…

– Những người trong Sáng Tạo như đạo diễn Trần Thịnh chủ nhiệm, Trần Công, Chu Ngọc, Phan Vũ, Cao Nhị, v.v… đều có bài trên NVGP.

Trong bài Đi ttìm dấu tích tờ báo Sáng Tạo, Hà Nội, 1956[19] Lại Nguyên Ân cho biết: Sáng Tạo ra được hai số: Số 1, ngày 5/11/1956 và số 2, ngày 20/11/1956. Trong đợt đánh Sáng Tạo, Trần Đức Hinh, chủ nhiệm tờ Điện Ảnh của Cục Điện Ảnh tố cáo:

“Nửa tháng “Liên hoan phim Liên Xô” khai mạc vào ngày 7-11-56, thì đúng ngày 5-11-56, Giai phẩm mùa thu tập III xuất bản, trong đó có đăng bài “Chúng ta gắng nuôi con”, hoạt cảnh của Chu Ngọc, đả kích không tiếc lời vào phim Liên Xô. Cùng ngày 5-11-56, báo Sáng Tạo ra số đầu, đã lộ ngay ý định xấu đối với phim Liên Xô (…) Những bài như trên phải được đặt bên cạnh bao nhiêu bài khác của Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, v.v… đang nhan nhản lúc bấy giờ ở các số Nhân văn, Giai phẩm thì mới thấy đầy đủ tính chất nguy hiểm của nó[20]”.

Như vậy, có thể nói: song song với Nhân Văn và Giai Phẩm, đã có phong trào điện ảnh kịch trường, do hai nhóm Phan Tại-Thụy An và Trần Thịnh-Trần Công chủ trương.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm như vậy, không chỉ giới hạn trong phạm vi văn học, mà còn lan rộng ra các ngành nghệ thuật khác, để trở thành cuộc cách mạng văn hóa toàn diện của các trí thức văn nghệ sĩ miền Bắc, đòi tự do sáng tác và tự do dân chủ.

Phan Tại, bị tù 6 năm, kèm 3 năm quản thúc, có thể vì những tội: “cấu kết” với Thụy An và là một trong những người “lãnh đạo” phong trào điện ảnh kịch trường cùng với Trần Thịnh-Trần Công.

● Các biện pháp kỷ luật

“Trận chiến đấu chống bọn phá hoại NVGP” đã kết thúc bằng Hội Nghị thứ ba của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, họp tại Hà Nội ngày 4/6/1958 với bài báo cáo tổng kết của Tố Hữu, và nghị quyết của của ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam lên án “bọn NVGP”.

Ngày 5/6/1958, tại Hà Nội, hơn 800 văn nghệ sĩ thảo bản nghị quyết gọi là “Nghị quyết của 800 văn nghệ sĩ” phụ họa với nghị quyết của Hội Liên Hiệp. Sau đó trong tuần lễ từ 21/6 đến 3/7/1958, các ban chấp hành Hội Nhạc Sĩ, Hội Mỹ Thuật, Hội Nhà Văn, lần lượt thi hành các biện pháp kỷ luật đối với các thành viên của Hội đã tham gia NVGP:

Hội Nhà Văn khai trừ Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh ra khỏi ban chấp hành. Hội Mỹ Thuật, cảnh cáo Sĩ Ngọc, “chấp nhận cho Sĩ Ngọc và Nguyễn Sáng rút khỏi ban chấp hành”. Hội Nhạc Sĩ “chấp nhận cho Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban chấp hành”. Cả ba hội quyết định: Khai trừ Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An ra khỏi Hội Nhà Văn, Trần Duy ra khỏi Hội Mỹ Thuật.  Khai trừ trong thời hạn một năm Hoàng Cầm và Phùng Quán ra khỏi Hội Nhà Văn. Khai trừ ba năm Trần Dần, Lê Đạt ra khỏi Hội Nhà Văn, ba năm Tử Phác và Đặng Đình Hưng ra khỏi Hội Nhạc Sĩ. Và cảnh cáo một số hội viên khác đã tích cực hoạt động trong nhóm NVGP.

Tháng 7/58: Văn Cao đi thực tế Điện Biên cùng với Nguyễn Tuân và Nguyễn Huy Tưởng, ông bị chảy máu ruột và được trở về.

Ngày 22/8/58: Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử Phác… đi lao động cải tạo ở Chí Linh, đến Tết mới được về Hà Nội nghỉ, đợi đợt sau. Trần Dần cho biết: Phùng Quán mới đầu “bất trị” đi rồi lại bỏ về, đến tháng 8/58 mới chịu đi thực tế Thái Bình với Hoàng Cầm. Trong thời kỳ lao động cải tạo này Tử Phác bị ho lao. Nhật ký Trần Dần ghi: 25/11/58 Tử Phác đi khám ruột, lại thấy bị lao phổi.

Hoàng Cầm kể: Phùng Quán đi độ 3 hôm thì lộn về Hà Nội, anh loan tin: Không biết Đảng nghĩ thế nào mà cho anh em văn nghệ đi cải tạo ở gần một làng hủi, tin đồn ầm lên, BBC biết, họ loan trên đài. Anh Võ Hồng Cương hoảng quá, cho là Đảng cũng vô tình thôi, anh lập tức chỉ thị cho Hoàng Trung Thông phải tìm chỗ khác. Phùng Quán đến tôi và vài tuần sau đi cùng với tôi. Tới nơi, bị Hoàng Trung Thông đuổi: Anh vô kỷ luật, tôi không nhận anh nữa. Phùng Quán: Về thì về, sợ gì! Thế là anh lại trở về Hà Nội. Hoàng Trung Thông đã tìm được một chỗ mới ở làng Thái Thủy, huyện Vũ Ninh. Phùng Quán lại xuống, có giấy của Võ Hồng Cương viết cho Hoàng Trung Thông, yêu cầu phải nhận Phùng Quán vào tổ vì Phùng Quán đã nhận khuyết điểm với ban chấp hành rồi.[21]

Những người tội nặng, bị đưa ra toà ngày 19/1/1960. Qua những bản tin về phiên toà này, đăng trên các báo tại Hà Nội tháng giêng năm 1960, do Lại Nguyên Ân sưu tầm và công bố mới đây trên Talawas, luận điệu các bài viết khá giống nhau:

“Ngày 19/1/1960, Toà án Nhân Dân Hà Nội đã xử vụ gián điệp có tổ chức do bọn Nguyễn Hữu Đang và Thụy An cầm đầu. Nhiều đại biểu các tầng lớp nhân dân Hà Nội đã tới dự phiên toà này. Bọn gián điệp bị đưa ra xử gồm năm tên: Nguyễn Hữu Đang, Lưu Thị Yến tức Thụy An, Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, Phan Tại và Lê Nguyên Chí”[22].

Chánh án: Nguyễn Xuân Dương. Hội thẩm: Nguyễn Tử Các và Phùng Bảo Thạch.

Vẫn theo bài báo trên: “Thụy An là một tên gián điệp lợi hại quốc tế (…) Năm 1956, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi nhập thành một nhóm (…) tháng 9/1956 xuất bản tờ Nhân Văn” (…) Nguyễn Hữu Đang và Thụy An lấy nhà Phan Tại làm một “câu lạc bộ” bí mật, tụ tập một số phần tử phản cách mạng (…) “Đến khi chúng thấy âm mưu và hoạt động của chúng bị bại lộ, chúng định trốn vào Nam để tiếp tục làm tay sai cho Mỹ-Diệm. Lê Nguyên Chí thú nhận: “Đang nói với tôi, Đang vào theo Mỹ-Diệm sẽ được chúng tin dùng và sẽ làm được những việc lớn”. Đang cùng Lê Nguyên Chí chuẩn bị trốn vào Nam”.

Toà đã tuyên án:

Nguyễn Hữu Đang, 15 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân; Lưu Thị Yến tức Thụy An, 15 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân; Trần Thiếu Bảo tức Minh Đức, 10 năm phạt giam, 5 năm mất quyền công dân; Phan Tại, 6 năm phạt giam, 3 năm mất quyền công dân; Lê Nguyên Chí, 5 năm phạt giam, 3 năm mất quyền công dân[23].

Phùng Cung bị bắt tháng 5/61. Bị giam 12 năm tù. Không có án. Trường hợp Phùng Cung sẽ được tìm hiểu trong phần viết về Phùng Cung.

Các giáo sư đại học Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, … bị cách chức và bị quản thúc. Cách đối xử với họ như thế nào, tư liệu chính thức không nhắc đến. Trong bài báo cáo tổng kết, có một đoạn Tố Hữu viết:

“Cho đến khi, dưới ánh sáng của nghị quyết Bộ Chính Trị, mở ra hai lớp học tập cho ngót 500 anh chị em văn nghệ sĩ, qua một cuộc đấu tranh kiên quyết thì mặt nạ của nhóm phá hoại “Nhân văn-Giai phẩm” mới hoàn toàn rơi xuống đất; và đồng thời, những sai lầm lệch lạc nghiêm trọng, nhất là tình trạng mất cảnh giác giai cấp trong văn nghệ sĩ, trong các đảng viên và cơ quan của Đảng cũng được vạch chỉ rõ ràng.

Cùng một lúc, qua cuộc học tập đấu tranh trong các trường Đại học, chủ yếu ở khoa Văn, khoa Sử, bọn tơ-rốt-kít Trương Tửu, Trần đức Thảo khoác áo giáo sư cũng phơi trần chân tướng[24]”.

Câu: “Cùng một lúc, qua cuộc học tập đấu tranh trong các trường Đại học…” của Tố Hữu, xác định sự kiện cùng lúc với hai lớp Thái Hà, dành cho văn nghệ sĩ, trong Đại học có các “lớp” khác, dành cho các giáo sư Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường…

Hiện nay, có rất ít tư liệu của các nhà trí thức NVGP viết về vấn đề này, nên không thể biết những gì đã xẩy ra cho họ, nhờ cuốn Un Excommunié – Kẻ bị khai trừ[25], trong đó giáo sư Nguyễn Mạnh Tường kể lại ông đã bị đưa ra “corrida – đấu trường” ba lần: đấu trường Mặt Trận Tổ Quốc, đấu trường Đại Học và đấu trường Đảng. Sau đó, ông hoàn toàn bị ly khai, không được tiếp xúc với người ngoài, không được dạy học, không cả dạy tư, rơi vào cảnh đói rét, bệnh tật. Về những biện pháp trừng phạt đối với toàn bộ văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên và quần chúng đã ít nhiều tham gia, đã đọc, đã mua báo, hoặc đã giúp đỡ, ủng hộ phong trào NVGP bằng cách này hay cách khác, hiện nay chưa có một ước lượng nào gần với sự thật.

Tháng 8/2010, Lê Hoài Nguyên tiết lộ trong bài Vụ Nhân Văn- Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành[26] một số thông tin quan trọng, chúng tôi xin trích lại sau đây những điểm chính:

“Tại các đợt học tập Chỉnh huấn tại các trường Sư phạm và Tổng hợp Hà Nội các Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trương Tửu, Trần Đức Thảo cũng bị đưa ra cho giáo viên và sinh viên đấu tố, bị miễn nhiệm thôi giảng dạy. Ngoài ra còn nhiều người khác cũng chịu kỷ luật như Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Cao Xuân Huy,… Một số sinh viên cũng bị kỷ luật như Bùi Quang Đoài (Thái Vũ), Văn Tâm, Phan Kế Hoành, Hà Thúc Chỉ (Thúc Hà)…

Một số trí thức là nhân sĩ đã có thái độ ủng hộ NVGP cũng chịu các hình thức đối xử như Vũ Đình Hòe, Đỗ Đức Dục, Hoàng Văn Đức, Đặng Văn Ngữ, Nguyễn Tấn Gi Trọng… Ngoài ra, tại các địa phương những giáo viên, cán bộ, học sinh có hưởng ứng NVGP mua báo NVGP đều bị xử lý với nhiều hình thức.

Trong vòng ba đến bốn tháng các văn nghệ sĩ đi cải tạo lao động tại các nhà máy, nông trường, hợp tác xã… Một số người phải cư trú lâu dài tại các địa phương như Hoàng Tố Nguyên, Nguyễn Bính, Hải Bằng, Trần Lê Văn, Nguyễn Khắc Dực…

Kết tội nhóm NVGP có 3 nguồn chính thức như sau:

– Nghị quyết 30 của BCTĐCSVN[27] ngày 6/1/1958 về việc chấn chỉnh công tác văn nghệ.

– Báo cáo tổng kết cuộc tranh đấu chống nhóm phá hoại Nhân Văn-Giai Phẩm của Tố Hữu tại Hội Nghị Ban chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam ngày 4/6/1958.

– Bản án của Toà án nhân dân Hà Nội ngày 19/1/1960 xử vụ gián điệp Nguyễn Hữu Đang, Thụy An.

NVGP không hoạt động gián điệp. Cái tội gọi là hoạt động gián điệp ở đây là sự gán ghép suy diễn buộc tội. Nguyễn Hữu Đang không liên quan gì đến những người Pháp còn ở Hà Nội. Còn Thụy An thì được một cơ quan giao nhiệm vụ nắm ý đồ của mấy người Pháp đối với tình hình Hà Nội lúc đó. Sau đó những lời báo cáo của bà trở thành chứng cứ buộc tội bà hoạt động gián điệp. Họ cũng không có tài liệu bí mật để chuyển giao cho cái gọi là cơ quan tình báo Pháp”.

● Thực chất hội nghị Thái Hà

Trong ba người bạn thân Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, ban đầu Trần Dần có vẻ rất cứng cỏi, nhưng trong lớp Thái Hà, dường như ông lại là người nao núng nhất. Sự nao núng này sống lại trong những trang nhật ký. Nhật ký, chủ đích là viết riêng cho mình, không cần giấu diếm, che đậy, nhưng trái lại, ngay trong nhật ký của Trần Dần, đã có màu sắc “hối cải”, giống như lời tự thú để đăng báo, viết cho “người khác” đọc, phản ảnh một Trần Dần đã thấm đòn, biết sợ, ông viết:

“Nhân Văn Giai Phẩm thế là đã đứng về phe tư bản chủ nghiã, phản đối xã hội chủ nghiã; hơn thế, lớp học trình bày sự thực, làm cho tất thẩy đều thấy rõ chân tướng bọn cầm đầu NVGP, đó là một công ty phá hoại bao gồm những kẻ phản cách mạng, đứa là phần tử Quốc Dân Đảng cũ (PhKhôi), đứa là mật thám trước (TDuy), đứa là tên bất mãn chống Đảng có lịch sử, đi đến chủ nghiã trotskisme (Nguyễn hữu Đang),… chúng ngoặc với bọn trotkistes Trương Tửu, TrầnđThảo, và với bọn gián điệp vẫn liên lạc với Sainteny, là Thụy An”[28]. Đó là những “nhận định” về người đồng hành, còn đây là “nhận định” về cái “tôi”:

“Tôi là cái gì?

Trước Cách Mạng, tôi là một thứ hổ lốn phản động của những tư tưởng tư sản địa chủ: hưởng lạc đến đồi trụy, hám danh to đến bệnh “vĩ đại cuồng”, vô chính phủ đến phá phách mọi trật tự, thoát ly đến rơi vào sinh hoạt sa đọa, và đi vào các trường phái nghệ thuật vị nghệ thuật, tượng trưng, lập thể, siêu thực… và vào triết học ru ngủ tối phản động của Bergson (…)

Tôi đã tự lừa dối (…)

Tôi đã tự lừa dối (…)

Tôi đã tự lừa dối (….)”[29]

Trần Dần là người duy nhất để lại ba trang nhật ký về giai đoạn Thái Hà, nhưng ông không dám viết gì về nội dung học tập, mà chỉ ghi lại những “kết quả” học tập và sự tự hối của mình sau “lớp nghiên cứu 2 văn kiện”.

Đến khi Lê Đạt trả lời phỏng vấn năm 1999 ở Paris, phát trên sóng RFI năm 2004, chúng ta mới biết rõ thực chất hai  “hội nghị” Thái Hà.

Trước hết, ông giải thích tại sao lại có hai lớp học khác nhau (lớp đầu tháng 2/56 và lớp sau tháng 3-4/56): “Lớp đầu tiên tổ chức cho các đảng viên (…) tức là người ta vận động các đảng viên khác phát hiện tất cả những tội của những đảng viên tham gia Nhân Văn Giai Phẩm đã đành rồi, nhưng còn để phát hiện cả những tội của những người chưa tham gia Nhân Văn, của quần chúng, vì vậy người ta phải làm trong buổi trước”.

Hình thức “học tập trước” các cách  “phát hiện tội” này, đã được dùng trong Cải Cách Ruộng Đất và Hoàng Văn Chí đã trình bầy rõ trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản và Nguyễn Mạnh Tường cũng mô tả trong tiểu thuyết Une voix dans la nuit, sẽ nói đến sau. Ở đây xin tiếp tục lời thuật của Lê Đạt. Và đây là diễn biến của lớp thứ nhì, với 304 người, trong tháng 3 và 4/56. Trước tiên, về không khí của “lớp học”, Lê Đạt kể:

“Không khí rất căng thẳng, tôi nói thế này để chị biết nó căng thẳng như thế nào: Văn Cao đã đi lớp trước rồi, lớp cho đảng viên hồi tháng 2, thì sau đó, họ cũng kéo tất cả trở lại lớp sau để đánh tiếp. Tôi xin nhắc lại: tức là trong lớp trước, họ học tập đảng viên phát hiện quần chúng, để họ đánh; nhưng bây giờ, ở lớp thứ hai này: quần chúng lại phát hiện trở lại, để nếu đảng viên có gì, họ lôi ra đánh tiếp luôn, chị có rõ ý tôi không? Thế thì tôi thấy Văn Cao -hôm ấy trời nóng- Văn Cao mặc áo sơ mi to phồng thế mà sau khi nó tố những khuyết điểm của Văn Cao, tôi thấy cái áo sơ mi cứ dính dần, dính dần, dính dần… toát hết cả mồ hôi, nó dính như một cái áo lót cơ mà… Ðấy, chị thấy không khí căng thẳng như thế nào”.

Về thực chất của “lớp học”, Lê Đạt cho biết:

“Ðây không phải là một cuộc học tập mà là một cuộc đấu tranh, nó khác hẳn các cuộc học tập khác. Trong những ngày đầu, người ta vạch tất cả “những tội” của những người trong Nhân Văn Giai Phẩm, ai nhớ được gì thì nói ra…, nó là một cái tụi… tố cáo nhau (…)Trong khi “học” như thế thì công an đi ra đi vào rất nhiều, mà đi một cách rõ ràng cho mình trông thấy chứ không phải người ta kín đáo gì! Sau khi tất cả mọi người đều đã “phát hiện các tội” của Nhân Văn xong rồi, thì mới đến lượt Nhân Văn, từng người một, nhận tội”.

Cuộc “đấu tranh” kéo dài hơn một tháng, theo Lê Đạt:

“Trong suốt một tháng ấy là cứ ngày nào, ngày nào cũng… lên phát hiện tội. Cứ phát hiện tội, tức là mình có gì thì mình báo cáo; còn người ta, người ta phát hiện tội của mình. Nó là một thứ đấu tranh đấy mà. Ðấu tranh rất gay gắt. Và lẽ dĩ nhiên, nói là cả lớp, nhưng người ta chỉ tập trung vào một vài người thôi, trong số đó có tôi cho nên vất vả lắm”.

Cách “phát hiện tội” như thế nào? Bằng miệng hay là ghi trên giấy? “Bị can” có quyền cãi khi lời “phát hiện” là bịa đặt hay không?

Lê Đạt trả lời: “Không! Không! Tất cả mọi người đều đứng lên phát hiện chứ. Phát hiện thì có thư ký ghi hết và bản thân mình cũng phải ghi. Rồi sau căn cứ trên cái phát hiện của người ta, mình về tổ, mình phát hiện cái khuyết điểm của mình, cái tội của mình và sau đó mình phải làm bài kiểm điểm rất dài về toàn bộ thời gian mà mình tham gia Nhân Văn. Người ta phát hiện, còn mình không được nói nữa. Ðông Tây người ta phát hiện ầm ầm, ầm ầm, làm sao mà mình có quyền, nhất là không được cãi gì”.

Về các văn bản “thú tội”, Lê Đạt cho biết đã được viết trong hoàn cảnh thế nào:

“Tức là như thế này: Bây giờ anh làm trong tổ, tổ thông qua bài khai của anh. Bài của anh lại phải đưa ra hội trường, hội trường thông qua thì anh mới được xong. Nếu không thì anh cứ việc tiếp tục lại. Viết xong, nhưng chưa thành khẩn, thì lại phải viết tiếp. Mình cứ phải viết tiếp, viết tiếp… mãi, mà mình chỉ có từng ấy ý thì làm sao viết thêm được mãi!”

Về việc bắt Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt kể:

“Trong lúc kiểm thảo như thế, thì người ta loan tin, người ta nói rằng: “Công an đã bắt Nguyễn Hữu Ðang!” Cái anh Ðang này cũng là người hoạt động mà sao dại dột thế! Ông ấy lại nhờ người mang một lá thư về Hải Phòng để bố trí cho ông ấy vào Nam. Thế là nó bắt được cái thư ấy. Vì chính người đưa thư ấy là người của công an. Thế là họ đồn ầm lên: “Sự liên hệ giữa Nhân Văn và bọn Mỹ Diệm là đã rõ ràng rồi. Nguyễn Hữu Ðang trong lúc không còn đường thoát nữa, liên lạc với trong ấy và chúng ta đã bắt được Nguyễn Hữu Ðang rồi, bắt vào ngày bao nhiêu, bao nhiêu”… Tất cả mọi người vỗ tay: Hoan hô! Hoan hô!… Tức là một sức ép rất ghê gớm.”

Về việc lao động cải tạo, Lê Đạt cho biết:

“Lúc đầu mới đi thì mình cũng lao động, cũng hăm hở. Mình hăm hở vì chắc là hai năm thì xong. Thế nhưng mà hai năm rồi cũng không thấy ai nói gì về vấn đề đó cả và lại tiếp tục hai năm nữa… rồi dần dần nó phai nhạt đi không ai nhắc đến chuyện đó nữa. Thì thời gian disponibilité -thời gian mà phải đi, lúc nào người ta gọi đi lao động cũng được- thời gian đó kéo dài 10 năm. Lẽ dĩ nhiên là trong 10 năm ấy, không phải lúc nào cũng đi. Người ta gọi đi, rồi người ta lại cho mình về; về rồi, họ lại kéo mình đi, nghĩa là trong 10 năm là thời gian mình phải dành cho việc đi lao động cải tạo. Thế còn sau này hết 10 năm thì ở nhà. Nhưng mà ở nhà thì… Tôi không ngờ nó kéo dài đến thế: cả thời kỳ đi lao động lẫn thời kỳ “cấm” là gần 40 năm chị ạ. Mình thấy nó đằng đẵng mà mình coi như là số mệnh thôi”.

“Lúc bấy giờ, nếu tôi không có sự cưỡng lại thì tôi là một người vứt đi, thành một cái giẻ rách. Tôi cho cái việc giẻ-rách-hóa-con-người đó, chính quyền phải chịu trách nhiệm”[30].

Ngày 10/12/1959, Trần Dần ghi trong nhật ký: “Sớm mai toà xử Thụy An gián điệp và Nguyễn Hữu Đang phá hoại, cả hai: hiện hành. Tôi không có giấy gọi cho dự (…) Người có một cái gì văng vắng. Tôi đã có đứng với nhóm Đang cầm đầu. Tôi đã ly khai với “lý tưởng” đó. Cả khi đứng ở đó, cả khi ly khai, cả bây giờ, tôi vẫn cứ rớm máu. Chao ơi! Con đường để đi đến chỗ “Đúng” mới nhiều máu làm sao? Tương lai có để dành cho tôi nhát dao nào nữa không? Đang đã thấy cái sai lớn của Đang chưa? (…) Ngoài trời mưa bụi. Rét xoàng. Không có gió. Đôi lúc vài tiếng chuông xe đạp. Năm nay rét muộn. Đang ra toà cuối năm. Tôi cũng không thể nào nhởn nhơ với sự kiện này. Chao ơi! Con đường để đi tới chỗ “Đúng” mới nhiều máu làm sao?”

● Biện pháp thanh trừng đối với trí thức

Các đấu trường khác

Un excommunié của Nguyễn Mạnh Tường thuật lại những nổi trôi của một người trí thức có lòng với đất nước, trong buổi đổi đời. Tác phẩm phản ảnh phong cách của một kẻ sĩ bất phục tòng, mô tả sự hèn mạt và tráo trở của những phường mũ mão cân đai và chứng minh thế nào là lòng yêu nước đích thực. Qua biện pháp kỷ luật mà nhà cầm quyền dành cho Nguyễn Mạnh Tường, chúng ta có thể đoán được chính sách đối xử với những nhà trí thức khác như Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Đào Duy Anh…

Sau Nhân Văn, Nguyễn Mạnh Tường đã trải qua ba “đấu trường”: Mặt Trận Tổ Quốc, Đại Học và Đảng. Tại mỗi đấu trường, ông phải trả lời về “tội trạng” của mình. Đấu trường đầu tiên là phòng họp của Mặt Trận Tổ Quốc ở phố Tràng Thi, được ông mô tả như sau:

“Tôi đã có nhiều dịp tới đây dự các cuộc họp, hồi tôi còn ở trong nhóm những người được sủng ái được ngồi bên cánh phải của Người. Tôi biết rõ tất cả các vị “đồng liêu” sẽ quyết định số phận của tôi hôm nay!

Lần này, tôi vào phòng họp như con bò mộng bị thả vào đấu trường. Đúng là một đấu trường bởi vì tất cả bàn ghế đã được xếp dẫy dọc tường, chừa một chỗ trống giữa phòng. Sau dẫy bàn, là đám đông nhiều hạng người. Những người ngồi là thành viên Mặt Trận, đứng là những kẻ hiếu kỳ, phần đông là nhà báo, hoặc các cơ quan hội đoàn. Đó là thứ quần chúng đấu trường, thèm cảm giác mạnh và sôi sục ham muốn thấy quang cảnh lạ lùng khó tả sắp diễn ra!

Như con bò mộng thả trong đấu trường, tôi đưa mắt nhìn một lượt cử tọa. Nếu những người đứng, trố mắt nhìn và lắng tai nghe, thì những vị “đồng liêu” của tôi ngồi sau dãy bàn, có vẻ ngượng nghịu với nhiệm vụ mà họ chưa quen lắm. Tuy những câu hỏi đã được các vị “có thẩm quyền” soạn sẵn, nhưng trong cách diễn tả, giọng họ có chút bối rối. Tôi không khỏi thương cho họ bị rơi vào hoàn cảnh trái khoáy này”[31].

Biết rõ bản lĩnh của mình, luật sư Nguyễn Mạnh Tường cảm thấy hoàn toàn thoải mái trong việc tự biện hộ, ông nắm chắc phần “thắng” trước những đối thủ tầm thường, đuối lý, không đáp lại được những lời hùng biện của người luật sư đầy kinh nghiệm.

 Ngày hôm sau, đấu trường Đại học diễn ra trong không khí công cộng, mọi hạng người đều có thể tham dự. Hàng ngàn sinh viên, nhân viên trong đại học, nhà báo, những kẻ hiếu kỳ, bọn lang bang, đến kín chật hành lang, giảng đường, muốn dự kiến buổi “xử tử một trí thức nổi tiếng ở Hà Nội”. Lần này quan toà không ngồi bàn, mà thay phiên nhau bước lên giảng đàn. Nếu bên Mặt Trận Tổ Quốc còn có chút nể mặt ông, chưa làm quá lộ liễu, thì ở đây, ông thấy rõ:

“Người ta muốn kéo tên tôi xuống bùn đen, họ muốn chỉ rõ tội ác của tôi để biện minh trước cho sự trừng phạt mà họ sẽ dành cho tôi. Và đồng thời, để răn đe tầng lớp trí thức, để cải tạo họ, bắt họ tuân thủ vô điều kiện những mệnh lệnh và quyết định của đảng, theo đúng đường lối chính thống cộng sản. Tất cả mọi vi phạm vào nguyên tắc thần thánh này sẽ bị trừng phạt nghiêm ngặt, dù cho thủ phạm đã có công lớn như thế nào đối với tổ quốc và cách mạng.

Dưới chân giảng đàn mà tôi đã trải qua những giây phút đẹp nhất cuộc đời, tôi được thấy những điều tồi tệ nhất. Tôi thấy, không những người ta muốn trừng phạt tôi -xin lỗi- cải tạo tôi, mà còn hơn nữa: họ muốn dìm tôi xuống địa vị một phạm nhân dưới chân cái bục mà thời vàng son tôi đã đứng, bắt tôi nghe những lời thoá mạ mỉa mai cay độc của những kẻ không phải là đồng song với tôi như ở Mặt Trận mà là những đứa nhãi ranh không biết lượm được ở đâu, một vài kẻ hình như đã học tôi.[32]”

Những lời đấu tố thô bỉ người thày, không được Nguyễn Mạnh Tường nhắc lại, ông chỉ ghi lại cuộc tranh luận của ông với một sinh viên học trò cũ và một nhà giáo trung học nhờ chạy chọt, được lên dạy đại học, vì những vấn đề họ đưa ra, có chỗ đáng bàn. Và ông vẫn vận dụng kiến thức của mình để thuyết giảng. Ông thấy mình như đã chiếm được cảm tình của số đông cử tọa, qua ánh mắt của họ.

Đấu trường Đảng xẩy ra trong không gian kín, không có quần chúng tham dự. Có lẽ người ta thấy bất lợi khi đưa ông ra trước công chúng: không những ông không bị bôi nhọ mà dường như ông còn được quần chúng ủng hộ. Trong đấu trường thứ ba này, Nguyễn Mạnh Tường phải trả lời ba vị quan tòa về Thái độ của người trí thức trong thế giới cộng sản. Câu hỏi chính đặt ra trong buổi thẩm vấn là: Sau chín năm theo cách mạng, đồng chí đã gặt hái được những thành quả không nhỏ và được sự trọng đãi của Đảng và nhà nước, thay vì hưởng thụ những đặc quyền mà Đảng đã dành cho, tại sao đồng chí lại đứng lên chống Đảng? Và đây là lời vấn đáp cuối cùng giữa người hỏi cung và Nguyễn Mạnh Tường, trong buổi đối chất trước toà án Đảng:

“Đồng chí không thể không biết những gì đang chờ đợi. Nhà nước chỉ chấp nhận một thái độ duy nhất của trí thức. Đó là thái độ theo đúng đường lối chính thống, tin vào Đảng, trung thành với Đảng, suy nghĩ, cảm nhận, hành động, theo chiều hướng và cung cách mà các cấp lãnh đạo đã quy định. Bất luận kẻ nào đi ra ngoài con đường này là bị rơi vào tà thuyết và sẽ bị trừng trị như những kẻ phản động bán nước. Đây là cơ hội cuối cùng để đồng chí hối cải về sự cả gan và bất cẩn của đồng chí. Hãy nắm lấy!”

Nguyễn Mạnh Tường trả lời:

“Mỗi người chịu trách nhiệm về hành động của mình. Nếu xã hội, tức là nhân dân, đạt tới một trình độ văn hoá cao, có mức nhận thức trong sáng, thì những cả gan của một tư tưởng khác với đường lối chung sẽ không bị trừng phạt, mà ngược lại sẽ được khuyến khích, bởi sự tiến bộ của dân tộc tùy thuộc vào những cả gan này. Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng không bao giờ số đông quần chúng có thể khai quang được một lối đi trong rừng rậm của dốt nát, thành kiến, hèn hạ, để tiến lên một bước về phía ánh sáng mặt trời. Trong thành Athènes, kinh đô của hiền triết, Socrate đã phải uống cạn cốc độc cần, để lại bài học cho những trí thức trên thế giới suy nghiệm và noi theo: người trí thức phải giữ vai trò tiên phong, hướng đạo trên con đường khó khăn và nhọc nhằn, để dẫn dân tộc đến niềm vui và hạnh phúc.

Nước ta đã phải chứng kiến sự thâm nhập của một chủ nghĩa ngoại bang hoàn toàn không bắt rễ từ quá khứ dân tộc. Bao nhiêu nhà ái quốc lớn mà mọi người đều kính phục đã bảo vệ, đã bênh vực, đã bảo trợ cho chủ nghiã này, họ đã đưa nó ra rồi bắt dân chúng phải thừa nhận, bằng cách hứa hẹn nó là chìa khoá mở cửa vào thiên đàng trần thế. Quần chúng tin vào lời nói của lãnh đạo và chờ đợi sự thực hiện những lời hứa. Chính nhờ vào sự đồng tình, vào những cố gắng, những hy sinh của của toàn dân mà đất nước đã giành được độc lập và tự do. Những cánh tay làm việc và những cái đầu suy nghĩ đã là rường cột cho đảng cầm quyền.

Bất hạnh thay, con đường chúng ta đi không bọc nhung. Hợm mình trước những chiến công hiển hách mà họ tưởng đã đạt được nhờ chủ nghiã mác-xít, những người lãnh đạo đã xây dựng nền móng và áp dụng sâu rộng hơn chủ nghiã này trong tất cả các ngành, không cần đếm xỉa đến khoa học và thực tế, tuy vẫn hô hào kính trọng giáo dục. Cuộc Cải Cách Ruộng Đất đưa đến những sai lầm nghiêm trọng mà những người cầm quyền phải chịu trách nhiệm. Sự đói khổ của nhân dân đã đến mức khốc liệt, vậy mà những kẻ trách nhiệm vẫn khoác lác rêu rao những điều ngược lại.

Trước bi kịch này, thái độ của trí thức phải thế nào? Có kẻ bịt mắt đút nút lỗ tai để đồng thanh phụ họa với bọn cơ hội và phỉnh nịnh, luôn miệng kêu gào: “Cộng Sản thắng lợi. Đảng Cộng Sản muôn năm”. Những kẻ này hy vọng được ân sủng đến ba đời. Công chúng biết rõ và khinh họ. Nhưng những khối óc biết nghĩ và và những trái tim yêu tổ quốc và dân tộc không thể nhẫn nhục chịu đựng -trong im lặng và thụ động- những cay đắng của khát vọng không thành và những giấc mơ bị chà đạp. Họ lên tiếng tố cáo những sai lầm và đề nghị những biện pháp sửa đổi. Họ được cám ơn bằng những cú roi quất, bằng tù tội suốt đời, họ bị kết tội phản đảng, phản cách mạng, là kẻ thù của nhân dân! Sự an ủi duy nhất của họ là được quần chúng hiểu, ái ngại, nhưng không làm gì cho họ được. Họ phải đợi sự phán đoán của Lịch sử”.

Và ông viết tiếp:

“Không một lời tuyên án. Những người cộng sản ưa bí mật. Lệnh được quyết định và thi hành trong yên lặng chết chóc. Công chúng không biết gì cả: bí mật được giữ trọn để khỏi khơi lên những tình cảm vô ích, những xao động đáng tiếc! Họ đã tiên đoán tất cả và hành động kịp thời![33]”

Ba đấu trường. Không có án. Nguyễn Mạnh Tường đã phải xuyên qua hơn ba mươi năm sa mạc từ 1958 đến 1990. Bị khai trừ khỏi đại học. Chiếc xe đạp đi dạy bị lấy lại. Không được mở lớp dạy tư để kiếm tiền. Phải bán dần đồ đạc trong nhà. Sống trong đói khát. Bệnh tật. Bạn bè xa lánh. Người quen đổi vỉa hè.

Nhưng trong đêm khuya tăm tối vẫn có những đốm lửa lóe lên:

“Thỉnh thoảng, sáng thức dậy mở cửa tôi thấy ai đã nhét vào kẽ cửa một phong bì đầy tiền. Chúng tôi cảm động rơi nước mắt, tuyệt vọng vì không thể cám ơn ân nhân được bởi có biết họ là ai. Hay có những hôm tôi đi dạo lúc trời nhá nhem. Luôn luôn vẫn có cớm theo dõi đằng xa. Bỗng một chiếc xe đạp đạp rất nhanh, sát bên tôi, nhét vào tay tôi một phong bì hay một gói nhỏ rồi biến mất. Tất cả chỉ trong nháy mắt.[34]”

Những đốm lửa hy vọng đó đã nuôi sống nhà trí thức trong suốt cuộc đời còn lại.

[1] Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè. 

[2] Trên Văn số 15, ra ngày 16/8/1957.

[3] Theo Hoàng Cầm có Huy Cận, Lưu Trọng Lư. Theo Lê Hoài Nguyên có Tố Hữu, Huy Cận, Hà Xuân Trường. Ở đây, chúng tôi dùng thông tin của LHN.  

[4] Trích bài Cái ổ chuột “Nhân Văn Giai Phẩm” bị vạch trần trước ánh sáng của dư luận, in trong BNVGPTTADL, nxb Sự Thật, Hà Nội, 1959, trg 309-310.

[5] Bàng Sĩ Nguyên là người đã viết những dòng vô cùng nhơ bẩn về Thụy An, được đăng lại trong BNVGPTTADL. 

[6] Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè.  

[7] Tức là Ánh sáng xã hội chủ nghiã.

[8] Những chữ in đậm trong bài “Ý nghĩa một cuộc đấu tranh trong văn nghệ” của Tố Hữu, được trích dẫn ở đây, là theo đúng nguyên văn.

[9] Tố Hữu, Ý nghĩa một cuộc đấu tranh trong văn nghệ”, Học Tập số 4, tháng 4/1958.

[10] Nguyễn Đình Thi, Chống chủ nghiã xét lại trong văn nghệ, Học Tập số 3, tháng 3/58.

[11] Văn Nghệ Quân Đội, số 6, tháng 6/58.

 [12] Hồng Cương, Bọn phản bội Trần Dần-Hoàng Cầm-Tử Phác, Quân Đội Nhân Dân số 437, ra ngày 11/4/1958.

[13] In trong cuốn BNVGPTTADL mà chúng tôi đả trích dẫn ở trên.

[14] BNVGPTTADL, trang 310.

[15] Báo chuyên nghị luận, số 1 ra ngày 10/12/ 56, do Minh Đức xuất bản, vừa phát hành đã bị tịch thu.

[16] Sách Tết cùng hình thức với Giai Phẩm do Minh Đức in đầu năm 1957.

[17] Lê Hoài Nguyên, bđd, website nguyentrongtao.com 06/08/2010.

[18] Lê Nguyên Chí là người đưa đường cho nhóm Nguyễn Hữu Đang trốn vào Nam, nhưng Hoàng Cầm cho là người của công an trá hình. Con trai ông có viết bài thanh minh cho cha.

[19] In trên mạng Talawas ngày 3/2/2010.

[20] Trần Đức Hinh, Tẩy sạch nọc độc của chủ nghĩa xét lại trong việc giới thiệu, phê bình phim ảnh, Điện Ảnh số 14, ngày 1/5/58, tài liệu Lại Nguyên Ân.

[21] Theo băng ghi âm Hoàng Cầm nói chuyện với bạn bè.   

[22] Trích bản tin báo Nhân Dân, Hà Nội, 21/01/1960, tài liệu Lại Nguyên Ân.

[23] Trích bản tin của báo Nhân Dân, bđd.

[24] Tố Hữu Nhìn lại 3 năm phá hoại của nhóm Nhân Văn- Giai Phẩm, in trong BNVGPTTADL, trang 34-35.

[25] Nxb Quê Mẹ, Paris, 1992.

[26] Lê Hoài Nguyên tên thật Thái Kế Toại, nguyên Đại Tá công an, công tác văn hoá tại A25, chuyên theo dõi văn nghệ sĩ, bài đăng trên mạng nguyentrongtao từ 6/8/2010.

[27] Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

[28] Nhật ký Trần Dần ghi, Phạm Thị Hoài biên soạn, trang 239-240.

[29] Trần Dần ghi trang 240-241.

[30] Tất cả những trích đoạn trên đây đều rút ra từ Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI.

[31] Trích dịch Un Excommunié, trang 151-152.

[32] Trích dịch Un Excommunié trang 173-174.

[33] Un Excommunié, trang 226- 229.

[34] Un Excommunié, trang 335.

Chương 8

Thụy An

(1916-1987)

 

Thụy An là khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc bên trong.

Thụy An là ai?

Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong  “hàng ngũ phản động”, bị quy kết là “gián điệp quốc tế”, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang. Những lời thoá mạ nhơ bẩn nhất dành cho bà “Con phù thủy xảo quyệt” cùng những lời lẽ độc địa nhất: “Như vắt ngửi thấy máu, Thụy An như rắn bò tới các câu lạc bộ Hội Nhà Văn phun nọc độc mạt sát chế độ ta bần cùng hoá nhân dân”[1].

Tại sao lại có sự căm thù ghê gớm đối với nhà thơ, nhà văn, nhà báo phụ nữ tiên phong của Việt Nam? Người đầu tiên thực hiện nữ quyền bằng ngòi bút và hành động. Người chủ trương giải phóng phụ nữ không bằng lý thuyết mà bằng việc làm. Người xác định vị trí phụ nữ như một công dân tự do, thấm nhuần tinh thần dân chủ.

Đáng lẽ bà phải có chỗ đứng xứng đáng trên văn đàn, bởi bà chủ trương các tờ Đàn Bà Mới, tại Sài Gòn, từ 1934, và Đàn Bà, tại Hà Nội, 1937. Bà là nhà văn nữ tiên phong với tiểu thuyết Một linh hồn, 1942. Nhưng cho đến nay, chính quyền cộng sản chưa hề trả lại cho bà phần danh dự bị bôi nhọ trong hơn nửa thế kỷ, với những lời nhục mạ tàn nhẫn, một cái án 15 năm phi lý, và cho đến chết bà vẫn chưa hề được phục hồi danh dự.

Để tìm hiểu về Thụy An con người và tác phẩm, chúng tôi đã liên lạc với hai con bà, ông Bùi Thụy Băng, nguyên chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Atlanta Việt Báo, Hoa Kỳ, bà Bùi Thư Linh, Paris, và sử dụng bản tiểu sử Thụy An do Trinh Tiên -bạn thân của Thụy An- viết ngay sau khi Thụy An qua đời năm 1987, nhưng đến 1998, gia đình mới nhận được, đăng trên Atlanta Việt Báo Xuân Ất Dậu, 2005.

Thụy An, còn có bút hiệu Thụy An Hoàng Dân, tên thật là Lưu Thị Yến, sinh năm 1916 tại Hà Nội, là con ông bà Lưu Tiến Ích và Phùng Thị Tôn, quê gốc làng Hoà Xá, quận Vân Đình, tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ học trường Hàng Cót, Hà Nội. Năm 1929, 13 tuổi, Yến đã có thơ đăng trên Nam Phong. 1932, 16 tuổi, được giải thưởng văn chương của Triều đình Huế. Năm 1934, 18 tuổi, Thụy An kết hôn với Bùi Nhung, nhà văn kiêm nhà giáo, bút hiệu Băng Dương, em ruột học giả Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim, sinh 7 con, một người mất sớm: An Dương (1934), Thụy Băng (1937), Thư Linh (1938), Dương Chi (1939), Ngọc Trinh (1943) và Châu Công (1945). Ông Bùi Nhung hai lần làm giám đốc đài phát thanh Hà Nội từ 1948-49, và 1951-52, rồi giám đốc đài phát thanh Hải Phòng năm 1954[2].

Năm 1934, 18 tuổi, Thụy An bắt đầu nghề báo, cùng chồng lập tuần báo Đàn Bà Mới ở Sài Gòn. 1937, bà ra Hà Nội chủ trương tờ Đàn Bà. Trong chiến tranh Việt-Pháp, Thụy An là phóng viên chiến tranh, tham dự nhiều cuộc nhảy dù ra mặt trận để cung cấp tài liệu cho báo chí.

1954, bà giữ chức quyền giám đốc Việt Tấn Xã.

Thụy An-Băng Dương sống ly thân từ 1949, nhưng không ly dị vì cả hai đều theo đạo công giáo. Bà có quan hệ mật thiết với ông Đỗ Đình Đạo, một nhân vật quan trọng của Quốc Dân Đảng. Đỗ Đình Đạo được coi như người chồng thứ nhì. Thụy An và Đỗ Đình Đạo chia tay năm 1952. Nhưng đến 1954, khi Đỗ Đình Đạo bị đầu độc chết, dư luận buộc tội bà giết chồng, và chính những lời vu cáo này, sẽ được thổi phồng và sử dụng chống bà sau 1954.

Về biệt hiệu Thụy An Hoàng Dân, Bùi Thụy Băng giải thích: Phan Khôi và Thụy An là hai người bạn vong niên từ lâu. Thụy An kém Phan Khôi 29 tuổi. Biệt hiệu Chương Dân của Phan Khôi ngày trước và Hoàng Dân của Thụy An sau này, cùng để tưởng niệm đến một người anh hùng, có tên Chương Hoàng Dân hay Hoàng Chương Dân.

● Tác phẩm

Thụy An là nữ tiểu thuyết gia duy nhất được Vũ Ngọc Phan lựa chọn trong bộ Nhà văn hiện đại, với tác phẩm Một linh hồn, xuất bản 1943. Trong bài phê bình dài dành cho tác phẩm Một linh hồn, Vũ Ngọc Phan nhận định: “Là một nhà thơ, nhưng bà là người đi tiên phong trong địa hạt tiểu thuyết với cuốn Một linh hồn” và ông kết luận “Một linh hồn cũng đáng kể là cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay, tác giả đã giàu tưởng tượng, truyện lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn”.

Về cuốn tiểu thuyết thứ nhì, Bốn mớ tóc (1952), Trinh Tiên nhận xét: “Đây là tập truyện gồm nhiều đoản tác: “Một thương”, “Bà mẹ”, “Cô con”, “Mớ tóc”… Tác giả cố ý nêu cuộc sống dân tộc trong buổi giao thời, mọi sinh hoạt đan che nhau giữa mới và cũ. Điển hình như một mái tóc phụ nữ. Cổ thì để dài vấn trần hoặc vấn khăn búi tó; mới thì cắt ngắn hoặc uốn quăn”[3].

Truyện ngắn của Thụy An in trên các báo hàng ngày tại Hà Nội. Một vài truyện được in lại như:  Giết chó[4]; phần lớn chưa tìm lại được: Chiếc cầu chân chó; “Les vingt cinq meilleures histoires du monde – Hai mươi lăm truyện hay nhất thế giới”  do Hội Văn Bút Quốc Tế in khoảng 1954-55; một cuốn sách viết về gia đình, gửi một tờ báo ở San José in năm 1985; truyện Vợ chồng…

Lại Nguyên Ân sưu tầm được một số bài của Thụy An trong thời kỳ NVGP, đã công bố trên Talawas, gồm: tiểu luận phê bình Nhân xem phim “Anh gắng nuôi con” đặt lại vấn đề Tân hiện thực[5]; truyện ngắn Chuyện bố, mẹ, bé và con búp bê[6]; thơ Chiếc lược[7]. Trong thời kỳ NVGP, bà in một tập truyện ngắn, theo bài buộc tội của Vũ Đức Phúc, trong có những truyện như: Trường hợp tòng quân của thiếu úy Lâm, Bích-xu-ra…

● Thơ văn sáng tác trong tù

Trong bài “Thụy An, mẹ chúng tôi” bà viết cuối 1988, sáu tháng trước khi mất, dùng giọng các con để viết về mình, bà có nói đến việc sáng tác trong tù: “Bên cạnh cái án đó là nỗi đau khổ của một người mẹ lìa xa con cái 30 năm trời, chưa hề biết mặt 17 đứa cháu nội, ngoại, cũng chưa được ẵm đứa chắt đầu tiên vừa mới ra đời. (…) Lại cũng cần phải nói ngay, không vì bị 15 năm mất tự do và treo bút vô thời hạn mà Mẹ chúng tôi phải “tìm tự do”, tìm “đất sống” cho những thứ mình viết ra hầu hết trong thời gian bị tù [8].

Khởi sự bị giam cầm, Mẹ chúng tôi trong một thời gian ngắn có bị khủng hoảng tinh thần trước tai biến bất ngờ quá ư to lớn đối với một người đàn bà. Song Mẹ chúng tôi đã kịp thời trấn tĩnh lại, nhận tai biến như một cái Nghiệp (…) Mẹ chúng tôi coi tai biến như một cái giá phải trả cho cho sự may mắn được làm người, mà lại làm người Việt Nam có một thứ ngôn ngữ “đẹp nhất trần đời”, dễ học nhất thế giới, có sức diễn đạt truyền cảm, thẩm thấu suốt tâm hồn dân tộc đến nỗi:

Một người mẹ không biết một chữ A,

Cũng biết hát những lời thơ hay nhất[9]

(…) Từ ngày anh em chúng tôi biết đọc, Mẹ chúng tôi vẫn tự hẹn sẽ kể cho các con nghe những chuyện cổ tích Việt Nam để khối óc trinh tuyền của con cái được thâm nhập ngay tính nhân hậu, hiền hoà, thơ và mộng, trí và dũng của dân tộc… Thời kỳ mẹ chúng tôi có ý định này, vào thập niên 30-40, chính là thời kỳ văn học Việt Nam đang tiến lên hiện đại hoá cả hình thức lẫn nội dung, một sự tất yếu phải nhiệt liệt đón chào. Chỉ tiếc một điều, trên con đường hiện đại hoá, những vốn cổ dân tộc: Trê Cóc, Lục Súc Tranh Công, Vợ Cóc, Vợ Tranh, Châu Long, Tô Thị, v.v… bị lãng quên…

Thế rồi suốt 20 năm sau, cuốn vào thời cuộc thế giới, của đất nước và nghề báo chí, Mẹ chúng tôi chưa thực hiện được ý định. Phải đợi vào nhà tù Cộng sản, Mẹ chúng tôi mới khởi công làm cái việc tha thiết nhất một đời.”[10]

Như vậy, những sáng tác trong tù của bà có thể rất phong phú, ngoài 16 truyện cổ tích Việt Nam viết bằng thơ, bà vừa nhắc đến, nói lên chí khí và tâm sự của mình mà bà coi như tập “Nhật ký trong tù”, còn có tiểu thuyết và biên khảo. Thơ của bà cũng trong tình trạng tứ tán thất lạc. Theo Trinh Tiên: “Thụy An sáng tác thơ cũng rất nhiều, phần đăng rải rác trên các báo, phần vẫn còn trong bản thảo. Bài thơ trường thiên tựa đề “Sao lại mùa thu”. Rồi như bài “Ân thiên nhất đẳng” tặng Thái Bằng có giọng ca thiên phú độc đáo…” Về các sách chưa xuất bản, Trinh Tiên nhắc đến 2 cuốn tiểu thuyết: Người lãnh tụ, Phiên chợ trời Đanh Xuyên, và 2 cuốn biên khảo: Bùi Thị Xuân và Vợ chàng Trương, có lẽ đó những sách bà đã viết trong tù, không biết bây giờ thất lạc ở đâu.

● Những lời buộc tội

Trong những lời buộc tội, có hai loại: loại vô bằng chứng kiểu “gián điệp quốc tế”, “tay sai Mỹ-Diệm”… là những công thức có sẵn, không cần bàn đến. Loại thứ nhì dựa trên một vài sự kiện có thực rồi khuếch trương lên, đã tác hại lên danh dự của Thụy An. Loại này xoay quanh ba dữ kiện:

1- Bà quen nhiều người Pháp.

2- Bà di chuyển thường xuyên trên trục Nam-Bắc.

3- Người ta đồn bà giết ông Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân của VNQĐD, để tỏ “lòng trung thành” với cách mạng.

Xuân Dung viết:

“Hồi Hà Nội tạm chiếm, nó bỏ Băng Dương, hiện nay là tay chân “đắc lực” của Mỹ-Diệm, và lấy Đỗ đình Đạo (một tên Quốc dân đảng đã từng chống lại chính quyền dân chủ nhân dân và tàn sát đồng bào ta ở Vĩnh Yên, Phúc Yên hồi Cách mạng tháng Tám). Lúc này tên phản quốc Đạo đang chỉ huy những đội “quân thứ hành chính lưu động” của Pháp chuyên đi càn quét các vùng. Và nó được Đạo nâng đỡ, cất nhắc lên chức quyền Giám đốc Việt Tấn Xã của ngụy quyền. Một tờ báo xuất bản thời ngụy quyền, ra ngày 8/8/1954 có viết: “Thường thường bà Thụy An đi lại trên đường hàng không Hà Nội-Sài Gòn nhiều lần và hành tung bí mật như đời sống riêng của bà…”

Hành tung của con mẹ phù thủy ấy là đi máy bay dự các cuộc nhảy dù và ra khắp các mặt trận để cung cấp tin tức cho nhiều đài và báo địch; còn đời sống riêng là luôn luôn ra vào buồng những thằng Tát-xi-nhi, Cô-nhi… Cuối 1953, nó liên lạc chặt chẽ với tụi tơ-rốt-kít Hồ hữu Tường và cổ động tích cực cho báo Đông Phương với nội dung tuyên truyền thuyết “trung lập chế” (trung lập hay chính là tay sai cho đế quốc?).

Trước hoà bình lập lại ít ngày, đùng một cái, người ta nghe tin Thụy An giết Đỗ đình Đạo; mà lúc đó có tờ báo trong Hà Nội đã nêu lên với một đầu đề lớn “Tiền, tình hay chính trị”. Vì gì thì vì, có điều nhất định không vì chế độ dân chủ nhân dân của chúng ta rồi! Đỗ đình Đạo tên trùm GAMO (quân thứ hành chính lưu động) vừa bị giết được hai ngày, có người (hiện đương ở Hà Nội) lại trông thấy Thụy An ngồi chung xe với tên tướng giặc Cô-Nhi, ấy là chưa kể còn có tin nó vào Sài Gòn rồi lại trở ra Hà Nội, 1 tháng trước khi tiếp quản.

Giải phóng thủ đô, nhiều người lạ lùng vì sự có mặt của con này. Riêng cái việc xuống Hải Phòng khi ta chưa tiếp quản, rồi lại về Hà Nội một cách đàng hoàng cũng đủ cho chúng ta suy nghĩ (…) Việc đầu tiên là luôn luôn lấy việc giết Đạo để tỏ lòng “trung thành” với cách mạng”[11].

Cách viết trên đây rất thâm độc: tác giả dựa vào một vài sự kiện có thật như việc Thụy An hay ra vào Nam Bắc, và cái chết bí mật của Đỗ Đình Đạo, được báo chí loan tin, để tạo cho người đọc cái cảm tưởng là mọi việc có thật; nhưng lại chêm vào những chữ: nghe tin, có người trông thấy, ấy là chưa kể… để chứng tỏ mình -người viết- vô can. Không kể những điểm vô lý như: Nếu ông Đạo là trùm GAMO của Pháp thì tại sao Thụy An lại không bị Pháp bắt, vì giết Đỗ Đình Đạo, mà lại đàng hoàng đi xe với tướng Cogny? Việc bà “luôn luôn lấy việc giết Đạo để tỏ lòng trung thành với cách mạng” thật đáng ngờ, vì trong những phát biểu của Thụy An, cho đến lúc chết, chưa bao giờ bà “tỏ lòng trung thành với cách mạng”.

Tất cả những lời đồn đại ác ý làm cho bà bị mang tiếng “giết chồng”, và nhiều người tin và xác định như là sự thật, ví dụ sau này trong bài “tự thú”, Phùng Quán viết “tôi có biết Thụy An trước đây đã giết chồng” và cả Lê Đạt cũng viết “lúc đầu rất ghê tởm Thụy An”.

Tiếng oan giết chồng là bi kịch đầu tiên của Thụy An.

Lê Hoài Nguyên, nguyên Đại Tá công an, công tác tại A25, chuyên theo dõi văn nghệ sĩ và văn hoá, cho biết:

“NVGP không hoạt động gián điệp. Cái tội gọi là hoạt động gián điệp ở đây là sự gán ghép suy diễn buộc tội. Nguyễn Hữu Đang không liên quan gì đến những người Pháp còn ở Hà Nội. Còn Thụy An thì được một cơ quan giao nhiệm vụ nắm ý đồ của mấy người Pháp đối với tình hình Hà Nội lúc đó. Sau đó những lời báo cáo của bà trở thành chứng cứ buộc tội bà hoạt động gián điệp. Họ cũng không có tài liệu bí mật để chuyển giao cho cái gọi là cơ quan tình báo Pháp”[12].

● Gia cảnh Thụy An và cái chết của Đỗ Đình Đạo

Trong một điện thư gửi cho chúng tôi, ông Bùi Thụy Băng cho biết hoàn cảnh gia đình: “Là đứa con trai thứ nhì, tôi là người gần mẹ tôi nhất vì từ năm 1943 trở đi mẹ tôi bệnh tật luôn luôn. Mới 6 tuổi tôi đã trông nom mẹ tôi. Anh cả tôi là Bùi An Dương bị bệnh hen suyễn từ khi mới sinh ra nên rất yếu đuối và mẹ tôi đã cho anh An Dương khi chưa đầy một tuổi, làm con nuôi ông bà Trần Trọng Kim (cụ Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim là anh, chị ruột của ba chúng tôi)”[13].

Trong cuộc nói chuyện điện thoại ngày 17/10/2009 tại Paris, bà Bùi Thư Linh trả lời những câu hỏi của chúng tôi:

– Thụy An và Băng Dương ly thân từ năm 1949. Tại sao?

– Vì cha tôi không trung thành, ông có nhiều bà khác.

– Sau khi ly thân, ai nuôi các con?

– Mẹ nuôi các con, nhờ bà ngoại giúp đỡ và bác (gái) Trần Trọng Kim cho vay tiền, nhưng mẹ vất vả lắm.

– Khi nào thì gia đình vào Nam?

– Năm 1952, đi bằng tàu thủy. Mẹ thường đi về đường Sài Gòn – Hà Nội bằng máy bay, nhưng vé máy bay cả nhà đắt lắm. Mẹ mua vé tàu thủy cho các con, nhờ người cậu dẫn vào Sài Gòn.

– Đến 1954, Bùi Thư Linh (16 tuổi) đi Pháp, tại sao?

– Tôi bị bệnh lao xương, Mẹ gửi tôi đi Pháp chữa bệnh ngày 20/5/1954.

– Gia đình túng thiếu, lấy tiền đâu ra?

– Đi theo diện Pupille de la Nation (Nghiã tử Quốc gia), chính phủ Pháp lo hết[14].

Chúng tôi cũng đã đặt câu hỏi với ông Bùi Thụy Băng qua điện thoại 16/12/2004, và sau đây là những câu trả lời:

– Tại sao Thụy An đem gia đình vào Sàigòn năm 1952?

– Vì ông Đỗ Đình Đạo[15].

– Tại sao Thụy An đã vào Sài gòn năm 1952, lại còn trở ra Hà Nội năm 1954, trước ngày tiếp quản?[16]

– Từ 1952, Thụy An đã vào Nam, tại vì ông Đỗ Đình Đạo. Ông Đỗ Đình Đạo là Giám Đốc Quân Thứ Lưu Động của Việt Nam Quốc Dân Đảng từ 1950 đến 1954. Ông Đỗ Đình Đạo còn là bạn thân của ông cụ tôi, trước khi mất, ông vẫn còn liên lạc với ông cụ tôi. Sau trận Điện Biên Phủ, ông Đỗ Đình Đạo có lệnh của VNQĐD, phải ở lại Hà Nội để chống Việt Minh. Nhưng mẹ tôi không biết chuyện đó. Nửa tháng trước khi Việt Minh tiếp thu Hà Nội, tôi (lúc đó 17 tuổi) đưa bà cụ ra phi trường Sài Gòn để đi Hà Nội. Bà cụ tôi ra Hà Nội vì tưởng rằng ông Đỗ Đình Đạo đã đi (Nam) rồi. Bà cụ tôi nghĩ rằng ông ĐĐĐ không còn ở Hà Nội”.

– Thụy An ra Hà Nội với mục đích gì?

– Bà cụ tôi ra Bắc, với hai mục đích:

– Về quê mình để thu thập tất cả những gì quý báu nhất trong nhà ông ngoại tôi.

– Thứ nhì, bà cụ tôi muốn đặt cái bản doanh chống lại chính quyền ở Hoà Xá[17].

Nhờ những chi tiết trên đây, cuộc đời Thụy An sáng tỏ hơn: người phụ nữ ấy làm nghề báo nuôi 6 con; là phóng viên chiến tranh, cương vị quyền giám đốc Việt Tấn Xã, bà vào Nam ra Bắc thường xuyên; bà quen biết những người như Sainteny, đại sứ, các tướng Tassigny, Cogny, cũng nhờ họ, bà xin được cho con gái sang Pháp chữa bệnh lao xương. Nhưng cũng chính vì việc con gái sang Pháp với diện Pupille de la Nation mà sau này trong vụ án NVGP, bà lại càng bị quy kết làm “gián điệp” cho Pháp. Về phiá chính quyền cộng sản, xin nhắc lại lời Lê Hoài Nguyên: “Thụy An thì được một cơ quan giao nhiệm vụ nắm ý đồ của mấy người Pháp đối với tình hình Hà Nội lúc đó. Sau đó những lời báo cáo của bà trở thành chứng cứ buộc tội bà hoạt động gián điệp”.

Như vậy, khi ra Bắc, Thụy An có chủ đích chính trị: đặt bản doanh chống chính quyền cộng sản ở Hoà Xá, quê hương bà, nơi có những người tin cẩn nhất, và Hoà Xá cũng là một trong những làng có truyền thống chống cộng. Và để đánh lạc hướng, bà nhận cả công tác dò thám Pháp cho chính quyền cộng sản. Với hành động này, Thụy An trở thành nhà văn đầu tiên tổ chức chống lại chính quyền cộng sản, trong lòng chế độ.

Bà không ở trong tổ chức của VNQDĐ, cho nên bà không biết Đỗ Đình Đạo đã có nhiệm vụ ở lại chống Việt Minh. Vậy bà ra Bắc, theo “chỉ thị” của chính mình:

“Tình nhà, tình nước bời bời

Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha”[18]

Và như lời Bùi Thư Linh: “Mẹ thương các con lắm nhưng mẹ vẫn có cái lý tưởng của mẹ, không bỏ được”.

Ở thời điểm 1954, hầu hết mọi người VN đều nghĩ việc chia đôi đất nước sẽ chỉ trong một vài năm. Vì vậy, Thụy An đã nhờ mẹ trông nom các con để ra Bắc hoạt động. Bà không ngờ đến cái chết của Đỗ Đình Đạo; cũng không ngờ Nam Bắc chia đôi 20 năm; và lại càng không ngờ chính mình bị rơi vào 15 năm tù tội.

Về cái chết của Đỗ Đình Đạo, Bùi Thụy Băng cho biết:

“Lúc đó, tôi từ Sài Gòn, ép bố tôi, còn đang là Giám Đốc Đài Phát Thanh Hải Phòng, phải ký sự vụ lệnh cho tôi đáp máy bay ra Hải Phòng rồi lấy xe lửa ra Hà Nội gặp mẹ tôi, vì cái chết của nhà cách mệnh VNQĐD Đỗ Đình Đạo. Nếu bà cụ tôi đầu độc Đỗ Đình Đạo, thì chính quyền Pháp điều tra biết, họ cũng bắt ngay. Khi chuyện xẩy ra, ông Đỗ Đình Đạo ở nhà bà cụ tôi (ở Hà Nội) mà bà cụ tôi cũng không biết. Nhà hai chị em mẹ tôi ở chung. Có thể bà dì tôi đã cho ông Đỗ Đình Đạo trú ngụ mà mẹ tôi không biết[19]. Khi ông Đỗ Đình Đạo bị đầu độc thì mẹ tôi đương ở Hoà Xá với một người bạn là bác Phụng, ở Ngõ Nhà Do (Impasse d’Identité)”. Mẹ tôi còn nói: “Bác chết nhưng mà xác bác chết còn thơm hơn người sống”.

Mặc dù không bị bắt, nhưng Thụy An vẫn bị mang tiếng “đầu độc chồng”: “Đến anh tôi còn giận, không để hình mẹ tôi trong nhà”.[20]

● Tuổi trẻ thơ mộng

Trong bài tiểu sử Thụy An, Trinh Tiên viết:

“Hè 1932, cô Yến được cha mẹ cho học tư thêm. Thày giáo là một hàn sĩ người Quảng Bình, dáng dấp mảnh khảnh đầy vẻ cương nghị.(…) Ông thầy giáo trẻ ấy đã bị trò Yến cùng các bạn trêu chọc gọi là “Anh đồ Nghệ”. Hơn thế, Yến còn làm thơ nhạo báng dí dỏm:

Khéo ghét anh đồ xứ Nghệ

Hơn mình mấy tí tuổi đầu?”[21]

(…). Nhưng chàng trai xứ Quảng này không chỉ là một hàn sĩ hay một nhà mô phạm đơn thuần, mà còn là một người yêu nước thiết tha, một nhà cách mạng chân chính. Cho nên trong những bài giảng đã gieo ảnh hưởng không ít đến lớp học trò (…) Hơn thế nữa, chính người thầy giáo trẻ ấy lại là một chiến sĩ hoạt động trong bóng tối. Chúng ta hãy lắng nghe lời thơ giới thiệu của Thụy An về người anh hùng đó:

Hung hãn vọng vào tiếng bể

Hờn căm rít ngọn gió Lào

Anh mang trùng dương giận dữ

Anh mang hoang dại khô khan.

Và như:

Mắt anh hừng trí bốn phương

Tay run nắm hồn dân tộc

Tóc xòa vương hận núi sông

Môi bậm tai nghe rên xiết

Áo cơm dọa dưới cùm gông!

Thật sự, Thụy An đã hấp thụ tư tưởng cách mạng qua thầy đồ Nghệ:

… Rồi anh bắt đầu dẫn dắt

Dạy em khui lửa bất bình

Oán hận réo sôi lòng đất

Công lý tù đầy uất uất

Miếng cơm nghẹn họng nhân sinh…[22]

Thoảng chốc, lớp hè vài tháng trôi qua. Thày trò bịn rịn chia tay. Riêng thiếu nữ Thụy An còn nghe lòng vương chút bâng khuâng, diệu vợi… Nhưng lại là chút bâng khuâng rất nhẹ nhàng lờ lững… nó đã thoảng qua ngay trong lứa tuổi 16 thơ ngây ấy…Và cũng bởi rằng: “làm thinh… anh vẫn thản nhiên…” Còn chăng chút lưu luyến ở tâm hồn Thụy An là niềm cảm phục trang thanh nhiên chí khí, cô đã kết ý thơ thành chuỗi nguyện cầu:

Nguyện mình hoá vải hoá bông

Thấm lau dòng máu anh hùng thơm tho

Máu anh đã rửa quốc thù

Máu anh viết trước bài ca khải hoàn.

Thơ Thụy An”[23]

Bùi Thụy Băng giải thích:

“Người thày giáo đề cập ở đây là tướng Võ Nguyên Giáp. Khoảng 1930, ông ngoại tôi đã mướn người thầy giáo sử địa Võ Nguyên Giáp về nhà kèm má tôi học. Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam – Ông Võ Nguyên Giáp muốn đưa bà cụ tôi sang Trung Hoa. Nhưng má tôi lại gặp ba tôi ở Sài Gòn và hai người lấy nhau, sanh ra anh cả tôi là Bùi An Dương, năm 1934. Lúc đó ba má tôi đã xuất bản tuần báo Đàn Bà Mới, nên má tôi trở về Hà Nội cho anh tôi làm con nuôi ông bà Trần Trọng Kim, để vô Nam tiếp tục lo tờ tuần báo. Năm 1937, ba má tôi trở ra Hà Nội sanh ra tôi là Bùi Thụy Băng” [24].

Tiểu sử chính thức ghi Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 (hơn Thụy An 5 tuổi). Năm 1931 ông ra Hà Nội học trường Albert Sarraut, sau đó học Luật. Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Quang Thái, năm 1934 (bà Thái chết trong Hỏa Lò Hà Nội năm 1943). Không thấy nói đến việc Võ Nguyên Giáp sang Tầu, nhưng trong cuốn Từ thực dân đến cộng sản, Hoàng Văn Chí viết như sau:

“Mai (Đặng Thai Mai) và Giáp đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính trị của phủ Toàn Quyền. Marty kiếm việc cho Mai dạy học ở trường Gia Long mà giám đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng viên Tân Việt khác bị tù đầy hoạc cấm cố thì hai người ung dung sống ở Hà Nội cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật, Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tỉnh Tây, nhưng không bao giờ lên Diên An. Giáp và Mai coi nhau như “anh em kết nghiã” nhưng sau khi vợ Giáp chết trong tù, Giáp lấy cô Hà, con gái Mai kém Giáp gần 20 tuổi mà trước kia Giáp vẫn bế trong tay hồi còn là “chú cháu”[25].

Tổng hợp thông tin của Trinh Tiên, Bùi Thụy Băng và Hoàng Văn Chí, có thể kết luận: Khoảng 1931-32, khi còn là sinh viên, Võ Nguyên Giáp đã dạy kèm Lưu Thị Yến tại nhà. Đến hè 1932, nếu Trinh Tiên ghi đúng, thì cô Yến và các bạn còn học thêm Võ Nguyên Giáp trong lớp hè. Bài thơ dài Sao lại mùa thu của Thụy An, được Trinh Tiên trích dẫn, nói rõ không khí lớp hè năm đó và sự  “quyến luyến” mà trò Yến dành cho người thày, đã gieo rắc vào tâm hồn cô gái 16, lý tưởng “cứu nước”. Lưu Thị Yến, lúc đó 16-17 tuổi, cũng đã nổi tiếng vì có thơ đăng trên Nam Phong và đã được  “giải thưởng văn học của triều đình”.

Sau đó, theo lời Bùi Thụy Băng: “Năm 1933, má tôi theo thầy vô Nam – Ông Võ Nguyên Giáp muốn đưa bà cụ tôi sang Trung Hoa” và Hoàng Văn Chí: “Giáp được Pháp đưa sang Tầu theo Việt Minh chống Nhật, Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tỉnh Tây”, chứng tỏ Võ Nguyên Giáp được Pháp cho sang Tầu năm 1933 theo Việt Minh để chống Nhật, và định rủ Thụy An đi theo. Như vậy, tình cảm giữa hai người, qua thơ của Thụy An, là có thật, và Thụy An đã muốn cùng “thầy” Giáp sang Tàu theo Việt Minh. Chắc Thụy An có kể cho Lê Đạt nghe việc này, vì trả lời phỏng vấn RFI, Lê Đạt nói một câu rất ý nghiã:

 “Chị Thụy An còn nói kín hở cho tôi biết rằng chị ấy đã từng tham gia kháng chiến! Việc liên lạc với kháng chiến trong thời ấy thì mình mất mối là chuyện bình thường, mà mất mối thì mình không thể chứng minh được.”

Điều chắc chắn là qua những câu thơ trong bài Sao lại mùa thu, Thụy An đã nói lên lòng ái quốc của mình bằng những lời thơ bất khuất:

Tay run nắm hồn dân tộc

Tóc xòa vương hận núi sông

Môi bậm tai nghe rên xiết

Áo cơm dọa dưới cùm gông!

● Chí khí Thụy An

Bài Tôi về quên mất cả xuân sang, ký ngày 5/11 âm lịch 1951 (3/12/1951), viết tặng vợ chồng Trinh Tiên, là một bài trường ca, nói lên chí khí của Thụy An. Bài thơ dài kể chuyện một đêm xuân ở Sài Gòn, nhớ Hà Nội, nhà thơ bước vào vũ trường, gặp người vũ nữ ngày xưa là em gái bạn. Người vũ nữ kể lại bi kịch của gia đình mình: Mẹ nàng có ba người con, đang sống êm ấm; bỗng đâu, phong ba xẩy đến:

“Năm đi cho tháng theo lần,

Mà trong êm đã ngấm ngầm phong ba.

Gió cuốn lật úp sơn hà,

Màn che trướng rủ bỗng ra dãi dàu,

Gió đưa khăn gói về đâu?

Con đường vô định trước sau còn dài

– Tình nhà, tình nước bời bời

Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha.

Đã đành nghiã nặng mẹ cha

Nỡ vô tình lúc nước nhà ngửa nghiêng?

Chịu sinh làm gái vô quyên,

Nỡ mang cái tiếng yếu mềm, bó tay?

Ầm tiếng súng Sơn Tây vẳng lại,

Sôi má hồng, quăng thói nữ nhi,

Chị em phận sự hai chia

Em nuôi mẹ, chị ra đi chiến trường.

Lần thứ nhất mở đường ly tán,

Cũng từ đây, hoạn nạn gieo neo:

Nhìn nhau lặn suối, trèo đèo

Mẹ già em nhỏ đến điều gian truân.

Rồi người chị cả hy sinh trên chiến địa:

Tin đâu sét đánh thình lình

Chị yêu thôi đã bỏ mình phương xa,

Nơi chiến địa xác hoa phơi giãi,

Bài điếu văn cú gọi hồn ma

Một đi lià cửa lià nhà

Một đi thế cũng kể là trăm năm.

Người mẹ và hai em còn lại, cuốn trong gió lốc:

Thân vong gia giật dờ cánh gió…

Đoạn thảm thương lần giở thêm trang:

Một đêm đang lúc mơ màng,

Thức ra giặc đã khắp làng bao vây.

Mẹ con chúi bụi cây ẩn nấp

Đạn nổ tung, trời sập đất nhào…

Tỉnh ra tủi nhục làm sao!

Tấm thân thôi đã lọt vào tanh hôi!

Bên mình, mẹ vẫn ngồi mà chết

Đầu văng xa, máu thịt bét be

Xác em nguyên vẹn nằm kề

Tay níu mẹ, sợ đường về lạc chăng?

Chưa kịp khóc thì quân lang sói

Đã lôi em về mãi đồn xa…

Nhục thay là phận đàn bà

Trong cơn binh lửa mà sa tay thù!!

Thôi gập sách! Để cho kết liễu

Đoạn về sau thừa hiểu là đây”

Dứt lời, chỉ khẽ nhíu mày,

Lạnh khô đôi mắt. Bóng ngày vừa tan…

Bài ca hùng tráng, bi thương, nói lên tất cả những khía cạnh con người của Thụy An. Giọng thơ mạnh mẽ, quyết liệt:  “Gió cuốn lật úp sơn hà”. Hai chữ lật úp thật là vũ bão, tuyệt vời. Rồi sự phân chia tình nước, tình nhà trong suốt cuộc đời bà: vừa nuôi 6 con, một mẹ già, vừa có chí lớn: “Tình nhà, tình nước bời bời / Mẹ năn nỉ giữa, nước đòi thiết tha”. Sự lựa chọn của người phụ nữ trước tình thế đất nước: “Nỡ vô tình lúc nước nhà ngửa nghiêng? Nỡ mang cái tiếng yếu mềm, bó tay? Sự căm phẫn của người nữ anh hùng: Sôi má hồng, quăng thói nữ nhi. Cái chết khốc liệt và của người nữ chiến sĩ: Nơi chiến địa xác hoa phơi giãi / Bài điếu văn cú gọi hồn ma. Quang cảnh kinh hoàng chết chóc của người dân mất nước: Bên mình, mẹ vẫn ngồi mà chết / Đầu văng xa, máu thịt bét be / Xác em nguyên vẹn nằm kề / Tay níu mẹ, sợ đường về lạc chăng?

Thơ Thụy An nói lên chí khí bất khuất, nói lên sự quyết liệt khi cần phải quyết liệt, nói lên cái hận mất nước, sự không chịu bó tay của người phụ nữ. Sáng tác của bà từ truyện cổ tích đến truyện ngắn, tiểu luận, và nhất là thơ, đã quét sạch những dòng nhơ bẩn viết về bà, giải thích tại sao Thụy An không chịu lùi bước trước cường quyền và bạo lực.

● Thời kỳ Nhân Văn Giai Phẩm

Trong thời kỳ NVGP, không phải là thành viên, nhưng bà thường xuyên ra vào các hội văn nghệ, và có ảnh hưởng không nhỏ đối với những văn nghệ sĩ trẻ tham gia NVGP. Bà liên lạc, nâng đỡ tinh thần, tích cực giúp đỡ anh em, đặc biệt gia đình Lê Đạt.

Lê Đạt viết trong lời “tự thú”:

“Âm mưu của Đang sau này là biến thành nhà xuất bản Minh Đức thành nhà in đối lập với Hội Nhà Văn và tập họp nhóm Nhân văn quanh nhà Minh Đức. Cũng giai đoạn này nổi bật vai trò Thụy An. Nhà Thụy An, Phan Tại như một câu lạc bộ.

Về Hà Nội tôi rất ghê tởm Thụy An. Nhưng sau khi bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” Thụy An tìm gặp tôi rất niềm nở và mời đến nhà bảo có nhiều sách mới. Một thời gian dài tôi không đến. Nhưng từ sau khi “Cửa hàng Lê Đạt”, tôi bị khai trừ khỏi Đảng, tôi bắt đầu lui tới đó.(…) Thụy An đưa vợ tôi đi may áo, đi mua vải, may áo cho con tôi và đi lấy cả một chiếc giường cũi cho con tôi. Thụy An nghiễm nhiên trở thành thân thuộc với cả gia đình tôi. Mỗi lần tôi gặp Thụy An sau khi nói chuyện về tư sản, tiểu thương bất mãn, chuẩn bị đi Nam, các tin BBC về hiệp thương, lại kể chuyện Tassigny, chuyện các phóng viên chiến tranh, các tiểu thuyết tư sản, và sau hết đả kích vào sự lãnh đạo của Đảng cho là hạn chế sự phát triển của tài năng. Mỗi lần ở nhà Thụy An ra là mỗi lần tôi thấy mình tài giỏi thêm, oán Đảng thêm và chán nản thêm[26]”.

Thụy An dạy Phùng Quán tiếng Pháp và tiếng Anh. Ảnh hưởng Thụy An đối với các nhà văn trẻ khá mạnh, nhờ kiến thức và tài thuyết phục, bà hướng dẫn họ đến với văn học Tây phương, kịch trường và điện ảnh. Thời kỳ ấy, Thụy An ở chung nhà với Phan Tại. Theo Nguyễn Hữu Đang, bà thuê những phim như Hamlet về chiếu. Bà cùng Phan Tại, dựng kịch Topaze của Marcel Pagnol… Phùng Quán viết trong lời “tự thú”:

“Còn học Pháp và Anh văn thì tôi học với con mụ Thụy An, và do đó tôi bắt đầu thân với mụ từ đấy. Khi được tin tôi đã ra bộ đội thì hắn tỏ vẻ rất săn sóc đến việc học của tôi. Tháng đầu tôi còn bận viết thì mỗi lần gặp tôi hắn đều thúc giục sao không đi học đi, tôi sẽ dậy cho Quán một tuần bốn tiếng đồng hồ. Tháng thứ hai tôi đến học với hắn, cùng với một người bạn của tôi là sinh viên. Trước khi đến học, tôi có biết Thụy An trước đây đã giết chồng, làm phóng viên chiến tranh cho Pháp, đã đi máy bay lên Điện Biên Phủ. Nhưng đến lúc này thì bản chất cách mạng của tôi đã không còn gì nữa, nên tôi thấy những việc làm của mụ ta là việc thường. Đến học với hắn, tôi tỏ ý phục, và mỗi ngày một cảm tình hơn. Tôi gọi hắn là chị với tất cả nghĩa của nó[27]”.

Những lời Lê Đạt tuyên bố trên RFI, tỏ sự kính trọng và lòng tri ân của ông đối với Thụy An:

“Chị Thụy An chưa bao giờ ở trong Nhân Văn Giai Phẩm cả, đó là dứt khoát. Nhưng chị Thụy An rất thân với anh em trong Nhân Văn Giai Phẩm và đặc biệt là thân với tôi”. “Tôi có thể bảo đảm 100% chị ấy không phải là gián điệp. Tại vì thế này: Nếu là gián điệp thì phải có chứng cớ chứ! Chị nhận tiền của ai? Nhận tiền ở đâu? Liên lạc với ai? Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy đó là một câu hỏi mà nhà nước chưa trả lời tôi được.

Tôi vẫn khao khát và thiết tha có một dịp nào đó, người ta phục hồi chị Thụy An một cách chính thức. Không có thì riêng tôi, đối với chị Thụy An, tôi vẫn cho là món nợ. (…) Riêng tôi không bao giờ tôi quên công của chị Thụy An đối với tôi cả”[28].

● Bị bắt, Thụy An tự chọc mù một mắt.

Thụy An bị bắt ở đâu? Bùi Thụy Băng, cho biết:

“Tôi nghe nói bà cụ tôi bị bắt ở Hoà Xá. Nhưng theo lời ông cụ tôi thì bị bắt ở Phủ Lý. Tại sao lại như vậy? Bởi vì khi thấy lâm nguy, biết mình bị theo dõi, Thụy An thường di chuyển giữa Hà Nam – Phủ Lý, quê chồng và Hoà Xá-Vân Đình, quê mình để trốn tránh  [29]”.

Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong hành trình NVGP: Thưa anh, có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt không?

Lê Đạt chỉ lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả.

Bùi Thụy Băng cho biết: “Trong số những bài viết về bà cụ tôi, có bài của Trần Minh, ở Bên Úc, tựa đề “Nhân văn giai phẩm, một tư trào, một tội ác” đăng trong Giai phẩm (Việt Báo) xuân Tân Tỵ 2001, là chính xác nhất. Với những chi tiết mà chính tôi trước đây cũng không biết: Vào Hỏa Lò chưa được 3 tháng thì bà cụ tôi chọc mắt. Lý do là bởi phải ra hỏi cung, đứng trước lá cờ đỏ sao vàng, người ta bắt bà cụ tôi phải cúi xuống, nhưng bà cụ không cúi. Vào nhà giam, không có bút viết, bà cụ tôi lấy cái đinh guốc, viết lên tường lời phản kháng: “Chọc mù mắt để không phải nhìn thấy cái chế độ này nữa”. Sau này có một người cũng bị giam tại căn phòng đó, đọc được và ghi lại, một vài nhà văn có chép lại câu này trên sách báo”.[30]

Thụy An bị giam tại Hoả Lò Hà Nội từ tháng 3/1957 đến 19/1/1960, bà bị đưa ra tòa cùng với Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại và Lê Nguyên Chí.

 Theo Nguyễn Hữu Đang, giam ở Hà Nội, rồi chuyển lên Yên Bái. Thụy An viết: “Vào thời điểm mẹ thụ án từ 1958 đến 1973, suốt 15 năm (chỉ trừ hai năm giam cứu ở Hoả Lò, Hà Nội, mẹ bị thẩm cung gắt gao, một cuộc đấu trí -không có trọng tài- giữa pháp luật do các ông chấp pháp đại diện và mẹ, người bị can)[31].”

● Những năm tháng cuối

Tháng 10/1974 Thụy An được thả về theo diện “Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris” cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc tại Hoà Xá. Trên đường giải về làng, khi người ta đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá.

Năm 1976, Lưu Duy Trác, em trai, xin cho bà vào Nam đoàn tụ với gia đình, bà sống với mẹ tại Gia Định. Các con bà đã rời nước từ trước, chỉ có Bùi Thụy Băng ở lại đến 28/4/75. Năm 1987, Thụy An theo người bạn gái Trinh Tiên đến chùa Quảng Hương Già Lam xin thọ lễ quy y. Được hoà thượng Thích Trí Thủ ban cho pháp danh Nguyên Quy.

Bùi Thụy Băng tìm mọi cách vận động cho mẹ sang Mỹ đoàn tụ gia đình, qua các toà Đại Sứ VN và văn phòng ông Trần Sĩ Lương, đại diện chính phủ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, đều vô hiệu. Trong thư phúc đáp của ông Lương, có câu: “Trường hợp mẹ của ông chưa được giải quyết. Tôi mong ông cứ yên tâm chờ đợi”.

Đầu năm 1987, Thụy An đã yếu lắm, Bùi Thụy Băng chụp lá thư của ông Trần Sĩ Lương gửi về cho mẹ. Bà trả lời con: Mẹ không muốn con liên lạc với các Toà Đại Sứ như thế, và bà thêm: Con đừng chửi mẹ!. Kèm theo là bức thư dài, bà trả lời ông Trần Sĩ Lương, mở đầu bằng những hàng:

“Tôi rất xúc động được đọc thư ông viết cho Bùi Thụy Băng, con trai tôi, về việc T.A mẹ hắn, muốn nhờ cậy ông.

Ông đã trả lời không một hứa hẹn dứt khoát (tôi hiểu rõ tất phải như thế, càng tất phải như thế, khi là chuyện văn chương), nhưng dầu sao cũng đã là một lời đáp lại tiếng kêu gọi, kêu oan… của tôi… muốn thêm hình dung từ nào cũng đều có nghiã cả.

Cám ơm, cám ơn. Tôi đón nhận với tâm trạng một tù nhân bị kẹp lâu ngày, một mình giữa bốn bức tường hẹp, thèm được nghe tiếng người. Chợt có tiếng lịch kịch ở phòng bên cạnh (có lẽ chỉ là một con chuột chạy).”

Và bà kết luận lá thư bằng những hàng sau đây:

“Ở Tô Thị, tâm trạng của người mẹ cõng con trên lưng đi giữa rừng khuya, hãi hùng đến nỗi ngất xỉu, nhưng sực nhớ chồng trên đỉnh núi:

Nhớ con thơ đang gối trên lưng

Biển xanh đang ngóng đang trông

Giơ tay vung ngọn đuốc hồng cháy to.

Tôi cũng vậy, tôi còn cha mẹ già, đàn con nhỏ trên vai, tôi không được chết, phải cố mà sống, đợi cái ngày Tô Thị:

Mặc gió rụng tóc xanh từng sợi

Tung ra xa bay với mây trời

Mặc cho nắng dãi mưa phơi

Mặc cho muối đã mặn mòi lòng sương

Mặc bao cuộc hưng tàn phế đổi

Vẫn đăm đăm một đợi, một chờ

Mẹ con hoá đá trơ trơ

Mẹ là tin tưởng, con là tương lai.

Đó là tâm trạng Tô Thị hoá đá, mà cũng là tâm trạng của tôi suốt 15 năm cho đến mãi mãi. Ông cứ đọc tất cả 16 bản của tôi, đều gặp những câu như thế, nó gần như một tập Nhật Ký Trong Tù… “

Thụy An mất ngày 10/6/1989 tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài Gòn.

[1] Bàng Sĩ Nguyên, BNVGPTTADL, trang 120.

[2] Trong thời gian 180 ngày trước khi vỹ tuyến 17 khép lại.

[3] Trích Tiểu sử Thụy An, Trinh Tiên, Atlanta Việt Báo Xuân Ất Dậu, 2005.

[4] In lần đầu trên Tạp chí Phổ Thông của hội cựu sinh viên trường Luật Hà Nội, số 19-20 tháng 6-7/1953. In lại trên Khởi Hành, Hoa Kỳ, số 77, tháng 3/2003.

[5] Văn Nghệ, số 142, 11/10/1956.

[6] Trăm Hoa, 25/11/56.

[7] Trăm Hoa, 2/12/56.

[8] Ý bà muốn nói phải ra hải ngoại “tìm tự do” để in sách.

[9] Trích thơ Thụy An trong Trường Ca Tiếng Mẹ.

[10] Trích bài Thụy An, mẹ chúng tôi, Thụy An viết cuối năm 1988, trước khi mất, Atlanta Việt Báo, 15/12/2004.

[11] Xuân Dung, Con phù thủy xảo quyệt: Thụy An, báo Thủ Đô 23/4/58, BNVGPTTADL, trang 42-43.

[12] Vụ Nhân Văn- Giai Phẩm từ góc nhìn một trào lưu tư tưởng dân chủ, một cuộc cách mạng văn học không thành, mạng nguyentrongtao từ 6/8/2010.

[13] Trích điện thư Bùi Thụy Băng ngày 15/12/2004.

[14] Bùi Thư Linh, trả lời qua điện thoại ngày 17/10/2009.

[15] Trong một cuộc nói chuyện khác, ông Băng giải thích: 1952 Thụy An chia tay với Đỗ Đình Đạo, vì muốn tránh ông Đạo, bà đem các con vào sống tại Sài Gòn.

[16] Hội nghị Genève ký ngày 20/7/1954. Việt Minh tiếp quản Hà Nội ngày  10/10/1954, và tiếp quản Hải Phòng ngày 13/5/1955.

[17] Tất cả những thông tin trên đây do ông Bùi Thụy Băng cho biết qua điện thoại ngày 16/12/2004.

[18] Thơ Thụy An.

[19] Trong một buổi nói chuyện khác, Bùi Thụy Băng cho biết Đỗ Đình Đạo có quan hệ tình cảm với em gái Thụy An, nhưng lúc đó bà không biết.

[20] Điện thoại ngày 16/12/2004.

[21] Trích bài trưòng ca “Sao lại mùa thu” của Thụy An.

[22] Trường ca Sao lại mùa thu.

[23] Trích tiểu sử Thụy An của Trinh Tiên.

[24] Bùi Thụy Băng, điện thư ngày 15/9/2004.

[25] Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, Chân Trời Mới, 1962, chú thích trang 83.

[26] Những lời thú nhận bước đầu của Lê Đạt, Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958, Số đặc biệt thứ hai chống NVGP.

[27] Phùng Quán, Những lời thú nhận bước đầu,  Văn Nghệ số 12, tháng 5/1958.

 [28] Lê Đạt trả lời phỏng vấn RFI.

[29] Điện thoại ngày16/12/2004.

[30] Điện thoại ngày16/12/2004.

[31] Trích bài Thụy An, mẹ chúng tôi, lời bà viết thay cho các con, Atlanta Việt Báo, 15/12/2004.

 ( Còn nữa )

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 3 ) Nhân văn giai phẩm và vấn đề nguyễn Ái Quốc ( 5 )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Một 2013
M T W T F S S
« Dec   Feb »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,025 hits

%d bloggers like this: