TAM QUỐC YẾU NHÂN TỰ BẠCH

20/12/2012 at 8:00 chiều Để lại bình luận


                                         Ngô Sách Thân

               1/ CÁI THÚ TA
                    
( Họa tựa vận bài : Bác đến chơi nhà – Nguyễn Khuyến)
                                            Cũng khá lâu nay tớ vắng nhà

Thi văn ngại viết ở nơi xa

Bữa trưa nhị lão xơi cơm cá

Buổi tối toàn gia chén thịt gà

Đêm trắng rong chơi cùng tuế nguyệt

Thu vàng dạo bước cuối rừng hoa

Đông theo lũ nhạn về nơi ấm

Trở lại văn chương cái thú ta

 

                2/ LỜI TỰA ( cuốn Tam quốc yếu nhân tự bạch)

Có ai đó vỗ nhẹ vào vai, tôi quay lại; trước mắt là cụ già, áo the rộng, mũ văn, đi hài thâm, nhìn tôi hỏi: 

            – Này, hậu sinh! Ngươi có nhớ ta không nhỉ?

            – Thưa! Xin thứ lỗi cho tiểu nhân, hậu sinh hình như chưa từng gặp tiền bối.

            – Chà! Ngươi vừa thắp nén nhang xin ta cho phép in cuốn Thủy hử ngoại tích, sao quên nhanh vậy?

            – Thưa! Người là Thi tiền bối hay La tiền bối ạ?

            – Ta là La Quán Trung, vừa qua ngươi đã cho một số nhân vật của Thủy hử lên vui chơi với cư dân mạng, họ thích lắm. Ngươi lại đưa họ lên vui trên diễn đàn văn học ngày nay, cái đó ta và Thi Nại Am cũng rất đồng lòng. Ta muốn hỏi hậu sinh: Các nhân vật trong Tam Quốc chí của ta thua kém chi nhân vật trong Thủy hử? Sao ngươi không cho họ lên vui chơi cùng?

            – Thưa! Tam Quốc chí là tác phẩm lớn, hậu sinh sợ tài văn chương chả có, thiên hạ chê cười, nên chưa dám làm. Vả lại nhận thức mỗi thời mỗi khác, vãn sinh sợ các bậc tiền nhân không vừa ý lại trách phạt.

            – Không lo, chúng ta tuy là cổ nhân, nhưng anh linh còn hoạt diệu, tích cổ chẳng phai mờ, vẫn biết chuyện của mọi thời. Mà tự các yếu nhân bộc bạch những chuyện vui buồn, bi tráng, oai hùng ngày xưa, nào có ảnh hưởng gì tới hậu sinh đâu. Đừng có cả nghĩ!

            – Vâng, nếu được như tiền bối dạy bảo, kẻ hậu sinh này sẽ cố gắng làm theo.

            – Thôi ngươi dành thời gian làm ngay đi, ta về sẽ đưa các yếu nhân đến cho ngươi gặp gỡ họ.

            Vừa nói xong, ông già như tan vào không khí. Tôi bàng hoàng chợt tỉnh, chuyện đó xảy ra vào giấc ngủ buổi trưa, vừa sau khi thắp ba nén nhang xin phép để in cuốn Thủy hử ngoại tích. Vẩn vơ suy nghĩ mãi, vẫn sợ mình không làm nổi, nhưng đã chót hứa, tôi đành nhắm mắt mà thuật lại những gì trong giấc mơ đêm vào buổi sáng hôm sau. Hi vọng cuốn sách chỉ làm sáng tỏ thêm một số những cái bất cập, xấu xa của chế độ phong kiến không chỉ thời Tam Quốc của Trung Hoa mà tất cả các thời đại phong kiến của mọi Quốc gia đã từng đau khổ trải qua.  

                                                                                    Bắc Giang, ngày 4 tháng 8 năm 2012

 

Hồi thứ nhất

HẠ HẠNG VŨ LƯU BANG LẬP HÁN

NGỒI SAU RÈM LÃ THỊ TRIỆT LƯU

            – Khải tấu hoàng thượng, lâu nay Người vẫn được an khang?

            Tôi cúi đầu lễ phép bẩm trước mặt vua Hiến đế nhà Hán, một người còn trẻ, đội vương miện, mặc áo hoàng bào.

            – Ồ! Ngài Lê Vân đấy ư? Miễn lễ! Ngài không phải là thần dân của ta, không cần tâu bẩm làm gì cho phiền phức và khó nói chuyện.

            – Thưa Hoàng thượng, kẻ hậu sinh này sống sau Ngài gần hai thiên niên kỉ, không dám vô lễ ạ.

            – Thôi được, ta ở dưới này đã lâu thế ư? Ừ, cũng có lẽ vậy. Trên dương thế bao nhiêu vật đổi sao dời rồi. Cám ơn Ngài, ta nguyên là vua nhà Hán hiền lành đến nhu nhược nên dưới này mười vị Diêm vương có phần trọng nể, vẫn an mạnh và vui vẻ.

            – Thưa! La Quán Trung tiền bối có nhắc hậu sinh giới thiệu Hoàng thượng cùng các yếu nhân thời Tam quốc lên giao lưu với cư dân mạng và văn đàn hiện nay. Trong Tam Quốc chí, La tiền bối nói về việc Cao tổ chém rắn khởi nghĩa lập lên nhà Hán, đó là sự nghiệp phi thường của con người phi thường. Chẳng hay việc đó hư thực ra sao? Cơ đồ nhà Hán hưng thịnh bốn trăm năm, đến mãi khi Hoàng thượng ngự triều nhà Hán mới suy vi đổ nát. Chẳng hay sự việc như thế nào? Hoàng thượng có thể cho những kẻ hậu sinh sau này biết được chăng?

            – Ngài Lê Vân chắc biết, luật dưới này không được nói dối. Câu chuyện dài lắm, nhưng cũng có gì là bí mật nữa đâu. Những sự kiện cơ bản thì Tư Mã Thiên đã nói gần đúng cả đấy. Ông ta chịu nhục hình cố viết một pho sử để lại cho đời sau, chỉ tiếc rằng đối với các vị vua và công thần dựng nước ông đã tô vẽ cũng hơi quá. Con người chịu nhục như thế khi viết sử cũng không thể viết đúng hết được Ngài ạ, thế mới biết cái áp lực của vua quan đến người dân nặng nề thế nào. Ta sẽ kể dần cho Ngài và mọi người cùng được nghe đây.

            Họ Lưu ta đâu phải con trời! Cao tằng cao tổ nhà ta tên tục là Bang, là con thứ ba của một người chân đất, áo vải. Vì là con thứ ba, mọi người còn gọi ông là Lưu Quý. Ông cha tích cóp bao đời mới mua được cho cái chức vét đĩa của triều Tần đó là vai Đình trưởng. Làm cái chức Đình trưởng thời Tần cũng chẳng sung sướng gì. Tuy có được chút bổng lộc, nhưng có gì không làm tốt cũng bị quan trên lôi ra sân cho ăn roi ăn vọt ngay. Cao tổ của ta cũng nhiều lần bị nọc ra sân đánh đến rách da, rách thịt. Còn tích chém rắn ư? Thời ấy rừng rú rậm rạp, thú dữ hoành hành khắp nơi, dưới đât chỗ nào không nhìn thấy rắn rết, sâu bọ. Một đứa trẻ chăn trâu mỗi ngày cũng phải đánh đuổi vài con rắn độc để lấy đường đi ấy mà.

            – Thưa, nghe kể Cao tổ chém con bạch xà lớn lắm chắn ngang đường Người đi mà?

            – Kể bậy đấy! Nếu nói ông chém con bạch xà to lắm thì cũng như kể công ông đã băm đứt đôi con giun đất bò ra trong ngày mưa ấy mà. Cao tổ nhà ta cũng không nằm ngoài những con người thành đạt của giới làm chính trị. Giới này sau khi có chút quyền hành, ai cũng  tự tô tự vẽ cho mặt mình thật đẹp, nào là lúc trẻ thông minh chăm học lắm, đỗ đạt cao, nhiều bằng cấp. Lớn lên tài cao, chí cả, lập được công lớn tày trời; nào là lúc sinh ra có mặt trăng, mặt trời, có thánh thần phù hộ, lớn lên chỉ vì nghĩa lớn, vì dân, vì nước… Trong Sử ký, Tư Mã Thiên cũng nói là mẹ Cao tổ thụ tinh của giao long thần…Thật ra  tất cả chỉ là trò mị dân ít học, văn hóa thấp mà thôi. Trên đời làm gì có giao long thần? Mà ngủ với rắn đẻ ra con thì nó là loài bò sát ư? Đã là con đẻ của bò sát lại có công chém rắn thần để khởi nghĩa! Toàn là trò láo khoét tất Ngài ạ.

            Thời trẻ Cao tổ nhà ta cũng thích rượu, ông uống rượu ghi nợ trong tửu điếm suốt ấy mà. Còn chuyện gái gú lúc trẻ thì quá trời Ngài ạ. Thái Công rất bực mình vì tai tiếng do anh con trai thứ ba mình gây ra. Nhiều lần cụ cũng phải đánh chửi cậu quý tử ấy ghê lắm. Vặt trộm tiền của cha mẹ đi uống rượu và bao gái thường nhật xảy ra với Cao tổ nhà ta. Nhiều khi ông còn bỏ đi mất hút mấy ngày đêm, Thái công cho người tìm, lôi từ nhà chứa về trong lúc đang say. Để con lông bông mãi, sợ mang tiếng, Thái công liền quyết tâm tìm vợ cho con. Mục đích của cụ là tìm lấy người con gái cứng tướng để quản lí anh chàng bợm rượu, bợm gái.

Đúng thời gian ấy, nhà họ Lã có cô con gái cứng tuổi, đang cần chồng. Lã cô nương đã lấy mấy đời chồng nhưng chỉ chung sống với mỗi ông được không đầy năm thì xảy ra việc đánh cãi nhau ầm ĩ trong làng. Gia đình người chồng đầu không chịu nổi chuyện cô ta xỉ vả chồng, liền dẫn về trả cho Lã thái công. Người chồng thứ hai thì sau vụ to tiếng cãi lộn liền đuổi nàng ra đường, không bao giờ cho vào qua cổng nữa. Người chông thứ ba thì không nói không rằng, bỏ nàng ra đi, đến nay vẫn bặt tin. Lã cô nương thấy ở lại nhà chồng không ổn đành thu dọn quần áo chuồn về nhà mình. Đàn ông trong vùng không dám nhòm ngó đến vì ai cũng sợ cái tính đành hanh, ngạo ngược của nàng. Nghe có vẻ “cứng tướng”, Thái công sai người sang mai mối cho Lưu Quý, để nhờ người đàn bà ghê gớm này quản lí hộ anh chàng bợm. Lã công thuận ngay, thế là hai nhà kết thân.

 Một lần Lưu đình trưởng dẫn phu đi xây đắp thành lũy, để phu trốn mất, Cao tổ nhà ta bị huyện quan nọc đánh ba chục roi. Sau khi bị nọc đánh quá đau trước sân huyện đường, Cao tổ vừa xấu hổ, vừa căm thù nhà Tần lắm. Người rủ một số bạn bè, trai tráng đi theo Hạng Lương, người đang cầm đầu cuộc khởi nghĩa nhỏ chống lại vua Tần. Theo Hạng Lương, Cao tổ nhiều năm làm một tì tốt chứ đã có công danh gì đâu, nói đứng lên khởi nghĩa là điều bịa đặt đấy.

– Thưa, nghe nói Cao tổ giỏi dùng người và giỏi cầm quân ra trận phải không  Hoàng thượng?

– Tài dùng người thì ta sẽ kể sau, nhưng tài cầm quân đâu có. Gần chục năm trời dưới trướng Hạng Lương, ông vẫn chỉ là viên tì tướng quèn ấy mà. Nếu hỏi Hạng Lương tên của ông trong đám sĩ tốt, những năm ấy Hạng Lương cũng chưa nhớ được là cái chắc. Bởi vậy Cao tổ nhà ta cứ lẹt đẹt ở dưới trướng mãi, có ngoi được lên đâu.

Tài dùng người, có thể nói thế nào nhỉ? Có lẽ cũng có tài chăng? Ta thì cho rằng ông chẳng chút tài đâu, chẳng qua là rượu và tiền giúp ông thu phục nhân tâm và cơ may dưới trướng ông toàn những người hào kiệt. Ta cho tài duy nhất của Cao tổ là ông bợm rượu và thích vui vầy với đông bạn bè khi uống. Bởi vậy, nên suốt quá trình theo Hạng Lương; mỗi khi kiếm chác được sau chiến trận, ông không quên tổ chức các buổi yến tiệc linh đình. Được thưởng bao nhiêu tiền, vàng bạc, châu báu, Cao tổ đều chuyển thành rượu để chiêu đãi bạn bè, sau tiệc là gái gú. Nhờ có các buổi tiệc rượu, các buổi chơi bời đó, nhiều kẻ máu rượu, hám gái sẵn sàng hi sinh thân mình cho ông. Cái tài của Cao tổ duy nhất là mua chuộc bạn bè bằng rượu và gái, có vậy thôi.

– Nghe tướng quân Hàn Tín nói, Cao tổ chỉ chỉ huy được một ngàn người, còn Hàn tướng quân càng nhiều quân thì càng tốt. Thưa, điều ấy là thế nào ạ?

– Điều đó thật đấy, Hàn Tín có thể chỉ huy trăm vạn đại quân, còn Cao tổ có ngàn người chắc cũng loạn lên nếu không có người giúp đỡ. Chỉ có điều Cao tổ hơn Hàn Tín ở chỗ ông sẵn lòng bỏ rượu ra uống, chia gái với các tướng của mình đến đứa cuối cùng, nhưng với Hàn tướng quân thì điều này chưa chắc.

Thôi, để ta kể tiếp cho Ngài nghe, Năm 209 trước công nguyên, Hạng Lương đem quân đánh Tần, đi qua đất Bái. Các phụ lão đất Bái mang dê rượu ra úy lạo. Hạng Lương tửu lượng kém, cần tìm một tỳ tướng giỏi uống rượu ra tiếp các lão niên huyện Bái. Người ta đưa đến cho ông viên tỳ tướng của mình là Lưu Quý đảm trách nổi việc ấy. Lưu Quý uống với tất cả các bậc lão niên cả huyện mà không say. Các vị lão niên vui lắm, mang cả vạn hộc lương ra giúp quân của Hạng Lương. Vì cảm nghĩa ấy, khi chiếm được Bái huyện, Hạng Lương nhớ đến công của Lưu Quý liền phong cho chức huyện lệnh. Từ đó Cao tổ được người ta gọi là Bái công. Cũng từ lúc đó nhiều người tài như Trương Lương, Trần Bình, Tào Tham, Tiêu Hà… đến giúp việc.

            Được những người giỏi giúp việc, Bái công nhà ta cứ suốt ngày rượu say bí tỉ. Công việc bày mưu, tính kế ông giao hết cho Trương Lương. Công việc điều hành hằng ngày ông giao cho Tiêu Hà, Tào Tham, Trần Bình. Đến vùng nào cần giao tiếp, vỗ về dân chúng, các bài nói được Trần Bình viết trước cả, ông chỉ đọc xong thì vào tiệc nhắm. Ông rất tự hào về phong cách sống của mình, thường khoe với mọi người:

            – Ta xuất thân từ kẻ nghèo hèn, nhưng đến nay, bước chân đi thì có ngựa, nghỉ ở đâu là có hầu non chăm sóc, cần mưu gì thì có Trương Lương, cần làm gì đã có Tiêu Hà, Trần Bình, cần đánh giặc đã có Hàn Tín, Quán Anh… Việc của ta chỉ phải nói khoác và đánh nhắm mà thôi!

            Đấy là cái tài của Cao tổ nhà ta. Sau khi vào được Quan Trung trước Hạng Vũ, quan hệ giữa Hạng Vương và Bái Công rất căng thẳng. Theo sắp xếp của Hạng Bá và mưu của Trương Lương, Bái Công phải lui vào ở đất Thục để tránh Hạng Vương hại. Vào Thục, ông được Hạng Vương phong là Hán Vương, sợ Hạng Vương nghĩ lại mà đuổi theo giết nên đi khỏi ông cho đốt ngay sạn đạo. Trong cuộc đua tài với Hạng Vương, Bái công  chủ yếu là thua, một lần nguy khốn, một viên tướng là Kỷ Tín đã phải liều mình hi sinh cứu Hán Vương. Mỗi lần gặp Hạng Vương, Cao tổ như gà thấy cáo, không dám nhìn thẳng vào mặt người anh hùng, chưa thấy bóng đã bỏ chạy dài. Mãi sau, khi Hàn Tín cầm quân thắng một trận lớn ở Cai Hạ, Hán Vương mới không còn phải chạy nữa. Trận Cai Hạ là trận quyết định trong Hán Sở tranh hùng, quân Hán đang ở thế chạy dài đã chuyển dần sang thế công. Nhờ tài mưu lược của Trương Lương và cầm quân của Hàn Tín, quân Hán mạnh dần lên; cũng từ đó quân Sở của Sở Bá vương cũng yếu dần đi, thế lực của Hạng Vương suy sụp dần, đi đến suy kiệt. Phải nói, thắng được Sở, toàn nhờ công của những người khác, mưu trong trướng thì có Trương Lương, tài cầm quân thì có Hàn Tín, nội trị trong phủ thì có Tiêu Hà, Trần Bình, Tào Tham…

              Sau khi thống nhất đất nước, Cao tổ nhà ta lên ngôi báu, ông hội các tướng ép họ thực hiện lời thề: Tất cả chung sức gây dựng họ Lưu lên làm vua. Ai không phải họ Lưu làm vua thì tất cả tập trung sức đánh kẻ đó. Ta cho đây là một quan điểm quá sai lầm. Họ Lưu ta khác gì họ Vương, họ Hạng và bao họ khác nữa. Chẳng qua sau trận thắng lớn ở Cai Hạ của Hàn Tín, các mưu sâu kế độc của Trương Lương, Cao tổ nhà ta mới được ngồi vào cái ghế của vị chí tôn. Nếu Hạng Vương thắng, lên ngôi thì Lưu Quý nhà ta cũng quỳ dưới sân rồng tung hô Sở Vương vạn tuế, vạn vạn tuế mà thôi. Thiên hạ là của toàn dân, ai có đức, có tài thì được quản lí nó, đâu phải độc quyền một dòng họ, một nhóm người, nhất là lũ ngu dốt, vô học! Chính cái quan niệm sai lầm đó dẫn đến sự lộng quyền của họ Lưu, rồi họ Lã sau khi Cao tổ chết. Chính cái quan điểm lệch lạc đó dẫn đến suy vi của nhà Hán nói riêng và của tất cả các triều đại phong kiến nói chung và rộng ra nữa là của tất cả các thể chế chính trị.

            Lại nói Cao tổ sau khi lên ngôi, lập tức phong Hiếu Huệ làm thái tử, các con khác cũng đều được phong vương. Các tướng tài như Hàn Tín, Bành Việt đều bị giết dần. Cao tổ theo đúng lời cổ nhân nói: Hết chim thì bẻ cung, hết thú thì chó săn phải mổ. Ông muốn họ Lưu độc chiếm thiên hạ, nên cũng hạ bệ dần các vương không trong dòng họ để đưa con cháu thế chân vào. Chính sự sai lầm này làm nhiều người tài giỏi hoặc làm phản hoặc bị giết. Đất nước mất đi rất nhiều nhân tài, quan lại trong triều đa số là giòng dõi họ Lưu, họ Lã. Xuất thân từ hàn vi, nhưng khi ngồi vào cái ngai vàng, Cao tổ cũng  theo vết xe nhà Tần, cũng chơi bời phóng túng, xa hoa, lắm thê nhiều thiếp, cũng độc đoán như ai. Trong đám thê thiếp, Cao tổ yêu nhất Thích phu nhân. Nhiều lần, ông đã định phế thái tử Hiếu Huệ, con Lã hậu, thay bằng Như Ý, con đẻ của Thích phu nhân. Nhờ Tiêu Hà, Trần Bình và Tào Tham can gián việc đó mới không xảy ra. Song cái điều đó chính là nỗi đau của Lã hậu để sau này bà trả thù người khác. Trong lúc Cao tổ nắm quyền, các đại thần có tài giúp như thừa tướng Tiêu Hà, Tào Tham, Trần Bình thì Lã hậu chịu im, song mối thù ấy trong con người có bản lĩnh như Lã hậu sẽ không nằm im khi có điều kiện.

            Lắm thê, nhiều thiếp, đông ngoại tộc, ngoại tộc nào cũng muốn nắm lấy quyền trong triều. Chúng đánh đấm nhau, tìm cách hạ nhau để giữ độc tôn. Chính lực lượng này làm loạn triều đình nhà Hán từ lúc nó mới ra đời cho đến khi ta tại vị, mà nói cho đúng là đến khi nó sụp đổ. Bốn trăm năm loạn ngoại tộc chưa bao giờ dứt. Sau khi Cao tổ mất, Hiếu Huệ được nối ngôi, xưng là Huệ đế. Huệ đế còn nhỏ, mọi chuyện điều hành triều chính đều do Lã hậu quyết định. Lã ngồi sau rèm điều hành Huệ đế phê chuẩn tấu chương của các đại thần. Các đại thần tài giỏi có mưu thần, chước quỷ nhưng Huệ đế không nghe mà theo Lã hậu thì họ cũng bó tay.

            Là con người ghê gớm, nham hiểm, lại bị kìm nén thời gian dài, khi có quyền trong tay, Lã thị liền trả thù Thích phu nhân. Việc đầu tiên bà ta tìm cách giết chết Triệu vương Như Ý. Như Ý được Huệ đế rất quý, nhưng cũng không che chở nổi cái mạng sống cho em. Giết xong Triệu vương Như Ý, Lã hậu hành hạ Thích phu nhân rất dã man cho đến khi bà này chết hẳn. Người ta kể rằng Lã hậu khoét mắt, cắt tai Thích phu nhân, bắt bà ăn trong máng như cho lợn ăn… Cùng với việc trả thù riêng, Lã hậu đưa dần anh em con cháu họ Lã vào nắm dần các ghế chủ chốt trong triều đình. Để làm được việc này, bà ta phong cho hai người anh em là Lã Lộc và Lã Sản nắm quân cấm vệ và lực lượng quân bảo vệ đô thành. Sau khi Lã Lộc và Lã Sản nắm chắc quân đội, Lã hậu cứ truất quyền dần các vương hầu họ Lưu và thay thế bằng người thân họ Lã. Từ khi giết chết Hàn Tín, các đại thần như Tiêu Hà, Tào Tham… đành thủ thân, không ai dám can gián Lã hậu nữa, đành mặc bà tự tung tự tác.

            Tuy không dám ra mặt can gián Thái hậu, nhưng các đại thần khai quốc căm bà ta lắm. Họ họp nhau nhắc lại lời thề với Cao tổ sẽ tìm cách đánh những vương không mang dòng họ Lưu. Thế rồi các đại thần tụ họp với nhau tìm cách đánh đổ họ Lã. Lã thị còn tại vị thì các đại thần của Cao tổ còn sợ con cọp cái mưu sâu, kế độc chưa dám ra tay. Khi Lã hậu vừa mất, Trần Bình, Chu Bột và Quán Anh hợp lực, tước binh quyền Lã Lộc, Lã Sản rồi trừng trị tất cả cái ngoại tộc họ Lã, đưa quyền hành tối cao trở lại cho họ Lưu. Làm được việc đó, dựng lại họ Lưu, nhưng dân tình có được hưởng cái gì hơn đâu? Dân vẫn lầm than, cực khổ như thời họ Lã thôi. Cái thối nát lớn nhất của chế độ phong kiến nhà ta là một người làm vua, cả họ được nhờ đấy Ngài ạ. Ai làm vua cũng tự cao tự đại, cũng độc đoán, kéo họ hàng nội ngoại nắm giữ quyền hành. Họ chỉ chịu rời ngai vàng khi bị người dân đánh đổ! Cái tư tưởng sai lầm đó sẽ đào mồ chôn chính cái triều đại của họ, chôn cả bản thân họ mà thôi.

            – Thưa Hoàng thượng! Ngài tự hiểu được vậy, sao khi Ngài cầm quyền, không chọn người hiền tài thay mình để đất nước đỡ tan nát, muôn dân đỡ lầm than?

            – Lúc đó ta còn nhỏ quá, đã biết gì, bên cạnh ta hầu hết là lũ khốn nạn, ton hót giỏi. Bọn chúng có vì ta hay vì bàn dân thiên hạ đâu, chúng hót hay, hót giỏi đều vì chúng, vì cái gia đình của chúng, vì tước vị, đất đai… của  chúng thôi. Chúng sẵn sàng bán ta, bán tổ tiên chúng, bán từng phần, thậm chí bán cả cái đất nước này để lấy vinh thân phì gia.

            – Thưa, triều đình nhà Hán kéo dài những bốn trăm năm, cũng có những vị vua giỏi như Quang Vũ?

            – Đã là chế độ độc tôn, độc tài có gì là tốt, có đâu là tài giỏi. Ôi! Ta cũng mệt rồi, để tối mai ta kể tiếp cho mà nghe.   

Hồi thứ hai

TRỔ UY TRỜI VUA CHÚA TRỊ DÂN

KHIẾP NHƯỢC GIẶC QUÂN VƯƠNG DÂNG VỢ

            Hôm nay ta kể cho Ngài nghe những nét chính trong bốn trăm năm nhà họ Lưu ta làm vua. Bốn trăm năm kể cũng dài, mà cũng ngắn thôi Ngài ạ. Sau loạn lạc họ Lã rồi lại đến loạn lạc họ Vương. Dẹp được loạn Vương Mãng chính là Hán Quang Vũ. Tên tục của ông là Tú, trong dòng họ Lưu ta, kể ra thông minh và quyết đoán hơn cả, trong cái họ Lưu chỉ có ông ấy thôi, còn hầu hết đều hèn yếu, nhu nhược. Mà nói thật ông có khá hơn các vua Hán khác, nhưng cũng chẳng xoay chuyển nổi tình hình. Cuối đời thì trâu già lại về đường cũ, cũng ưa xiểm nịnh, cũng bị ngoại thích chi phối. Khi cuối đời, ông chọn xây cho mình một lăng tẩm cực to, ngay cạnh lăng Cao đế. Lăng đó đến nay đã bị thời gian xóa sạch rồi. Sinh thời ta còn nhớ, nó không khác gì  hành cung của một đại vương quốc. Ông bắt dân lấy vôi nhào với mật mía và hồ tiêu mua từ phương Nam về xây tường, đắp đường, làm sân trong lúc bao người dân đang chết đói bên ngoài. Lăng được xây từ khi ông sống, kéo dài nhiều năm với hàng chục ngàn phu phen mới hoàn thành. Khi xây xong, ông vuốt râu nói với quần thần:

– Ta vĩ đại kém gì Cao tổ, công lao ta còn lớn hơn nội tổ, vì vậy khi ta nằm xuống tất xứng đáng được ở nơi này!

Triều đình về cuối đời ông cũng rối như canh hẹ, cũng nát như tương. Hầu như tất cả các vua nhà Hán ta chỉ tại vị, còn điều hành thực là ngoại tộc và các nịnh thần.

            – Triều nào chả có trung và nịnh, thưa Hoàng thượng?

            – Ngài nói đúng đấy, nhưng vua ngu tối sao dùng được tôi hiền! Cha ông ta cứ tự nhận là con trời, một bày con trời đấy nhưng trí tuệ có ai ra gì đâu. Họ chỉ thích nghe theo kẻ khéo nịnh hót, chính vì vậy tô thuế liên tục tăng từng năm. Triều đình còn bày ra lắm thứ thuế khác như thuế đất, thuế nhà, thuế đường đi, thuế vườn tược, cây cối, thuế ngựa cưỡi, đường đi, thuế gia súc rồi đến thuế gia cầm… Có triều đại nào đánh thuế đến người đốn củi nuôi thân không hả Ngài? Triều đình tận thu trong dân để làm giàu cho quan lại, làm cho người dân càng ngày càng nghèo khó, khốn quẫn. Các cụ xưa bảo rằng lời nói thật hay trật lỗ tai, chính vì thế các tôi trung thường bị ghét bỏ. Mà cái chế độ phong kiến độc quyền, quyền lực tập trung vào một ông vua ít học, lũ lẫn, ngu tối và một bày đại thần cũng tham lam và đần độn, ưa xiểm nịnh thì hỏi đất nước còn làm sao phồn vinh được hả Ngài?

            Bốn trăm năm làm chủ một cái quốc gia khá lớn, đất đai trù phú của các vựa lúa mấy con sông lớn mà dân vẫn đói khổ, đất nước vẫn suy vi, loạn lạc. Dân Trung nguyên ta đông, đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, lẽ ra dân phải giàu, nước phải mạnh. Nhưng than ôi, bốn trăm năm nhà Hán nếu  không bị ngoại xâm thì nội loạn, chưa bao giờ thái bình để dân được an vui Ngài ạ.

Ngài biết đấy, phía Bắc đất Trung nguyên là người Hồ. Người Hồ là dân du mục, sống ở nơi đất đai cằn cỗi, đất rộng, người thưa, quanh năm nghèo khổ. Dân du mục từ trẻ con đã cưỡi ngựa giỏi, giỏi chinh chiến, bắn cung. Người Hồ thường vào cướp của, bắt người ở nước chúng tôi. Lẽ ra vua tôi nhà Hán phải tổ chức quân đội, tổ chức dân để chống lại các cuộc cướp phá đó, song họ không làm. Quan lại thì chỉ nghĩ đến đàn áp, bóc lột dân lành lấy vinh thân, phì gia, bỏ mặc dân đói khổ. Hằng năm, triều đình thường cướp ruộng đã dày công khai phá của nông dân để cấp cho các vương hầu, quan lại mới phong. Ruộng đất ông cha khai phá đấy, nhưng người nông dân bây giờ mất không, trở thành nô lệ cho các ông hoàng, bà chúa. Ai chống lại thì triều đình cử ngay quân đội đến đàn áp.

Với người dân bốn trăm năm ấy không biết đến một ngày hạnh phúc. Lũ quan lại luôn rẻo mồm rao giảng là có minh quân, thánh chúa, nhưng thực chất là một lũ mọt dân, hại nước cả thôi. Những điều sai trái của vua tôi được bịt kín nhẹm để người dân không biết đến cái triều đình thối nát. Cũng may, La Quán Trung với tác phẩm văn học của mình đã miêu tả được một phần sự thối nát đó. Hàng ngũ quan lại đàn áp người dân thẳng tay, chúng dùng quân đội để bảo vệ cái ngai vàng cho họ Lưu nhà ta, nhưng thực chất là giữ cái ghế, giữ cái giá áo, túi cơm của chúng. Khi người Hồ vào cướp, quan quân chạy trước, bỏ mặc người dân cho giặc.

– Thưa, chả nhẽ cả hàng ngũ quan lại không có ai dũng cảm, vì dân, vì nước?

– Có chứ, có chứ Ngài ạ, trong nước có nhiều người những đó chứ. Nhiều người dân dám dũng cảm tổ chức trai tráng chống lại giặc Hồ, đánh cho chúng thất điên, bát đảo. Trong số quan lại cũng có những viên tướng hết lòng báo quốc, nhưng họ là những viên tướng nhỏ, quyền hành đâu có. Ta kể cho Ngài nghe trường hợp của Lý tướng quân.

Lý tướng quân là hậu duệ của tướng Lý Quảng Lợi. Lý Quảng Lợi là một dũng tướng của triều Hán ta chống lại giặc Hồ. Ông biết người Hồ thiện chiến bằng cung nỏ, bởi vậy quân đội dưới quyền, ông cũng rèn tập họ cưỡi ngựa, bắn cung. Các con cháu ông càng phải tập rèn cung nỏ. Con cháu Lý Quảng Lợi đều là tướng giỏi trong quân của ông. Quân đội dưới trướng Lý Quảng Lợi đã nhiều phen đánh cho giặc Hồ thất điên, bát đảo, tháo chạy về nước. Cả đoạn biên ải khá dài do ông trấn giữ luôn vững vàng; người Hồ trước khi vào cướp, chúng đi trinh sát để tránh đụng độ với quân lính của ông. Song suốt đời Lý tướng quân chịu phận quan trấn ải cho đến khi ông nhắm mắt xuôi tay. Lý Lăng là hậu duệ của Lý Quảng Lợi, một tướng kị giỏi, bắn cung rất cừ. Suốt thời nhà Hán, giặc Hồ thường vào cướp Trung Nguyên, mà nhà Hán ta cứ cam chịu, nhưng với Lý Lăng là trường hợp ngoại lệ. Khi giặc Hồ mới chuẩn bị tập trung quân vào cướp, Lý Lăng đã dò biết kế hoạch đó. Là tướng cầm quân trên biên ải, một mặt Lý Lăng cấp báo về triều đình, mặt khác ông đưa quân chủ động sang đánh dẹp trước. Lý Lăng đem năm ngàn quân kị trong tay sang đánh quân Hồ. Bước đầu quân Hồ đại bại, thừa thắng, Lý Lăng tiến sâu vào đất giặc, với hi vọng khi triều đình tiếp viện thêm quân và lương thảo cho mình, ông sẽ đưa quân đánh vào kinh đô giặc.

Trong lúc tin thắng trận bay về,  vua quan nhà Hán ta lẽ ra phải cử viện binh và chuyển lương cho Lý Lăng, nhưng họ sợ vua Hồ, không dám làm điều đó. Đội ngũ quan lại thối nát trong triều vốn đã ăn hối lộ của giặc, nay sợ gây thù, kết oán với giặc Hồ, nên bàn nhau án binh bất động. Nếu Lý Lăng đánh thắng, chiếm được kinh đô nhà Hồ thì họ nhận công về mình. Nếu Lý Lăng thua, họ trị tội ông là khi quân phạm thượng, hao binh, mất tướng. Lúc đó họ có thể thanh minh với vua Hồ rằng Lý Lăng tự phát chứ triều đình không có chủ trương gây binh đao. Họ bỏ mặc Lý Lăng với năm ngàn kị binh giữa trùng vây tám vạn giặc Hồ. Lương thảo hết, quân sĩ chết gần hết, Lý Lăng cũng bị thương nặng, đành cam bị giặc bắt.

Cả triều nhà Hán ta coi giặc Hồ như bố đẻ, luôn sợ hãi bọn người Bắc phương đó, nói thế có quá không Ngài nhỉ? Thực ra hai bên bước đầu cũng bang giao thông thường, hai triều đình gửi quà cáp qua lại tặng nhau. Song bọn người Hồ tinh khôn lắm, chúng muốn gì là chúng tìm cách làm cho bằng được. Dân du mục không có nguồn lương dồi dào, họ đang cần gạo của chúng ta. Họ cần một vùng đất đai màu mỡ phía Bắc sông Hoàng Hà cấp gạo cho họ bằng sức lao động của nông dân Hán. Thế là một mặt người Hồ kéo quân đến sát biên ải dậm dọa, mặt khác chúng cho gian tế mang vàng bạc, của quý phương Bắc đến dinh Thừa tướng, dinh các quan đầu triều để biếu, để mua và trình bày ý định của vua Hồ. Ăn no đồ hối lộ, quan lại lớn nhỏ đành cam tâm làm trâu ngựa cho giặc Hồ. Khi quan quân trấn thủ ngoài biên báo tin giặc giã thì vua tôi chỉ còn biết bàn nghị hòa, xin đem của cải cống nạp. Cuối cùng họ thỏa thuận cắt một vùng bờ xôi ruộng mật phia Bắc sông Hoàng Hà cho giặc Hồ.

Cắt đất thế nào cho êm đây? Bọn quan lại trong triều bàn nhau, cần phong một ai đó là vương hầu để thu lại vùng đất đai cấp cho y, như thế sẽ hợp lý. Lúc này, một con cháu quan lại nào đó trong triều được cử ra làm tay sai để quản lí vùng đất đó giúp cho giặc. Ngay tức thì, một bản chiếu phong cho tên đó tước vương hay hầu và được cấp ngay khu đất đã được giặc hoạch định sẵn. Thế là hàng chục vạn nông dân mất đất. Dưới sự quản lí của viên quan vừa được phong tước, họ phải nai lưng làm thuê cho giặc Hồ, nuôi và vỗ béo kẻ thù của dân tộc. Nếu những nông dân vùng đất đó không đồng tình cắt đất, nổi lên chống lại, lập tức triều đình cử quân đội đến đàn áp để lấy lòng giặc. Một vài ví dụ nhỏ như vậy trong muôn vàn ví dụ sợ giặc của triều Hán chúng ta.

Vì sợ giặc Hồ, vua tôi nhà Hán tìm cách kết thân với chúng, hàng năm nhân dịp lễ, tiết của nước Hồ, luôn tổ chức  các đoàn đi sứ, mang cống nạp sản vật của Trung nguyên cho vua Hồ. Triều Hán thường tổ chức các đoàn quan lại sang thăm hỏi, thực tế là sang chầu vua Hồ. Ngoài cống nạp để tỏ lòng hiếu thuận, một cách kết thân điển hình là đưa con cháu sang làm con tin. Trong bốn trăm năm triều đại nhà Hán, rất nhiều hoàng tử, công chúa lấy chồng, lấy vợ là con vua quan triều Hồ. Các công chúa lấy chồng bên Hồ, khi về phương Bắc thường không mang vàng bạc nhiều làm của hồi môn. Của hồi môn khi đi lấy chồng của họ là những vùng đất nông nghiệp màu mỡ với hàng ngàn, hàng vạn nông nô kèm theo. Đó cũng là một cách nhựơng địa nữa của nhà Hán cho giặc. Vua quan nhà Hán chúng ta đâu có thấu hiểu mỗi tấc đất ấy có bao mồ hôi, nước mắt, bao máu xương của cha ông đã đổ xuống!

Một lần sứ Hồ vào Trung Nguyên, thấy trong vườn Thượng uyển có con hươu đen. Sứ cho là con vật quý, đòi mang ngay về nước. Hán triều phải cử hẳn một Trung đại phu cùng tốp người mang con hươu sang dâng cho vua Hồ. Đoàn đi vất vả, đói khổ, nhưng phải nuôi con hươu béo khỏe, nếu không về nước sẽ bị trị tội. Cũng từ đó, mỗi năm nhà Hán bắt dân bẫy hươu, được con hươu đen nào cũng để mang cống vua Hồ. Thế là dân cả nước chúng ta thi nhau giăng bẫy bắt hươu!

Nghe kể phong thanh rằng phương Nam có một con vật tai to, mũi dài và lớn khủng khiếp, nặng gấp cả chục lần con ngựa, vua Hồ đòi Hán đế mang cống. Trung nguyên chúng ta làm gì có con voi mà đem dâng. Sợ Hồ xuất binh sang đánh, vua Hán sai hơn trăm lính trẻ khỏe hộ tống mấy nhà buôn mang vải, lụa sang Ai Lao để đổi lấy con vật đó. Hơn trăm người vượt rừng rú sang Lào, mấy tháng sau không thấy ai về được.

Sợ vua Hồ đợi lâu, nổi giận, nhà Hán sai người nói giỏi mang vàng bạc sang đút lót cho quan lại nhà Hồ, nói rằng Trung Nguyên đã cho người đi tìm nhưng chưa thấy, quý Quốc cố đợi. Mặt khác lần này nhà Hán cử hơn ngàn quân tuyển từ rừng núi hộ tống thương lái sang Lào để đổi lấy voi mang về. Đoàn quân trên đường đi, thấy rất nhiều bộ xương rải rác ven đường. Họ cho rằng hơn trăm người đi trước đã chết cả vì rắn độc và thú dữ. Thế rồi cứ theo lệ, mỗi năm nhà Hán phải cống cho vua Hồ một đôi voi. Những con vật phương Nam, không chịu nổi rét xứ lạnh, cứ đến mùa đông chúng lăn ra chết. Thấy vậy, vua Hồ cứ đến thu sang lại mang voi sang gửi nhà Hán mang về phương Nam nuôi hộ, cho đến khi họ có đến hơn một trăm con.  

Biết vua tôi nước chúng tôi khiếp nhược, bọn giặc Hồ càng ngạo ngược hơn. Sứ giả nhà Hồ sang Trung Nguyên thường đòi thừa tướng bản triều trực tiếp ra đón, Thừa tướng cũng phải trực tiếp ra đón. Thậm chí có những lần ép Thừa tướng phải lên chầu chực ở biên ải đón chúng dẫn về đến tận kinh thành. Vào đến kinh đô, lũ sứ giả ăn nói hàm hồ, thái độ ngạo mạn, xấc xược, vua quan Hán triều cũng đành vâng dạ hoặc  lặng thinh, chẳng dám bắt bẻ điều chi. Trước sân rồng, bọn sứ giả không quỳ lạy vua Hán, chúng nói sứ nước lớn không lạy vua nước nhỏ. Khốn nạn nhất là khi loạn Vương Mãng, sứ thần nhà Hồ mang chiếu chỉ phong vương cho ông ta, làm như nhà Hán là một thuộc quốc! Ngày nào triều đình cũng tổ chức yến tiệc linh đình để chiêu đãi bọn ngạo ngược đó. Trước khi chúng về nước, triều đình mang vàng bạc làm quà cho không sót một đứa, từ nhỏ đến to.

Đối lại, sứ thần nhà Hán sang Hồ luôn ở trạng thái lo sợ, khiếp nhược; thường được tiếp đón rất đơn sơ, thường bị bắt nạt, mắng mỏ, thậm chí còn bắt tội. Đại phu nhà Hán là Tô Vũ đi sứ sang Hồ, vua Hồ bắt cúi đầu từ cổng đi vào trước sân rồng, bắt vái đủ trăm vái… Tô Vũ không chịu nhục, không khuất phục liền bị vua Hồ giam lại. Sau này chúng bắt Tô Vũ vào rừng chăn dê cho một viên quan nhỏ nhiều năm, cốt làm nhục nhà Hán, ấy vậy mà vua tôi nhà Hán chúng ta cũng chỉ biết cay đắng ngậm ngùi than thở với nhau mà thôi!

Các vua Hán cứ nhận là con trời đi, nhưng riêng ta không dám nhận. Ta cũng sinh ra như bao người từ tinh cha, huyết mẹ thôi chứ có trời nào đẻ ra ta. Ở đất Trung Nguyên, họ làm hùm, làm hổ, thích chi được vậy; họ có thể cướp con dân đưa về làm cung nữ, họ có thể trảm ai bất kì lúc nào, bất cứ hoàn cảnh nào mà chả ai chống nổi. Nhưng ngược lại, với vua Hồ họ hèn yếu quá chừng. Lịch sử nhà Hán ghi lại một chuyện đau lòng điển hình mà ta cho rằng trên thế gian này có một không hai. Vương Chiêu Quân vốn là một cô gái cực kì xinh đẹp, thuộc hàng tứ đại mĩ nhân của Trung Hoa từ trước tới nay. Nàng lại là ái thiếp của vua Hán, tức là con dâu của nhà trời. Tên gian thần Mao Diên Thọ ăn cắp bản tự họa chân của nàng dâng cho vua Hồ. Thấy Chiêu Quân xinh đẹp, vua Hồ muốn lấy làm vợ, thế là một mặt y đánh tiếng bắt vua Hán dâng Chiêu Quân cho mình, một mặt ép binh đến biên giới. Triều đình nhà Hán hèn mạt run sợ trước giặc Hồ, đành nhờ nhan sắc của người con gái đó mà cứu nguy cho cả một dân tộc, một Quốc gia! Mà nhục hơn nữa, đó là vợ vua, là con dâu của Thượng đế! Có gì nhục nhã hơn, có gì mỉa mai hơn trong lịch sử bốn trăm năm của nhà Hán không Ngài nhỉ?  

Theo ta hiểu, triều đại có thịnh, tất có suy, nhưng triều đình họ Lưu ta thì suy đốn ngay từ ngày đầu cho đến khi nó sụp đổ. Một thể chế chính trị mà người đứng đầu có học thì nó lâu bền hơn là kẻ vô học nắm quyền. Thể chế chính trị nào rồi cũng sẽ suy tàn, chỉ có Quốc gia và dân tộc là vĩnh cửu. Thiên hạ hợp lại chia, chia lại hợp như La Quán Trung nói đúng đấy, nó đi theo sự thịnh, suy của mỗi thể chế chính trị mà thôi. Thể chế chính trị chỉ bền khi những người chèo lái biết vì dân, lấy dân làm cội rễ thì nó bền lâu. Mà ta nói cũng đủ rồi đấy, cũng nên nghỉ thôi. Tới sau sẽ là viên thái sư đưa ta lên ngai vàng, Ngài sẽ được gặp y đấy.

– Thưa Hoàng thượng, cám ơn Ngài đã cho hậu sinh biết được nhiều điều quý giá trong lịch sử và quan điểm riêng của một vị vua.

Hồi thứ ba

TỪ THẢO KHẤU LÊN CHỨC THÁI SƯ

MĂC MƯU NGƯỜI, ĐỔNG CÔNG BỊ HẠI

            – Xin cung kính chào Đổng thái sư!

            – Ôi chà! Vua sai nên ta phải đến, Hoàng thượng đã dặn ta trước cả rồi. Lê được cái bụng nặng thế này đến gặp Ngài, ta mệt thấy mồ đấy. Có chuyện gì hai ta trao đổi nhanh thôi, kẻo ta nặng cân quá, đứng lâu không chịu nổi.

            – Thưa, vậy thái sư ngồi tạm đi, nếu Hoàng thượng trao đổi trước rồi thì kẻ hậu sinh xin đi thẳng vào câu hỏi đầu tiên, Xin thái sư cho biết đôi nét về Ngài trước.

            – Ta họ Đổng, tên Trác, thuở nhỏ là đứa trẻ mồ côi, cha mẹ ta là ai, đến nay ta cũng không được biết. Cuộc sống nghèo khổ nên ta không được học hành, đến lúc trưởng thành mà ta chưa viết được quá trăm chữ dễ nhất. Lúc mới lớn, ta có nhập hội với bọn Cái bang, các đàn anh cũng dạy cho ta đôi đường gậy đả cẩu. Cuộc sống trong đó nghèo khó quá nên ta không thể nhẫn chịu được, đành từ bỏ bang ăn mày ấy.

            Năm hai mươi tuổi, ta tìm một số trẻ đến độ trưởng thành, đang lang thang để tổ chức một đám nửa ăn cắp, nửa ăn cướp. Ban ngày bọn ta đến các chỗ đông người móc túi lấy tiền chi tiêu. Ban đêm thì tùy hoàn cảnh, đột nhập vào các nhà có của, im lặng thì ăn cắp, nếu gia chủ có biết thì chúng ta trấn áp để cướp của. Nhiều lần công việc chót lọt, nhưng đến một ngày, gia nhân nhà họ đông quá, thế là xảy ra đâm chém nhau. Trong lúc lộn xộn, không may có lính kéo về. Bọn ta sợ quá bỏ chạy thoát thân. Không may một đứa nhỏ nhất bị lính bắt được. Thằng nhỏ không chịu nổi đòn, thế là hành tung ta bại lộ. Ta đành dẫn cả bọn vào rừng, lập lên một sơn trại nhỏ, chặn đường cướp của nuôi nhau.

            Cuộc sống trong sơn trại tuy có tự do, nhưng lúc đầu vô cùng vất vả. Băng đảng mới thành lập nên chưa có nguồn dự trữ, bởi vậy có những ngày bọn ta bị quân lính vây hãm trong rừng, phải ăn lá rừng với củ dại trừ bữa. Rồi gió núi, mưa ngàn, tuyết rơi lạnh giá vào mùa đông, cái bão gió cùng ruồi muỗi mùa hè… làm chúng ta cực hết chỗ nói. Tuy khổ sở, nhưng trong sơn trại các tay chân vẫn rất tin ở ta, không có kẻ nào bỏ trại ra hàng quan quân nhà Hán. Đảng cướp của ta dần dần đông lên, mạnh hơn và giàu có hơn. Một số năm sau ta xây dựng sơn trại đàng hoàng, có chiến lũy kiên cố phòng thủ và tuần tra bảo vệ suốt ngày đêm. Theo ta có Lý Nho, hắn khá hiểu binh pháp, y bày cho ta lập hai sơn trại gần nhau để làm thế ỷ dốc. Quan quân nhà Hán đến đánh nhiều lần, lần nào cũng bại trận trở về. Băng cướp của ta nổi tiếng cả vùng không chỉ vì mạnh và hung hãn.

            Một lần sau khi không đánh nổi chúng ta, quân triều đình tơi tả kéo về phủ. Lý Nho dẫn hơn trăm tên cướp đi ngựa chặn đường bọn đó. Chúng ta đánh cho chúng tan rã hẳn và bắt ngay được viên tướng cầm đầu quân lính của đám quân ấy. Viên tướng hèn ấy chính là cháu bên ngoại của hoạn quan Phong Tư trong triều. Phong Tư ép viên châu mục đưa tiền đến sơn trai để chuộc tên tướng đó về. Ta định cho chuộc để lấy thêm vàng bạc, song Lý Nho hiến kế:

            – Nhạc phụ đừng cho chuộc, hãy để y lại và yêu cầu mệnh quan triều đình đến trực tiếp thương thảo xem ra sao đã. Biết đâu ta chẳng kiếm được những món lợi lớn hơn.

            Nghe lời Lý Nho, ta giam tên tướng đó lại. Thế là quân quan nhà Hán hùng hổ kéo đến đánh phá sơn trại. Lần này quân số họ đông lắm, cha con ta chỉ thúc thủ, chuẩn bị nhiều lương, cung nỏ gỗ đá chống trả mà thôi. Họ bao vây sơn trại đến hơn tháng trời, hôm nào cũng tổ chức phá cổng, nhưng không thành, quân sĩ của họ chết do đá gỗ đè, tên bắn đến cả ngàn người. Đúng lúc lương thảo của ta đã cạn, Lý Nho bàn rằng nên đưa viên tướng bị bắt ra trước lũy bên cổng trại thương thuyết để quân triều đình rút đi, nếu họ không rút sẽ chém viên tướng đó rồi ném đầu xuống trả. Ta muốn kết giao với Phong Tư, nên không nghe điều đó, cứ huy động quân cố thủ trong trại mà thôi. Lương thực cạn, khẩu phần ăn giảm hàng ngày, có lẽ chỉ tuần trăng nữa là hết lương, phải hạ trại đầu hàng thì quân triều đình lại tự rút đi. Quân triều đình rút rồi, chúng ta lại tìm cách tích trữ lương thảo nhiều để phòng họ quay lại.

            Quan quân triều đình lần đó rút hẳn, không quay lại nữa, chắc họ đã nản chí. Nửa tháng sau bọn đi tuần dẫn vào cho ta một người, đó chính là viên huyện lệnh Trần Cung. Trần Cung mang một đạo dụ của vua Linh đế nhà Hán chiêu hàng chúng ta. Trong đạo dụ ghi rõ, nếu chúng ta quy hàng thì các thủ túc được miễn tội, được mang vàng bạc về quê sinh sống. Ai không muốn về quê thì theo ta, ta được phong  chức huyện lệnh một huyện thuộc Lũng Tây. Sau khi xem kĩ đạo dụ, trao đổi cẩn thận với Lý Nho, ta tiếp Trần Cung như là một khách quý của sơn trại. Thấy thái độ của ta ân cần, sau khi yến tiệc, Trần Cung đưa cho ta xem phong thư riêng của Phong Tư. Trong thư, Phong Tư nói việc chiêu hàng ta do y xúi Hán đế, y hứa, nếu ta thả cháu y và quy thuận, y sẽ nhận ta làm chân tay thủ túc và sẽ nâng đỡ trong giới quan trường.

            Thế là ta cùng thủ túc hạ sơn, theo về triều đình, nhận chức quan nhỏ ở Lũng Tây. Đảng cướp của ta đã giàu có, nhiều tiền, lắm vàng; song từ khi lĩnh chức huyện lệnh ta lại bóc lột dân tàn tệ hơn để lấy tiền của để mưu con đường tiến thân. Không kì tiết lễ nào ta không có của quý làm quà để dâng cho Phong Tư, mà lúc đó Phong Tư lại là một hoạn quan nắm quyền lớn trong triều, nên ta càng thuận đường tiến tới. Gần chục năm sau, ta đã sung chức Tiền tướng quân, tước Ngao hương hầu kiêm Thứ sử Tây Lương. Cuộc đời ta phất từ đó. Những chuyện về sau La Quán Trung nêu khá đầy đủ, nhưng với ta, giọng văn ác cảm quá Ngài ạ. Nào ta đã gây thù chuốc oán gì với ông ta đâu.

            – Thưa Đổng thái sư, việc Ngài phế vua Thiếu đế, lập vua Hiến đế, chuyện đó hư thực thế nào?

            – À, chuyện đó thực đấy Ngài Lê Vân ạ. Ta đưa hai chục vạn quân Tây Lương về Lạc Dương để phò nhà Hán. Lúc đó thì người thầy của ta là Phong Tư đã bị diệt mất rồi, tự thân ta phải lo liệu thôi. Trong hoàn cảnh hầu như các đại thần chỉ sợ lực lượng quân đội của ta chứ chưa ai biết ta, chưa ai ưa ta đâu. Trong hoàn cảnh ấy, ta phải thị uy họ, phải làm cho họ sợ, họ phải biết rằng nếu chống lại ta là bị diệt trừ ngay. Nếu họ hiểu vậy, tất họ sẽ phải theo ta, dù không muốn. Cách thị uy các quan lại trong triều không gì hay hơn là việc phế lập Ngài ạ. Ta phế được vua cũ, giết y đi mà không ai làm gì được ta, tất các quan đai thần phải sợ ta một phép. Còn vị vua được ta dựng lên, ít nhất cũng nhớ được ơn ta, biết nghe lời ta, làm theo ta, làm con bù nhìn để ta dật dây. Vả lại, Thiếu đế và Hiến đế là hai gã trẻ con, đã biết gì đâu, ai làm chẳng vậy, họ chỉ gật hay lắc đầu khi người có uy thế bảo mà thôi.

            – Thưa, trong Tam quốc viết, hàng ngày Ngài dùng tỉ thụ của vua, nghỉ trên long sàng, chiếm đoạt các cung nga mĩ nữ hậu cung, chuyện đó thế nào?

            – Ngài biết đấy, cõi âm dưới này không được nói dối, vả lại bao nhiêu tội lỗi ta sám hối đã sạch sẽ cả, có gì nữa để mà xấu hổ. Ta là thái sư, quyền hành to nhất triều, sai bảo được cả vua thì còn sợ ai? Lẽ ra ta hạ bệ cả hai vua, lên ngôi cửu ngũ kia, song lúc đó thế ta chưa thật vững, vậy nên ta vẫn phải lưu trên ghế cái thằng trẻ con. Đã vậy thì ta dùng tỉ thụ của vua Hán hay ngủ trên long sàng có gì là đáng để ý đây. Còn chiếm đoạt cung nga, mĩ nữ thì có đấy, nhưng không phải chiếm tất đâu, có lựa chọn đấy. Cung nga mĩ nữ ta dùng là những nàng đẹp, mà lại không phải đồ thừa của các vua Hán. Nói cho cùng, hàng mấy trăm người ở hậu cung có được ai đoái hoài đâu, khổ lắm chứ, nên thấy ta là đàn ông vào đến hậu cung là họ đã phấn chấn lên rồi. Vả lại, thấy thế ta lớn quá cũng muốn theo để lấy chỗ che chở cho đời mình thôi. Mà nói thật chứ hai đứa trẻ con ấy làm thế nào thỏa mãn tình ái cho họ được. Có chuyện này chỉ nói riêng với Ngài trên cõi trần thôi. Ta chết đi, họ bảo nhà Hán đã chu di cửu tộc họ Đổng đó, nhưng sau gần hai chục năm có chàng thanh niên lại theo về thắp hương trên mộ. Đó chính là con đẻ của ta với một cung nữ rất xinh đẹp. Con ta sau này làm ăn cũng phát đạt, giàu có lắm, nhưng nó chỉ buôn bán làm giàu thôi chứ nhất định không theo nghiệp quan trường Ngài ạ. Khi được mẹ dẫn ra thắp hương cho ta, nó cắm nhang rồi cứ khóc hoài. Còn vợ ta tâm sự:

            – Tướng công nếu cứ ở Tây Lương, làm thái thú thì chắc không có thảm họa này. Nhưng thôi, tướng công ạ, trời vẫn không để dòng họ Đổng ta tuyệt nọc, vẫn cho vợ chồng ta thằng bé này. Có bao vốn liếng, thiếp cho hết con gây dựng lấy cuộc sống dân dã, nguyện tránh xa chốn quan trường.

            Việc của ta thế đấy Ngài ạ.

            – Thưa, hậu sinh hỏi câu này nếu không phải thì xin Ngài miễn chấp nhé?

            – Có việc gì thì chúng ta cứ tự do trò chuyện mà. Mọi xấu xa, tội lỗi trải gần hai thiên niên kỉ đã gột sạch trơn, có gì đâu mà phải giữ ý.

            – Thưa, cái chuyện tình tay ba giữa thái sư, Điêu thuyền và Lã Bố có thực hay họ thêu dệt ạ?

            – Chuyện thực mà cũng không thực Ngài ạ. Chuyện là thế này, Vương Doãn gả Điêu Thuyền cho Lã Phụng Tiên chứ không phải cho ta. Điêu Thuyền là một trong bốn mĩ nhân cổ nước Tàu ta đấy. Nàng xinh đẹp, đàn hay, hát giỏi, tinh thông văn học… Ai trông thấy nàng cũng phải xiêu lòng. Khi Lã Bố bị Tào Tháo giết, họ định giết cả Điêu Thuyền, nhưng nhìn thấy nàng không một ai dám hạ đao; từ Tào Tháo đên Lưu Bị, Trương Phi. Mãi sau này nhờ có Quan Vân Trường mới làm được việc đó. Lúc ở với ta, Lã Bố thường hay phải đi trận mạc, để Điêu thuyền ở nhà có một mình, nàng thấy trống trải, nên buồn. Điêu Thuyền thi thoảng được gọi sang phủ đàn cho ta nghe, thế là ta cũng xiêu lòng nên phạm vào luân thường, đạo lí. Trên đời đâu có mình ta mắc tội này, còn khối kẻ xuống dưới này cùng phơi nắng sám hối tội đó một sân với ta Ngài ạ.

            Còn chuyện ta bị giết, không phải Lã Bố phản lại mà giết ta đâu. Lão họ La ghét ta quá, ghét cả Lã Bố nên thêm chanh  thêm ớt cho mùi mẫn thôi. Ta bị Vương Doãn lừa về để lo hậu sự cho vua rồi phục binh giết chết là thực đấy. Trước đây bọn chúng mất quyền, mất lợi vì ta, nay giết được ta, lão già Vương Doãn cùng các quan quyết làm nhục, chúng bêu xác, rồi đốt xác ta là đúng đấy, mà đốt thế lại sạch sẽ Ngài ạ. Sau khi giết ta, bọn Vương Doãn nhờ có Điêu Thuyền chiêu hàng được Lã Bố, còn bọn tay chân khác của ta như Lý Thôi, Quách Dĩ đều mang quân binh dưới trướng trốn đi cả. Về sau Lý, Quách dấy binh đánh chiếm Trường An, hai thủ túc trung thành ấy tìm được chút ít hài cốt ta làm ma linh đình và tìm chỗ mai táng cho ta. Hai đứa ấy lòng trung thì thực đáng khâm phục, nhưng chúng là những đứa dốt nát. Chúng đón một thầy về cúng và tìm đất mai táng hài cốt ta.  Tên thầy cúng nói với chúng :

– Bẩm hai tướng quân, Đổng thái sư là quan đầu triều, phải tìm nơi đất đẹp và cao ráo. Tìm đất cao để thái sư có thể đứng trên bao quát cả bàn dân thiên hạ.

Lý, Quách nghe bùi tai, cứ nhắm mắt theo gã thày cúng, chúng chôn hài cốt ta trên đỉnh quả đồi, cứ chôn xong lại bị sét đánh, chôn lại lại bị sét, cái ấy La Quán Trung nói thật đấy. Sét đánh vào mộ ba lần, thiêu cháy toàn bộ hài cốt ta thành tro, trôi đi hết; bọn Lý Thôi, Quách Dĩ mới chịu thôi. La ghét ta kể rằng ta gây nhiều tội ác nên mộ bị trời phạt, nhưng đâu phải vậy, mấy đứa dốt nát chôn ta trên đồi mà dưới là mỏ quặng sắt nên bị sét thôi. Về sau cứ mưa gió ngọn đồi đều bị sét Ngài ạ. Ta cho thế là ta nhẹ nhàng và sạch sẽ, chẳng oán thoán ai hết. Giết ta xong, bọn chúng tru di chín họ nhà ta, song trời xanh không nỡ tuyệt nọc họ Đổng, vẫn để cho ta giọt máu sót lại.

            – Thưa, trong truyện viết: một lần Ngài từ My Ổ về kinh, gặp đám hội, Ngài đã giết hết đàn ông, chiếm phụ nữ trẻ chia cho quân hộ vệ, việc đó thế nào?

            – Nói bậy đấy, lão La Quán Trung ghét ta, nên cố tình bày đặt những tình tiết rợn cả người. Đúng có lần về kinh gặp đám hội thật. Thấy ta đi qua, chủ đám hội đó đến bẩm xin thái sư dừng chân vào dự hội. Ta cho quân sĩ nghỉ ngơi vào dự hội với dân chúng một ngày. Đêm hôm đó, lão chủ đám hội và quan huyện lệnh mời về nghỉ ở huyện đường. Quả là đêm đó hai thằng cha ấy kiếm đâu mấy đứa đào non, xinh ra phết, lại nguyên trinh mời ta cùng vui. Bọn trẻ còn nhỏ quá, van lạy, nhưng lão chủ hội và lão huyện lệnh đã vừa thưởng tiền, vừa ép chúng phải theo. Sau đó ta cũng chi cho chúng khá nhiều vàng bạc để bù lại cái thiệt thòi đó. Khi về nghỉ ở huyện đường, ta sai lầm là đã để quân lính ở lại dự hội. Bọn chúng chắc đã làm một số chuyện xấu, nhưng không lớn nên có thấy điều tiếng gì đâu, chắc thế nào chả có chuyện tình lằng nhằng của lính và bọn thanh nữ trong hội. Lão La ghét ta nên nói quá lên vậy thôi, có điên mới tự giết dân. Chính vì cái tội với ba đứa trẻ, khi xuống dưới này ba thầy trò chúng ta phải quỳ trước sân nắng một tuần, thật khốn khổ đến vàng cả mắt ra đấy. Làm sai trời đâu có tha tội Ngài ạ.

            – Thưa thái sư, thiên đô về Trường An có phải là lệnh của Ngài? Trong truyện khi thiên đô việc cướp phá, giết người thật rùng rợn, chẳng hay chuyện ấy hư thực ra sao?

            – Thiên đô là lệnh của ta, ta ít học, thấy trẻ hát câu: Hươu chạy về Trường An, mới thoát khỏi tai nạn, thế là ta quyết định thiên đô. Trong chuyện này hầu hết quan trong triều chống lại, vì gia đình họ đang êm ấm ở Lạc Dương, nhà cao cửa rộng, phủ đệ nguy nga, ai nỡ bỏ. Một số chống lại đến cùng, nên ta phải giết mấy vị là đúng đấy. Lệnh đã ban, không được thực hiện thì ta còn sai bảo được ai nữa? Còn chuyện cướp phá lúc thiên đô là lão La Quán Trung bịa ra đấy. Các xe chở đồ được bảo vệ rất kĩ bởi quân cấm vệ của ta. Tuyệt nhiên không có chuyện cướp phá của cải nhà dân cũng như nhà quan. Song sau khi quan quân chuyển hết đi rồi thì dân quanh vùng có tìm vào Lạc Dương hôi của. Ác nhất là các đảng cướp quanh vùng, chúng tràn vào đốt phá tan cả thành Lạc Dương, đào mồ đại quan lấy vàng bạc; bọn cướp làm, nhưng La Quán Trung đổ tất cả tội cho ta thôi. Tất nhiên ta là người chủ trương thiên đô, ta phải chịu một phần cái trách nhiệm để Lạc Dương tan nát.

            – Thưa, thái sư ở dưới này lâu nay vẫn bình an chứ?

            – Ngài cứ nhìn ta thì biết, sau khi sám hối hết tội lỗi, mọi linh hồn dưới này đều bình đẳng như nhau thôi, chẳng có ai là trên, ai là dưới, không có kẻ thù mà toàn bạn hữu thôi. Chúng ta sống thuận hòa chứ không như khi ở trần thế. Có lộn xộn dưới này là khu vực các kẻ đang còn phải sám hối với tội lỗi đã gây ra thôi. À, mà  thời gian đã lâu, ta kể cũng đã nhiều, không nên để Thiên Công tướng quân chờ mãi. Chào Ngài Lê Vân, ta đi nhé.

            – Hết sức đội ơn thái sư đã không tiếc thời gian có lời chia sẻ với hậu sinh.

 

Hồi thứ tư

MẤT HẾT RUỘNG, NÔNG DÂN KHỞI NGHĨA

THẾ CỜ TÀN, TRƯƠNG LÃO ĐI TU.

 

            – Thưa Đại tướng quân! Kẻ hậu sinh vừa tiếp chuyện Đổng thái sư triều Hán trước, vậy tướng quân có thấy điều gì không phải chăng?

            – Ồ, xin chào Ngài Lê Vân. Có chi phải suy nghĩ nhỉ, ở dưới này chúng ta sám hối xong, còn chi hận thù nữa đâu. Mọi người sống với nhau thân mật và bình đẳng lắm, đâu còn trên dưới, giai cấp như trên trần thế. Ngài tiếp chuyện ai trước cũng chả sao, có khi tiếp cả ta lẫn Tào Tháo một lúc cùng trò chuyện càng vui, dưới này chúng ta đều là bạn tốt cả.

            – Thưa Thiên công tướng quân, hậu sinh hỏi câu nào không phải, xin tướng quân rộng lòng lượng thứ. Câu đầu, xin hỏi: Có phải tướng quân vào núi tu, nhận được thiên thư nên dựng cờ khởi nghĩa thế thiên hành đạo, giúp đời phải không ạ?

            – Câu hỏi này phải trả lời thế nào nhỉ? Có lẽ ta phải đi từ đầu câu chuyện. Trương gia trang thuộc vùng Cự Lộc, gia đình họ Trương bao đời bề thế, giàu sang nhất vùng. Từ đời cụ tổ họ Trương đã biết mộ nông phu thất nghiệp về vùng đất này khai hoang, vỡ hóa. Từ thời vua Quang Vũ, họ nhà ta đã mộ nông phu khai hóa đất đai, đến đời vua Linh đế, đất ruộng Trương gia trang đã có hàng vạn mẫu. Tất cả đất đai đó đều là bờ xôi, ruộng mật hiếm thấy nơi nào có ruộng tốt hơn.

            Để có hàng vạn mẫu đất này, gia đình họ Trương ta và đội ngũ nông phu đã hàng trăm, hàng ngàn người ngã xuống. Nội tổ ta có kể, người họ Trương đầu tiên dẫn đến đây có hơn trăm trai tráng khỏe mạnh, ông bỏ tiền gạo ra nuôi họ năm năm đầu, họ sống với nhau như anh em ruột thịt, vừa vỡ đất, vừa làm nhà, đánh cá, săn bắn… Sau năm năm chỉ còn lại hơn tám chục người, hai người bị thú dữ tha đi mất tích, ba người bị rắn độc cắn chết, tám người bị lũ cuốn đi không còn xác…Có năm chuột cắn phá, hoành hành, tất cả mọi người phải xua chó đi đuổi chuột suốt đêm. Đêm chó ra đồng thì kéo theo thú dữ cũng lần về bắt chó, bắt người; cho nên cuộc chiến giành giật miếng cơm manh áo vô cùng nguy hiểm vất vả. Có năm châu chấu tràn về, chưa hết tuần trăng tất cả hoa màu mất sạch trơn…

Được bù lại là hơn tám chục người đã có cuộc sống yên ổn mỗi suất đinh dù đã có gia đình hay không đều có một ngôi nhà, vườn thổ để sinh sống quần tụ trong xóm nhỏ Trương gia thôn. Cái xóm nhỏ được tôn tạo quy củ, đường đi lối lại trong xóm, đường giao thông ra bên ngoài, đê bao chống lũ, chống thú dữ cũng như giặc cướp. Cuộc sống ở Trương gia thôn tuy vẫn là chủ ruộng và tá điền, nhưng cuộc sống rất dễ chịu. Tô thuế vừa trả cho chủ đất và quan trên chỉ bằng nửa nơi khác, nhưng ruộng đất lại màu mỡ. Ngũ cốc còn dư, nhà nào cũng biết giữ lại phòng lúc mất mùa. Ông chủ đất có cả một kho lương thực khá lớn, năm châu chấu phá sạch mùa, ông chủ Trương bỏ thóc ra cho dân làng sinh sống để có sức làm vụ sau, khi nào mùa được họ lại mang trả.

Thấy sống với ông chủ Trương dễ chịu hơn nơi khác, nông phu các nơi đổ nhau về xin theo. Trương gia thôn vì thế càng ngày càng đông dân. Cuối đời vua Linh đế dân cư trong thôn đã có đến hơn vạn hộ. Dân cư đông, họ Trương tổ chức cho dân đắp đê ngăn lũ, làm kênh mương dẫn thủy nhập điền, làm thêm các hệ thống đường giao thông thủy bộ, đóng thuyền để chuyên chờ hàng hóa. Từ hệ thống giao thông, thủy lợi thuận tiện, ruộng đất tưới tiêu khá chủ động nên lúa nước một năm hai vụ, đời sống ấm no hẳn lên. Dân bên ngoài tuy không nhập vào ở, nhưng cũng xin đến vỡ đất, làm thuê cho gia đình họ Trương ta cả vạn nhà. Mọi gia đình đều được đối xử tử tế nên tá điền rất quý người chủ đất.   

Mở rộng đất canh tác, đắp đê ngăn lũ để cấy hai vụ, nhưng cũng có những vụ lũ, nước to quá, phá vỡ đê, làm hàng trăm gia đình mất nhà, hàng chục người bị lũ cuốn trôi. Những lúc ấy, Trương gia thôn ta lại cùng nhau lo liệu, lá lành đùm lá rách nên tuy thiệt hại vậy mà không một gia đình nào rời bỏ nó ra đi. Hàng trăm năm đã trôi qua, các hộ làm trên đất ruộng của Trương gia có đến mấy vạn.

Cuối đời vua Linh đế, giặc Hồ phương Bắc lăm le đưa quân xuống. Vua nhà Hán xưa nay rất sợ giặc Hồ, nên tìm cách kết thân, thế là một công chúa được đưa sang làm dâu bên Hồ. Công chua ra đi tất phải có của hồi môn. Giặc Hồ biết vùng Cự Lộc ta có Trương gia thôn là vựa lúa mà họ rất cần. Thế là một vạn mẫu ruộng đẹp nhất trở thành ruộng hồi môn của công chúa. Cả họ Trương chúng ta bây giờ phải làm thuê cho công chúa, mà thực ra là nai lưng ra phục vụ cho giặc Hồ. Mất gần nửa số ruộng, nhưng Trương gia thôn vẫn cắn răng chịu đựng, họ phân chia lại số đất canh tác còn để cùng nhau sống tạm và mở rộng việc khẩn hoang.

Ít năm sau vụ cướp đất trên, khi Hà quý phi-sau này là Hà hậu, được vua sủng ái, bà sai bọn hoạn quan vu tội cho họ Trương ta chiếm đất của triều đình mà không được phép của quan châu mục. Bọn quan lại đưa hàng vạn quân xuống cưỡng chiếm toàn bộ đất ruộng để phong cho đại thần Hà Tiến. Bị cưỡng chiếm bất ngờ, hàng ngàn nông dân ra đồng giữ ruộng. Họ đứng thành hàng rào bao quang ruộng không cho quan quân hành sự. Thế là quân đội đàn áp thẳng tay; hơn một vạn quân được nuôi dưỡng, đầy đủ vũ khí thẳng tay đánh giết số dân đã đóng góp thóc gạo nuôi họ. Họ giết đến hơn trăm mạng trai tráng, cướp hết số đất còn lại của Trương gia thôn để cấp cho Hà Tiến, mà thực chất là cho Hà quý phi, một ái thê của Linh đế. Các lão niên trong Trương gia thôn được cử ra lên gặp quan lại các cấp, viên huyện lệnh thì sợ triều đình đến phát run, phát rẽ không dám tiếp dân. Viên châu mục sau khi nghe hết sự tình cũng biết việc cướp đất như thế là sai, nhưng vì đã có sắc phong cho Hà Tiến nên y không dám đứng ra giải quyết, đành bảo các bậc lão niên về kinh bẩm tấu với thừa tướng. Các cụ vất vả chẩy kinh, không được giáp mặt thừa tướng mà bị bọn lính tuần thành bắt nhốt đói mất mấy ngày với lí do không có lệnh thì cấm người dân vào triều.

Đòi lại ruộng không được, họ Trương ta lúc ấy đã trên trăm hộ, vì thế phải bỏ cả làng xóm kéo nhau vào rừng sinh sống. Gia đình ta ra đi, kéo theo mấy ngàn tá điền mạnh khỏe cũng ra đi theo, họ là những người bao đời sống chết với họ Trương ta. Cuộc sống trong rừng lúc đó có gì ăn đâu mà tu hành. Tất cả những ai có sức lúc ấy đều vất vả tối ngày kiếm lâm thổ sản mà nuôi nhau. Cuộc sống đói khổ khốn cùng buộc chúng ta phải cùng nhau chống lại triều đình nhà Hán. Ban đầu chúng ta lập sơn trại trong rừng, ban ngày ra đón đường cướp tiền của bọn khách buôn. Ban đêm chúng ta cướp các nhà giàu, tiền của có được để dự trữ cho sơn trại. Lúc tiền của dư dật, chúng ta mang phát chẩn cho dân đói.Thấy chúng ta cư xử tử tế, dân nghèo theo về đông, thế là chúng ta mua sắm thêm vũ khí, chiêu binh, mãi mã xây dựng quân đội.

– Thưa tướng quân, sao khi ngài khởi nghĩa lại lấy cờ vàng? Chẳng hay thiên thư dạy thế?

– Ồ! Chúng ta vào rừng, đói khổ sắp chết mới phải nổi dậy khởi nghĩa thôi. Đói như vậy, ai mà tu được hả Ngài? Tu cũng phải có ăn mới sống mà tu chứ. Ta đâu có được ban thiên thư hay gặp tiên ông nào đâu, thấy thế quân ta lớn, phát triển cực nhanh nên La Quán Trung gắn cho cái mác nhờ thiên thư thôi. Chúng ta cứ vì dân là người dân cũng lập tức tập hợp quanh ta thôi, Ngài ạ. Họ bị triều đình bóc lột đến xương tủy, không thể sống nổi, đi với ta họ có cơm ăn, áo mặc, gia đình có ruộng cày, thế là họ theo. Còn họ Trương ta phát từ đất đai, đất đai thuộc thổ, mà thổ màu vàng, ta lấy cờ vàng là hợp với cơ sở tấn phát của Trương gia. Vả lại, nông dân theo ta cần đất, chúng ta chiến đấu vì đất đai nên hợp với nguyện vọng đại đa số người lính. Trong truyện, La Quán Trung có nói đến chuyện trời xanh sắp đổ, trời vàng sắp lên là không đúng đâu. Trước ba quân cùng bàn dân thiên hạ, ta chỉ nói một câu: Chúng ta là những người chiến đấu đòi lại đất đai của cha ông. Lấy lại được ruộng đất của cha ông chúng ta sẽ chia cho con cháu của tất cả mọi người.

Quân đội ta đông, xả thân vì đại nghĩa nên chúng ta đánh đâu thắng đó. La Quán Trung nói thế ta lớn, có trên hai chục vạn quân, cái đó là đúng đấy, chỉ sau hơn hai năm đứng lên, chúng ta đã chiếm gọn bốn châu U, Từ, Thanh, Ký. Có cơ bản, chúng ta mang quân đi đánh chiếm các châu khác chẳng khó khăn lắm đâu. Quan quân triều đình lương cao, bổng hậu, lâu nay không trận mạc, được nuôi dưỡng tốt nên tên nào cũng chỉ quý cái thân, ra trận là sợ chết, trong khi đó quân ta lại là quân cảm tử, họ hi sinh vì miếng cơm, manh áo, vì gia đình mình nên dễ thắng cũng phải.

Năm sau nữa, ta đã làm chủ thêm bốn châu nữa, quân số có được gần ba mươi vạn người. Tám châu tiền nhiều, của lắm, cuộc sống của quân sĩ khá lên, lương thảo tích trữ nhiều vô kể. Dân tình an vui, quân sĩ đang đà phấn chấn, đánh đâu thắng đấy. Ta đã có ý trên đà này cứ  đánh dấn lên chả mấy chốc sẽ hạ được Hán triều. Có được tám châu, Hầu Nhân Thắng, quân sư của ta bàn cần phải xưng danh cho chính để lòng dân tôn phục. Khi đã có danh chính thì phải phong thưởng cho tướng sĩ, những người có công thì mới động viên được sĩ tốt, có như vậy mới có thể lấy được thiên hạ. Bùi tai, nghe lời y  thế là ta xưng là Thiên công tướng quân, tước Hộ quốc công; hai em ta được phong là Địa công, tước An viễn hầu và Nhân công tướng quân, tước Bình hán hầu. Cái này xem ra oai đấy, nhưng thế của ta cũng suy từ cái đó Ngài ạ. Lên chức, có tước thì phải phong cho tay chân, tùy tùng, thế là chúng ta phong thêm cho những người có công theo mình các chức tước dưới quyền. Có chức tước là phải có lộc kèm theo để yên lòng chúng. Thế là chúng ta lấy của cải, ruộng đất chiếm được tự thưởng cho mình trước, rồi thưởng cho các quan dưới trướng sau. Các quan lại từ to đến nhỏ bắt đầu xây cất phủ đệ, tư dinh và tính kế hưởng thụ lâu dài, vinh thân, phì gia. Ta đã từ bỏ lời hứa ban đầu với tất cả quân sĩ là đòi ruộng về cho họ; thế là tự ta đã hại ta.

Ta không còn theo được cái truyền thống của Trương gia bao đời để lại, quên cả lời dạy của tổ tông là phải yêu dân, lấy dân làm gốc, coi dân như thầy nữa. Đối với dân, những người từng theo ta, nuôi ta, ta quay lại hà hiếp, áp chế họ.Ruộng đất của dân bây giờ ta cuố đoạt để cấp cho quan lại. Bọn quan dưới quyền trước đây nghèo khổ, bây giờ một phút đã thành ông, thành bà, chúng theo ta cũng quay ra bóc lột dân chúng. Ta là người có học, ít nhất cũng còn học được đôi chữ, còn chút nhân tâm. Quan lại dưới ta đều là bọn nông phu một chữ bẻ đôi đâu biết, chỉ biết cày bừa nay được thế quay ra bóc lột, đàn áp người dân đến khốn nạn. Đa số người lính mới theo ta, ban đầu khí thế hừng hực tưởng đánh đâu cũng thắng nhìn cảnh cha mẹ họ hàng của mình bị bóc lột, đàn áp cũng căm lòng. Quan lại chăm lo làm giàu cho bản thân, quân sĩ mất khí thế, sĩ khí từ đây của ta kém hẳn ngày trước.

Ta thất bại trận đầu ở Quảng Tôn, khi đánh nhau với Lư Thực. Ta cầm mười vạn quân đến vây đánh Quảng Tôn, trong tay Lư có không được năm vạn quân. Ta vừa tiến binh vừa đưa thư yêu cầu Lư dâng thành; nếu dâng thành ta đảm bảo mạng sống cho y và mọi người. Nếu không dâng thành, khi ta hạ được sẽ làm cỏ không sót một mống. Lư không thèm trả lời, y cứ vừa điều binh sĩ cản bước ta, vừa lui dần về thành. Trong lúc cản ta, y chuẩn bị chất gỗ đá xung quanh và điều khiển quân lính dùng cung nỏ để chống lại. Khi y rút hết quân vào trong thành, ta chia quân bao vây chặt ba phía, để một phia Bắc trống, nhưng ở xa ta bố trí một đội hùng binh chuẩn bị đón y. Ta đến cửa thành phía Bắc, thách Lư ra giao chiến, Lư không trả lời, bực quá, ta bắn tên thư vào thành chửi bới, xỉ nhục, Lư vẫn im lặng. Ta đốc quân công thành, Lư sai quân sĩ dùng tên tẩm độc bắn xuống, sai quân dùng máy bắn đá xuống bọn quân đang phá cửa. Ngày đầu quân ta chết hơn ngàn người. Ta vẫn kiên trì sai quân công thành đến nửa tháng trời, nhưng thành cao, hào sâu, lương trong thành còn dư dật nên không thể hạ nổi.

Công thành mãi không hạ được, ta lại cho quân sĩ chửi bới, gọi y ra giao chiến, Lư vẫn lặng thinh. Ta viết một phong thư sỉ nhục đến ba đời nhà Lư, sai người đưa đến để chọc giận cho y ra giao chiến, Lư tiếp đãi sứ giả tử tế và bốn cửa thành được treo bài bãi chiến. Giận Lư không chịu được, ta bắt một con thỏ, cho mặc chiến bào, lưng đề chữ Lư, nhốt trong lồng sai người mang vào tặng Lư, hi vọng y tức quá đưa quân ra giao chiến. Lần này Lư vẫn tiếp sứ giả rất trịnh trọng và có thư phúc đáp lại. Trong phúc thư, Lư viết: Kính gửi Thiên công tướng quân, tước Hộ quốc. Lư ta chỉ là tướng nhỏ, quân hèn, không muốn và cũng không thể địch nổi với Tướng quân. Song vì vâng mệnh triều đình nên phải đưa quân ra giữ thành. Triều đình lệnh cho ta cố giữ được thành một tháng thì không phải tội. Là tướng của nhà Hán, ta phải tuân theo chiếu chỉ của vua Hán. Nếu Tướng quân có lòng yêu ta mà rộng dung cho ta đủ tháng thì hãy lui quân ra ngoài để dân tình có thể ra ngoài kiếm củi nấu cơm thì Lư này và dân Quảng Tôn đội ơn Tướng quân nhiều lắm. Hết tháng Lư ta sẽ tự rút quân khỏi đây, giao lại đất này cho Tướng quân, không dám sai hẹn.

Được thư, ta bàn với Hầu quân sư, y nói:

– Trong thành chắc thiếu lương và củi, tình thế nguy ngập, nếu ta cứ vây hãm chắc sẽ lấy được. Trong binh thư nói việc quân tha hồ dối trá, đây có thể là kế của Lư Thực muốn tiếp thêm nguồn sống chống lại ta đợi viện binh, theo ý của Hầu tôi cứ tiếp tục vây hãm, công thành là hơn.

Nghe lời Hầu bàn cũng có lý, song trong quân nhiều ý kiến phản bác lại, họ cho rằng để thắng mà không mất quân tướng là điều tốt hơn. Sau gần tháng công thành, quân ta chết đến trên vạn người, mấy tướng dũng cảm cũng bị tên, đá bắn chết, lòng quân cũng đã thấy nản. Bàn đi bàn lại, ta cho rằng chỉ dăm buổi nữa hết hạn một tháng của Lư, cũng nên rút quân để tỏ lòng khoan thứ, hi vọng sẽ chiếm thành không mất quân mà được lòng dân. Ta quyết rút quân lui về cách thành mười dặm hạ trại trên một gò đất. Đêm hôm sau trời tối đen như mực, giáp mặt khó thấy nhau, quá nửa đêm quân tuần tra vào bẩm:

– Thưa Đại tướng quân, cửa Bắc trại cháy, quân giặc không biết nhiều ít thế nào đã tràn vào trại.

Ta vội vàng mặc giáp lên ngựa thì trong trại quân đã rối loạn. Hai tướng theo bảo vệ ta đến chỗ có lửa cháy, quân reo. Đến nơi ta thấy hai toán quân không đông lắm đang quần thảo nhau hỗn loạn trong ánh lửa nhập nhèm. Cậy quân đông, ta lệnh cho tướng sĩ bao vây đám đang đánh nhau, bắt hết quân đột nhập. Trong lúc đang triển khai quân vây hãm, không ngờ Lư Thực đưa quân trong thành âm thầm kéo ra đánh vào cửa Nam của trại ta. Quân Lư Thực tuy ít, nhưng họ cầm nén ý chí đã lâu, nay đột nhập đến gần liền đốt đuốc sáng như ban ngày, nhất loạt xông vào chém giết. Quân ta bị đánh bất ngờ, mạnh ai nấy chạy. Thấy quân thua, bỏ chạy hỗn loạn, ta đành tìm đường thoát thân, bỏ cả quân sĩ. Ta chạy thoát được về được đại trại, hai hôm sau quân sĩ tan tác kéo về chưa còn hai vạn người, phần lớn bị thương. Số còn lại chắc bị giết khá nhiều, số tản mát bỏ đi, số theo hàng Lư Thực. Mãi sau ta mới biết, Lư Thực cho mấy trăm quân cảm tử đột phá từ cửa Bắc làm rối loạn trại quân ta, còn y bí mật đưa toàn quân vào đánh sau lưng, nên quân ta đại bại. Sau khi ta chạy thoát, y cho đốt toàn bộ trại quân ta, vũ khí lương thảo cháy sạch. Đó là trận thất bại cay đắng nhất trong đời cầm quân của ta Ngài ạ. Thế quân ta của ta xuống nhanh từ sau trận đại bại đó.

Lẽ ra sau trận thua, ta phải biết cái nguyên nhân sâu xa của nó, có học như ta, nhưng lúc có chức, có quyền cũng dễ trở nên ngu tối, chỉ nhìn thấy cái lợi lớn trước mắt mà thôi. Ta không nghe lời dạy của tổ tông xưa, chỉ biết nghe theo mấy đứa xu nịnh để giữ lấy quyền chức và lợi lộc cho mình và tay chân thân tín, bỏ quên mất muôn dân và sĩ tốt, những người sinh ra ta, sống chết vì ta. Ta thất bại rất nhanh vì ta đã bạc bẽo với dân chúng để giữ lấy quyền lợi cho lũ quan lại. Đời có quy luật khắt khe lắm, hiểu được thì muộn rồi.

– Thưa Thiên công tướng quân, Ngài kể cho hậu sinh biết trận thắng oai hùng nhất trong đời được không ạ?

– Ta thắng cũng nhiều, thua cũng lắm Ngài ạ, trận thua đau nhất là đại bại dưới tay Lư Thực, còn thắng oanh liệt nhất là trận ta công thành Thanh Châu của Đổng Trác. Lúc đó vào đầu cuộc nổi dậy, thế quân ta còn yếu, quân ít, vũ khí thô sơ, lương thảo đang thiếu. Ta đem quân đánh Thanh Châu để lấy thế cơ bản, chỗ trú chân và cướp lấy lương thực. Thành Thanh Châu tường cũng cao, hào sâu, giữ thành là hơn ba vạn quân dưới quyền của Trung lang tướng Đổng Trác. Quân số ta lúc đó có chưa đầy vạn người, nhưng ý chí chiến đấu của quân lính rất cao, ai cũng quyết tâm hạ Thanh Châu để lấy chỗ trú và có lương thảo vì lương thực của ta đã cạn. Nếu Đổng Trác là dũng tướng, hắn đưa quân ra đối trận thì chắc hắn đè bẹp quân ta ngay từ đầu.

Để đánh Thanh Châu, ta cho quân đi cắm tinh kì rất nhiều chỗ để gây thanh thế, nói phao lên quân số gần mười vạn người, Đổng sợ hãi đưa quân vào thành cố thủ. Khi quân ta đến, quân của Đổng Trác đứng trên tường bắn tên và đá xuống. Nhìn cảnh ấy, ba anh em ta bước đầu thấy cũng khá ngán ngẩm, song sau khi bàn bạc trong quân, tất cả tướng sĩ đều quyết tâm đánh thành để tìm con đường sống. Hầu quân sư cho làm một cái xe phá cổng thành, trên để một cây gỗ dài đến ba trượng và hai người mới ôm hết vòng thân cây. Gần trăm quân đẩy cái xe có cây ấy lao nhanh vào cổng thành. Cánh cổng thành bật tung ra, quân ta tràn vào, cứ gươm và đao gặp ai phạt nấy. Thấy cổng thành vỡ, Đổng Trác hoảng sợ bỏ tất cả mọi thứ, lên ngựa chạy trốn. Thấy Đổng chạy, quân sĩ của y cứ thế tán loạn chạy theo. Ta chiếm ngay được thành và toàn bộ lương thực. Đổng chạy thoát, nhưng gia đình y còn ở trong thành. Y đành mang chục ngàn lượng vàng chuộc cho vợ con ra. Thế là với chưa đầy vạn quân vừa trong rừng ra, đói rách, ta đã chiếm được một châu giàu có, đủ lương nuôi quân, có thể vẫy vùng trong thiên hạ.

– Thưa tướng quân, nghe nói là trong các trận cuối, ba vị tướng quân đều anh dũng hi sinh trên chiến trường, điều đó La tiền bối nói có đúng không?

– Đâu có, khi quân triều đình chiếm gần hết các châu, thế quân ta đã quá nguy, bọn quan lại dưới quyền ta đã vinh thân phì gia chúng lại trở cờ, chạy theo nhà Hán. Chúng ta còn không đến vạn quân, phải lùi vè U Châu. Thấy vậy, ba anh em ta bàn nhau giải tán toàn bộ quân sĩ. Của cải có được đem chia bình quân cho mọi người, khuyên họ trốn về quê làm lại cuộc sống. Sau đó ba anh em ta cũng trốn vào rừng đi tu. Bấy giờ chúng ta mới có cuộc đời tu hành thực sự. Chúng ta chém giết nhiều, nên kéo nhau vào rừng sâu, dựng một ngôi chùa sám hối và cầu siêu thoát cho mọi sinh linh chết trong cuộc khởi nghĩa khăn vàng. Anh em ta đều về già như những người tiều phu bình thường. Một số những người nghèo vẫn trung thành đi theo anh em ta cùng vào đó, sau này họ khai phá khu đất quanh chùa lập lại Trương gia thôn. Hậu duệ họ nối tiếp nhau sinh sống cho đến ngày nay.    

– Hậu sinh xin cám ơn Đại tướng quân đã bớt chút thời gian trò chuyện để hậu sinh hiểu thêm về lịch sử Hán triều.

– Không có gì, ta nói đã hết, cũng nên nhường cho Vương tư đồ, ông đó là đại thần, không quen đợi lâu  đâu Ngài ạ.

Hồi thứ năm

VƯƠNG TƯ ĐỒ DÙNG MƯU GIẾT ĐỔNG TRÁC

SÁI VĂN CƠ BỊ CỐNG SANG  HỒ

            – Kính chào Đại tư đồ! Để Ngài đợi lâu là lỗi của vãn sinh. Chẳng hay Ngài có rộng lòng thông cảm mà cùng vãn sinh trò chuyện ít phút?

            – Chào Lê Vân! Có gì mà cung kính thế? Ta còn là viên Tư đồ của nhà Hán nữa đâu. Triều Hán đổ gần hai thiên niên kỉ rồi, xuống dưới này bây giờ ai chả như ai. Chắc Ngài muốn tìm hiểu thêm cái thời loạn lạc hậu Hán ấy nhỉ? Ta chỉ kể được những gì ta biết mà thôi.

            Ta là quan tư đồ từ thời vua Hoàn đế, đến Linh đế rồi sang vua Thiếu đế. Thời gian này các đại thần quyền hành rất hạn chế, nhà vua chỉ nghe có ngoại thích và mấy tên hoạn quan thôi. Để hiểu rõ cái này, không nên phân biệt ngoại thích và hoạn quan. Từ khi Cao tổ lên ngôi, vua nhà Hán có cả một hậu cung để ăn chơi đàng điếm. Trong hậu cung có bao cung tần, mĩ nữ đến vua Hán cũng không biết hết được. Trong số gái đẹp ở hậu cung, một số được vua sủng ái đưa lên làm phi, làm ái phi. Các cô gái này ghen ghét nhau, ghen với Hoàng hậu, muốn lợi dụng tình yêu của hoàng đế mà gây dựng cho mình một vai lớn trong triều. Thế là, một mặt họ bày đặt điều hại người khác, kể cả các đại thần, trung lương không ăn cánh. Mặt khác những lúc được vua yêu thì cầu cạnh, xin xỏ cho cha, anh vào triều để gây thanh thế. Khi cha anh đã có vị trí cả, họ xin thêm cho những người giảo hoạt thuộc họ hàng vào làm quan hoạn trong triều. Mỗi ái phi của vua đều có một “dây “ tay chân cùng lý tưởng, phục vụ cho mục đích của cô gái đó và họ hàng ả; Chính vì thế cuộc chiến giữa các dây, các băng của những cô gái này chưa bao giờ chấm dứt, gây ra cái loạn ngoại thích suốt bốn trăm năm. Ngoại thích đánh đá nhau nhưng thông qua hoạn quan là những kẻ dắt gái cho vua. Những kẻ dắt gái này cũng cố lựa ý thích của vua, rồi nịnh bợ để tiến thân. Khi được vua sủng ái, chúng luôn được kề cận vua, ton hót hãm hại người khác kể cả các đại thần. 

            Thời ta trong triều, ác ôn nhất có mười tên Hoạn quan gồm Phong Tư, Trương Nhượng, Đoàn Khuê… Mà thiên hạ gọi là Thập thường thị. Ta kể chuyện Phong Tư bị hại nhé. Phong Tư bấy giờ là hoạn quan quyền lực nhất trong triều, vì y là người chủ yếu dắt gái cho vua, nên thường xuyên kề cận vua. Trương quý phi có người bà con đưa vào làm hoạn quan là Trương Nhượng. Trương Nhượng là tên gian hiểm, lắm mưu ma, chước quỷ. Một đêm Trương Quý phi được vua cho tìm đến. Trong lúc vua say đắm, bà ta đưa cho vua một tờ mật tấu của Chu tướng quân kèm theo phong thư mật ước của Trương Giác với Phong Tư. Nội dung bức thư là khi Trương Giác dựng cờ khởi sự thì Phong Tư và tay chân trong cung sẽ làm nội công. Thế là vua Linh đế xuống chiếu bắt chém sạch ba họ nhà Phong Tư. Mãi đến đời vua Thiếu đế, Chu tướng quân mới khai thực là y không hề làm bản tấu việc đó và ông ta cũng chả biết gì về giao ước của Trương Giác với Phong Tư. Thực ra lúc đó Trương Giác vừa mất ruộng, mới dẫn hơn trăm người thân vào rừng kiếm củi để sinh sống, đã có gì mà khởi sự! Chuyện đó chỉ có gia đình họ Trương biết rõ, nhưng họ cũng đã bị giết cả rồi.

            – Thưa Đại tư đồ, còn chuyện tình yêu tay ba giữa Điêu Thuyền, Đổng thái sư và Lã Bố hư thực ra sao?

            – Ồ! Chuyện này dài lắm. Khi ta mới lên chức Tư đồ, đã ngoại tứ tuần tuổi. Ta cũng như bao quan lại thời đó, mà cũng như bây giờ thôi, thi thoảng cũng đến các hạnh hoa thôn để giải khuây. Một lần hầu rượu ta là một cô gái rất trẻ và xinh, vừa nhìn thấy ta đã yêu nàng say đắm. Thế là từ buổi ấy, cứ lúc rỗi ta lại đến tìm nàng. Hơn năm sau nàng sinh ra một bé gái. Khi có con, nàng yêu cầu ta đưa hai mẹ con về phủ cho chính thức thành vợ, thành con. Chết nỗi, con vợ lớn của ta lại là con gái của Đại tướng quân Hà Tiến, người cầm quân cấm vệ và uy thế bậc nhất trong triều. Con vợ ta quá dữ dằn, nên ta đành chịu lép. Ta bí mật bỏ tiền chu cấp cho hai mẹ con nàng sinh sống cho đến năm Điêu Thuyền đã đến tuổi cập kê. Ta đưa Điêu Thuyền về phủ với vai là một con hát phục vụ các buổi trong phủ có khách. Tuy chỉ trong vai con hát, nhưng ta quý nó hơn tất cả lũ con do Hà phu nhân sinh ra. Điêu Thuyền còn xinh đẹp hơn mẹ nó nhiều, nó đàn hay, hát giỏi, cư xử lịch thiệp như các tiểu thư có học con nhà quan.

            Khi loạn giặc khăn vàng, Trương Giác đang thế mạnh, đánh đâu thắng đấy. Mỗi ngày đến mấy lần cấp báo được đưa về kinh, kinh thành náo loạn. Tám châu lớn đã mất, cứ đà này tháng sau là giặc tiến vào Lạc Dương. Hai phần quân cấm vệ đã được điều ra cản giặc, nhưng không thể giữ được các đồn ải. Duy nhất có thành Quảng Tôn của Lư Thực còn giữ được, nhưng nó ở xa kinh thành. Hà Tiến cho triệu Lư Thực về triều cầm binh chống Trương Giác, nhưng tất cả những người sai đi đều khống đến được chỗ Lư.Quân trong kinh thành đã đưa đi gần hết, lúc ấy Hà Tiến mới cho phát hịch triệu quân xứ ngoài về cứu Lạc Dương. Hịch chỉ đến được Tây Lương và Đổng Trác đưa hai chục vạn quân về kinh. Khi Đổng đưa quân về thì Lư Thực, Chu Tuấn đã hợp lực đánh bại được Trương Giác, đuổi anh em y về đến U Châu rồi.

            Chính lúc lộn xộn đó, mười tên thường thị bày mưu hãm hại Hà Tiến. Quá uất ức về việc lộng hành của mười tên hoạn quan, Viên Thiệu và Tào Tháo cầm một đội quân cấm vệ vào giết sạch gia đình mười đứa đó. vào thời điểm đó nếu có người tài giỏi nắm quyền thì chấn chỉnh được cơ ngơi cho họ Lưu, nhưng vua Thiếu đế còn quá nhỏ, các quan lâu nay mất quyền nên chưa ai dám đứng ra giúp vua nhiếp chính, còn Viên và Tào khi ấy chỉ là các võ quan nhỏ, không dám tự quyền. Vào lúc ấy thì Đổng Trác kéo hai mươi vạn quân về kinh.

            Đổng Trác kéo quân về kinh, làm cho Lư Thực và Chu Tuấn nghẽn đường quay về, bởi Đổng có hiềm khích với hai viên tướng đó. Lư và Chu đành ở lại quản U Châu và Thanh Châu mà không dám về chầu vua vì sợ bị hại. Đổng Trác lúc mới về, cũng e dè, giữ lễ nghĩa vua tôi. Thấy Đổng biết khư xử, ta có ý theo về y, nhưng mấy lần ta mời y về tư dinh chơi, y đều từ chối. Thế rồi khi nhìn thấy triều đình đang rối ren, Đổng quyết định lấn tới. Bước đầu y ép vua phong cho mình chức Thái sư, vua phải nghe. Chỉ chưa đầy tháng sau, y ép vua phong cho y tước Hộ quốc công, được dùng cờ tiết, phủ việt… Đến nước này vua Thiếu đế đành phải nghe theo mà thôi. Từ ngày được phong chức Hộ quốc, y nghênh ngang chả coi ai ra gì, vì thế ta và giới quan lại cũ đã có ý trừ khử y đi. Thế rồi y làm việc vô thiên nghịch địa, phế vua cũ và lập vua mới. Từ ngày đó, tất cả quan lại đều chống y. Tuy có ý chống Đổng, nhưng thế lực y mạnh quá nên các quan bên ngoài thì tập hợp binh mã mưu khởi sự, các quan trong triều đợi nếu có điều kiện thì lật đổ y.

            Khi ta muốn kết thân với Đổng, mời y đến tư dinh, nhưng y không đến. Nể ta là đại quan, y cho con nuôi là Lã Bố đến thay. Lã đến tư dinh, ta cho Điêu Thuyền ra dâng trà, Lã ngây ngất trước Điêu Thuyền ngay từ buổi đầu. Lã Bố là một dũng tướng, sức địch vạn người, nhưng ta vẫn cân nhắc vì lúc đó ta không ưa Đổng Trác, nên không có ý chọn y làm tế tử. Chết nỗi, Điêu Thuyền cũng say Lã như điếu đổ, một hai đòi lấy y. Trước tình thế đứa con đẻ đáng yêu không được thừa nhận trong phủ, ta đành chiều theo ý nó để cho con đỡ thiệt thòi. Ta gả Điêu Thuyền cho Lã Phụng Tiên, các lễ lạt đầy đủ chứ đâu có như La Quán Trung viết trong Tam Quốc chí. Điêu Thuyền là vợ Lã Bố, theo Lã suốt cuộc đời. Con ta chết oan cũng chỉ vì là vợ của Phụng Tiên chứ nó có gây ra tội lỗi gì đâu. Còn chuyện tình tay ba, ta nghe ngoài có loáng thoáng, song lúc đó Điêu Thuyền đang ở trong phủ thái sư, không bước chân về nhà. Khi Đổng Trác chết, nó lại theo Lã Bố, không về nhà ta nữa nên ta cũng không tường. Chuyện đó Ngài phải hỏi Đổng Trác mới rõ được. Theo như ta nghĩ, Đổng thiếu gì tì thiếp đẹp, các cung nga, mĩ nữ của vua Hán khối người muốn theo y, có lẽ La Quán Trung bịa chuyện đó thôi.

À mà cái chuyện giết Đổng Trác ấy, không phải Phụng Tiên nó giết đâu, ta giết y đấy. Số là, lúc Đổng về sống ở My Ổ, mang gần hết quân cấm vệ đi theo, gia đình nhà y cùng các tướng hộ vệ cũng về đấy để cùng hưởng lạc thú. Trong số thân cận của y, ta ngại nhất Lý Nho, y khôn ngoan, mưu lược, khó lừa được. Người thứ hai để mọi người ngại là Lã Bố. Y không thông minh mưu lược, nhưng sức khỏe có thừa. Một đôi Lý Nho và Lã Bố hộ vệ cho Đổng chắc chắn vô cùng. Nay Lý Nho theo vợ về My Ổ, nên triều đình bỏ ngỏ, rất ít các buổi chầu vua. Bọn quan cũ chúng ta nhiều người thù ghét Đổng đã có điều kiện tập hợp lại, bàn mưu hạ Đổng. Chúng ta bàn làm sao tách được Lã ra khỏi Đổng lúc ra tay, mưu này phải che được mắt Lý Nho.

Muốn làm được việc đó, phải dùng mồi lớn mới dụ được Đổng. Thế là chúng ta phái một hoàng môn thị lang tin cẩn đến báo cho Đổng là vua Hiến đế băng hà đột ngột, mời Đổng thái sư về chủ trì mọi việc trong triều. Lý Nho căn vặn kĩ càng, nhưng viên quan này thưa là Hiến đế đột ngột băng hà trong cung Khương Quý phi, vẫn để yên tại đó. Tất cả các quan đâng tề tựu đợi Thái sư về mới dám phát tang. Xong phát tang xin Thái sư chỉ người kế ngôi… Đổng sau khi cân nhắc, giao cho Lã Bố cùng lũ tùy tướng giữ My Ổ, còn Lý Nho theo mình về triều. Thế là Đổng tự chui vào bẫy do chúng ta cài sẵn. Giết y là các đao phủ được phục sẵn trong cung mà người chỉ huy bọn ấy là ta. Giết xong y và Lý Nho, ta lệnh cho chu di chín họ nhà Đổng để trừ hậu họa. Các đại thần nghị là bêu xác Đổng để răn đe thiên hạ, thế là chúng ta mang xác hắn ra bêu trên đường chính trong thành Lạc Dương. Đổng giết cũng khá nhiều người, nên xác y mới phơi được hơn một ngày, đêm đã có ai đó chất cỏ khô và nhựa cây đốt cháy. Quân tuần thành về bẩm báo, ta bảo để mặc cho nó cháy. Vì cái tội bêu xác hạ nhục Đổng, ta cùng các đại thần phải quỳ phơi nắng sám hối cháy cả mặt ra đấy.

– Thưa Đại tư đồ! Làm thế nào ngài chiêu hàng được quân của Đổng Trác?      

– Sau khi Đổng chết, bọn quân sĩ như rắn không đầu, Lã Bố cũng sợ lắm. Ta cho người mang chiếu đến My Ổ, tuyên bố tha hết cho mọi người trừ họ hàng nhà Đổng, lại viết riêng cho Điêu Thuyền lá thư, nhờ nó dụ Lã về hàng chúng ta. Lã đang say Điêu Thuyền, nghe nói bùi tai, y dẫn quân bản bộ về làm vây cánh cho chúng ta, Ngài ạ. Hơn nửa số quân đã tan tác, Lã chỉ dẫn được hơn năm vạn quân về triều, thế cũng đã là quý với bọn ta. Bọn Lý Thôi, Quách Dĩ sợ tội, cũng sợ chúng ta lừa nên dẫn quân bản bộ chạy vào núi. Đấy chính là mầm mống mang họa cho ta về sau này, cũng là cái loạn của Hán triều như La Quán Trung đã viết.

– Thưa, có phải Ngài đã phái Tào Tháo đến ám sát Đổng Trác?

– Chuyện ám hại Đổng là có đấy, La Quán Trung kể khá đúng, chỉ phải cái con dao thất bảo là của Tào chứ không phải của ta, cũng không phải ta phái, mà Tào uống rượu say trước mặt các quan trong bữa tiệc ở nhà ta, bị nói khích nên y tình nguyện đi làm ngay trong lúc rượu đang phê. Rất may là khi việc không thành Tào trốn thoát, nếu không thoát chắc Đổng sẽ giết hết chúng ta hôm đó Ngài ạ.

– Thưa, thế cái việc hạ nhục Sái Ung có thật không?

– Chuyện là thế này, Sái là người viết sử, vốn học thuật Sái gấp mười lần ta, là tay chữ nghĩa đại tài. Dòng họ Sái lâu nay là gia đình có truyền thống học hành, nhưng khoa bảng lại không cao vì họ sống ngay thẳng, liêm khiết. Sái là người viết sử tài ba và trung thực hiếm thấy trên đời. Sái Ung học rất giỏi, đỗ đạt lại rất cao nhưng chỉ được vua Linh đế cho ngồi chắp bút viết sử với hàm Đại phu, bổng lộc chẳng đáng là bao. Bổng lộc chả có, nhưng ông không bao giờ kêu ca phàn nàn về cuộc sống, vẫn chăm chỉ làm việc. Ngoài thời gian viết lách, Sái quay sang dạy con học hành.

Sái có mỗi người con gái tên là Diệm, được ông ta đặt cho là Văn Cơ. Sái Văn Cơ vừa đẹp người vừa học rộng, tài cao, tinh thông tứ thư, ngũ kinh, ứng đáp lưu loát, đàn hay, hát giỏi. Về tài múa hát, con gái ta được thiên hạ biết đến nhiều, nhưng ta đánh giá chỉ là học trò của Sái Diệm. Có nhan sắc, lắm tài, Văn Cơ được vua Hồ là Tả Hiền vương rất yêu, đánh tiếng với vua Hán xin về làm phi. Thế là, để lấy lòng vua Hồ, Linh đế nhà Hán ép Sái Ung phải đưa nàng về Hồ. Sái không thể không nghe, nhưng trong lòng ấm ức, vì ông chỉ có một mụn con gái, muốn cho lấy chồng gần để còn có người giúp đỡ lúc về già. Mặc dù được Tả Hiền vương rất yêu, nhưng Văn Cơ về Hồ với tấm lòng nặng trĩu khổ đau. Phần nhớ cha già, nhớ người thân, phần nhớ quê hương, Tổ quốc. Nàng làm ra các khúc nhạc rất bi ai để tấu cho vua Hồ nghe, các bản nhạc đó được người Hồ rất chuộng, và hay dùng những lúc có việc bi ai. Phải nói Chiêu Quân và Văn Cơ là hai trường hợp đặc biệt dưới triều Hán, không ai muốn về Hồ. Còn các vương tôn, công chúa Hán triều đều hầu hết được gia đình thuận kết duyên với con cái quan lại bên Hồ. Họ làm vậy để cầu cạnh, kết thân, đảm bảo an toàn cho gia dình những lúc giặc giã.

Tào Tháo khi còn trẻ, làm viên võ tướng nhỏ trong kinh, đôi khi Tào ghé thăm Sái Ung, được tiếp xúc với Văn Cơ nên ông rất yêu Văn Cơ. Văn Cơ cũng biết điều đó và cũng có lòng yêu Tào. Song anh chàng trẻ tuổi chưa kịp giãi bày với người tình thì Văn Cơ đã bị gả về Hồ. Rồi sau đó xảy ra  chuyện ám sát hụt Đổng Trác, thế là Tào phải chạy trốn khỏi Lạc Dương. Trong khi  đó Văn Cơ đang làm vợ của vua Hồ trên Bắc phương.  Maĩ sau khi Tào Tháo làm thừa tướng, ông sai người mang vàng bạc sang Hồ xin chuộc cho Văn Cơ về nước. Tả Hiền vương phần thấy Văn Cơ luôn âu sầu nhớ cố quốc, phần thấy số vàng bạc lớn quá, nên đồng ý cho Văn Cơ về Hán. Tào Tháo thấy ngày tháng đã làm cho sắc đẹp của Văn Cơ phôi pha, nên không đưa về phủ thừa tướng mà ghép đôi cho một tay chân dưới trướng là Đổng Kỉ.

Lại nói Sái Ung là người trung thực, nên ông không thân quá với ai, cũng không ai ghét ông quá. Từ lúc Đổng Trác tự phong chức Thái sư, cả triều thần đều bắt đầu ghét y. Đến khi y làm việc phế truất, rồi dời đô về Tràng An thì hầu hết quan lại coi Đổng như kẻ thù. Sái có con mắt của nhà viết sử, không yêu ai, không ghét ai, cho nên Đổng thấy ông là người không thiên vị. Thi thoảng Đổng mời Sái đến nhà, Sái cũng đến, đôi khi rỗi rãi, Đổng cũng đến thăm Sái Ung. Hai người có quan hệ bạn bè, nhưng không thân. Vì có quen biết, nên khi Đổng Trác bị giết, Sái ra thắp cho y ba nén nhang. Ta và các quan trong triều đâu biết là giữa họ chỉ là những người quen biết nhau thôi, đâu biết Sái viết tất cả những điều tốt xấu của Đổng trong sử không bỏ sót gì. Thấy Sái thắp hương cho Đổng, ta và các quan lại trong triều quy cho ông là tay chân của Đổng nên muốn giết Sái đi. Trước đây lại thấy hai người thi thoảng thăm viếng nhau, nên các quan lại càng tin vào Sái là người của Đổng. Trên triều, bọn ta nghị án giết Sái, nhưng có một số quan lại can ngăn vì nếu giết Sái thì còn ai viết tiếp pho sử? Thế là chúng ta quyết hạ nhục ông ta, La Quán Trung gần đúng đấy. Sau khi giam Sái Ung vào ngục, tra tấn và hạ nhục ông, nhưng chúng ta không giết. Chính vì hạ nhục Sái, cả bọn nghị án chúng ta phải quỳ sám hối đủ một trăm ngày dưới nắng hè ở  đây.

Phải nói gia đình Sái Ung toàn người trung thực, nghĩa khí. Khi Tào Tháo làm thừa tướng, Văn Cơ trở về Hán, cả Tào và Văn Cơ đều biết những người làm nhục Sái Ung, nhưng họ không trả thù người thân của ta cũng như bất cứ gia đình nào Ngài ạ. Được những người như vậy quả thật hiếm trong cõi trần. Ờ mà ta nói đã lan man, hơi nhiều, thôi ta đi nhé. 

– Xin đa tạ Đại tư đồ.

 

Hồi thứ sáu

TÀO MẠNH ĐỨC DIỆT MƯỜI TÊN THƯỜNG THỊ

VIÊN BẢN SƠ KHÔNG GIỮ NỔI KÝ CHÂU

 

– Rất hân hạnh được gặp Bản Sơ hôm nay, kính chúc Ngài mạnh khỏe. Chẳng hay Ngài có vui lòng tiếp chuyện hậu sinh chốc lát?

            – Ta được La Quán Trung báo cho đến đây để giao lưu với cư dân mạng, có gì là không vui đâu. Ngài muốn hỏi việc gì ta cũng vui vẻ trả lời trong những điều ta biết.

            – Thưa, Bản Sơ hãy giới thiệu về mình để cộng đồng biết sơ qua về Ngài nhé.

            – Nói ra không phải cao ngạo đâu, ta là con trưởng họ Viên, một dòng họ lớn ở Ký Châu ngày ấy. Cả họ bảo ta là con trưởng, nhưng mẹ ta nói ra rằng ta chỉ gá chỗ trưởng thôi. Nghe bà nói riêng với ta rằng khi cha về kinh chầu vua một tuần trăng, bà ở nhà ăn nắm với viên quản lí rồi sinh ra ta đấy. Chuyện ấy chỉ bà biết, trời đất biết. Ta không hẳn tin điều đó, nhưng đến nay ta cũng phải cho mọi người cùng biết cái tin giả thực giả hư đó thôi. Trước đây ta dựa vào uy thế họ Viên để mưu toan công danh, ta đã được như ý với cái vai trưởng ấy rồi. Đến nay, ta vẫn cám ơn họ vì việc đó. Ta nửa tin, nửa không tin vì dưới này không có xét nghiệm ADN, không ai kết luận việc đó. Song ta vẫn phải nói hết, dưới này cấm ngặt việc nói dối Ngài ạ. 

            Lớn lên, ta được chú đưa về Lạc Dương tập việc với hy vọng có thể được phong chức quan lớn hơn chức Châu mục của cha. Ta sống ở Kinh đô từ thuở bé, rồi được chú ruột cất nhắc dần lên đến chức Trung lang tướng, một chức võ quan thời bấy giờ. Cộng sự cùng ta có cả Tào Mạnh Đức. Khi Đổng Trác phế lập vua, ta không tán thành, nhưng lực không có, nên ta đành quay về thay cha giữ chức Mục Ký Châu.

            – Thưa Bản Sơ, trong truyện viết Ngài và Tào Mạnh Đức diệt mười tên hoạn quan, việc đó hư thực thế nào?

            – Lúc ấy Hán triều thực nát bét, mà không phải lúc đó đâu, từ lâu rồi triều đình nhà Hán để ngoại thích và hoạn quan lũng đoạn. Thấy tình hình đó, các trung thần nhiều người muốn diệt trừ bọn hoạn quan để lập lại kỉ cương. Nhiều lần họ họp bàn, mưu toan làm việc ấy, nhưng hầu như thất bại. Trường hợp thì âm mưu bại lộ sớm, nên tất cả bị giết đến ba họ. Trường hợp khi đứng lên thì không đủ lực vì chỉ huy cấm quân và lực lượng quân đội trấn giữ kinh thành đều là tay chân của các phi tần hoặc quan hoạn, nên bị chúng dùng quân đội đàn áp.

            Cái loạn ngoại thích và hoạn quan nó triền miên từ lâu, không sao dẹp nổi. Bọn ngoại thích cũng luôn tìm cách loại trừ lẫn nhau Ngài ạ. Lúc ấy có Hà thái hậu là vợ của Linh đế có người em là Hà Tiến, được phong Đại tướng nắm quân bảo vệ kinh thành. Thuộc hạ của Hà Tiến có nhiều quan võ, trong đó có Mạnh Đức và ta. Hà hậu và Hà Tiến đang muốn trừ mười tên hoạn quan để chiếm ngôi độc bá trong triều. Hà Tiến định trong buổi chầu, luận tội mười tên thường thị rồi xin chém chúng. Bàn đi, bàn lại, sợ vua yêu lũ hoạn quan mà không giết ngay thì cũng nguy hiểm, hay là đưa thư mời các chư hầu mang quân về cùng làm thanh thế để ép vua? Bàn mãi mà Hà Tiến vẫn không quyết định làm thế nào. Hà bàn bạc với các thuộc hạ, có cả ta và Mạnh Đức, không hiểu sao việc mới được bàn lại bị tiết lộ. Thế là mười tên hoạn quan liền đến đến kêu với vua triệu Hà vào cung để nhà vua ngăn giúp việc đó. Vua Thiếu đế quá trẻ, không biết thực hư, hay dở nên triệu Hà Tiến vào cung.

            Thấy Hà bị triệu rất đột xuất ngay sau khi họp bàn, ta và Mạnh Đức khả nghi, khuyên Hà đưa quân cấm vệ vào cung giết mười tên giặc đó. Hà không nghe vì y ngại làm Hoàng đế kinh sợ, nên cứ vào cung. Ta và Mạnh Đức định đem quân theo bảo vệ, y cũng không nghe. Một mình y vào cung liền bị mười tên thường thị phục gia nhân giết chết. Bọn chúng giết xong, nếu cứ yên lặng, có lẽ chúng ta còn lâu mới biết. Lũ ngu ấy lại chặt đầu Hà, lẳng ra ngoài cửa Thanh Tỏa để thị uy thiên hạ. Lấy cớ giết đại thần, ta và Mạnh Đức đem quân cấm vệ dưới quyền phá cửa vào cung, giết sạch cả mười tên thường thị. Sau khi diệt xong chúng, bọn ta còn cho tru di cả ba họ nhà chúng. Chính vì tội giết người vô cớ, ta và Mạnh Đức bị đày đọa dưới này nửa năm trời đó.

            – Ngài và Mạnh Đức là bạn hữu, cớ sao sau này hai người lại đối địch trên chiến trường? Theo Ngài đánh giá, giữa Ngài và Mạnh Đức thì trí tuệ ai cao hơn?

            – Việc này kể cũng hơi dài đấy. Sau khi trừ được bọn hoạn quan, các đại thần muốn phong cho ta và Mạnh Đức một chức quan gì đó. Với ta, họ thống nhất được ngay vì là một dòng họ lớn, danh giá ở Ký Châu, song với Mạnh Đức thì bàn mãi không được. Họ định giao cho Mạnh Đức quản lí toàn bộ cấm quân và ta chỉ huy năm vạn quân thuộc lực lượng bảo vệ kinh thành. dù chú ta biết ta tài hèn, trí đoản, ông vẫn lấn ép các đại thần để ta có cái chức Hộ quốc đại tướng quân, được luận bàn việc triều chính. Công việc chưa ra đâu vào đâu thì Đổng Trác hưởng ứng lời hiệu triệu của Hà Tiến kéo hai chục vạn binh mã Tây Lương về kinh.

            Nếu vua Thiếu đế nghe các đại thần bàn, giao cho ta năm vạn quân đó, thì ta và Mạnh Đức sẽ quản nổi kinh thành. Và nếu như nhà vua chỉ để Đổng đóng hai chục vạn quân ở ngoại vi, chắc sẽ không có chuyện y dám làm loạn. Trong lúc ta chưa được quản binh, Hà hậu thấy quân binh của Đổng lớn, liền lấy quyền mẫu hậu bảo vua:

            – Theo ý ta, Hoàng nhi nên giao cho Tây lương hầu Đổng Trác toàn quyền thống lĩnh quân binh để bảo vệ kinh thành thì chắc chắn muôn phần.

            Vua Thiếu đế hãy còn là trẻ con, mẹ bảo gì chẳng nghe, thế là xuống chiếu giao việc binh cho Đổng. Chính cái quyết định sai lầm này dẫn đến sự phế lập và hai mẹ con họ phải trả bằng sinh mệnh của mình. Ta và Mạnh Đức chỉ còn ít binh mã dưới quyền không đầy ngàn người. Đổng vào Lạc Dương, chủ trì các công việc triều chính. Trong một buổi thiết triều, mấy đại thần nhắc đến việc phong tước cho ta và Tào Tháo, nhưng Đổng Trác gạt ngay đi; mà Đổng gạt rồi thì vua Thiếu đế sao dám chống lại. Ta và Mạnh Đức đều rất căm tức Đổng, nhưng thân cô, thế cô, chưa biết làm thế nào thì một buổi, trong tiệc Ôn Minh, Đổng mời các quan đến ăn yến. Trong tiệc y bàn việc phế Thiếu đế để lập Hoàng tử Hiệp lên thay. Trong tiệc đó ta đứng lên phản đối ý kiến đó của Đổng Trác. Trác bấy giờ nắm hai mươi lăm vạn quân và đang giữ chức Thái sư đầu triều; bị ta phản đối trước mặt, Đổng tức lắm, y rút gươm toan chém ta. Thấy Đổng rút gươm, ta cũng rút gươm toan đối địch. Đằng sau Đổng, Lã Bố cũng rút gươm trừng mắt nhìn ta. Lập tức hai tướng giỏi là Nhan Lương, Văn Sú đứng sau ta cũng rút gươm ra. Ta vẫn nghĩ, tiệc rượu hôm nay sẽ là trận so gươm một mất một còn giữa ta và Đổng. Giữa lúc đang căng thẳng, Vương tư đồ đứng lên dàn hòa:

            – Trên tiệc rượu, chúng ta không nên bàn việc triều chính, xin Thái sư để hôm khác sẽ nghị triều.

            Thấy Vương Doãn nói vậy, tất cả đều tra gươm vào vỏ, ta đứng lên dẫn bộ hạ rời Lạc Dương về Ký Châu. Người tiễn ta duy nhất có Mạnh Đức. Tào đưa chén rượu chia tay ta và nói:

            – Bản Sơ hãy về Ký Châu, thu thập binh mã, ta và Ngài sẽ phải rửa cái nhục này cho triều đình.

            Chúng ta hẹn nhau, khi nào có điều kiện sẽ hợp binh lại, dẹp Đổng Trác, trả lại triều chính cho dòng họ Lưu và chỉ làm những trung thần nhà Hán. Tào theo tiễn ta ba chục dặm đường mới tế ngựa ra về. Ta về Ký Châu, đưa đứa em xuống quản xứ Hoài Nam để dựa vào nhau cùng gây thanh thế. Mạnh Đức ở lại kinh, không muốn đi với ta, vì lúc đó y đang yêu Sái Văn Cơ. Cuộc tình duyên đẹp đẽ ấy không thành, vì sau ít bữa thì Văn Cơ bị gả về Hồ. Rồi sau bữa rượu say, Mạnh Đức mang dao vào phủ Thái sư định giết Đổng Trác. Mưu ấy bị lộ, Tào liền trốn về quê hiệu triệu các nơi chống lại Đổng Trác.

            Hưởng ứng lời hiệu triệu của Mạnh Đức, các trấn kéo quân về kinh hỏi tội Đổng Trác. Lẽ ra chức minh chủ phải là của Tào Tháo, nhưng chư hầu các trấn thấy cái dòng họ Viên của ta oai quá nên cử ta làm minh chủ. Chính cứ để Tào chỉ huy quân các trấn có thể dẹp được Đổng, vì y mưu lược hơn người, biết dùng người, biết khích lệ tướng sĩ. Ta kém Tào việc đó, nên sau vài trận thắng nhỏ, lòng quân không quy tụ được, các chư hầu đánh lẫn nhau rồi tản mát, tự kéo quân về, ta cũng đành rút về Ký Châu.

            Tào Mạnh Đức là người mưu lược, y có câu nói nổi tiếng là: Ta thà phụ người chứ không để người phụ ta. Nếu nói về đạo lý thì câu nói đó không được, nhưng nó lại rất cần cho một thủ lĩnh làm chính trị. Ta học Tào cái đó mãi không vào, vì ta không có con mắt nhìn người và dùng người tinh như y, nên ta không phát triển được lực lượng sang các châu khác mà chỉ cố thủ ở Ký Châu. Ta đinh ninh rằng với binh lực ở Ký Châu của ta, lại có đứa em trấn nhậm dưới Hoài Nam, lực lượng anh em ta không ai đương nổi, dẫu Đổng Trác, Lã Bố đến đánh cũng không thể thắng được. Tào khác ta, cứ có điều kiện là y mở rộng căn cứ, phát triển quân đội, cầu hiền tài.

            Đến khi Tào dẹp xong loạn Lý Thôi, Quách Dĩ, thống nhất lực lượng xung quanh Tràng An, diệt được Lã Bố, uy danh lừng lẫy cả vùng; y muốn ta về theo y làm vây cánh. Đường đường trước đây ta làm minh chủ, Tào chỉ là một trấn chư hầu nhỏ, ai lại khuất thân theo y? Vả lại anh em ta thống lĩnh đại quân mạnh hơn hẳn Tào, sao lại chịu về làm tay chân thủ túc cho y được. Ta từ chối thẳng thừng, thế là từ những người bạn khá tốt, chúng ta quay sang đối địch nhau.

            Nghe tin Tào kéo quân lên đánh, ta cũng xuất binh để đón y. Lúc mới ra quân, lực lượng của ta trội hơn so với Tào, không kể Tào phải dẫn quân đi xa, lương thảo khó khăn hơn. Mấy trận đầu, ta đánh cho Tào thất điên bát đảo, thua hết trận này đến trận kia. Sau mấy trận giao tranh, Nhan Lương đã đuổi quân Tào lui hơn năm chục dặm. Tào đang trên thế bại, y liền cầu cứu Quan Vân Trường, lúc ấy đang là môn khách dưới trướng. Tào cho mời Vân Trường đến dinh trại, cúi lạy mà nói:

            – Tháo tôi định đưa quân chinh phạt Ký Châu, thu đất đai về cho triều đình, không may gặp dũng tướng Nhan Lương của Viên Thiệu, sức khỏe không ai địch được nên bại trận phải lui quân về đây. Nay xin mời Quân hầu đến để thỉnh giáo. Mong Quân hầu vì sự tồn vong của nhà Hán mà giúp cho.

            Nói xong y sai người dâng lên một bộ cẩm bào và con ngựa xích thố lấy được của Lã Bố. Quan Vân Trường là người nghĩa hiệp, luôn trung thành với Hán đế, lại là người được Tào hậu đãi lâu nay, thế là ông ta nhận lời. Quan Công sức mạnh như thần, xử dụng thanh long đao một người khỏe mới vác được. Quan chưa hề bại trận trước đối thủ nào, nhưng ông ta nặng cân quá, lại thanh đao cũng nặng, nếu không có ngựa thiên lý thì giao đấu chẳng có con ngựa nào chịu nổi đánh nhau lâu. Nay có ngựa xích thố, sức mạnh của ông ta tăng lên bội phần. Nếu như ta biết việc này, để cả Nhan Lương và Văn Sú hợp lực cùng đánh, chắc không đến nỗi nào. Đằng này ta chủ quan cho Nhan Lương xuất binh trước, vì tin rằng tất cả các tướng giỏi của Tào đã bại trận trước y, thì y sợ gì Quan Vân Trường.

            Thế là Nhan Lương thất bại thật, y bị chém chết trước trận sau hơn năm chục hiệp giao đấu. La Quán Trung nói Vân Trường chém chết Nhan Lương ngay khi chưa giao đấu là không đúng đâu, La viết vậy để đề cao Quan Công thôi. Lẽ ra sau bài học về cái chết của Nhan Lương, ta chưa cho Văn Sú xuất trận, mà tìm thêm tướng giỏi như Trương Cáp, Thuần Vu Quỳnh cùng hợp lực đấu với Quan Công. Thư Thụ, một mưu sĩ đã xui ta điều đó, song ta còn lưỡng lự. Mặt khác Văn Sú muốn nhanh chóng trả thù cho Nhan Lương, cứ nằng nặc xin xuất binh. Nể lời y, ta cho hắn mang mười vạn quân ra đối địch. Văn Sú đã đánh bại Trương Liêu, Từ Hoảng và cả Hứa Chử, dũng tướng giỏi nhất của Tào, nên y cũng có phần chủ quan. Trong lúc Văn Sú xuất binh, ta cho người đi triệu Trương Cáp, Thuần Vu Quỳnh về cùng liên thủ với Văn Sú để đấu với Vân Trường thì được tin Văn Sú đã xuất quân thách Tào ra giao chiến. Ta vội vàng dẫn các tướng hộ vệ ra theo. Khi đến nơi thì đã thấy Văn Sú đang chửi bới, thách đánh rất hăng; bên Tào, Quan Vân Trường đang lên ngựa. Ta hoảng sợ, bởi biết Văn Sú tuy giỏi, nhưng không thể địch nổi Vân Trường trăm hiệp. Ta liền sai người khua chiêng thu quân.

            Lẽ ra ta không nên thu quân mà sai tất cả các tướng ra đối trận đánh giúp Văn Sú thì chỉ xảy ra trận hỗn chiến, phần thắng chưa biết về bên nào, vì bên Tào tuy có thêm Vân Trường uy dũng, nhưng quân lực kém xa quân ta lúc đó. Nếu ta điều hành trận giỏi, chắc quân ta sẽ chiếm ưu thế mà Văn Sú không bị chết oan. Tiếng chiêng nổi nên, quân ta thứ tự lui về, trên chiến trường còn lại Văn Sú đang ham đấu tay đôi với Vân Trường. Được hơn chục hiệp, Văn Sú bắt đầu núng thế, y chỉ tránh đường đao cực nặng và lùi. Thấy nguy, ta sai Cao Lãm ra đánh giúp Văn Sú. Cao Lãm vừa ra ngựa, bên Tào, Từ Hoảng vác búa phi ngựa tiến ra đón Cao Lãm. Ta sai Tưởng Cừ, Trương Nghĩa ra đánh giúp, lập tức bên Tào Hạ Hầu Đôn, Trương Liêu tế ngựa ra ngay. Ngoài năm chục hiệp, thấy Văn Sú không thể chống đỡ được lâu nữa, bấy giờ ta lệnh nổi trống tiến quân để hỗn chiến, mong cứu lấy viên tướng yêu. Hiệu lệnh trống vừa nổi lên, quân chưa kịp tiến thì Văn Sú đã bị Vân Trường chém chết. Văn Sú ngã, các tướng của ta tháo lui, quân đang tiến lên thấy vậy liền quay đầu bỏ chạy. Thế là Tào xua quân truy sát, giết hại quân ta rất nhiều. Đó là lần bại trận thứ hai của ta trước Tào ở Quan Độ.

            Sau trận thua đó, ta mất hơn năm vạn quân, đặc biệt là ta mất hai viên đại tướng giỏi nhất; cả hai đều chết dưới tay Quan Vân Trường. Trận đại bại đó thuộc lỗi của ta, nếu ta nghe Thư Thụ, hoặc giả ta không đánh chiêng thu quân mà cho tiến quân hỗn đấu thì chưa chắc đã đại bại. Ta thua Tào Mạnh Đức là không quyết đoán khi lâm trận và thua cả về cách dùng người. Sau trận Quan Độ, một số người khuyên ta bãi binh, lui về giữ chắc Ký Châu, Tào có ba đầu sáu tay cũng không dám đưa quân đi đánh xa trong khi lương thảo kém, vận chuyển không nổi. nếu ta nghe lời này, lui về giữ ải, cầm cự thì chắc Ký Châu không mất. Song vừa mới thua một trận, đã bỏ đất chạy dài, không khỏi làm trò cười cho thiên hạ, thế là ta không nghe. Lúc ấy Trương Cáp và Thuần Vu Quỳnh, hai viên dũng tướng được gọi cũng vừa tới; hai người ấy khuyên ta chủ chiến. Thế là ta đóng binh lại quyết giao chiến với Tào.

            Nếu ta cứ xây thành, đắp lũy kiên cố và cử Trương Cáp quay về Ô Sào trông giữ kho lương thì chắc chắn muôn phần. Đằng này ta cũng xây thành, đắp lũy kiên cố, giữ Trương Cáp, một dũng tướng mưu lược nhất ở lại giúp ta cự với Tào, mặt khác sai Thuần Vu Quỳnh về coi lương. Ta đâu biết Thuần ra trận thực sự là dũng tướng, sức địch muôn người, nhưng y ham rượu và gái, mưu lược chẳng có chút nào. Đấy là sai lầm chết người của ta, cũng là cái sai lầm không bao giờ có điều kiện chuộc lại nữa. Ký Châu mất, gia đình tan nát, mất cả Hoài Nam cũng là từ sai lầm này.

            Tào Tháo sau trận thắng, liên tục sai tướng đến khiêu chiến. Trương Cáp khuyên ta cố thủ các ải, dùng cung nỏ chống lại nên quân Tào không thể tiến lên được. Thế là Tào Sai Trương Liêu cầm cờ của y cự nhau với ta, y dẫn Hứa Chử, Từ Hoảng và các tướng giỏi ngầm đi về Ô Sào cướp lương. Mấy hôm không thấy quân Tào đến khiêu chiến, Trương Cáp vào trướng nói:

            – Bẩm chúa công, quân Tào không đến thách đánh, sợ có âm mưu gì chăng?

            – Có lẽ là y thách đánh mãi, ta không ra, y chán nản tất nay mai sẽ rút quân. Khi y rút, ta sẽ theo ra đánh đuổi chắc là toàn thắng.

            – Bẩm, lương thảo của ta chứa cả ở Ô Sào, nếu quân Tào đến cướp thì quân ta sẽ vỡ. Chúa công nên để tôi ra giúp Thuần Vu Quỳnh, sợ y hay rượu và gái sẽ dẫn đến hậu họa.

            – Để ta cử Tưởng Cừ ra giúp y, còn ngươi là tay chân của ta không thể đi được.    

            Tưởng Cừ vừa đi được một canh giờ đã thấy dẫn Thuần Vu Quỳnh bị trói, bị cắt cả mũi và tai đưa vào trước trướng. Thuần gục đầu nhận hết tội lỗi. Thành ra Tháo dẫn quân đóng giả là Tưởng Cừ đến giúp giữ kho lương. Thuần trong lúc đang say rượu, không xét kỹ, thấy sắc phục và cờ quân mình, cho là Tưởng Cừ thật nên mở cổng cho vào. Quân Tào vào trong lập tức nổi lên chém giết, quân Thuần rối loạn, đứa bị giết, đứa thì hàng. Thuần và ả con gái đang trong trướng bị Hứa Chử, Từ Hoảng trói cả mang nộp Tào Tháo. Tháo sai cắt tai, cắt mũi hai người trả về để làm nhục ta, đứa con gái Tưởng Cừ còn giữ ở ngoài dinh. Ta đành sai chém cả hai người làm hiệu lệnh rồi bàn kế lui quân.

            Lương thảo Ký Châu chứa cả ở Ô Sào, nay quân có, lương không, tuy có rút về cũng không còn kế đánh giữ nữa. Hết lương, lòng quân sinh loạn, chúng bỏ trốn tản mát đi khắp nơi. Về đến Ký Châu, ta không còn được một vạn quân tướng nữa. Ta viết thư sai người đến Viên Thuật cầu cứu, song đường từ Hoài Nam lên đã bị Tào khống chế nên Thuật chẳng giúp được gì. Hai thằng con trai là Viên Đàm và Viên Thượng thì bất tài, chỉ biết ôm cha khóc lóc.

            Thấy ta rút, Tào không vội vã tiến quân. Với tất cả lương thực ở Ô Sào, Mạnh Đức đủ dùng nuôi quân cả năm nên y không vội. Một mặt y đủng đỉnh tiến quân, mặt khác y viết thư chiêu hàng ta. Nhục nhã vì không giữ được cơ nghiệp tổ tông để lại, để mất đất, nhà tan, lương dân bị chiến tranh tàn sát. Ta dẫn hai con ra khấn miếu gia tiên rồi viết thư cho Tào, xin y đừng tàn sát dân Ký Châu. Làm xong việc đó, ta vào hậu cung tự vẫn. Tào Tháo chiếm được Ký Châu, chinh phục được lực lượng đối địch mạnh nhất lúc đó. Ổn định xong công việc trong phủ, y ra tế mộ ta, bài văn tế y đọc rất thảm đúng như La Quán Trung nói đấy. Nếu nói về tài, trí của một người làm quan, ta thua Mạnh Đức xa lắm. Xuống dưới này, chúng ta đã lại trở thành bạn bè, Mạnh Đức kém ít tuổi, y gọi ta là đại ca. Ừ, ta kể lan man mất rồi, ai lại đi kể những gì không thuộc thời đó nữa. Thôi ta về nghỉ đây. Có lẽ Lã Ôn Hầu đang đến, ta cũng nên nhường y gặp Ngài, Lê Vân nhỉ?

 – Cám ơn Bản Sơ nhiều lắm, chúc Ngài thượng lộ bình an.

 

Hồi thứ bảy

TÀO MẠNH ĐỨC LỪA BẮT LÃ BỐ

QUAN VÂN TRƯỜNG LỠ CHÉM ĐIÊU THUYỀN

            – Kính chào Lã Ôn hầu! Ngài vẫn mạnh khỏe và bình an chứ?

            – Chào Lê Vân, ta đến gặp Ngài để cùng chuyện trò cho vui đây. Ngài và cộng đồng cư dân mạng cũng muốn biết về ta và cái thời ta sống. Thực ra La Quán Trung sống sau ta khoảng thiên niên kỉ, biết về chúng ta qua truyền miệng của người đời hết thế hệ này sang thế hệ sau thôi. Chính vì lẽ đó, La viết có chỗ không đúng sự thật như ta biết đâu

Vào đời vua Linh đế, thứ sử Tây Lương vừa nhậm chức là Đổng Trác có nhận được chỉ dụ là tìm mấy đứa gái đẹp đưa vào cung tiến vua. Đổng Trác sai các quan lại thuộc quyền ra sức tìm kiếm. Sau mấy tháng tìm và tuyển chọn, Đổng lấy ra được hai cô gái trẻ rất xinh định mang về dâng vua. Làm được việc ấy, Đổng phấn khởi lắm, ông ta tự thưởng cho mình một bữa tiệc và sai hai người con gái đó hầu rượu. Sau bữa tiệc đó, Đổng sai người em vợ đưa hai cô gái về kinh. Người em vợ Đổng, trên đường xa xôi từ Tây Lương về kinh đã ép một cô gái mà ông ta cho là xinh hơn ăn nằm với mình. Không thể đưa người con gái đã mất trinh về tiến vua, em vợ Đổng dẫn cô gái nọ đi trốn. Có sẵn một số tiền cầm theo, ông ta nuôi cô gái một thời gian cho đến khi hết tiền thì bỏ về thú tội với Đổng Trác. Người đàn bà đó có mang, một thời gian nữa sinh ra ta. Sau khi sinh ta, mẹ ta khổ lắm, bà làm thuê, làm mướn tất cả các việc cực nhọc để nuôi sống hai người.

Vợ Đổng Trác là người cực kì ghê gớm và xảo quyệt, bà ta đã từng là cánh tay đắc lực cho Đổng từ khi cùng nhau thành lập đảng cướp trong rừng. Thấy em về, mắc tội, bà ta bắt Đổng bao che và nuôi kín trong phủ. Sau thời gian dài truy tìm người trốn không hiệu quả, lệnh truy xét cũng nhạt dần và rồi đi vào quên lãng vì triều đình lúc đó đang rối như canh hẹ.

Khi ta vừa lớn, mẹ cho ta theo học một người thầy dạy võ. Ông thày dạy ta là người Sơn Đông có thuật đánh kích cực hay. Thấy ta sức vóc hơn người, lại có năng khiếu tiếp thu cái môn đánh kích, bắn cung, nên ông yêu ta lắm, truyền hết võ công cho ta. Từ dạy ta, ông mến ta, quyến luyến mẹ ta và họ sống với nhau cuộc đời bần hàn nhưng êm ấm đến cuối đời. Khi Đổng Trác vào Lạc Dương, bắt đầu nắm binh quyền, mẹ đưa ta đến trả cho em vợ Đổng, Đổng Trác cũng nhận ra mẹ con ta sau hơn hai mươi năm xa cách. Lúc đó ta đã có trình độ võ nghệ tuyệt luân, nổi tiếng ở Kinh thành rồi Ngài ạ. Người em vợ Đổng nhận ta, nhưng ta hận cái chuyện bỏ rơi mẹ con ta,  không muốn quay lại họ ông ta mà mang họ Lã, họ của mẹ. Từ ngày ta về phủ Đổng Trác, Đổng quý ta lắm, ông quý không vì tình cảm họ hàng mà ông cần đến ta, cần đến cái sức vóc và tài đánh kích tuyệt vời của ta. Ông ta nhận Lã này là nghĩa tử từ đó. Còn chuyện ta theo Đinh thứ sử rồi giết ông ta đâu có thật. Vì ta là con nuôi, lại võ nghệ siêu quần nên Đổng giao cho ta cầm đầu các võ tướng khi ấy ta chưa tròn ba mươi tuổi.

– Thưa Ôn hầu, Ngài có trình độ võ nghệ tuyệt vời, vậy thời ấy có ai sánh được với Ngài không?

– Trong đời ta ra trận, mới bị bại đích thực hai lần; lần thứ nhất là cả ba anh em Lưu, Quan, Trương vây đánh ta trước cửa Hổ Lao, một lần ta bại trận khi cả bày, hơn chục tướng giỏi nhất của Tào Tháo liên thủ đánh ở Định Đào. Không phải ta tự phụ đâu, đấu tay đôi nổi với ta ngoài trăm hiệp, có lẽ có ba viên tướng của Lưu Bị là Quan Vũ, Trương Phi và Triệu Vân, có lẽ chỉ vậy mà thôi. Còn như Hứa Chử, Điển Vi của Tào Tháo, Mã Siêu, Hoàng Trung của Lưu Bị… đều là dưới tay ta khá xa. Trương Dực Đức là người cực khỏe và đánh mâu giỏi lắm. Cây mâu dài một trượng tám thước của y múa lên chắc khó ai dám đến gần. Nhưng đấu lâu dài với ta có nổi vài trăm hiệp không, phải nói chưa chắc, vì tuy Dực Đức giỏi đánh mâu, song sức vóc y vẫn kém ta ít nhiều. Cứ đánh tay đôi thôi, nếu ba trăm hiệp, y không bại thì cũng khó có thể đánh thêm được.

Vân Trường sức vóc không kém ta, đánh đao cực tài đấy; sức vóc và võ nghệ Vân Trường không thua kém ta, nhất là thanh long đao yển nguyệt của y rất nặng và lợi hại. Thời kì y đang sung sức, chắc khó có viên đại tướng nào cự nổi trăm hiệp với y. Sở dĩ sau này Bàng Đức đấu với Vân Trường được ngót trăm hiệp là do lúc ấy Quan Vũ đã ngót sáu chục tuổi rồi. Khỏe và giỏi đao thuật, nhưng Vân Trường có cái yếu là người nặng, đao nặng, làm cho con ngựa không chịu nổi cho y đánh nhau lâu. Vân Trường đánh với ta chắc chưa đầy vài trăm hiệp, tất con ngựa sẽ gục dưới sức nặng của y và thanh đại đao tám mươi hai cân. Vậy chỉ còn Triệu Vân; Triệu sức vóc có thua ta, nhưng y trẻ hơn, nhanh nhẹn hơn và là tay thương mã đại tài. Tám mươi ba vạn quân Tào vây bắt y ở Đương Dương Tràng Bản không nổi nhờ tài thương mã đó. Nếu ta bị hàng chục vạn quân vây hãm mà Tào đứng trên cao chỉ huy bao bọc thì ta cũng khó thoát ra nổi. Triệu tài hơn ta là y trẻ, nhanh nhẹn và nghệ thuật đánh thương, vả lại y có gươm Thanh công lợi hại lắm, bất cứ vũ khí gì y chém cũng đứt bay. Tử Long có thể đánh với ta dư ba trăm hiệp đấy, nhưng cứ đánh mãi, đánh mãi, nếu y không xuống sức thì con bạch mã long câu của y cũng không thể trụ được như con xích thố của ta mà lăn đùng ra, quẳng y ngã. Cứ đánh đến cùng, chắc y cũng phải đến chiến bại thôi Ngài ạ.

– Trong đời chinh chiến, chủ yếu Ôn hầu đánh nhau với Lưu Bị và Tào Tháo?

– Khi ta theo Đổng Trác, đánh nhau với liên quân chư hầu do Viên Thiệu làm minh chủ. Quân chư hầu tuy đông, nhưng là lũ ô hợp, đánh dễ như bỡn ấy mà. Ta chỉ cho viên tì tướng là Hoa Hùng ra tiếp chiến, mấy tướng giỏi của Tôn Kiên đã bại trận, chạy như vịt. Hoa Hùng đi đến đâu là quân chư hầu dạt cả ra. Suýt nữa Hoa Hùng lập công bắt sống được Tôn Kiên, một thủ lĩnh giỏi của chư hầu cầm ấn tiên phong. Ngày hôm sau, Hoa Hùng lại ra ngựa khiêu chiến, đáng tiếc y thảm bại và chết dưới tay Quan Vân Trường.

Nếu như Tào Tháo đứng vai minh chủ, sai bảo chư hầu, thì trận chiến chưa biết thắng bại sẽ ra sao. Nếu Tháo cầm quân, y dùng Quan Vũ, Trương Phi lĩnh ấn tiên phong thì chắc quân ta sẽ nhanh chóng bại trận. Mình ta không thể đánh nổi hai người ấy liên thủ, tất ta sẽ phải bỏ cửa Hổ Lao về giữ kinh thành. Được cái  may cho ta là Viên Thiệu làm minh chủ, y văn dốt, vũ dát, chỉ có danh hư không có thực, nên mười mấy cánh chư hầu không ai nghe ai, không nghe cả minh chủ, nên ta chỉ giữ chắc cửa Hổ Lao, bọn chúng tự đánh nhau rồi tan rã thôi.

Đổng thái sư chết, ta theo về Vương Doãn, đánh nhau với bọn Lý Thôi. Bọn ấy chỉ được cái quân đông, tướng thì không ra gì. Bốn tên Lý Thôi, Quách Dĩ, Trương Tế, Phàn Trù dù có liên thủ cũng không đấu nổi với ta dăm chục hiệp. Ta thua là thua mưu của Giả Văn Hòa, y đã bày cho bọn Lý, Quách cầm chân ta rồi sai Trương, Phàn cầm quân đi đường tắt đánh thẳng vào Tràng An. Nghe tin Kinh đô mất, quân sĩ ngã lòng, ta đành phải kéo thân quyến phá vây chạy trốn.

Cuối thời Hán, thiên hạ loạn lạc, chả thuộc về ai, ai chiếm giữ được mảnh đất nào thì chiếm lấy. Ai muốn xưng vua, xưng chúa thì xưng chứ đâu còn của riêng họ Lưu nữa. Ngay cả họ Lưu cũng lừa nhau, đánh nhau để giành giật đất đai, lãnh thổ đó thôi. Ta thế cùng, quân tan, lực kiệt chạy đến Tiểu Bái, nương nhờ Lưu Bị. Tuy ở nhờ Tiểu Bái, ta vẫn có ý muốn chiếm lấy Từ Châu của y, vì Từ Châu do Đào Khiêm nhường cho Lưu chứ y có mất tí sức lực nào đâu. Nhân lúc Lưu đưa quân đi xa đánh Viên Thuật, ban đêm bất ngờ ta lừa Trương Phi, đưa quân chiếm thành, thế là ta được Từ Châu. Lưu không còn chỗ dung thân đành quay về, y chấp nhận tá túc nhờ ta ở Tiểu Bái. Đời là thế đấy Ngài ạ, ai cướp được gì thì cứ cướp thôi.

Lưu Bị mất Từ Châu, căm ta lắm, y lại liên kết với Tào quay ra chống ta. Một mình ta có đất Từ Châu thôi nhưng phải đánh với Tào và Lưu đấy. Đánh nhau với Tào, nhờ có Trần Cung bày mưu, ta thắng nhiều trận lớn, Tào cũng hao binh tổn tướng với ta. Tại Bộc Dương, ta đánh giết quân Tào vô số, Tào phải nhờ mấy dũng tướng hộ vệ mới chạy thoát ra khỏi thành đang cháy. Giá ta bắt được Tào trận đó, chắc gì đã có thiên hạ chia ba? Tiếc là trời không phù hộ ta nên Tào Tháo không bị bắt mà cũng không chết cháy. Mạnh Đức là người mưu trí hơn ta, y lại có đội ngũ quân sư giỏi, nhiều tướng tài, y thắng ta là tất yếu thôi. Sau một số trận thua, Tào biết dùng số đông các tướng giỏi liên thủ để đánh một mình ta, còn tướng của ta chỉ có Trương Liêu là người giỏi và mưu lược, nhưng một mình y chả giúp được ta nhiều.

Ta bị Tào bắt ở Hạ Bì, không phải là Hầu Thành và các tướng phản đâu. Đánh nhau với ta mãi, không thắng, chẳng thua, ta và Mạnh Đức đành phải giảng hòa. Ta giữ đất Từ Châu, còn các nơi khác là của Mạnh Đức. Ta cho thế là đã sung sướng lắm rồi Ngài ạ. Mạnh Đức hẹn ta đến Hạ Bì để dự tiệc sau khi hai bên đã hưu chiến. Trần Cung và Trương Liêu khuyên ta không nên đi, vì Tào hay dối trá; nhưng ta cậy mình khỏe mạnh, giỏi dang nên không nghe, chỉ dẫn Tống Hiến và Ngụy Tục đi theo. Đến tiệc, Tháo cho chúng ta ăn phải thuốc mê, cả bọn lăn ra ngủ, thế là Tào Tháo sai các tướng trói gọn bọn ta lại. Đến lúc tỉnh dậy ta mới tin lời Trương Liêu, nhưng hối thì đã muộn. Tào không phải thắt cổ ta đâu, ông ta đưa về kinh xử chém để hiệu lệnh thiên hạ. Mãi sau này, khi về đến Kinh đô, ta mới biết người bày mưu này cho Tào lại là Giả Hủ, người trước kia theo Trương Tú, mới theo về với Tào chưa lâu.

– Thưa Ôn Hầu, trong truyện La Quán Trung viết là Ngài giết Đổng Trác theo ý Vương Doãn, chuyện ấy thực hư ra sao?

– Lê Vân ạ, Ngài thừa biết Đổng Trác là bác ta, lại là cha nuôi của ta, ai lại làm được điều thất đức đó, ai dám làm cái tội tày trời, vô thiên nghịch địa đó hả Ngài? Giết Thái sư, cha ta và chu di chín họ Đổng Thái sư chính là Vương Tư đồ. Ông ta bày mưu, tính kế cùng một số quan lại lúc đó, lừa Đổng Trác về kinh rồi làm việc đó, chắc Tư đồ đã nói việc đó với Ngài rồi. Đã nói ra, tất cả phải là sự thật Ngài ạ.

– Thưa Ôn hầu, thế cái chuyện tình tay ba giữa Ngài với Đổng Thái sư và Điêu Thuyền là thế nào?

– Chuyện ấy xuống dưới này ta mới biết đấy. Điêu Thuyền chính là con gái của Vương Tư đồ chứ đâu phải con hát ở phủ. Lúc thanh thế Đổng Trác quá lớn, Vương Tư đồ muốn kết thân để lấy chỗ dựa, y liền mời ta đến phủ chơi. Trong yến tệc đãi ta, ông ta sai Điêu Thuyền ra hầu rượu và múa hát. Điêu Thuyền đẹp lắm, ta chết mê, chết mệt nàng ngay. Thế là những lúc rỗi, ta hay đến phủ của Tư đồ để ngắm nhìn nàng. Vương Doãn biết ý ta, liền gợi ý gả nàng cho ta. Thời đó gả con cho ai là quyền cha mẹ, thế là Điêu Thuyền thành vợ ta. Ta không có phủ riêng vì ta vừa là con nuôi, vừa là người hộ vệ Đổng Thái sư, nên ta ở trong phủ của ông ấy.

Ta vừa là tướng hộ vệ lại phải đứng đầu hàng võ quan của Đổng Thái sư, nên cũng hay phải cầm quân ra trận. Bọn Lý Thôi, Quách Dĩ… toàn là tỳ tướng võ thuật và công lực rất kém, chỉ giỏi việc đàn áp dân lành thôi. Những trận chiến với lũ chư hầu, chủ yếu là ta cầm quân đánh nhau. Là tướng, ra trận, ăn nằm nơi sương gió có khi hàng mấy tháng trời liền. Điêu Thuyền ở nhà vắng ta nên rất buồn. Đổng Thái sư lấy cớ là con dâu, đôi khi gọi nàng sang múa hát cho vui. Phải nói Điêu Thuyền đẹp lắm, ai trông thấy nàng cũng phải đem lòng yêu ngay. Đổng Thái sư cũng không ngoài quy luật đó Ngài ạ. Rượu vào phê phê, trước mặt lại là đứa con gái đàn hay hát giỏi, đẹp nghiêng nước nghiêng thành, xa chồng lâu sẵn ngả vào lòng, ai mà nhịn được. Thế là xảy ra cái chuyện loạn luân trong phủ Thái sư. Chuyện đó đến khi Thái sư và Điêu Thuyền sám hối ở dưới này ta mới biết được Ngài ạ. Còn chuyện La viết Đổng Thái sư ghen rồi đuổi đánh ta là ông ta thêm dấm thêm ớt cho chuyện hay thôi. Điêu Thuyền là vợ ta chứ đâu phải thái sư phu nhân.

– Thưa Ôn hầu, câu hỏi cuối: Sau khi giết Ngài, Tào Tháo còn giết thêm tướng nào và ai trong thân quyến của Ngài nữa không?

– Khi ta bị Tào lừa bắt, các tướng ở Từ Châu sợ lắm, họ bàn nhau xin ra hàng Tào Tháo, dâng Từ Châu cho Tào. Duy Trương Liêu không nghe, y nói:

– Lã Ôn hầu  tuy bị bắt, nhưng thành Từ Châu này còn quân, lương đủ đánh với Tào, chúng ta quyết giữ để khỏi hổ thẹn với Ôn hầu nơi chín suối. Ai muốn hàng Tào thì cứ việc bỏ đi, riêng ta không hàng. Tướng nào làm loạn lòng quân ta sẽ chém đó.

Các tướng dưới quyền y trốn đi hết, số hàng Tào Tháo có ba người là Hầu Thành, Tống Hiến và Ngụy Tục; trong thành chỉ còn lại một mình Trương Liêu. Khi nghe tin Tào Tháo chém ta bêu đầu ở kinh thành, Trương làm lễ tế ta rồi điều quân cố thủ thành Từ Châu. Tào Tháo kéo quân đến vây đánh hơn hai tháng trời, lương hết, tên và đá cũng hết. Trương Liêu mặc áo tang, cưỡi ngựa, dẫn hết binh mã còn lại ra thành sống chết với Tào Tháo. Thấy Trương là người giỏi, nghĩa khí, Tào cảm phục, y lệnh cho các tướng vây đánh Trương đến kiệt sức để bắt sống. Quân tan cả, Trương Liêu đánh đến lúc con ngựa mệt quá ngã lăn ra. Các tướng Tào xúm vào bắt sống được ông ta giải vào trướng. Thấy Trương Liêu bị giải vào vẫn mặc áo tang dẫm máu, Tào bước ngay xuống cởi trói, dẫn lên ghế trên ngồi, cúi đầu vái Trương một vái và nói:

– Tháo tôi từ trước tới nay vẫn ngưỡng mộ Trương tướng quân, hôm nay được diện kiến nên càng ngưỡng mộ. Ôn hầu chết đã lâu, Trương tướng quân vẫn không quên chủ cũ, càng làm Tháo tôi thêm cảm phục. Tháo tôi muốn mời tướng quân ngồi chơi, sơi chén rượu nhạt để tỏ lòng tôn kính của tôi.

Nói xong, Tào sai người mang áo cẩm bào, bộ đai ngọc thay cho Trương, sai các tướng đứng hầu tiệc cho y và Trương uống rượu. Cảm cái nghĩa đó, Trương Liêu theo Tào, về sau y là tướng chủ chốt của Tào cầm quân cự mặt Đông Ngô rất giỏi đấy. Như vậy các tướng của ta không ai bị Mạnh Đức giết cả. Còn gia quyến ta ư? Chín họ của nhà Đổng Trác bị Vương Doãn tru di cả, có cả cha ta. Nghe đâu sau khi Đổng chết, có một người con trai Đổng còn sống, về sau y lưu lạc nơi đất khách quê người, làm ăn giàu lắm. Gia đình ta chỉ còn có Điêu Thuyền và đứa con gái đã gả cho Viên Thuật. Đứa con gái cũng bị chết trong khi Viên Thuật đánh nhau với quân Tào.

Khi hạ được thành Từ Châu, bọn quân lính bắt được Điêu Thuyền, giải về kinh cho Tào Tháo. Phải nói Điêu Thuyền là một trong tứ đại mĩ nhân đất Trung Hoa không sai. Đã gần bốn mươi tuổi rồi, nhưng trông nàng không khác gì gái mười tám. Vừa gặp mặt Điêu Thuyền Tào Tháo cũng chết mê chết mệt ngay. Nếu không có Lưu Bị cùng ngồi lúc đó, chắc Tào sẽ đưa nàng vào hậu cung ngay để cùng chung chăn gối. Trước mặt Lưu Bị, không thể làm được việc ấy, vì như vậy một thừa tướng nhà Hán đang uy danh lại phạm tội giết chồng để cướp vợ, sẽ ô danh muôn đời. Thế là Tào trí trá, đẩy cái việc xử vợ ta cho Huyền Đức. Huyền Đức trông thấy Điêu Thuyền lòng dạ cũng bủn rủn, rối bời, không thể đủ sức cầm kiếm giết nàng. Lưu bày kế hoãn binh:

– Tâu thừa tướng, đây là tiệc rượu mừng công thừa tướng dẹp xong loạn ở Từ Châu. Trong hỉ tiệc hãy khoan, không nên xử tội nhân. Thừa tướng cứ giao cho Lưu tôi, trong ba ngày sẽ mang đầu Điêu Thuyền đến nộp.

– Sao Huyền Đức đợi lâu thế? Chém một người con gái thì cần gì để lâu đến ba ngày?

Tào hỏi vậy vì nghi Huyền Đức sẽ chiếm dụng thân thể Điêu Thuyền trước lúc hành quyết. Lưu xin:

– Vậy hôm nay tôi và thừa tướng cứ vui vẻ uống cho say, tối mai tỉnh rượu sẽ đưa đầu Điêu Thuyền tới nộp.

– Thôi, cũng được, mong Huyền Đức đúng hạn cho.

Tiệc xong, Lưu sai giải vợ ta về phủ của y. Ta và Huyền Đức có lúc đã kết nghĩa anh em hờ, y vẫn gọi ta là huynh trưởng, vậy vợ ta là chị dâu y. Mặc dù bủn rủn trước sắc đẹp của Điêu Thuyền, y vẫn còn nhớ đó là chị dâu, không thể tự mình sàm sỡ nàng được, mặc dù rất muốn. Lưu cũng không đủ sức nâng gươm mà xử chém một người con gái đẹp như Điêu Thuyền, nhưng đã chót hứa với Tào, bây giờ phải tính sao đây? Lưu cho gọi Trương Phi đến và giao việc ấy cho Trương. Chưa nhìn thấy Điêu Thuyền, Trương hăng hái nhận lời, hứa buổi sáng sẽ chém sớm. Sáng hôm sau vừa nhìn thấy nàng, Trương cũng run hết chân tay vì sắc đẹp đó, y chạy vào quỳ gục xuống trước Huyền Đức nói:

– Bẩm kha kha! Dực Đức không làm nổi việc đó đâu!

– Việc gì mà đệ không làm nổi?

Huyền Đức hỏi lại.

– Đệ không chém nổi Điêu Thuyền đâu, kha kha nên giao cho người khác thôi. Đệ không thể làm được đâu.

Huyền Đức hiểu việc đó, đành giao việc ấy cho Vân Trường, một người trung tín với ông nhất. Quyết định giao cho Vân Trường, nhưng Lưu vẫn lo, nếu Vân Trường thấy mặt mĩ nhân, liệu có dám chém không? Chi bằng bảo y chém vào đêm tối. Tối hôm đó Huyền Đức kéo Vân Trường đến phủ uống rượu, khi rượu đã khá phê, Huyền Đức mới sai Vân Trường ra chém Điêu Thuyền. Đến phủ uống rượu, Vân Trường không mang kiếm mà chỉ sai tỳ tướng vác đến thanh long đao, bí quá ông định dùng long đao để chém. Vân Trương thường lúc nào cũng lim dim mắt, khi mở mắt là có việc phải làm. Quan Công cầm thanh long đao lim dim mắt đi ra thềm. Thấy có hình người ngay dưới sân, chắc là tội nhân cần chém, Vân Trường liền mở mắt ra. Đêm ấy trăng thu sáng lắm, gió thổi khá mạnh. Điêu Thuyền không bị trói được hai ả thị tì giải đến, nàng ẻo lả, thướt tha trong xiêm y. Gió thổi làm xiêm y lất phất bay, dáng đi lả lướt, trông nàng như một tiên nga đang dạo một khúc nghê thường.  Vừa nhìn thấy sắc đẹp của vợ ta dưới ánh trăng, Quan Công cũng bủn rủn hết người, y tuột cả thanh long đao đang cầm trên tay, không kịp đỡ. Thanh đao rất nặng, đổ từ thềm phủ đường rất cao xuống sân, vô tình đã chém phải Điêu Thuyền của ta. Nàng bị giết không phải Vân Trường cố ý chém, mà vì sắc đẹp của nàng đã làm Quan Vũ bủn rủn chân tay lỡ đánh rơi đao thôi. Chuyện là như vậy, không ai đủ can đảm giết một bông hoa tuyệt vời mà tạo hóa đã sinh ra. Dòng họ Lã nhà ta là họ bên mẹ, không liên quan đến họ Đổng, nên không bị Vương Doãn hỏi đến. Vả lại, hỏi đến ta thì mắc đến Điêu Thuyền, con đẻ ông ta; động đến ta thì ông ta lấy ai giúp đỡ để giữ Tràng An. Họ Đổng còn sót một mống, rồi họ cứ sinh con, đẻ cái, lớn dần lên, đông dần lên cho đến ngày nay thành dòng họ Đổng khắp Trung Hoa đấy Ngài ạ. Ồ, ta lại lan man rồi, có lẽ Chiêu Liệt Hoàng đế đang đến thì phải, ta về đây để ông ta trò truyện với Ngài cho tiện.

– Hết sức Cám ơn Ôn hầu đã bỏ chút thời gian cho hậu sinh biết thêm nhiều những thông tin quý cách đây gần hai thiên niên kỉ, chúc Ngài mọi việc hanh thông như ý.

 

Hồi thứ tám

CHỐN VƯỜN ĐÀO ANH HÙNG  KẾT NGHĨA

CỬA HỔ LAO QUAN VŨ LẬP CÔNG

Chào Lã Ôn hầu xong, tôi ngóng đợi Chiêu Liệt hoàng đế đến, nhưng chả thấy. Một ông già ngoại lục tuần, đang lễ mễ vác trên vai một ôm cói, đến gần tôi ông vất bó cói đứng thở. Nhìn khuôn mặt có gì đó quen quen. Tôi nhanh miệng hỏi trước:

– Thưa lão trượng, tôn tử đâu cả mà lão trượng phải vất vả thế này?

– Ồ! Ngài là Lê Vân phải không? Thế ra Ngài không biết ta ư? Ta được La Quán Trung thỉnh đến để cùng nói chuyện với Ngài đây mà.

Tôi giật mình xá ông già một vái:

– Trăm ngàn lần xin lỗi Hoàng thượng, mong Hoàng thượng ra ân, xá tội cho kẻ vãn sinh vô ý nên chót vô lễ, chót phạm thượng!

– Có gì đâu, sau khi sám hối xong, ta lại trở về đời thường chứ đâu còn là Thục đế, đâu còn là Chiêu Liệt Hoàng đế nữa. Ngài và ta cứ nói chuyện như những người quen nhau, đừng cố chấp để câu chuyện không vui. Ta đến gặp Ngài, cốt là được chuyện trò, giao du với cư dân đông đảo trên văn đàn và trên mạng mà.

– Rất cám ơn Hoàng thượng đã cho phép. Vậy câu đầu cho vãn sinh hỏi: Trong Tam quốc, La tiền bối viết là Hoàng thượng cùng Quan Vân Trường và Trương Dực Đức kết nghĩa anh em ở vườn đào, chuyện đó hư thực ra sao?

– Ta không phải vốn dòng họ Lưu, chữ Lưu (họ) gồm chữ văn, ghép với bộ đao đứng bên phải, đọc là “líu”. Cụ tổ Lưu Hàn nhà ta sống khoảng đời thứ mười hay hơn gì đó, tính từ Hán Cao tổ. Ông cũng có họ đọc là “líu”, nhưng bên trái chữ Lưu còn có bộ chấm thủy. Cũng đọc là “líu”, nhưng không có nghĩa là Lưu mà nghĩa là thoảng qua, lướt qua thôi. Lúc nhỏ, Lưu Hàn trông khá bảnh, một lần xem đá gà, Dương Quý phi trông thấy đứa bé ôm hầu gà khá sạch sẽ liền nhận là con nuôi, từ ngày ấy ông được gần Hoàng thượng. Được Hoàng thượng chú ý, nên đổi họ, cho bỏ bộ chấm thủy bên trái đi. Lưu Hàn được Hoàng thượng lôi dần lên đến chức Thượng thư chuyên coi sóc thuế má cho triều đình, với hàm vương. Trung sơn tĩnh vương có học hành gì đâu, lúc còn nhỏ chỉ có một việc giữ cho cha hoạn gà hay ôm gà thuê đi đá; nhờ có chữ Lưu vua ban nên được cất nhắc làm to. Về sau, tra gia phả, chi của ta chỉ từ Lưu Hàn, tức là Trung sơn tĩnh vương. Họ tra cứu, nhưng ai biết được Lưu Hàn chỉ là người khác họ, xuất thân từ đứa con ông thợ thiến gà!

Có chức, có quyền, thế là bọn gian tham liền bao quanh ông để lợi dụng làm giàu. Bọn ấy nịnh giỏi, hót hay, không tuần tiết nào không quà cáp biếu xén ông cụ. Tin ở tay chân, quà nhiều lóa mắt, Tĩnh vương để mặc cho bọn tay chân hoành hành. Thế là các loại thuế cứ đẻ dần ra, cứ cao dần lên để chảy vào kho nhà ông cụ và kho của bọn tay chân. Dân tình vì thế cứ dần dần nghèo đi, đất nước ngày một kiệt quệ. Các quan đầu triều thấy không chịu nổi, họ cùng nhau làm bản tấu lên vua. Nếu chỉ có bọn đó đàn hặc thì chắc vua cũng chưa xử ông cụ đâu, dù sao ông cụ còn là vai chú của Hoàng thượng lúc đó. Song cánh quan lại đã vận động được Hoàng Quý phi giúp. Bà ta tỉa tót mãi cũng thấm tai vua, nhà vua liền cho khám phủ đường của ông và tất cả dinh thự của bọn tay chân. Khám ra mới thấy là tài sản của ông và bọn tay chân tham ô được không kém gì công khố quốc gia. Công việc vỡ lở, Trung sơn tĩnh vương bị cách tuột chức, thu hết tài sản và đày lên U châu. Từ đó hậu duệ của ông trở lại nghèo hèn, các thế hệ sau tìm mọi nghề kiếm sống và tản mát khắp nơi. Ông cha ta thì kiếm được cái nghề dệt chiếu, đan dép cói mang ra chợ bán. Ta nay lại quay về cái nghề cũ; cái thằng con ta chỉ biết ăn chơi, nó có biết cái nghề gì đâu mà giúp ta. Đến nay, kiếm được đồng nào, ta cũng vẫn phải giành một phần đút vào cái miệng luôn há ra chờ mồi đó Ngài ạ.

Ta vừa vào độ tuổi chín thì anh em Trương Giác dựng cờ khởi nghĩa. Thế giặc lớn lắm, quan quân triều đình thua hết trận này đến trận khác, giặc tiến dần về Lạc Dương. Thấy nguy, vua Thiếu đế truyền các trấn tuyển quân để dẹp giặc. Tuân mệnh vua, quan Thái thú châu ta ở cho treo bảng cầu hiền ở khắp nơi. Ta giao cho vợ nuôi mẹ, từ biệt mọi người thân, khăn áo lên đường tìm về để đầu quân cho Lưu Yên.

Về đến nơi, ta thuê một quán trọ ở tạm để đợi ghi danh. Vốn nhà nghèo, số tiền mang theo người rất hạn hẹp, ta vừa trọ ở ngoài thành, vừa tìm việc để làm thêm. Số người đầu quân khá đông, sân công đường vào buổi ghi danh chật cứng; mọi người chen lấn xô đẩy nhau để vào ghi tên. Thấy lộn xộn, ta bỏ ra góc sân, ngồi trên tường hoa quan sát sự việc. Lát sau một người cao lớn, mặt đỏ, râu dài cũng ra ngồi cạnh ta, vẻ mặt ngán ngẩm, mắt lim dim nhưng không nói gì. Ta hỏi anh ta:

– Các hạ là ai? Chắc các hạ cũng đến để ghi danh đầu quân?

Ông ta không ngoảnh mặt sang, mắt vẫn lim dim nhìn vào chỗ đông người chen lấn, trả lời:

– Tại hạ họ Quan, tên Vũ, tự là Vân Trường, quê ở Giải Lương; trên đường qua đây thấy quan phủ mộ người đầu quân dẹp loạn, nên ghé vào định ghi danh. Thấy lộn xộn quá, có lẽ tại hạ phải đi nơi khác ghi danh vậy. Các hạ cũng ghi danh đầu quân?

– Tại hạ họ Lưu, tên Bị, tự là Huyền Đức, quê ở Trác Quận, cũng đến ghi danh đầu quân, nhưng chưa ghi được. Tại hạ đã đợi mấy ngày nay rồi, hôm nào cũng đông và lộn xộn, chả ai nhường ai cả.

Đang nói chuyện thì từ ngoài chạy vào một người to lớn, đầu beo, râu hùm. Anh ta lấy tay gạt hết người này đến người khác, miệng la lối:

– Tránh ra! Tất cả tránh ra để ta vào ghi danh đầu quân! Tất cả tránh hết ra.

Y xô đẩy bốn năm người ngã ra sân, mấy người bị ngã liền túm lấy y sinh sự. Thế là một cuộc loạn đả nhỏ xảy ra. Quân lính trong phủ ra dẹp cũng bị hắn đánh ngã đến dăm người. Thấy tình hình loạn ẩu, ta và Quan Vũ liền đứng dậy, lôi người đó ra ngoài. Quan Vũ có sức khỏe hơn người, lại có ta giúp sức mới lôi được người đó ra góc sân phủ đường. Ban đầu y chống lại; y đá ta, rồi đá cả Quan Vũ, miệng la lối chửi bới:

– Này! Bọn sâu bọ, có buông ta ra để ta vào đánh chết mấy đứa hỗn láo kia không?

Thấy y nóng nảy, ta vẫn nhẹ nhàng khuyên:

– Này, đại ca! Trong ấy là sân phủ đường, đang làm việc ghi danh đầu quân, không nên làm ồn ào.

– Ta phải đánh chết mấy tên dám ngáng trở ta vào ghi danh, ta phải đánh chết chúng…

– Này, đại huynh! Bọn đệ cũng đến đầu quân đây, nhưng đang đông, vội vàng làm gì? Chúng mình cùng đến một tửu điếm nào đó làm vài bát rượu nóng. Đợi khi vãn người hãy vào ghi danh có tiện hơn không nhỉ?

 Ta lại nhẹ nhàng khuyên y. Thấy thái độ chúng ta hòa nhã, nhưng kiên quyết, mắt y chợt sáng lên khi nghe hai từ tửu điếm và rượu nóng, thế là y theo chúng ta ra ngoài. Chẳng khó để tìm một tửu điếm ngay bên cạnh phủ đường để chúng ta vào uống rượu. Gọi tửu bảo, ta đặt ra đĩnh bạc cuối cùng trong người, Quan Vũ cũng moi túi ra chút bạc vụn. Thấy vậy, người đó cười khẩy:

– Hai đại huynh có vậy thôi ư? Uống không bõ say! Nhà đệ gần đây, có quán thịt chó dưới vườn đào đang độ đẹp hoa. Đệ mời hai ca ca về đó uống rượu.

Ta và Quan Vũ theo y về nhà. Trên đường đi, y nói:

– Đệ họ Trương, tên Phi, tự là Dực Đức, người nước Yên. Từ nhỏ theo cha đi các nơi mua chó về làm thịt bán. Hôm nay mời được hai ca ca đến uống rượu rồi chúng ta cùng đi đầu quân đánh giặc Khăn vàng.

Đến nhà thì mới biết là bố mẹ Trương đã mất cả, lâu nay quán đóng cửa vì Dực Đức cứ rượu say là chửi bới, đánh người nên không ai dám đến. Căn nhà Trương ở làm dưới một vườn đào cổ thụ đang ra hoa rất đẹp. Trong cũi còn con chó mới mua chiều qua, Trương lôi ra thịt đãi ta và Quan Vũ. Thịt ngon, rượu nhiều, ba chúng ta uống đến say lúy túy. Trong lúc rượu say, Trương chợt nảy ra ý nghĩ:

– Này, các đại huynh! Ba ta đều đầu quân đánh giặc, hay là chúng ta kết nghĩa anh em đi.

Quan Vũ thấy thế cũng phải, nên tán thành, ta khuyên:

– Đúng là cùng đầu quân đánh giặc, ba chúng ta nên kết nghĩa anh em, sống chết cùng nhau. Song việc kết nghĩa là vô cùng hệ trọng, ta phải có lễ cúng tế trời đất thề cùng sinh tử. Việc hệ trọng đó nên để đến khi chúng ta hết say rượu đã các huynh đệ ạ.

Hôm sau, Trương Phi sắm sửa một cái lễ rất sang, có đủ tam sinh, đặt dưới cây đào cổ thụ cao đến bảy tám trượng. Ba chúng ta cùng thắp hương cáo tế với trời đất, thề cùng sinh tử có nhau, nếu ai làm sai thì trời tru, đất diệt. Tế xong trời đất, bấy giờ mới nhớ đến xếp ngôi thứ. Cả ba chúng ta chẳng ai nhớ được mình sinh ngày tháng năm nào, nên không thể chia được ngôi thứ. Đang lúc bí, Dực Đức liền vỗ dùi đánh đét một cái, y nhẩy lên ngọn cây đào, cười khanh khách:

– Ta ở trên cao nhất, ta phải là anh cả.

Thấy Trương cười lớn, đắc ý, Quan Vũ cũng nhẩy lên theo, Quan tuy khỏe thật, nhưng nặng quá nên ngồi cành dưới của Trương. Ta béo người, bụng phệ, leo cây còn khó, nói chi nhảy lên cành. Ta đến bên, ôm lấy gốc đào đành chịu phận làm em út. Đúng lúc ấy, có một lão trượng râu tóc bạc phơ, chống cây gậy gỗ lê đi vào, ông ta tự nhiên rót một chén rượu ra uống rồi đủng đỉnh nói:

– Ba các con tuy sinh không cùng ngày, không cùng cha mẹ, nhưng lại có chí kết nghĩa anh em, thề cùng sống chết giúp vua Hán. Việc động lòng trời, vậy phân ngôi thứ phải phân theo lẽ trời đất. Cái cây phải có gốc rễ thì mới sinh được ra cành ngọn. Vậy người đứng dưới gốc kia, theo dịch lí thì phải là anh cả. Người ngồi giữa phải là anh hai. Người ngồi chót vót trên ngọn phải là em út. Ta cám ơn các con đã mời ta chén rượu ngon.

Nói xong ông già rũ tay áo thong thả đi ra khỏi vườn đào rồi không thấy bóng dáng đâu nữa. Chúng ta rất đỗi ngạc nhiên, đi ra ngoài ngó theo tìm ông già, nhưng chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Cho đấy là ý trời, ta trở thành huynh trưởng, Quan Vũ thành nhị đệ, Dực đức thành tam đệ từ đó. Truyện này là thực, nhưng La Quán Trung đâu có biết, y nói ta hơn tuổi, Dực Đức ít tuổi nhất là không đúng đâu. Thời đó bố mẹ chúng ta thất học, sinh con ai có nhớ được ngày tháng năm đâu mà tính tuổi.

– Thưa! Nghe nói khởi nghiệp của Hoàng thượng thật gian lao, vất vả, nhất là những ngày đầu, chảng hay có thực thế không ạ?

– Khởi nghiệp ai mà chẳng gian nan hả Ngài, ai chẳng có lúc lên voi, lúc xuống chó. Ta kể tiếp nhé: Ngày hôm sau, Trương rao bán cơ ngơi để lấy tiền mua sắm ngựa và binh khí cho cả ba anh em. Đang lúc rao bán, có mấy lái buôn ngựa người Sơn Đông đi qua. Trương liền mời vào làm cỗ đãi đằng. Trong tiệc rượu, chúng ta kể cho họ nghe hoàn cảnh của mình. Thấy phong cảnh hữu tình, đất dễ làm ăn, ba người buôn ngựa đổi cả đàn ngựa của họ cho Trương để lấy cơ ngơi của y. Họ quyết định ở lại đó sinh sống, mở lại cái tửu điếm của Trương. Nghe nói sau này họ trở nên rất giàu có và con đàn, cháu đống.

Có đàn ngựa, chúng ta chọn ba con tốt nhất để dùng. Ta chọn được một con ngựa bạch khá đẹp, tính thuần, dễ điều khiển. Trương Dực Đức chọn dùng con ngựa ô cao lớn, sức vóc khá nhất, nhưng hung dữ, hay đá và cắn những con khác trong đàn.Vân Trường chọn đi, chọn lại, nhưng chả có con nào ưng cả. Quan Vũ người to lớn, nên cưỡi lên con ngựa nào trong cả đàn đều thấy không ưng. Đang lúc Quan Vũ lựa chọn, người lái buôn ngựa đi đến, ông ta dắt lại cho Vân Trường con ngựa hồng, không lớn lắm, trán có đốm trắng và nói:

– Trong cả đàn ngựa đổi cho các Ngài, có con này là con ngựa có sức dẻo dai nhất. Nó thuần tính, dễ điều khiển, tôi đã dùng hơn năm nay nên biết tính nó. Ngài nặng cân, cả đàn chỉ có con này là đủ sức chịu nổi Ngài cưỡi thôi.

Thế là Quan Vũ dùng con ngựa đó. Số ngựa còn lại, chúng ta mang ra chợ bán hết để lấy tiền. Sau khi bán xong ngựa, cả ba chúng ta đến cửa hàng rèn sắt đặt binh khí. Trương Dực Đức đặt một cây bát xà mâu dài một trượng tám thước và một thanh gươm. Quan Vân Trường thuê rèn cây long đao yển nguyệt nặng tám mươi hai cân và thanh gươm tốt. Ta võ công kém, bụng to, sức yếu, chỉ đặt rèn một đôi song kiếm thư hùng. Số tiền bán ngựa còn nhiều, chúng ta quyết định đầu quân theo Chu Tuấn ở U Châu chống giặc Khăn vàng. Có chút công lao, được phong chức huyện úy An Hỉ.

Ở đó chả yên với bọn thap nhũng, cả ba anh em lên đường theo Công Tôn Toản ở nước Đại, ngay gần đấy. Toản là bạn học với ta khi còn nhỏ, xa nhau đã lâu, nay thấy ba anh em ta mới lên, hai người lạ trông dáng là dũng tướng nên chưa dám tin dùng ngay. Y cho ta gần ngàn binh mã, sai anh em ta ra giữ huyện Bình Nguyên. Thế là ta đã là quan Huyện lệnh, Quan Vũ nắm số quân kị, còn Trương Phi nắm số quân bộ để giúp ta trông nom huyện Bình Nguyên. Tuy chưa được tin dùng, nhưng Công Tôn Toản, người bạn học cũ đã tạo cho ta một chỗ đứng không phải là tồi, phải không Ngài nhỉ.

Vừa trấn nhậm không lâu, Toản đưa quân về họp với các trấn để đánh Đổng Trác theo lời hịch của Tào Tháo, Toản mang cả bọn ta đi theo. Toản không phải trấn lớn, uy thế kém, tướng hèn, binh mọn, nên bọn ta theo y về cũng bị lép vế. Chúng ta chỉ có hơn ngàn quân trong cái ổ ô hợp mà người điều hành lại là Viên Thiệu, con người thiếu quyết đoán, kém cơ mưu. Bước đầu Thiệu sai Tôn Kiên lĩnh ấn tiên phong, bởi vì Tôn Kiên dáng vóc khôi vĩ, lại có bốn tướng hộ vệ võ nghệ khá tốt.

Quân các trấn đóng trước cửa Hổ Lao, Tôn Văn Đài lĩnh ấn tiên phong, được phái ra trận khiêu chiến. Tôn Kiên ra trước ải chửi bới Đổng Trác là con hoang, Lã Bố là thằng ba họ… Bên kia Lã Ôn hầu bực mình định xuống ải thì một tùy tướng là Hồ Chẩn xin xuất trận. Lã sai Hồ Chẫn dẫn năm vạn quân xuống ải dàn trận. Bên Tôn Kiên, Trình Phổ, tướng giỏi nhất của Tôn vác mâu, tế ngựa ra thách đánh, Hồ Chẩn cũng vác đao tế ngựa ra tiếp chiến. Hồ Chẩn không phải là đối thủ của Trình, mới chưa được chục hiệp Trình Phổ đâm chết Hồ Chẩn. Thừa thắng Tôn xua quân đánh tới, quân Lã Bố tán loạn chạy về, bị chém giết nhiều vô kể. Song quân chư hầu đến gần ải liền bị tên bắn, gỗ lao, đá bắn ra, không sao xông được vào ải đành phải lui về. Tôn Kiên đem đầu Hồ Chẩn về dưới trướng lĩnh thưởng.

Hôm sau, Tôn Kiên lại xuất binh, thách đánh. Lã Ôn hầu đang lên ngựa thì có một tùy tướng họ Hoa, tên Hùng xin được dẫn quân ra trận. Trông thấy Hoa Hùng mình dài chín thước, hình dáng khôi vĩ, nên Lã Bố đồng ý cho y lĩnh ấn tiên phong. Hoa Hùng dàn quân dưới ải, vác đao ra ngựa thách quân chư hầu giao chiến. Một tướng là Vũ An Quốc cao to không kém y liền cầm dùi đồng tế ngựa chạy ra. Chưa được chục hiệp, Vũ An Quốc bị Hoa Hùng chém đứt cánh tay, tế ngựa chạy về. Thấy Vũ thua trận, tướng của Tôn Kiên là Trình Phổ vác mâu, tế ngựa xông ra. Trình Phổ đánh với Hoa Hùng hơn năm chục hiệp thì đường mâu bắt đầu rối loạn. Thấy bạn yếu thế, Tổ Mậu vác đao xông ra đánh giúp. Hai tướng của Tôn vây đánh Hoa Hùng, đánh thêm hơn chục hiệp, Hoa Hùng quát to một tiến, chém Tổ Mậu lăn xuống ngựa. Trình Phổ biết mình không thể đánh nổi Hoa Hùng, quay ngựa chạy về. Thừa thắng, Hoa Hùng xua quân đánh tới, chém giết quân chư hầu thây chết ngổn ngang. Tôn Kiên thấy Trình Phổ bại trận, hoảng sợ tế ngựa chạy rơi mất cả mũ. Quân của Hoa nhặt được cái mũ của tiên phong liên quân về nộp cho y để lấy thưởng. Bại trận, các trấn chư hầu phải lùi hơn ba mươi dặm hạ trại.

Hôm sau, Hoa Hùng dẫn quân đến cắm cái mũ cuả Tôn Kiên lên sào dài, thách đánh; các trấn chư hầu không dám xung trận, dùng cung nỏ bắn ra, Hoa Hùng đành quay về. Viên Thiệu tìm trong quân không thấy tướng nào địch được Hoa Hùng đành cho người về Ký Châu tìm danh tướng Nhan Lương. Nhan Lương gấp rút lên ngựa đi ngay, đến nơi, y được sai đối trận với Hoa Hùng. Hoa và Nhan đánh nhau cả trăm hiệp không phân thắng bại, thấy vậy Thiệu đành khua chiêng thu quân, Hoa cũng dẫn quân về ải. Hôm sau, Hoa Hùng lại đến thách đánh, Nhan Lương xin ra trận, nhưng Viên Thiệu không cho. Viên sợ nếu Nhan Lương, tướng giỏi nhất của mình mà chẳng may sơ xuất thì quân chư hầu không còn ai địch được Hoa, vả lại, lần này Nhan thua, tất Hoa thừa thế đánh tràn vào thì các trại đều tan, ngay mạng sống của y chưa chắc đã giữ được. Trong lúc Viên đang lúng túng thì Tào Tháo dẫn Quan Vũ vào trước trướng xin cho ra trận. Bí người, mặt khác thấy dung mạo Quan cũng uy dũng, Viên đành để Quan Vũ một mình ra đối trận với Hoa Hùng, và lệnh cho các trại phòng sẵn cung tên để bắn nếu Quan Vũ thua trận. Tào Tháo rót chén rượu mời Quan Vũ, Quan nhận nhưng không uống ngay, ông nói:

– Sứ quân cứ cho tôi đặt chén rượu tạm ở đây, tôi ra trận rồi về ngay thôi.

Quan Vân Trường một mình ra ngựa giao đấu với Hoa Hùng. Kể sức vóc Hoa chả thua Vân Trường là bao, nhưng y không chịu nổi cây đao nặng và tài đánh của Quan Vũ. Chưa đầy ba hiệp, y bị Vân Trường chém bay đầu. Chém xong Hoa Hùng, Vân Trường tế ngựa về uống chén rượu Tào Tháo mời, chén rượu còn đang ấm tay. Mạnh Đức xin với Viên Thiệu thưởng công cho Quan Vũ; nhưng thấy Vân Trường chỉ là một tướng nhỏ của một Huyện lệnh, Viên lạnh lùng từ chối. Tào Tháo rất bực với cách khư xử của Viên, nhưng không nói gì; Tào lên ngựa tiễn đưa Quan Vũ về tận trại của ta. Trên đường về trại, Tào thấy Quan Vũ tỉnh bơ, không phàn nàn câu nào, y càng đem lòng quý mến và cảm phục Vân Trường, tình cảm hai người nảy sinh từ lúc đó.

 

Hồi thứ chín

QUÂN VƯƠNG KHÔNG THIẾU ĐÀO NON

VUA CHÚA CÓ THỪA TẬT XÁU

– Tâu Hoàng thượng! Quân các trấn đông vậy, đang thừa thắng sao không đè bẹp ngay lực lượng của Đổng Trác, để đánh nhau mãi, các trấn chư hầu đâm nản, tự tan rã, thế là hỏng cả sự nghiệp?

Ta lúc ấy chỉ là chức quan nhỏ dưới quyền Công Tôn Toản. Mà Công Tôn Toản cũng chỉ là một trấn nhỏ, binh ít, tướng hèn, có quyền gì đâu, nói họ cũng chẳng nghe. Viên Bản Sơ nhờ có giòng dõi thế phiệt, được bầu minh chủ, nhưng y không có mưu lược, lại là người nhát gan. Các trấn tuy hưởng ứng lời Mạnh Đức, đưa quân về, song mỗi người một bụng, chẳng ai bảo được nhau. Sau khi Hoa Hùng bị giết, Lã Ôn hầu xuất binh. Bên liên quân không có tướng nào địch nổi y trừ Quan Vũ, Trương Phi. Lẽ ra sau trận ba anh em ta liên thủ đánh bại Lã Bố, Viên Thiệu dùng chúng ta làm tiên phong, chắc thắng to. Song Viên bất tài, không biết dùng người, nên lòng quân tan rã, các trấn chư hầu đánh lộn nhau rồi kéo binh về. Liên quân của các trấn tan rã từ đó, ta lại trở về giúp Công Tôn Toản giữ huyện Bình Nguyên.

– Thưa, trong truyện La tiền bối luôn ca ngợi Hoàng thượng là người đức độ, khoan thai, nhân hậu, quý trọng bạn bè, một lòng phò nhà Hán. Theo Hoàng thượng, La Quán Trung viết đã đủ chưa?

– Lê Vân này, Ngài thấy ta cũng là con người như bao người khác đó. Đã là người tất có cái tốt, cái xấu; người được nói là tốt, cũng có những cái xấu và ngược lại. La Quán Trung chỉ đề cập đến những cái tốt của ta mà không nói đến cái xấu là không khách quan đâu.

Ta cũng như nhiều người trai trẻ trong xã hội phong kiến, cũng thích bầu đàn thê tử, lắm thê, nhiều thiếp chứ không đâu. Khi ta đang là Huyện lệnh huyện Bình Nguyên, biết nhà họ Cam có một thiếu nữ đẹp nhất vùng; ta cho viên thư lại đến mai mối, ban đầu cha mẹ nàng không ưng, chê ta là xuất thân nghèo hèn, mới được giao chức chứ chưa có sắc phong. Ta phải một mặt đưa vàng, nhờ Công Tôn Toản xin vua tấn phong cho chức Thứ sử, họ mới chịu gả con gái cho ta, chính nàng là Cam phu nhân sau này. Cam phu nhân cũng là một trang sắc nước hương trời, nhưng không thể so với Điêu Thuyền của Lã Bố được. Điêu Thuyền đẹp lắm, nếu chỉ có mình nàng với một người đàn ông nào đó, chắc chắn đấng nam nhi ấy sẽ phải đổ quán xiêu đình vì nàng. Tào Tháo cũng thích nàng lắm, song y đang là Thừa tướng, uy danh lừng lẫy, không dám chim chuột nàng trước mặt ta cùng bao thuộc hạ đang ngồi uống rượu, y cũng không đủ sức cầm gươm giết nàng, nên đổ cái vạ đó cho ta. Thực ra ta cũng muốn được chăn gối với Điêu Thuyền, nhưng đã chót hứa chém nàng trước mặt Tào Tháo mất rồi ta đành phải tìm cách giết nàng đi. Nhưng rồi cả ta và Dực Đức cũng không đủ sức cầm gươm chém nàng, Lã Ôn hầu nói đúng đấy. Sau này, người cứng cỏi như Vân Trường cũng có đủ sức cầm đao chém nàng đâu. Nếu chỉ có hai người trong đời thường, chắc chắn ta sẽ lấy nàng làm vợ, không kể chi đến chuyện nàng đã là vợ của Ôn hầu.

Ta lấy My phu nhân và Tôn phu nhân đều là những cô gái đẹp và rất trẻ. Vì muốn lấy My phu nhân, ta phải dùng My Chúc, anh nàng làm tùng sự dưới trướng. Ta cũng phải phong chức cho My Phương, một người không đáng tin cậy, để sau này y phản Vân Trường, theo về Đông Ngô, làm loạn hậu phương đến nỗi Vân Trường bại trận, mất cả Kinh Châu về tay Tào Ngụy và Đông Ngô. Ta cũng như nhiều trang nam tử mọi thời, cũng vì gái đẹp mà làm hỏng sự nghiệp chính trị của mình đó Ngài ạ.

Với Tôn phu nhân thì hơi khác; lúc ta bị Tào dồn đến thế cùng, phải chạy về Hán Tân, trong tay quân mã chỉ còn mấy ngàn người, chủ yếu dựa vào hơn vạn quân của Lưu Kỳ ở Giang Hạ. Nếu không có lực lượng để cùng chống Tào, tất Tào Tháo sẽ tiêu diệt lực lượng của ta quá dễ. Theo mưu của Gia Cát Lượng, ta đành phải cầu thân với Đông Ngô, để cùng nhau liên kết chống Tào. Để khối liên minh bền vững, ta nghe lời Khổng Minh sang cầu hôn Tôn phu nhân. Rất may cho ta, nàng cũng trẻ, đẹp và tinh thông võ nghệ nên sau này nàng giúp ta thoát hiểm khi bị Chu Du truy đuổi.

Ngoài ba vị phu nhân chính thức, ta cũng có đàn cung nữ trẻ đẹp ở chốn hậu cung. Chính vì ta bêu gương xấu đó nên thằng con ngu đần lười biếng của ta cũng vì loạn hậu cung để đến nỗi Gia Cát Lượng đang thắng trận bị gọi về, Khương Duy không có quân lương chống giặc, nhà Thục Hán đổ nát. Đã là đàn ông, ai chả thích năm thê, bảy thiếp, ai chả yêu con gái đẹp hả Ngài. Ta kể sơ qua Ngài nghe một chuyện thật vừa bi, vừa hài của đời ta nhé. Ta vốn yêu gái đẹp, hát hay, nên thi thoảng cũng có cải trang ra các kĩ viện. Một lần có một ả, không hiểu có biết ta là vua Thục Hán hay không, cứ cố tình hở hang ra hát trước mặt, rồi châm tửu mời ta. Ta thấy hay hay, mới nắm cổ tay kéo đến ghế bên cạnh. Không ngờ đó là cô gái đã đứng bóng, dạn dĩ, nàng cố tình ngả vào ta ngay. Nàng cứ bám ta suốt buổi đêm đó không thôi. Cách mấy ngày nữa, ta thấy nhơ nhớ nàng lại mò ra cái kĩ viện đó, lần này nàng không rời ta ra nữa. Nàng khóc lóc đòi theo ta. Thương nàng quá, ta chót hứa khi về sẽ sai một thị lang mang tiền ra chuộc và xếp cho nàng ở một căn nhà kín đáo trong thành.

Xong việc đó, ta cầm quân thảo phạt Đông Ngô, không ngờ người đàn bà ghê gớm ấy bỏ nhà, cải trang lẽo đẽo theo vào quân ta. Việc đó lộ ra ba quân, ta đành đưa nàng đi theo vào soái dinh, không kể gì đến quân pháp nữa.  Cuộc chinh chiến đại bại, ta thua trận, bị thương chạy về thành Bạch Đế. Ta bị truy đuổi riết lắm, đành bỏ nàng mà chạy thoát lấy thân. Về sau, nghe tin nàng bị quân Đông Ngô bắt được, giải về nộp cho tì tướng Mã Trung nào đó, y ép nàng làm vợ nhỏ. Ta thấy mình đã nguy, cho người về Thành Đô gọi Thái tử Lưu Thiện đến. Đợi mãi vẫn không thấy nó đến để ta căn dặn việc hậu sự. Mãi sau, lúc ta đã nửa mê, nửa tỉnh, Thừa tướng Gia Cát mới ghé tai nói nhỏ với ta: Lưu Thiện thề nhất quyết không gặp mặt ta nữa, nguyên nhân là người đàn bà theo ta chính một thời là người tình đầu gối má kề với nó. Ta chết đến nơi, chiếu phong vương đã viết rồi, Thừa tướng đã bàn việc đó với các quan, không thể thay đổi đươc! Thế Lưu Thiện nối ngôi Ngài ạ.

Một lần ta ghé thăm nhà Thị lang Ngô Ý, y dẫn cả nhà ra chào ta. Liếc thấy trong đám con cháu có một cô gái đẹp quá, ta mang lòng yêu ngay. Trong bữa tiệc tiếp, ta gợi ý Ngô đưa con gái ra tiếp rượu, y gọi ra thì không phải cô gái đó. Ta bảo y gọi đứa con gái khác, y bảo y chỉ có một đứa con gái duy nhất đó thôi, còn đứa đứng sau nó là con nuôi, chồng nó ở rể mới chết cách đây ít ngày. Ta ép y đưa con bé ra hầu rượu, dù không muốn, nhưng y vẫn phải nghe. Khi về nhà, ta cho người đến mai mối xin cưới nàng làm vợ. Ngô Ý không biết làm thế nào được, y vào vương phủ của ta xin khất:

– Tâu Vương thượng! Đứa con nuôi của thần chồng nó mới qua đời chưa được thất tuần. Thần mong Vương thượng hãy thư lại cho cháu đoạn tang chồng đã. Sau đoạn tang, thần sẽ sai người đưa về vương phủ dâng Vương thượng mong Vương thượng xem xét ạ.

– Ngươi là bày tôi ta vẫn yêu mến. Ta cũng chả ép làm gì, nhưng tôi trung không bao giờ trái lời chủ. Ngươi cứ suy nghĩ kĩ đi mà hành xử.

Ta lạnh lùng nói với Ngô Ý như vậy. Dù con còn đang để tang chồng, nhưng sợ ta, Ý đành miễn cưỡng tuân theo đưa con vào phủ. Khi ta lên ngôi Thục đế, phong người con gái đó làm Hoàng hậu, chính là Ngô hậu. Vì cái tội đó, xuống dưới này dù Sở Giang vương rất mến ta, ông vẫn bảo phán quan nọc ta ra giữa sân quất liền cho ba hèo gai rách lưng vì tội loạn dâm với gái có chồng.

Còn về việc một lòng phò Hán, cũng có thực, có không. Từ khi bỏ bộ chấm thủy, dòng dõi ta mang họ Lưu như những chi khác; bởi vậy, khi Công Tôn Toản tấu về, sau khi xem gia phả, vua nhận ta là Hoàng thúc, phong ngay chức Thứ sử Dự Châu, mọi người gọi ta là Lưu Hoàng thúc hay Lưu Dự Châu.Từ một anh tạm quyền huyện lệnh quèn, nhờ mỗi chữ:”líu” mà nhảy ngay lên hàng Quốc cữu, thứ sử một châu khá lớn. Cái ấy cũng như ông tổ Lưu Hàn của ta, không cấy cày những có mùa bội thu cũng chỉ nhờ chữ ”líu”. Ta nhờ họ Lưu nên danh giá, nhưng ta đâu có hết lòng vì họ Lưu. Ngài thấy đấy, ta dựa vào họ Lưu, dựa vào chữ trung với họ Lưu đẻ mưu toan sự nghiệp. Chính cái khẩu hiệu phò vua, cứu Lưu mà ta được nhiều người cho là chính đạo nên theo về. Chính nhờ cái khẩu hiệu đó trong khi hệ tư tưởng phong kiến đang thịnh, đang mê hoặc lòng người nên ta dễ an dân, mị dân thôi.

Ngài thấy đấy, khi đang tá túc nhờ Lưu Biểu, ta cũng đã có ý nhòm ngó Kinh Châu chứ đâu có như La viết. Ta chỉ chưa làm điều đó, không phải vì tình cảm của họ hàng với Biểu, mà vì thực lực mình còn non quá. Nếu cố ý dậy non, tất không bị Tào Tháo bóp chết thì cũng bị Tôn Quyền đánh đuổi mà thôi. Tiếc rằng trong lúc ta đang chờ thời thì Lưu Biểu chết, vợ con y mang đất dâng cho Tào Tháo, thành ra ta gần như trắng tay, phải về dựa vào Lưu Kỳ ở Hán Tân. Khi lấy lại được Kinh Châu, ta đâu có xử dụng Lưu Kỳ, mặc dù có lúc ta dựa được vào y trên cơ sở tình máu mủ. Lưu Kỳ thấy ta lạnh nhạt, y uất ức quá, phát bệnh mà chết non. Khi ta cầm quân cùng Bàng Thống đi đánh Lưu Chương lấy Tây Xuyên, La Quán Trung cứ tô vẽ cho ta là nhân đức, là khoan hòa… Nhân đức khỉ gì khi đem quân đến xâm lược kẻ khác? Khoan hòa gì đi kéo quân đến công thành chiếm dân, chiếm đất, cướp của nhà người ta. Ta có khá hơn một số kẻ cầm quân khác là khi kẻ bại trận đã đầu hàng thường không nỡ giết họ thôi.

Đối với anh em họ Lưu ta còn xử vậy, đố ai dám nói là ta vì cái họ Lưu. Còn về trung vua, lúc đi săn ở Hứa Điền, Vân Trường định giết Tào Tháo, nêu ta hết lòng trung với vua thì sao ta lại ngăn Vân Trường? Không phải ta sợ nguy đến tính mạng vua đâu, ta nghĩ nếu Vân Trường chém chết Tào Tháo, mà vũ dũng như Vân Trường thì chém Tào không khó; lúc đó các tướng Tào sẽ nhằm ba anh em ta mà đánh. Quan Vũ, Trương Phi giỏi thì chắc chả hề hấn gì, nhưng một kẻ bụng bị, võ công kém như ta, tất sẽ bị chúng giết chết ngay. Ta sợ nguy cho tính mạng mình chứ đâu sợ nguy cho Hán đế.

Khi đã có cả Kinh Tương lẫn đất Thục, ta muốn xưng vương, xưng đế lắm chứ, nhưng Khổng Minh can ta, nếu tự phong, sẽ làm ngã lòng những tướng tài, những người trung quân ái quốc, xưa nay vẫn một lòng thờ vua Hán. Số ấy mà xa ta thì chắc quân sẽ tan, nhà sẽ mất rất sớm. Gia Cát Lượng khuyên hãy kiên trì đợi đến khi thực lực đã nghiêng về mình đã, hoặc có sự biến gì đó trong triều sẽ hay. May quá, đúng lúc đó Tào Phi truất ngôi vua Hán, thế là ta có cớ để lên ngôi. Vừa nghe tin đó, ta đã sai đắp đền thụ thiên, viết chiếu tự phong mình chứ đâu có để quần thần vận động lên ngôi mấy lần như La Quán Trung viết trong sách. Ta vừa xưng đế, đâu có đi tìm con cháu của vua Hán về để phong vương đâu, ta phong cho thằng con đầu là Thái tử ngay, các con khác như Lưu Vĩnh, Lưu Lý mặc dù cũng ngu như lợn, đều được phong vương. Hai người thân cận nhất là Quan, Trương đều được giữ quyền cao, chức trọng. Điều đó chứng tỏ ta cũng tư lợi, cũng ích kỉ như bao người ít học thôi Lê Vân ạ. Đã là những kẻ làm chính trị, ít học thì tính tư lợi, tính ích kỉ càng cao, tính độc đoán, chuyên quyền càng lớn.

Lúc mới khởi sự, thực lực ta có gì đâu, Công Tôn Toản cho ít binh mã trong một huyện còi, có đủ sức ra ngăn Trương Giác một giờ đâu. Nhờ Toản ta mới được phong Thứ sử Dự Châu, ta có chức chứ làm gì có quân, dành theo Tào Tháo để được y cấp cho thêm mấy vạn quân làm cơ bản. Tháo đãi ta khá tốt, nhưng chính ta lấy quân của Tháo để chống lại y. Sự việc không thành, ta thua to, phải chạy dạt ra Nhữ Nam nhờ Lưu Tích, Cung Đô, với mấy ân nhân ấy, sau này ta cũng chẳng làm được việc gì giúp cho hậu duệ của họ, vậy ta tình nghĩa, nhân hậu ở đâu. Lưu và Cung binh lực yếu, không đủ chống Tào, ta lại theo Viên Thiệu rồi lại bỏ y… Chính trị nó là vậy đấy, tha hồ dối trá, tha hồ lừa đảo. Ta cũng như Mạnh Đức thôi, cái đức chưa chắc đã được bằng Tôn Quyền đâu.

Ta thừa biết lũ con ta còn ngu đần hơn cả con của Lưu Biểu, song ta cứ nhắm mắt phong thằng con đầu lên chức Thái tử, kế ngôi. Cái sai lầm ấy đã lại làm đổ nát triều đại ngắn ngủi mà ta và bao người đã bỏ công xây dựng. Đã làm chính trị, kẻ nào chả gian ngoan, chả thủ đoạn. Học ít như ta, khi bước chân vào sự nghiệp đó cũng phải học để biết dần các thủ đoạn  thôi. Lúc tay trắng thì ta dựa vào Công Tôn Toản, nhưng lúc Toản đại bại dưới tay Viên Thiệu, cầu cứu ta, ta đâu có mang quân cứu y. Khi về tá túc chỗ Lưu Biểu, nhưng ta đã muốn đất của ông ấy rồi. Lúc thế cùng lực kiệt, ta phải dựa vào Tôn Quyền để chống Tào, nhưng khi Tào bại, ta nẫng tay trên cả sáu quận của Tôn Quyền chứ có nhường nhịn gì đâu. Lúc binh lực ta yếu, Tôn cay cú định đánh chiếm lại Kinh Tương; nếu binh đao xảy ra, thì chắc chắn Tào sẽ quay lại, ta sẽ mất cả, không những đất đai mà cả mạng mình. Ta đành kí mượn sáu quận đó của Đông Ngô, gọi là mượn, nhưng đó chỉ là thủ đoạn, là lừa dối, có bao giờ ta trả cho họ đâu? Chính trị là thế đấy Ngài ạ. Khi xuống cõi âm, nghe Phán quan xét việc, ta mới thấy tội lỗi và tỉnh được ra điều đó.

Lên làm vua, ai cũng tìm những người thân để kéo lên, rồi phong chức tước, lấy tiền của trong công quỹ, ruộng đất của dân thưởng cho. La Quán Trung nói là nước Thục yên vui, dân tình phấn chấn, chắc là nghe qua hậu duệ các nịnh thần của ta thôi. Một số trung thần thấy dân tình khổ hơn khi sống với Lưu Chương, ruộng đất mất hết, có tâu lên và xin cho sửa chế độ điền địa, ta nhất định không nghe. Không nghe, không phải là ta cho những điều sai trái đó là đúng. Ta biết, nhưng đã là vua, là hoàng thượng của một nước, từ thượng cổ đến nay có bao giờ lại đứng ra nhận mình sai đâu. Ngài thử tìm hộ ta một minh chứng khác đi xem nào?

 

Hồi thứ mười

CHÚA ĐÃ ĐẦN TẤT CẦN BẦY TÔI GIỎI

BẦY TÔI GIỎI KHÔNG GIÚP NỔI CHÚA ĐẦN

– Tâu, cái đó vãn sinh xin chịu. Thưa Hoàng thượng, La lão viết Người trọng nhân tài, có phép xử dụng nhân tài, nên nhiều mưu sĩ hay, nhiều đại tướng giỏi theo về. Mưu sĩ có Từ Thứ, Gia Cát Lượng, Bàng Thống, tướng có Quan, Trương, Triệu, Mã, Hoàng. Điều đó chắc phải là thực?

Chiêu Liệt Hoàng đế vuốt chòm râu điểm bạc lất phất bay trong gió, mỉm cười:

– Lê Vân này, ngươi đánh giá cái đó giữa ta và Mạnh Đức thì ai hơn?

– Thưa, vãn sinh sao biết được điều đó.

– Về đức độ thì ta đã nói rồi, về tài năng, ta phải thừa nhận ta kém hẳn Mạnh Đức một bậc. Lúc cần lập nghiệp thì ta cầu tài, trọng nhân tài không kém Tào Tháo, nhưng đến lúc vinh hoa, ta bạc đãi nhân tài hơn y. Đó là biểu hiện của kẻ lùn về tri thức, ta nhận vẫn kém Tào Mạnh Đức một bậc. Ta biết mình tài hèn, muốn có sự nghiệp chính trị, ta luôn phải cầu tài, để có người giỏi bên cạnh giúp mình. Giữa người cầu tài và người tài thực ra phải có những điều hợp nhau thì mới đi được với nhau. Khi thực lực ta chưa có gì, có ai đi theo ta đâu, trừ có hai em là Dực Đức và Vân Trường. Những người tài giỏi cũng mưu toan cái nghiệp riêng của mình, cũng cân nhắc điều kiện để đánh canh bài vận mệnh. Chính vì cái đó, lúc chưa có thực lực, ta đi cầu hiền có được ai đâu. Người tài vùng Ngô, Sở nhiều vậy, nhưng chả ai dám giúp ta, vì họ không dám nhập vào một thực thể nhỏ nhoi như ngọn đèn dầu trước gió. 

Lúc ta về ở Tân Dã, đã có chút thực lực mới có người tình nguyện theo là Từ Thứ. Từ Thứ mới theo, ta chưa biết tài của ông ta, nhưng vì chưa có mưu sĩ nào bên mình đành phải dùng. Khi thấy ông ta huấn luyện quân mã, thì bắt đầu tin là người dùng được. Một lần ông hỏi thử ta đổi con ngựa Đích Lư ( ngựa hại chủ) cho người ta ghét; ta ưng ngay, sẵn sàng đổi cho kẻ mình muốn hại chứ đâu có chấn chỉnh đạo đức con người như La viết. Từ thấy ta là con người cũng sắt đá vì sự nghiệp, sẵn sàng hi sinh cả những tiếng tăm để mưu cầu sự nghiệp. Thấy ta đã có chút thực lực, hi vọng cùng ta lập nên nghiệp lớn nên mới theo ta. Sau trận phục binh đánh Tào Nhân, rồi đánh úp Phàn Thành, ta thấy ông có tài thực, nên đối xử với Từ như người thân, tiếc rằng Từ lại vì mẹ mà bỏ ta ra đi. Từ nhất định bỏ đi, không có cách nào giữ được, ta bày rượu tiễn, làm ra vẻ ngậm ngùi, nuối tiếc, gắn bó keo sơn… không phải vì tình, mà vì ta muốn nhân tài thiên hạ thấy ta quý người tài thế nào để họ sẵn sàng đến với ta thôi. Về phía Từ, nếu không đi, thì ông muốn là quân sư số một của ta, chắc sẽ không giới thiệu Khổng Minh nữa. Biết mình không thể ở với ta, lại cảm cái nghĩa ta tiếp đãi, coi trọng, quý mến ông đến phút cuối, nên Từ quay ngựa lại giới thiệu đến Khổng Minh, gọi là trả ơn thôi, nhưng điều đó với ta lại thực là một điều may mắn.

– Thưa, có phải Từ Nguyên Trực nặng ân của Hoàng thượng nên sau khi sang Tào ông không bày mẹo gì cho Ngụy nửa?

– Đâu có, lúc Nguyên Trực theo Tào, ai vì chủ nấy. Ông ta cũng gièm với Tào Tháo để phá kế liên hoàn khóa thuyền của Bàng Thống. Việc đó Tào Tháo không nghe, một vì là ông ta mới về hàng, Tào chưa biết bụng dạ ra sao nên chưa trọng dụng, hai là bên cạnh Tào, một số mưu sĩ kém tài Từ lại ghen ăn, ghét ở, gièm pha mưu của Từ, nên Bàng Thống mới thành công trong việc khóa chiến thuyền Ngụy, để Chu Du dùng kế hỏa công. Nếu Tào tin và nghe Từ thì trận chiến Xích Bích chưa biết sẽ đi về đâu, có khi ta và Tôn Quyền bị Tào Tháo bắt không chừng.

– Thưa, La tiền bối viết là Hoàng thượng ba lần đội mưa tuyết đến lều tranh cầu Gia Cát Lượng, việc đó hư thực ra sao?

– Chuyện là thế này, Khổng Minh quả là kỳ tài trong thiên hạ thời ấy, La viết cũng đúng thôi. Gia Cát là người giỏi, tính tình kiêu ngạo. Tuy kiêu căng, nhưng không phải không muốn thi thố cái tài năng của mình. Muốn thể hiện cái tài năng để ghi vào sử xanh, nên Gia Cát kén minh chủ khá kĩ. Anh ruột Khổng Minh làm Mạc tân cho Tôn Quyền, luôn lôi kéo ông sang Đông Ngô, nhưng Khổng Minh không theo. Ông làm bài Lương phủ ngâm, truyền cho dân chúng ca , nếu đọc và suy nghĩ kĩ bài ấy, ta sẽ thấy là con rồng ngủ cũng đang muốn thức, đang khắc khoải tìm minh chúa để giúp đời. Ông đã không theo Tôn Quyền, vì sợ rằng tên tuổi sẽ ghi vào sử sách là tên giặc của nhà Hán. Khổng Minh biết Tào Tháo rất tài, nhưng Tào có những biểu hiện lấn át vua làm cho tư tưởng ngu trung trong ông thức tỉnh, nên ông cũng không dám theo.

Khi lần đầu ta đến lều tranh của ông ta để mời ra cùng hợp tác, bước đầu Khổng Minh cũng chưa dám theo đâu, ông tránh mặt để còn suy nghĩ và tìm hiểu thêm về ta. Lần thứ hai ta đội mưa tuyết đến, Khổng Minh mới biết ta có tấm lòng chân thực, nhưng chưa biết kĩ về ta, ông cũng sai em ra khước từ tiếp đón, lấy lí do vắng nhà. Hôm sau, Khổng Minh liền đến hỏi Thủy Kính tiên sinh. Thủy Kính cũng chỉ biết ta thực lòng cầu tài và biết ta là chú vua, nên khuyên Khổng Minh phò dòng chính thống. Thủy Kính và Khổng Minh không biết ta có cái họ “giả Lưu” nên đã ngả về theo ta. Khổng Minh chưa biết rõ ý chí của ta nên lần thứ ba ta đến, ông ta còn hỏi thử cái chí của ta thế nào. Là người mưu việc lớn, ta cứ trình bày với ông cái ý chí phò vua, giúp nước, thế là ông ta thuận. Nếu ông biết ta có họ giả Lưu và mưu toan vinh thân, phì gia, làm chúa thiên hạ thì chắc gì ông đã thuận theo. Thực thương cho một danh sĩ tài ba, vì muốn lưu danh trên tre lụa mà suốt cuộc đời phò một anh Hán gian, anh chàng họ Lưu rởm. Xuống dưới này, mọi sự thật, giả đều rõ, nhưng việc đã rồi, không thể lấy lại, ta sám hối tội ta, ông ấy sám hối tội ông ấy. Sau khi sạch sẽ rồi, chúng ta lại là bạn bè, không ân, không oán, mọi người đều thân mật với nhau.

– Thưa, La tiền bối viết là Người ngộ nhận về Bàng Sĩ Nguyên, việc đó hư thực ra sao?

– La lão viết đúng đấy, Bàng là người tài giỏi, cao ngạo, đến với ta không cần tiến cử. Ông ta không theo Ngô, Ngụy chỉ vì ngại sử sách ghi tên vào chung với bè lũ nghịch tặc. Ông tình nguyện theo ta cũng vì chữ “líu” giả mà thôi. Khi Bàng đến, ta là người trần, mắt thịt, học hành ít, đâu biết những người dị tướng thường cao tài! Ta giao cho ông ta quản một huyện nhỏ để Bàng không hài lòng, quay ra suốt ngày say rượu. Rất may ta đã kịp chuộc lại lỗi lầm đó mà trọng dụng ông ta ngay. Bàng là người học hành bài bản, tài cao, chí lớn. Tiếc rằng ông chủ quan nên chết sớm chứ không ông có thể giúp Vân Trường cự nổi cả hai mặt Ngô và Ngụy.

– Thưa, trong truyện viết Hoàng thượng quyến luyến Triệu Vân từ khi mới gặp nên trong trận Đương Dương-Tràng Bản, Tử Long liều mình phá vây tám mươi ba vạn quân Tào để cứu ấu chúa, đền ơn Hoàng thượng?

– Tử Long là một võ tướng kì tài thời đó, ban đầu theo Công Tôn Toản, nhưng không được dùng. Ta biết Tử long trong trận đấu tay đôi với danh tướng Văn Sú của Viên Thiệu. Triệu Vân trẻ tuổi, nhưng là tay thương mã cực tài, Triệu có thể múa thương gạt tên của hàng trăm cung thủ bắn vào mình một lúc. Ai lập nghiệp lại không muốn bên mình có quân sư giỏi, có tướng tài như vậy. Biết tài của Tử Long, ta luôn vận động Triệu theo về ta, nhưng Tử Long chỉ theo ta khi sự nghiệp của Công Tôn Toản đã đổ vỡ, Toản đã chết; Tử Long cũng không muốn mang cái tiếng xấu là không tận trung với chủ cũ. Trong trận Đương Dương-Tràng Bản, nếu là tướng khác dù có sức khỏe như thần, chắc cũng bị quân Tào giết hoặc bắt sống. Song nhờ sức trẻ, nhanh nhẹn và tài thương mã, Tử Long vượt qua được vòng vây dày đặc của quân Tào, cứu được Lưu Thiện cho ta. Khi ông ta giao lại Lưu Thiện trong cái bọc ngoài là giáp, trong quấn mấy lượt mền bông, ta liền ném Lưu Thiện xuống đất. Cử chỉ ấy cốt là muốn lấy lòng Triệu, một viên tướng đại tài để ông toàn tâm theo ta thôi. Ta thừa biết cái bọc Tử Long quấn cho Lưu Thiện dù gươm đao chém vào cũng chả hề hấn chi nên mới dám ném xuông. Nếu không có cái bọc kiên cố ấy, chả có ông bố nào dám ném đứa con xuống đất đâu. La lão không nói đến cái bọc cứu sinh để tô vẽ cho ta và Triệu Vân hơi quá đó thôi. Tiểu xảo của những nhà làm chính trị thời nào chả đầy rẫy trong sử sách.

– Thưa, Hoàng thượng có thể cho vãn sinh biết các trận thắng, thua đáng nhớ khi Người cầm quân được không?

– Trước khi có Từ Thứ và Khổng Minh thì ta cầm quân tác chiến, bên cạnh có Quan Vũ, Trương Phi là võ tướng đại tài, thời gian ấy chủ yếu là bại trận. Ta để Lã Bố cướp mất Từ Châu, thua Viên Thuật, bị y đuổi chạy dài. Trận thua đau nhất là bị Tào đánh cho mảnh giáp không còn, anh em phải li tán, ta phải khuất thân theo Viên Thiệu. Trận nữa, ta thua đau dưới tay Mạnh Đức, y đánh đuổi, ta phải chạy sang Kinh Châu, khuất thân theo Lưu Biểu. Trận thua nhớ đời là khi Tào đánh đuổi, truy bức ta phải chạy về Hán Tân, nương nhờ Lưu Kỳ và sau đó phải cầu cạnh Tôn Quyền để cùng chống Tào Tháo. Trận thua lớn nhất của đời ta là lần tự cầm quân đi đánh Ngô, báo thù cho hai người em kết nghĩa. Lấy cái cớ là đánh báo thù thôi chứ lúc đó thực lực Thục mạnh hơn Ngô nhiều, ta muốn tự mình lập một chiến công lớn để lưu trong sử xanh, tiêu diệt Đông Ngô, có thêm đất phát triển lực lượng, tiến lên diệt Ngụy.

Con người ít học, khi được nắm quyền tối thượng thường hay độc đoán một cách mù quáng. Nếu ta biết nghe Gia Cát Lượng và Triệu Vân, liên kết với Ngô mà đồ Ngụy thì việc ấy có thể thành công. Diệt xong Ngụy, với tài cầm quân của Khổng Minh, việc đánh Ngô lúc ấy cũng không còn quá khó. Ta được nắm quyền tối thượng, tưởng mình có tài cao, chí cả, không cần nghe ai, tự cầm quân diệt Ngô. Vì không lượng biết sức mình nên bị Lục Tốn, một viên tướng trẻ đánh cho tan tác. Bảy lăm vạn quân, tướng mà Gia Cát Lượng bao năm mới gây dựng được bị Đông Ngô diệt gọn trong vòng có mấy ngày, ta thì thương tích đầy mình, được các tướng bảo vệ đưa về thành Bạch Đế. Nếu ta là người có học, không lú lẫn, biết theo lời khuyên khôn ngoan của Khổng Minh, Triệu Vân và các đại thần khác, thì đâu có trận thua đau đớn vậy. Đại bại, thân tàn ma dại, xấu hổ với quần thần, ta không dám vác mặt về Thành Đô nữa, đành chết ở thành Bạch Đế, mọi việc phó mặc cho Thừa tướng Gia Cát Lượng và đứa con côi ngu đần, hư đốn.   

Từ ngày có Khổng Minh, việc điều hành sĩ tốt là do ông ta cả. Việc hợp lực với Ngô thắng trận Xích Bích, rồi đánh chiếm Kinh Tương đều do Gia Cát Lượng bày mưu, tính kế, điều động tướng sĩ cả chứ ta có biết khỉ gì việc cầm quân đánh giặc đâu. Việc điều binh, khiển tướng đánh chiếm Tây Xuyên, ban đầu là Bàng Thống. Khi Bàng Thống chết, ta đang ở thế bại trận, bị quân Trương Nhiệm đánh phá, chỉ co cụm cố giữ ải Bồi Quan đợi viện binh mà thôi. May sao, sau đó có Khổng Minh đưa Trương Phi và Triệu Vân, Hoàng Trung đến mới lấy được Tây Xuyên. Có mảnh đất Kinh Tương và Tây Xuyên toàn là công Khổng Minh và các võ tướng chứ ta có cầm quân đánh thắng được một trận nhỏ nào đâu.

Trận thắng oanh liệt nhất của quân ta dưới sự điều binh khiển tướng của Gia Cát Lượng là việc đánh chiếm Đông Xuyên. Khi mới bình định được Tây Xuyên thì Tào Tháo cũng đưa quân đến đánh Đông Xuyên của Trương Lỗ. Dẹp được Trương Lỗ, thế quân Tào mạnh như chẻ tre, nếu y cứ đánh tiếp vào Thành Đô, dù tài giỏi như Gia Cát Lượng cũng không chắc đã giữ nổi. Tình hình Tây Xuyên lúc ấy thật nguy ngập nếu Tào tiếp tục tiến binh. Trước tình hình đó, Gia Cát Lượng liền cho người khéo nói sang xui Ngô đưa đại quân ra Hợp Phì để đe dọa Ngụy. Tào Tháo thấy Ngô động binh, Lỗ Túc đem binh ra Hợp Phì, y cũng sợ bị Ngô đánh úp sau lưng, đành kéo quân về phòng mặt Đông Ngô. Tây Xuyên lúc đó mới được tạm yên ổn. Sau khi yên ổn, Gia Cát Lượng bắt tay vào chấn hưng kinh tế, xây dựng quân đội để đánh Đông Xuyên. Để đánh Đông Xuyên, Khổng Minh chia quân ra nhiều đường, vừa tiến đánh, vừa dùng mưu mẹo lừa quân Tào, nên lần lượt đánh bại Trương Cáp, giết chết Hạ Hầu Uyên, Hạ Hầu Đức. Sau khi sai Hoàng Trung, Nghiêm Nhan dùng mẹo đốt sạch kho lương của địch ở núi Mễ Thương, quân Tào phải lui về giữ Hán Trung.

Trên đà thắng, Gia Cát Lượng liền tiến quân ra Hán Trung đối mặt với quân Tào. Phải nói Tào ưu thế hơn hẳn về số lượng quân và tướng, nhưng quân Thục lại một mặt phô trương thanh thế cắm cờ nghi binh khắp nơi, mặt khác Gia Cát Lượng dùng kỳ binh để đánh. Tào Tháo thấy thanh thế quân Thục lớn, bố trí khắp nơi nên hoang mang, có sẵn tư tưởng chủ bại. Sau lần tự cầm quân giao chiến trên mặt trận Hán Trung, Tào Tháo bị Ngụy Diên bắn trọng thương; Mạnh Đức hoảng hốt bỏ đất Đông Xuyên cho quân Thục chiếm, chạy một mạch thẳng về Hứa Đô. Trong đời ta tham chiến có lẽ trận đó là trận thắng oanh liệt hơn cả. Thắng trận ròn rã, chiếm được cả Đông Xuyên, chủ yếu nhờ vào mưu của Khổng Minh và sức lực các tướng Hoàng Trung, Nghiêm Nhan, Mã Siêu, Triệu Vân và Trương Phi cả.

– Thưa, có một uẩn khúc nhỏ, vãn sinh xin được hỏi, tại sao Hoàng thượng sai Quan Vũ đưa quân đánh Tào mà không phái tướng nào giúp giữ mặt Đông Ngô, để đến nỗi Ngô, Ngụy hợp binh giết chết ông ấy, chiếm mất Kinh Tương?

– Thực ra sau khi ta làm Thục đế, cái ti tiện của người ít học nắm quyền cao mới bộc lộ rõ ra. Lên làm vua, ta liền phong vương ngay cho lũ con đẻ của mình, sau đó phong chức cao bổng lớn cho những người thân, người trong họ xa gần. Chính cái phong quan chức cho người thân đã để lại những nỗi bất bình của các mưu sĩ, tướng lĩnh đã vào sinh ra tử giúp ta lên ngôi báu. Ta tuy phong cho Khổng Minh chức Thừa tướng, đứng đầu các quan, nhưng tước không có nên bổng lộc chẳng ra gì so với Quan Vũ, Trương Phi. Các tướng như Triệu Vân, Hoàng Trung, Mã Siêu công lao dựng nước rất lớn, tuy được phong vào hàng Ngũ hổ đại tướng, nhưng chỉ là hư danh, bổng lộc chả đáng là bao so với Dực Đức, Vân Trường. Ngụy Diên công lao ít, tài ba kém Triệu, Mã, Hoàng, nhưng y khéo ăn nói, thường xuyên cúng biếu, nịnh hót nên ta phong y làm Thái thú Hán Trung, một chức quan béo bở… Ở đời, kẻ ít học thường nhận thức hạn chế, chỉ ưa nịnh mà không thích trung, không dám nghe nói thật, nhìn vào sự thật và hiểu sự thật. Chính ta đã gây nên mối bất hòa giữa các quan lại của mình, gây ra những nỗi ấm ức của các trung thần nên mới có di họa.

Vân Trường là người tính khí cang cường, được quản toàn bộ Kinh Tương, một vùng đất béo bở nhất. Gia Cát Lượng, công thần số một dựng nên nhà Thục Hán, tuy được phong là Thừa tướng, nhưng chỉ giữ chức quân sư, bổng lộc chẳng đáng là bao. Khổng Minh chắc bực việc đó, nhưng là người sâu sắc, kín đáo, không bao giờ nói ra miệng. Ông tìm cách để ta thấy được cái vai trò cốt yếu của ông ta trong chính quyền mới, nên xui ta đưa hịch ra cho Vân Trường đánh Phàn Thành, phạt Ngụy. Khổng Minh rất biết chắc rằng Vân Trường vũ dũng có thừa, nhưng không thể đủ cơ mưu và tướng dưới quyền để phía Bắc đưa quân phạt Ngụy, phía Đông áp chế quân Ngô. Vân Trường chỉ có một thân, một mình, dù thắng mặt trận này thì mặt trận kia cũng không thể giữ nổi, cái bại trận là tất yếu. Khi Vân Trường bại trận, lúc đó tất nhiên ta phải coi Khổng Minh là nhân vật số một của mình, chắc phải đưa ông ta ra trấn giữ Kinh Tương.

Sau một số trận thắng oanh liệt, đánh bại Tào Nhân, bắt sống Bàng Đức, Vu Cấm; Vân Trường không đủ quân tướng đánh cả hai mặt trận nên đại bại rất nhanh. Cha con Quan Vũ cùng Châu Sương bị chết cháy cùng mấy trăm quân còn lại trong Mạch Thành. Hai nhà Ngô, Ngụy hợp binh nên Kinh Tương mất quá nhanh, ta và Khổng Minh cũng không kịp đưa quân cứu ứng. Nếu ta là người có học hay thông minh hơn, khi giao cho Vân Trường phạt Ngụy, tất phải sai một viên đại tướng giúp Quan Vũ giữ mặt Đông Ngô; trong Xuyên lúc ấy ta còn rất nhiều tướng giỏi, ngoài tứ hổ đại tướng, còn Lý Nghiêm, Mã Đại, Ngụy Diên, Nghiêm Nhan… đều kham nổi việc chống quân Ngô. Ta chót ngu si, lú lẫn làm lỡ việc, dẫn đến Vân Trường bị hại, mất cả Kinh Tương, mất hẳn con đường tiến ra Uyển, Lạc để phạt Ngụy. Những kẻ duy tâm bảo trời hại anh em ta, có kẻ nói Vân Trường tính cang cường, không phục tùng ta nên tìm cách trừ đi, điều đó không đúng. Thực chất là mưu ấy của Khổng Minh, còn ta thì quá ngu dốt, không hiểu việc đời. Vân Trường chết, Trương Phi cũng chết, người giúp việc quan trọng nhất lại phải nhờ đến tay Khổng Minh. Lúc ấy ta mới tỉnh ra, liền phong cho Gia Cát Lượng tước Võ Hương hầu, bổng lộc đứng đầu tất cả các quan, chỉ sau mấy vương là con đẻ cuả ta thôi. Sai lầm của người đứng đầu nhà nước, dù lớn hay nhỏ thường dẫn đến hậu quả khôn lường như vậy đấy.

– Thưa, ngoài các điều ân hận đã nói, Hoàng thượng còn điều gì ân hận trong đời mình nữa chăng?

– Lê Vân à, con người có nhiều sai lầm lắm, mỗi sai lầm đều làm người ta ân hận, nên ta đâu kể hết được với Ngài. Cái ân hận trong đời ta đến nay còn day dứt là không quan tâm đến nền giáo dục, không dạy bảo con cái đến nơi đến chốn. Cả một lũ con ta được phong vương, phong đế, bổng lộc ngất trời, nhưng chúng chỉ là một lũ lợn, đáng cho ăn trong máng. Chính đứa con lớn của ta chỉ vì ham mê tửu sắc, thích nghe phỉnh nịnh, nên nó đã đạp đổ cơ đồ do ta và bao người xây lên. Biết con ngu dại, song ta lại không học được điều tiền nhân dạy bảo là tìm người hiền truyền ngôi, mà vẫn giữ kiểu cha truyền con nối để đến nỗi đổ nát cơ đồ. Giả sử lúc ấy ta giao ngôi vua cho Gia Cát Lượng thì sẽ ra sao nhỉ. Với tài kinh bang tế thế của Khổng Minh, trong tay ông lại còn nhiều tướng tài như Triệu Vân, Mã Siêu… biết đâu ông ta lại phạt Ngụy, bình Ngô thành công, thống nhất Trung Nguyên thành một đế chế nào đó cũng hay chứ nhỉ? Từ xưa đến nay, chế độ cha truyền con nối, độc đoán thường kèm theo sự mị dân, ngu dân. Những thể chế chính trị dạng ấy từ thượng cổ đến nay đâu có bền lâu được! Mà ta nói nhiều quá rồi, có lẽ Gia Cát Lượng cũng đang tới đó. Ta về đây!

– Vãn sinh vô cùng đội ơn Hoàng thượng!           

 

Hồi thứ mười một

GIẾT PHŨ DOÃN ĐỂ BÁO THÙ CHA

VỀ CHẦU VUA THÀNH HẦU HÁN THỌ

Đang ngóng đợi Thừa tướng Gia Cát Lượng thì nhìn thấy một người cao lớn, mặt đỏ, râu dài chậm rãi bước đến. Tôi cúi xuống kính cẩn chào:

– Vãn sinh là Lê Vân, xin kính cẩn ra mắt Kinh vương đại nhân

– Ta biết rồi, biết rồi. Lẽ ra Gia Cát Thừa tướng đến gặp Ngài trước, song ông ta đang dở ván cờ với Tư Mã Đô đốc, ta đang ngồi xem thì ông ta bảo Quan mỗ đến gặp trước Ngài.

– Thưa! Hậu sinh sống sau Vương gia gần hai thiên niên kỉ, nếu Vương gia cho phép, hậu sinh xin nêu một số câu hỏi để biết thêm về thời Vương gia đã sống?

– Ta sống trước Ngài đã lâu, Ngài cũng đâu có là thần dân của ta, vả lại trên diễn đàn văn học, chúng ta cứ nói chuyện thật sự bình đẳng, thoải mái để Ngài và cư dân trên mạng hiểu thêm về ta và cái thời đó.

– Kính cám ơn Vương gia. Hậu sinh muốn biết qua thân thế của Ngài trước khi kết nghĩa cùng Chiêu Liệt Hoàng đế và Lãng Trung hầu?

– Ta họ Quan, tên Vũ, tự là Vân Trường, sinh ra ở Giải Lương. Họ Quan là họ lớn, danh giá trong vùng quê đó, nên ta được cha mẹ cho theo học một Thượng tọa của chùa rất cổ hoang sơ trong rừng trúc. Lúc còn nhỏ, thầy dạy ta tứ thư, ngũ kinh và các môn thần học. Các môn đó quả thật ta không hứng thú lắm. Biết ý ta, ông cho ta theo ông học võ, truyền cho ta những sở học Dịch huyền công của Người. Khi ta vừa nhập môn xong Dịch huyền công, thầy truyền dạy ta môn đao thuật. Môn võ học trong chùa thật sự coi trọng  đạo đức của nhà phật, cái mà ta cũng rất say mê tu hành, khổ luyện. Ta vốn có sức khỏe, chăm học, khổ luyện nên đạo lí và võ thuật tiếp thu rất nhanh. Mới mười sáu tuổi, ta đã đứng đầu môn đao thuật của tất cả các lứa võ sinh trong chùa. Hơn chục năm học hành, khổ luyện, ta chưa bị sư tổ cũng như các sư thúc, sư bá quở trách điều chi. Khi tiếp thu được hết tinh hoa của Dịch huyền công và đao thuật của thầy, theo ý nguyện của cha mẹ, sư tổ cho phép ta xuống núi. Buổi chia tay, Thượng tọa có dạy ta:

– Cuộc sống trần gian là bể khổ, con hãy cố tu thân, tích đức để có cuộc sống trong sạch của người đã theo học ta.

Về cùng cha mẹ lúc mới ngoài hai mươi tuổi, gia đình ta luôn làm điều thiện, luôn mở cửa đối với tất cả những ai cần giúp đỡ. Song cuộc sống không đơn giản chút nào! Ở đời nhiều kẻ lòng lang, dạ thú, lấy oán báo ân… Một lần cha con ta gặp hai cha con người hành khất bị tật nguyền ngoài cổng phủ đường Hà Đông. Hai cha con người đó van xin chắc đã lâu trước một đám đông mà không ai cho gì, chỉ thấy nhiều người đứng cười, chế diễu.  Cha ta thương tình, lấy trong túi nắm bạc vụn nhét vào tay đứa bé, lập tức một người đứng cạnh ghé tai nói nhỏ:

– Đại nhân làm vậy là nguy rồi đó. Chúng tôi cũng rất thương họ, nhưng chả ai dám cho gì, vì công tử con quan phủ đã có lệnh ấy. Quanh đây bọn tay chân công tử đều là bọn du thủ, du thực đông lắm, chúng muốn để vậy mà cười nhạo cha con người ta thôi. Đại nhân nên tìm cách rời khỏi đây nhanh, kẻo lát nữa chúng bảo nhau vây đánh thì nguy đến tính mệnh đó.

Nghe lời người đó, cha con ta vội quay về nhà. Đang đi, thấy một đoàn sáu, bảy tên trẻ tuổi phi ngựa đuổi theo. Thấy cảnh đó, cha con ta dạt vào cạnh đường, nhường cho chúng đi qua, song cả mấy tên giật cương chồm ngựa sấn vào dùng gậy đánh cha con ta tới tấp. Ta đứng ra che chắn cho cha, giật ngay được một chiếc gậy, cứ chân ngựa ta đánh. Lũ ngựa đau, hoảng loạn lồng lên làm cả lũ ngã xuống đường. Cậy đông, lũ thanh niên ấy hò nhau tiếp tục vây đánh cha con ta. Cực chẳng đã, một tay ta che đỡ cho cha, một tay kia cứ vung gậy nhằm tay chúng mà đả. Sau khi bốn đứa bị gậy đánh gẫy tay, lũ chúng hoảng sợ bỏ chạy ngược lại phía phủ đường. Tưởng sự việc đã xong, nhưng đến hôm sau, quan phủ cho một toán hơn chục lính xuống đòi cha ta lên phủ đường. Tuân lệnh quan phủ, cha ta lên đó liền bị giam lại, đánh đập rất dã man. Mẹ ta lên thăm cha, kể rằng ông bị đánh đập thương tích đầy mình, mặt mũi thâm tím hết. Gia đình ta nhờ người mang tiền lên lót cho quan phủ để cha được tha, viên quan phủ nhận hết tiền nhưng vẫn giam và đánh đập ông đến thân tàn ma dại. Khi thấy ông không còn có khả năng sống, viên quan phủ mới thả cho về. Về nhà được ít ngày, cha ta qua đời vì những vết thương quá nặng.

Tang ma cho cha xong, ta bán nhà cửa, ruộng vườn lấy tiền, đưa mẹ và em về nhờ quê ngoại; ta một mình cầm gươm ra đi quyết báo thù cha. Ta quay lại Hà Đông, đợi ở ngoài phủ đường, tìm bắt bằng được viên quan phủ. Đợi được mấy ngày thì thấy y cưỡi ngựa đi ra đường cùng hơn hai chục lính và tùy tùng. Đợi y đến gần, ta nhảy ra chặn đường, cứ nhằm bọn lính ta xả gươm. Bọn lính hèn ấy bị hạ hết rất nhanh, lũ tùy tùng sợ quá, bỏ chạy tán loạn. Viên phủ quan ban đầu còn hống hách quát bọn lính vây đánh ta, sau khi thấy bọn tay chân bỏ chạy, y cũng định bỏ chạy theo, nhưng đã muộn. Ta lôi y xuống ngựa, khóa tay lại rồi đặt y nằm ngang trên lưng con tuấn mã, ta nhảy lên theo, quất ngựa quay về mộ cha. Ta giết y, mổ bụng lấy gan để tế cha rồi bỏ đi biệt tích khỏi đất Hà Đông. Ban đầu ta quay lại chùa xin tu hành cùng bạn sư Phổ Tĩnh. Mặc dù rất thương quý ta, nhưng thấy đã chót phạm tội sát nhân, sư phụ không dám chấp nhận. Các nơi vẽ hình, phát lệnh truy nã ta ở khắp cái đất Trung nguyên này. Từ đó ta để lại tóc, râu tự nhiên; cải tên tự Trường Sinh thành Vân Trường để dễ lẩn trốn quân binh các nơi.

– Thưa, trong truyện, La tiền nhân có viết, Vương gia có sức khỏe vô song, sử dụng cây long đao yển nguyệt rất nặng, chiến công vô cùng hiển hách, việc đó hư thực ra sao ạ?

– La lão viết cũng có cái đúng, cái sai. La Quán Trung nói ta có sức khỏe vô song là không đúng đâu. Ta to lớn, khỏe mạnh thật, lại học đươc môn Dịch huyền công của nhà phật, nên những lúc ta vận nội công thì những vũ khí thông thường của binh lính không thể xâm hại được cơ thể. Còn sức lực thì Lã Ôn hầu có lẽ nhỉnh hơn ta chút đỉnh. Lã Bố là một tướng vô song của thiên hạ, với cây họa khích và con ngựa xích thố, ta tin rằng chẳng ai thắng nổi ông ta. Ta đã từng giao đấu với ông ấy một đôi lần nên ta dám khẳng định điều ấy. Ai đã cố đánh với ông ta đến cùng rồi cũng bại, vì không con ngựa nào dẻo dai chịu trận được như con xích thố đâu. Sau khi Ôn hầu chết, ta được Tào Tháo tặng cho con ngựa đó nên ta càng biết.

Còn chiến công của ta ư? Cũng chả có gì đáng kể lắm đâu. Lần đầu theo đại ca ra trận, chưa ai biết đến ta ngoài Tào Mạnh Đức. Mạnh Đức khá tinh đời, mới gặp anh em ta một lần, y đã biết đến tài của ta. Khi Hoa Hùng một tướng của Lã Bố làm mưa làm gió trước quân chư hầu, không ai địch đươc, Mạnh Đức nghĩ ngay đến ta. Y đưa ta vào trướng của Viên Thiệu, nhưng Viên chưa biết tài ta nên có ý không dùng. Tào Tháo phải xin mãi Bản Sơ mới ưng cho ta ra trận. Hoa Hùng là dũng tướng cũng khỏe thật, nhưng y kém tài đao thương nên chỉ ba hiệp ta đã chém y bay đầu. Ta chém xong Hoa, quay về chén rượu mời của Mạnh Đức còn nóng, thế mà Bản Sơ khinh ta là tướng của một huyện nhỏ chẳng thưởng, cũng chả dùng.

Hoa bị ta giết, quân Lã Bố mất tướng tiên phong, đại soái Phụng Tiên phải vác kích ra trận. Liên quân chẳng ai đáng là đối thủ với Lã Ôn hầu trừ ta và Dực Đức. Bản Sơ rất sợ Lã nên cứ lui quân dần xa cửa Hổ Lao, dùng cung nỏ để chống lại. Lã Bố ra trận, gọi đến ông tổ ba đời Viên Thiệu ra mà chửi, mà thách đánh, các tướng của Viên chẳng ai dám ra. Dực Đức nóng mắt phi ngựa múa mâu ra đấu với Lã Bố.

Sức khỏe Trương có thua Lã, nhưng cây mâu dài, và tài đánh mâu lợi hại không để cho Lã tiếp cận được mà hạ thủ. Trận đấu diễn ra ngoài trăm hiệp vẫn chẳng thắng thua. Biết đấu đến cùng chắc Dực Đức sẽ bại, vì sức y và cả sức con ngựa ô đều kém phía Ôn hầu; ta tế ngựa ra vây đánh Lã Bố, định quần cho Lã một lúc rồi hạ thủ. Mới tiếp ta đao đầu, Lã đã chùn tay trước sức mạnh của cây đao nặng. Lã quay ra chống đỡ và lùi dần. Cứ để hai ta lúc nữa thôi, không bắt sống nổi thì chắc cũng đả thương được Lã Ôn hầu. Đúng lúcchúng ta đang thắng thế thì đại ca của chúng ta lại nhẩy vào tiếp ứng. Sức lực và võ nghệ Huyền Đức đáng kể chi, bụng thì to, múa kiếm rất vụng, nên chúng ta vừa đấu với Lã lại phải che cho Huyền Đức khỏi các đường kích huyền ảo của Lã. Lựa được thế, ta đang định bổ một đao chí tử vào đầu Lã, lúc đó liếc sang, Lã đã xóc sang ngực Huyền Đức một kích. Ta đành thu đao lại, gạt cây kích ra, Huyền Đức tái mặt, quất ngựa nhảy lùi lại. Vòng vây bị xé rách, Ôn hầu nhanh tay giật cương ngựa phi về ải Hổ Lao, đóng cửa lại không ra đánh nữa, thật đáng tiếc.

Trận ta giết Nhan Lương, Văn Sú, giải cứu Tào Tháo ở thành Bạch Mã, La Quán Trung viết như là một chiến công không cần đánh, không phải vậy đâu. Hai tướng ấy đều đấu với ta một lúc rồi mới bị ta hạ thủ. La lão viết vậy để tô vẽ quá, làm ta cũng xấu hổ thay. Nhan Lương, Văn Sú xuống dưới này đang theo học đao thuật của ta, chẳng mấy nữa, họ lại trở thành những người cự phách về võ nghệ. Xuống đây, sau khi sám hối xong, linh hồn thanh thản, phiêu diêu, tất cả chúng ta đều coi nhau như bạn bè, những ân, oán trên cõi trần đều xóa sạch trơn Ngài ạ.

– Thưa Vương gia, Ngài đánh nhau nhiều với Tào Tháo, vậy có nhận xét gì về phía đich thủ?

– Quân Tào đông, khá thiện chiến, tướng nhiều, binh khỏe, cái đó ai cũng phải thừa nhận. Tào Tháo là người khôn ngoan, mưu lược, biết cách dùng người, dùng binh, hơn hẳn Lưu Huyền Đức và Tôn Trọng Mưu. La lão có tư tưởng trung quân quá nên suốt cuốn truyện đều đả kích Mạnh Đức, cái đó là không tốt. Tướng Tào đông, khá khỏe, nhưng chỉ có Điển Vi và Hứa Chử, Trương Liêu, Từ Hoảng là đáng kể thôi. Khi đang sung sức thì cứ hai tướng giỏi nhất của Tào nếu hợp công cũng không đánh nổi ta, còn nếu đấu tay đôi, họ không chịu được quá năm chục hiệp.

– Thưa, vãn sinh hỏi nếu không phải xin Vương gia xá tội. Nếu tướng Tào không ai đáng đánh, thế khi bị vây ở Thổ Sơn, sao Vương Gia lại khuất thân theo Tào?

– Trận đánh ấy, Tào dùng quân bao vây ta trùng điệp đã mấy ngày trời. Y ở trên đồi rất cao, dùng cờ điều khiển binh mã vây nên ta không thể phá ra nổi. Năm ngàn quân theo ta nỗ lực đánh phá, giết chết đến vài vạn quân Tào nhưng không thể thoát ra. Đánh đến Thổ Sơn, ta còn không được ba trăm quân kị theo sau. Chúng ta định xông xuống đánh trận quyết định cuối cùng thì Tào dùng hàng vạn lính cung nỏ bắn cản không cho chúng ta xuống núi. Chúng ta đành cụm lại trên đỉnh trái núi đất đó, nước hết, lương cũng hết, hầu hết mọi người đều bị thương.

Lúc ấy, Tào dẫn hai vị Cam, My phu nhân và thân quyến gia đình Huyền Đức đến chân núi. Tất cả họ bị đóng gông và bọn đao phủ cầm đao dẫn giải kè kè theo sau. Ta mấy lần dẫn quân đánh xuống định cứu hai chị, song hàng vạn mũi tên bắn ra dày đặc, không thể xuống đươc. Trong lúc ta đang tìm xem có kế gì để xuống cứu người thì Tào sai Trương Liêu-một tướng trước có chịu ân ta, cầm cờ trắng, tế ngựa lên núi. Trương xuống ngựa vái ta một vai và nói:

– Thưa đại ca! Tào Thừa tướng rất quý trọng đại ca từ ngày cùng đánh Lã Bố. Thừa tướng không hề muốn đánh nhau với đại ca mà chỉ muốn đại ca về theo vua Hán để cùng chung hưởng thái bình. Nếu đại ca đồng ý về chầu vua Hán, Thừa tướng lập tức bãi binh. Đại ca có thể mang thủ hạ còn lại cùng gia quyến Huyền Đức về chầu vua, ông ta quyết không cản trở.

– Tào Tháo muốn ta hàng y ư? Chắc ông ta nhầm đấy.

– Thưa, Thừa tướng chỉ muốn đại ca về chầu vua Hán thôi, không nhất thiết phải theo Thừa tướng.

– Ta đang muốn xuống đánh Tào Tháo đây!

– Thưa, nếu đại ca quyết xung trận, ông ta đành tiếp chiến, nhưng trước hết Thừa tướng cho hành hình toàn bộ những người thân của Huyền Đức trước mặt đại ca, sau đó sẽ tiếp chiến.

– Ngươi về nói với Tào Tháo, đến giờ ngọ ngày mai ta sẽ trả lời.

Ta thừa biết nếu đánh nữa, ta sẽ bại trận, ba trăm con người hầu hết bị thương, không nước, hết lương làm sao thắng được, mà cũng chẳng thể chọc thủng nổi vòng vây mấy chục vạn quân của ông ta, cứ đánh đến cùng, ta cũng kiệt lực, chỉ có tự vẫn mới khỏi bị nhục. Mà cái hại nhất là toàn bộ gia quyến của Huyền Đức đã giao cho ta trông nom nay bị chém hết trước mắt ta. Sau gần một ngày đem cân nhắc, ta đành theo đề nghị ấy để cứu hai chị dâu và thân quyến của Huyền Đức rồi sẽ tính liệu sau vậy. La lão viết ba điều ước ở Thổ Sơn là không đúng đâu.

Tào biết và quý trọng ta sau trận giết Hoa Hùng, rồi liên thủ cùng Dực Đức đánh bại Lã Bố. Ông ta thực cũng muốn lôi kéo ta về làm tay chân, nhưng quả là làm rất khéo. Mạnh Đức điều quân để thoáng một lối; ta thoát ra dẫn ba trăm tùy tùng và gia đình Huyền Đức về chầu vua. Vừa về đến kinh, với tư cách là Thừa tướng, ông ta dâng biểu để vua Hán phong ngay cho ta chức Hán thọ đình hầu, chỉ sau tước vương của ông ấy. Quả thật có việc ông ta tổ chức tiệc tùng liên miên, biếu quà, tặng gái đẹp để mua chuộc ta, cái đó La lão viết đúng đấy. Tào Tháo cũng là người trọng danh dự, nghĩa hiệp, không nuốt lời, bởi vậy nên khi ta bỏ ông ấy đi tìm Lưu đại ca, có mạo phạm giết người của ông ta, nhưng ông đã không hề cho truy sát hay ngăn trở. Tào hơn Huyền Đức và Tôn Quyền về trí thông minh, tài dùng người và tính nghĩa hiệp. La lão đả kích Tào hơi quá đáng trong Tam Quốc diễn nghĩa.

– Thưa Vương gia, khi Ngài đưa quân đánh Tào Nhân ở Tương Dương, trận đánh nào Ngài thấy đáng nhớ nhất?

– Chà! Tướng Tào còn có một đối thủ nổi trội mà ta quên chưa nhắc tới, đó là Bàng Đức, tự là Lệnh Minh. Cả đời ta chỉ có trận đánh với y là hay nhất. Ta lúc ấy đã ngót lục tuần, khí lực có phần suy giảm, còn Bàng đang ở tuổi sung sức nhất. Bàng tiếp ta hơn trăm hiệp mà không chịu núng thế chút nào. Cách đánh đao của Bàng lại giống hệt ta, nên cả hai bên đều rất khó đánh. La lão viết Bàng bắn sau lưng ta, đâu có chuyện ấy, y là đệ tử phật giáo, cũng nghĩa hiệp không kém gì ta, ai lại đi bắn lén địch thủ bao giờ. Đánh nhau chán mà không thắng, một người bảo dừng tay là người kia dừng đao ngay. Ta đánh nhau với Bàng hai ngày trời, không phân thắng bại theo kiểu đó. La lão bảo ta phá đê để đánh giết quân Ngụy là không có cái đó đâu. Vu Cấm ngu dốt, đóng quân ở chỗ thấp quá. Mưa lại to, gió lỡn, nước dang lên cao, sóng đánh mạnh làm đê vỡ, quân Ngụy bị nước cuốn theo, chết đuối hầu hết. Bàng Đức cũng bị nước cuốn trôi, sặc nước sắp chết. Châu Sương tình cờ bắt được Bàng, đưa về dưới trướng. Ta hỏi kĩ y mới biết Bàng chính là sư đệ của ta cùng thày dạy. Biết được điều ấy, đêm đó ta bảo Quan Bình bí mật  đưa tiễn sư thúc của y về chùa để tiếp tục học đạo chứ có giết đâu, việc này chỉ có Bàng và hai cha con ta biết. Nghe ta, Bàng quay lại chùa, nhưng sư phụ cũng không nhận lại vì tội sát giới. Bàng Lệnh Minh buồn lắm, y lên núi, dựng ngôi chùa mới tự tu, sau đó trở thành sư tổ của một phái đánh đại đao nổi tiếng ở Trung Nguyên. La Quán Trung viết theo các tích truyền miệng, lấy tư tưởng trung quân ái quốc là trọng nên trong cuốn truyện nhiều tình tiết không được trung thực cho lắm.

 

Hồi thứ mười hai

HOA DUNG LỘ QUAN VŨ LẤY NGHĨA TRẢ ÂN

CHỐN MẠCH THÀNH ANH HÙNG ĐÀNH VỀ TRO BỤI

– Thưa, như Vương gia nói, rõ ràng Tào Tháo muốn thu phục Ngài, cái cớ về chầu vua chỉ là giả tạo. Khi biết Vương gia không theo mà bỏ đi tìm Huyền Đức, sao Mạnh Đức lại để Vương gia đi mà không giết?

– Khi Tào Tháo tấn công chúng ta, chiến trận vô cùng ác liệt, ba anh em ta đều bại trận vì thế quân Tào lớn, ba anh em lại chả có được bao nhiêu quân, đóng quân vào những chỗ tử huyệt, vì vậy mà bại trận nhanh chóng. Quân tan, tướng mất, ta là người đánh sau cùng khi đám quân của Huyền Đức và Dực Đức đã tan hết. Lúc ở Thổ Sơn, rất nhiều tin báo về là Dực Đức và Huyền Đức đã chết trong đám loạn quân, nên ta rất hoang mang. Anh và em đã chết cả, tấm thân ta coi như thừa, nhưng để hai chị dâu và gia quyến Huyền Đức bị thảm sát cả thì tội ta càng lớn. Ta quyết định giữ tấm thân vô dụng lại để cầu mạng sống cho gia đình huynh trưởng mà thôi. Mạnh Đức bằng nhiều cách mua chuộc để lôi kéo ta về dưới trướng nhưng không thành, ông ta cũng rất bực. Tuy bực tức, nhưng hại ta vô cớ thì Tào không dám, vì bấy giờ ta đã là mệnh quan khá lớn trong triều. Mặt khác, chủ trương đưa ta về chầu vua, không theo Tào chính là lời y nói trước các quan trong triều và các tướng dưới quyền, nên y đành chịu. Tào trong lúc gây dựng lực lượng nên rất cần chiêu hiền, đãi sĩ; mà chiêu hiền, đãi sĩ cần nhất là chữ tín, vì vậy y không hại ta.

Khi Trần Chấn bí mật mang thư của Huyền Đức lại, ta biết huynh trưởng còn sống. Nhớ lời thề ở vườn đào, ta vào xin phép Tào cho ta ra đi. Tào vẫn còn muốn lôi kéo ta, nên đóng cửa không tiếp, cái đó La Quán Trung viết đúng đấy. Lúc đó ta nghĩ, mình là một mệnh quan của vua Hán, không hàng Tào thì tất có quyền ra đi, nên ta treo ấn từ quan bỏ đi. Ta không hiểu được thực chất Hán là Tào, Tào là Hán, Tào Tháo có thể ngăn trở, cất quân đuổi bắt hoặc truy sát ta. Ta khen Mạnh Đức là người nghĩa khí, không nuốt lời, bởi vậy ta ra đi, ông không hề cất quân tướng truy sát. Sau khi thấy ta kiên quyết ra đi, sát hại sáu tướng của mình, ông vẫn cho người cầm cờ lệnh buộc Hạ Hầu Đôn dẹp đường để ta qua ải cuối cùng. Tào thật sự là con người trung tín!

– Thưa, chính vì Tào có ơn với Vương gia, nên Ngài trả ơn bằng cách tha ông ta trên đương hẻm Hoa Dung?

– Việc này nói thế nào nhỉ? Đúng là lúc đó, Mạnh Đức có ân với ta và gia đình Huyền Đức, ân ấy không nhỏ. Song trong trận chiến ở thành Bạch Mã, Tào đang thế bí, bị Viên Thiệu vây dồn đến đường cùng, ta đã giết Nhan Lương, Văn Sú để giải vây cho ông ta, ta cho rằng ân oán bên nửa cân, bên tám lạng, không còn mắc mớ chi nhiều.

Trong trận Xích Bích, Tào Tháo đại bại, trăm vạn quân bị Chu Du thiêu cháy trên Tam Giang, quả là quá đau. Từ thế thượng phong, Thừa tướng bản triều cầm đại quân đánh Ngô, khi chạy đến con đường Hoa Dung chỉ còn mấy trăm sĩ tốt, người không ra người, ngợm không ra ngợm, ngựa chả còn được mấy con, quá là thảm hại. Khi ấy ta có năm trăm quân đao phủ khỏe mạnh, thạo việc, được Gia Cát Lượng sắp sẵn, việc làm cỏ đội tướng sĩ của ông ta chả khó khăn chút nào. Song nhìn đến cảnh quân Tào trên tử lộ Hoa Dung, ta nghĩ ngay đến hoàn cảnh mình cùng ba trăm sĩ tốt ở Thổ Sơn ngày nào. Ngày ấy, nếu Mạnh Đức không rộng lòng thì cả ta, gia đình Huyền Đức và ba trăm sĩ tốt sẽ bị giết sạch. Trong lúc đói khát, ông ta còn sai người mang nước, lương thực lên cho chúng ta. Vậy thì nay, sao ta không rộng lòng được như Mạnh Đức nhỉ? Ta hơn ông là tín đồ phật giáo, thầy ta đã dặn phải tu thân, phải tích đức, sao ta dám làm việc vô nhân đạo này? Đã là phật tử thì nên tránh sát sinh, đã là anh hùng hào kiệt thì không nên hại kẻ cùng đường. Mặc dù ta cũng rất sợ quân lệnh, nhưng, thôi thà hi sinh thân mình, giữ lấy cái nhân cách, cái phẩm giá. Khi Mạnh Đức đến, ông nhảy xuống ngựa cúi đầu, vái ta một vái. Không đợi ông ta nói gì, xin xỏ gì, ta quát quân mở đường cho ông ta đi. Tào đợi toàn bộ tướng sĩ đã đi qua hết, ông lại vái ta vái nữa, bấy giờ mới nói:

– Tháo tôi ngàn lần đội ơn Quân hầu vì việc nghĩa lớn hôm nay, mong rằng có ngày báo đáp.

Nói xong ông ta thong thả lên ngựa ra roi tế đi.

Ta vái lại ông và đáp lời:

– Thừa tướng cứ ung dung về Nam Quận, từ đây đến đó không còn quân mai phục nữa đâu.

Chúng ta, hai địch thủ chia tay nhau trên chiến trường như những người bạn cũ, đúng thế. Tào chẳng van xin gì, mà ta cũng chẳng gây khó gì cho ông. Gia Cát Lượng nếu dùng quân lệnh chém thì ta cũng phải chịu, nhưng ông ta không dám làm vậy, vì ta với Huyền Đức đã kết nghĩa, thề cùng sống chết, mặt khác Khổng Minh cũng còn phải dùng đến ta.

– Thưa, khi Vương gia đánh Tràng Sa, thu phục được Hoàng Hán Thăng phải không ạ?

– Ta vốn là người có tính hiếu thắng, không chịu thua ai, chẳng khác gì Dực Đức. Sau trận Xích Bích, Dực Đức đánh chiếm được Linh Lăng, Tử Long đánh chiếm được Quế Dương, ta xin đánh quận Trường Sa của Hàn Huyền. Nghe tin ta đưa quân đến, các tướng của Hàn Huyền không ai dám ra đối địch, họ kéo cầu treo lên và dùng cung nỏ chống lại. Ta bực mình, đưa quân đén gần gọi cha con Hàn Huyền ra chửi để cho y tức mà xuất binh. Hàn cay cú, sai tướng giỏi nhất của y là Ngụy Diên dẫn quân xung trận. Ngụy biết tiếng ta, nên thưa với Hàn Huyện:

– Thưa chúa công! Vân Trường vũ dũng lắm. Tiểu tướng không thể địch nổi, nếu cố tình ra trận sẽ làm mất nhuệ khí của quân ta, vậy xin chúa công cứ kiên nhẫn thủ thành, bên họ cạn lương tất phải lui, lúc ấy ta theo mà đánh mới toàn thắng.

Hàn là tên bạo chúa, nóng nảy, thấy Ngụy không tuân lệnh liền quát võ sĩ lôi Ngụy Diên ra chém. Các quan dưới trướng y can ngăn mãi, Hàn mới tha, nhưng bắt Ngụy giam trong ngục. Trong lúc bí, tướng Hàn Hạo, cũng cháu y quỳ xuống thưa với Hàn Huyền:

– Thưa chúa công! Trong quân ta không có tướng nào là đối thủ của Quan Vân Trường. Xin chúa công hãy bỏ chút thời gian đến thăm lão tướng Hoàng Trung, nhờ y cầm quân đối địch. Hoàng Trung trước là đại tướng của Lưu Biểu, thấy Lưu Biểu bần tiện, không biết dùng người, ông cáo quan về Tràng Sa sống ẩn dật. Tuy gần sáu mươi tuổi, nhưng ông xử dụng cây đại đao khá nặng, kéo nổi cung ba tạ. Chỉ có người đó mới đấu lại được Quan Công mà thôi.

Hàn Huyền liền đến tận nhà Hoàng Trung mời về phủ bàn việc chống lại ta. Hoàng Hán Thăng miễn cưỡng nhận lời, hẹn hôm sau sẽ đưa quân ra đối trận.

Sáng hôm sau, khi ta vừa đưa quân đến dàn trận, trong thành nhộn nhịp hẳn, cầu treo được thả xuống. Một tướng râu tóc đã bạc tế ngựa dẫn năm trăm quân ra dàn trận, quát lên như sấm:

– Kẻ vô danh, tiểu tốt nào dám xâm phạm vào đất của ta?

– Lão già kia! Ngươi chưa nghe đến uy danh của Hán thọ đình hầu Quan mỗ ư? Ta đến đây cốt bắt Hàn Huyền, ngươi già rồi nên ta tha cho. Hãy về đi, bảo Thái thú của ngươi ra mà nộp mạng.

– Tiểu tử, sức ngươi có mấy, hãy nhận một đao đây.

Nói xong, Hán Thăng xông vào giáp chiến với ta. Đánh một lúc, ta thấy đường đao của ông rất lạ. Các nhát phạt đao trông rất tầm thường, đường đao mới đưa ra vụng về, tưởng là vô hại như kẻ không biết dùng đao, song nó lạng lách, cứ nhằm tử huyệt mà tới. Kiểu đánh đao ngày ấy gọi là nghệ thuật lạng đao. Phải những cao thủ đánh đao tài, luyện tay thật dẻo mới có được nghệ thuật đánh kiểu ấy. Kiểu lạng đao, sau này được phát triển cho cả nghệ thuật ném dao. Những cao thủ ném dao, khi dao trúng đích còn hơi xoay để lạng lách qua kẽ xương. Ngày nay hình như môn nghệ thuật này đã thất truyền thì phải. Hán Thăng đấu với ta đến năm chục hiệp mà không lúng túng chút nào. Ta quý người tài, tìm cách bắt sống ông ta nên giả vờ thua chạy để ra xa thành Tràng Sa. Hán Thăng đuổi theo sau, ta chạy vòng qua một khoảng rừng định quay lại đánh đến khi ông ta mệt thì bắt. Không ngờ đang chạy, ngựa của ông ta sa chân, ngã, quăng ông ta ra đường. Thấy ông ngã ngựa, ta quay lại nói:

– Hôm nay ta tha cho lão, về thay ngựa tốt đi, mai lại đánh tiếp.

Hán Thăng vực con ngựa dậy, nhảy lên lưng, chậm rãi cho ngựa vào thành, hai bên bãi binh. Ý ta định bắt chứ không dùng kế đà đao để chém ông ta như La lão viết đâu, anh em ta đang rất cần người tài. Cái cách đánh đao lạng của Hán Thăng rất lợi hại, sau này ông ta chém Hạ Hầu Uyên, Hàn Hạo cùng các tướng khác chắc đều dùng cách đánh ấy.

Hôm sau Hán Thăng lại ra ngựa, đánh được hơn chục hiệp, Hán Thăng nói:

– Quân hầu hãy theo ta, ta có chuyện cần nói với Quân hầu.

Nói xong ông ta giả thua tế ngựa chạy ra ven rừng hôm trước. Ta cũng giả vờ tế ngựa hò hét đuổi theo. Đến một chỗ khuất, Hán Thăng quay ngựa lại nói:

– Ta nghe Quân hầu giỏi dùng đao, hôm nay mới tin là thật. Ta rất đội ơn Quân hầu dung mạng hôm qua và biết rằng Lưu Huyền Đức là một minh chúa đang phò vua Hán. Ta muốn theo về với Huyền Đức, mong được Quân hầu tiến cử. Ta giả thua chạy vào thành, Quân hầu đừng đuổi nữa. Ngày mai Quân hầu đến thách đánh, ta sẽ có kế dâng thành.

Nói xong ông ta lại phi ngựa chạy ven cánh rừng đó vào thành. Nghe lời ông, ta không đuổi theo nữa. Hôm sau, khi quân ta gần đến, Hoàng Trung chặt đứt dây treo cổng thành rồi mở cổng cho quân ta tràn vào. Hàn Huyền thấy vậy bỏ cả gia đình chạy trốn sang hàng Chu Du. Ta và Hán Thăng vào thành, thả Ngụy Diên, yên dân rồi báo tin thắng trận cho Huyền Đức và Khổng Minh. Hán Thăng được Khổng Minh tin dùng, còn Ngụy Diên thì không. Ngụy Văn Tràng tính khảng khái, ngang ngạnh, không phục ai nên y cũng không được cả Huyền Đức tin cẩn. Chỉ sau khi nhà Thục Hán không có ai địch nổi Vương Song, Khổng Minh sai y phục giết được Vương, lúc ấy y mới được dùng làm đại tướng. Ta và Hoàng Trung đều trong Ngũ hổ đại tướng, Hoàng Trung đi trận lập được nhiều kì tích, oai hùng nhất là trong chiến trận đánh Tào chiếm Đông Xuyên.

– Thưa, La Quán Trung có viết Vương gia một đao phó hội, Lỗ Túc đã đặt võ sĩ phục định giết Vương gia nhưng không thành, việc đó hư thực ra sao?

– Đòi mãi Kinh Châu không được, Lỗ Tử Kính sợ bị Tôn Quyền trị tội, định bày kế bắt ta để đổi lấy Kinh Châu. Ông ta ngầm phục võ sĩ ở phòng trong bàn tiệc rồi mời ta đến dự tiệc. Ta không đi thì họ sẽ chê ta nhát, mà đi thì chắc nguy hiểm cho tính mệnh. Quan Bình khuyên ta không nên đi, Châu Sương cũng khuyên vậy, song ta vẫn quyết sang dự tiệc xem Lỗ Túc dám làm gì ta.

Trước khi ta lên thuyền sang Lâm Giang, ta sai Quan Bình chuẩn bị chục chiếc thuyền nhanh nhẹn trữ sẵn hỏa khí và hai trăm thủy quân tinh nhuệ chuẩn bị khi ta phất cờ thì sang trợ chiến. Các thuyền hỏa công ấy cứ lượn lờ giữa sông lấy uy, khi thấy quân Ngô đuổi theo thì chúng mở một đường cho thuyền ta đi qua rồi khép thành hình chữ nhất, đồng loạt phóng hỏa để tiếp ch iến thuyền họ. Chiếc thuyền đưa ta sang dự tiệc có mười người chèo rất khỏe, buồm tốt và lên thuyền cùng ta có hơn chục võ sĩ rất giỏi võ công, ai cũng đeo gươm sắc để hộ vệ. Bên cạnh ta, Châu Sương vác thanh long đao, đem gươm sắc lúc nào cũng cận kề, như vậy thì đâu phải một đao? La tô vẽ cho ta chỗ này cũng hơi vụng đấy.

Đến Lâm Giang, ta luôn đi bên Lỗ Túc, nếu y có thái độ khác là ta xử y ngay. Trong bữa tiệc, Lỗ uống rượu gì ta uống rượu đó, ăn thức ăn mà Lỗ đã gắp ăn… Đứng hộ vệ sau ta là Châu Sương cùng số võ sĩ đi theo. Lỗ dù có ra hiệu được cho võ sĩ hành động, y sẽ bị ta chém trước. Còn nếu võ sĩ Đông Ngô bao vây, ta sẽ dùng long đao mở ngay con đường máu qua sân xuống bến thuyền. Xuống được thuyền ta phất cờ là có thuyền tiến sang hộ vệ…Tiệc được nửa chừng, Tử Kính mang chuyện Kinh Châu ra bàn, ta giả say, gạt đi ngay. Ta đứng lên cầm tay Lỗ dẫn ra bến như dẫn đứa trẻ con. Quân Ngô sợ ta hại Lỗ nên không dám tung phục binh ra đánh. Chuyện đó La lão viết gần đúng, chỉ khác là không phải có một đao đâu.  

– Thưa Vương thượng! La lão viết là Ngài bị Mã Trung bắt được ở xứ Quyết Thạch, sau bị Tôn Quyền hành tội, việc đó ra sao?

– Ta đánh Tương Dương, thu Bàng Đức, bắt Vu Cấm, làm rung chuyển nhà Ngụy. Tào cử các tướng giỏi là Hứa Chử, Từ Hoảng và Trương Liêu ra chống chọi. Ba tướng ấy liên thủ đánh ta, trận chiến cứ nhùng nhằng chả thắng, chả thua. Lúc ấy ta đã ngót sau chục tuổi, khí lực cũng đã giảm, nên không chém được tướng nào. Hai bên dàn quân đối đầu hơn một tháng, không phân thắng thua. Tào sai người mang vàng bạc sang Đông Ngô nói với Tôn Quyền hợp vây đánh ta. Tôn thấy lợi liền sai Lã Mông đem quân bí mật đánh chiếm Kinh Châu. Thành Kinh Châu chỉ có My Phương và Phó Sĩ Nhân, hai tướng nhỏ, nên bị thất thủ. Kinh Châu thất thủ, ta hết nguồn tiếp lương, quân rối loạn, nên phải bỏ Tương Dương, lui về bờ sông Miện Thủy để cầm cự. Lương thực hết sạch, Huyền Đức cùng Gia Cát Lượng không tiếp lương, không đưa quân đến cứu. Quân ta vốn người Kinh Châu, thấy quê hương bản quán đã bị giặc chiếm lại bị đói nên thối chí, tan rã từng mảng. Ban đêm chúng rủ nhau bỏ trốn về hàng Ngô. Quân tan, ta đành dẫn hơn trăm quân kị lui vào Mạch Thành.

Mạch Thành, gọi là thành đấy nhưng chỉ là một đồn trú quân nhỏ. Xung quanh là lũy đất thấp, chu vi khoảng nửa dặm, trên lũy đất đó là bốn dãy nhà gỗ đóng quân. Triệu Lũy là tướng nhỏ đang trấn giữ, thấy ta đang lui quân, liền sai người chặt gỗ đóng cọc ken kín đến hai, ba lớp liền nhà khá chắc chắn và tích thêm lương thảo. Đặc biệt là y học được người thổ dân trong rừng, chế được tên tẩm chất kịch độc. Kẻ trúng tên chỉ cần sứt da thôi, trong một khắc là người tím tái, thổ mửa rồi chết không sao cứu kịp. Khi cha con ta lui vào Mạch Thành, quân Ngô liền vây kín bên ngoài. Ta lên chòi quan sát, quân Ngô vây làm mấy lớp, tổng số có đến gần chục vạn binh. Ta gọi thuộc tướng Liêu Hóa đến dặn:

– Tối nay ta sẽ phá vây, đưa ngươi ra; ngươi hãy về Xuyên bẩm với Thiên tử và Thừa tướng đưa quân đến cứu. Trong thành tuy chỉ có mấy trăm quân, nhưng lương thảo đầy đủ, ta sẽ cầm cự ít nhất được một tháng. Ngươi chuẩn bị ngựa tốt để đi, khi ra khỏi thành, ngươi đi lối Thượng Dung mà vào Xuyên, lối ấy chưa có quân của cả Ngô lẫn Ngụy.

Liêu Hóa chảy nước mắt, quỳ xuống thưa:

– Liêu tôi xin tuân lệnh Quân hầu, mong Quân hầu ở lại bảo trọng.

Tối đó, ta cho mở cửa, ta phi ngựa ra mở một con đường máu, Liêu Hóa theo sau. Quân Ngô thấy động, đốt đuốc sáng trời, hò hét vây đánh. Dưới ánh đuốc sáng như ban ngày, ta cứ mua đại đao chém bừa để lấy lối mà đi. Lúc sau thấy ta đánh hăng quá, quân Ngô hoảng sợ, chạy tán loạn, dẹp cho ta một lối, thế là thầy trò ta thoát được ra. Khi đưa được Liêu Hóa ra khỏi trùng vây,  thấy y đã đi khá xa, ta lại quay vào thành.

Hôm sau trước cửa trại, ta thấy cờ súy có chữ Tôn, một tướng đứng trước cờ mời ta ra nói chuyện, đó là Tôn Quyền. Ta trèo lên chòi quan sát nói chuyện với y. Tôn nói:

– Trước kia hai nhà Tôn, Lưu kết với nhau cùng phá Tào Tháo, Quyền tôi rất kính trọng Quân hầu. Tôi đã từng sai người sang cầu thân với Quân hầu để hai trẻ được kết duyên Tần, Tấn nhưng Quân hầu khinh tôi nên không nhận lời. Nay Quân hầu đã bị vây chặt ở đây, Quân hầu đã chịu tài Quyền tôi chưa?

Ta bực quá quát lên:

– Thằng trẻ con kia! Ngươi muốn đánh nhau thì cứ đưa quân công thành. Ta đây đường đường là đấng đại trượng phu thì có sợ ai.

– Nay Quân hầu đã bị vây chặt, không thể thoát ra, sao Quân hầu không chọn lấy con đường mà sống? Nếu Quân hầu quay về với ta, ta sẽ lại để Ngài trấn thủ Kinh Châu, lại giúp ta cự với Tào Tháo. Ta cấp bổng lộc cho Ngài gấp ba lần của Lưu Bị. Mong Quân hầu suy nghĩ, đến mai hãy trả lời ta.

– Thằng trẻ con kia! Ta là tướng nhà Hán, há chịu hàng chó Ngô như ngươi à? Ngươi cứ giỏi đưa quân vào mà phá thành của ta.

Hôm sau không thấy ta trả lời thêm gì, Quyền xua quân lao vào phá thành. Quân Ngô tiến vào cả bốn mặt đánh phá, quân ta ở trong nhà chống trả quyết liệt. Tên nào còn xa thì bị tên độc bắn chết, tên nào vào gần thì bị giáo đâm chết. Bọn lính Ngô chết đến vài ngàn mới chịu lui ra khỏi tầm tên bắn. Ngày tiếp theo, quân Ngô dựng chòi cao bắn đá vào thành, quân ta dùng đá ấy bắn lại. Quân ta có chỗ trú tốt, lũy tốt nên bị thương và chết rất ít, ngược lại quân Ngô tổn hại rất nhiều. Sau ngày hôm ấy, Tôn Quyền liền họp bàn với các tướng tìm cách hạ Mạch Thành. Lục Tốn hiến kế dùng cung nỏ bắn tên lửa và để đốt các nhà gỗ trú quân. Các nhà cũ bị hàng ngàn tên tẩm nhựa cây bắn vào đốt cháy. Quân ta tuy ít, nhưng dùng đất ướt, giẻ ướt dập lửa nên cũng chẳng thiệt hại lớn lắm.

Dùng tên lửa bắn vào cũng không phá nổi thành, Lục Tốn lại bày mưu khác. Y nói:

– Thưa chúa công, thành này nhỏ, toàn bằng gỗ, ta cứ sai mỗi tên quân chặt một gánh củi, xếp cao quanh thành rồi đốt xem chúng chạy được đi đâu.

Tôn Quyền nghe theo, sai quân vào rừng chặt củi, kiếm gỗ. Lợi dụng đêm tối, y cho quân xếp củi kín quanh thành. Bao quanh cái thành gỗ là củi, gỗ được xếp cao đến vài trượng. Sau khi xếp củi kín xung quanh, ban đêm quân Ngô nhất tề phóng hỏa. Lửa cháy tứ bề, đến sáng cái thành nhỏ đó bốc cháy như là một trái núi lửa. Lửa cháy gần chục ngày trời mới tàn. Ta, Quan Bình, Châu Sương và quân tướng khác đều bị chết ngạt, chết bỏng và thiêu cháy, không một người sống sót. Tất cả các thi thể quân Hán đều bị thiêu thành tro lẫn với than, tro gỗ. Những tảng đá còn sót lại trên lũy đều bị nung thành vôi, cái lũy đất dày bị nung đến nỗi nứt toác ra. La Quán Trung nói ta bị bắt là tô vẽ thêm cho quân tướng nhà Ngô thêm oai thôi.

Tào Tháo rất trọng ta, sau khi biết ta bị thiêu thành tro bụi, ông ta sai làm bức tượng bằng gỗ giống hệt ta đưa đi mai táng. Ông tự ra tế lễ, đọc văn tế ta rất cảm động, xin với vua Hán truy phong ta là Kinh vương. Ở dưới cõi âm này, ta với Mạnh Đức cũng hay đi lại thăm hỏi nhau như những người bạn tốt. Về ta chỉ có vậy, những gì ta chưa nói, có lẽ Thừa tướng Gia Cát sẽ cho Ngài biết thêm.

– Vãn bối vô cùng đội ơn Vương gia.

 

Hồi thứ mười ba

NHỜ RƯỢU ĐẠI TƯỚNG HÉT RA LỬA

VÌ RƯỢU QUÂN HẦU CHỊU MẤT ĐẦU

Từ biệt Quan Vân Trường, tôi quay ra đợi thừa tướng Gia Cát Lượng. Đêm trăng mờ mờ, sương rơi rả rích, tiếng côn trùng đều đều nghe khá êm tai, thi thoảng lại có tiếng chim bắt cô trói cột vang lên phá vỡ màn đêm yên tĩnh. Lát sau, một bóng ngựa phi đến, người cưỡi con ngựa ô ghìm cương làm nó chồm lên rồi dừng lại hẳn, ông ta nhảy xuống đến bên tôi, nhìn kĩ thành ra đó là Trương Dực Đức. Tôi kính cẩn chào:

– Kính chào Lãng Trung hầu!

– Hì, hì! Ngài Lê Vân đấy à?  Chắc Ngài đợi đã lâu, Gia Cát Lượng vẫn dở ván cờ với Tư Mã Ý, ông bảo ta đến trước. Chả hiểu họ thế nào, một ván cờ kéo dài ba ngày vẫn chưa xong!

– Thưa Quân hầu, cư dân mạng sống sau Ngài gần hai thiên niên kỉ, mọi người đều muốn biết sơ qua về Quân hầu và thời Ngài sống. Vậy Quân hầu có thể cho vãn sinh biết đôi diều chăng?

– Ồ! Ta đến vì việc đó mà. Ta sinh ra trong một gia đình có của ăn, của để. Ông cha bao đời tích cóp, cũng mua được nhà cử, thổ cư khá rộng rãi, khang trang. Cha mẹ ta làm nghề mổ chó, ngày xưa gọi là đồ tể. Lớn lên ta theo cha đi mua chó về mổ trong cái quán rượu đó. Ta là đứa ham chơi, lêu lổng nên cha mẹ phiền lòng, ông bà đâm ra ưu tư, buồn bã và sớm qua đời ở tuổi mới trung niên. Cha mẹ chết, ta sinh ra rượu chè, suốt ngày say xỉn, đánh nhau, cãi nhau, khách vắng dần, nhất là khách gần nhà, nên quán luôn thua lỗ. May ông cha còn để lại nhiều đất đai, tiền của nên ta vẫn còn sống được, chưa phải đi ăn xin.

Chuyện kết nghĩa giữa chúng ta, Đại ca kể đúng đó, tính ta hung hăng, định nhẩy lên cao làm anh cả, không ngờ khi phân định theo lí lẽ, ta đành chấp nhận làm em út. Điều đó cũng may, bởi nếu ta mà là anh cả thì Huyền Đức và Vân Trường cũng chỉ suốt ngày đi mua chó về mổ và say rượu thôi, có đâu truyện Tam Quốc mà các Ngài được đọc.

– Thưa, truyện kể Quân hầu đánh viên đốc bưu ở huyện An Hỉ, chuyện đó ra sao?

– Chuyện là thế này, Huyền Đức về trấn nhậm chức quan úy của An Hỉ, anh em ta lần đầu được sắc phong quản một huyện mà nghiệp vụ không có. Trong ba anh em, Huyền Đức thì chỉ biết dệt chiếu, bán dép; ta thì chỉ biết nghề mổ chó, chỉ có Vân Trường được học hành. Việc gì chúng ta cũng nghe theo Vân Trường, nên sống liêm khiết, được lòng dân. Thời đó nhũng nhiễu lắm, ngày lễ, ngày tiết người dân thường phải quà cáp, cúng biếu các quan. Thời ấy chúng ta gọi là cúng biếu, thời các Ngài cải ra là quà tặng, cũng là hành động tham nhũng cả mà. Thế rồi, quan nhỏ lại có quà, có lễ cho quan trên… Chính chúng ta không cướp của dân, không ăn hối lộ, sống đạm bạc nên không có tiền quà cáp biếu sén các quan trên. Vì không vào guồng máy tham nhũng, nên anh em ta bị chê nhiều. Những người thân thì bảo lũ ta không thức thời, không biết lựa, chưa có kinh nghiệm sống… Những kẻ ở trên thì ghét ra mặt, bảo bọn ta ngang ngạnh, ẩm ương…, tìm cách mà trừ đi.

Phủ quan tuy rất ghét anh em ta, nhưng công việc trong huyện An Hỉ lại rất tốt, nên chưa có cớ gì trừ chúng ta đi được. Phủ quan chưa có cớ trừ, y xúi khéo viên Thị lang bộ lễ, mượn tay y để trừ chúng ta. Viên thị lang liền phái đốc bưu về cùng viên Thái thú thanh tra An Hỉ. Trước lúc về huyện, chúng cho nha môn trên phủ về thông báo và gợi ý, nếu chúng ta nộp cho chúng ngàn lạng vàng thì chúng cho qua. Nếu có vạn lạng thì chúng sẽ lập văn án tâng công chúng ta, về tâu để bổ chúng ta lên làm Thái thú Châu Định… Chúng ta có tiền vàng đâu mà ngã giá với chúng, thế là thày tớ chúng kéo nhau về thanh tra.

Thấy chúng về, Huyền Đức mời bữa tiệc đầu khá thịnh soạn, rồi các bữa sau thì sai người nấu bếp mang cơm lên cho chúng, còn ông ăn riêng. Thấy đón tiếp sơ sài, chúng chẳng thanh kiểm tra gì, bắt đại ca của ta quỳ trước huyện đường để chúng hỏi từng chuyện, trong lúc ta và Vân Trường đang dẫn dân đi đắp đê chống lụt. Viên Thái thú và đốc bưu hỏi những chuyện chẳng ra đâu vào đâu rồi cười đùa thích thú khi Huyền Đức phải quỳ trước huyện đường. Đại ca của ta bụng to, sức kém, quỳ được hai ngày thì lăn ra ngất xỉu. Lúc Huyền Đức bị ngất, một nha lại liền bí mật lấy con ngựa phi đến báo với chúng ta. Khi về đến huyện đường, chúng ta thấy hai tên Thái thú và đốc bưu vẫn đang cười đùa, sai người dựng Huyền Đức quỳ lại. Chúng dựng lên, đại ca của ta lại đổ xuống. Thấy cảnh đó, ta và Vân Trường không chịu được, túm tóc hai tên đó xuống bắt quỳ thay đại ca ta. Mặt khác, sai người đưa Huyền Đức vào nghỉ và tìm thày chữa thuốc.

Ban đầu hai tên đó quát lác ra vẻ oai phong:

– Thằng tiểu lại kia, mi muốn chết sao mà dám hỗn với các lão gia đây? Các ngươi sẽ được tan xương, nát thịt!

Không nói, không rằng, ta và Vân Trường cho một tên nếm một quả “phật thủ” Hai tên liền lăn ra, không nói được lời nào, máu mồm, máu mũi tóe ra. Đã thấm đòn, khi hồi tỉnh chúng đành im lặng, ngoan ngoãn quỳ xuống. Vân Trường vào nhà thăm nom, chăm sóc cho Huyền Đức, còn ta ngồi canh hai đứa đang quỳ trước huyện đường. Quỳ được nửa ngày, hai tên không chịu nổi, van xin:

– Thưa đại quan! Chúng con đã biết tội, xin đại quan rộng lòng dung thứ.

Ta cứ im lặng như không nghe thấy gì, bọn chúng quỳ dưới cứ lảm nhảm van lạy suốt buổi. Buổi tối, ta cho người mang cơm đến cho chúng, nhưng vẫn bắt quỳ mà ăn. Đến đêm, đau gối và mỏi quá, chúng bò xuống sân, ta lại cho người dựng lên. Lát sau, chúng lại gục xuống, lúc đó ta tạm tha cho hai đứa và mình cũng về nghỉ. Sáng hôm sau, bọn nha lại dẫn hai tên ra sân, chúng van như tế sao:

– Thưa đại quan! Chúng con đã biết tội tày đình, chót mạo phạm oai hùm, xin đại quan rộng lòng tha thứ cho tôi con, chúng con cắn rơm, cắn cỏ lạy Ngài.

Ta vừa bực, lại vừa buồn cười, hỏi chúng:

– Lũ sâu mọt hại dân kia! Hôm nay chúng bay thích quỳ hay thích bò?

– Thưa đại quan, đại quan như cha mẹ chúng con, chúng con xin lạy ngàn lạy xin đại quan rộng lòng xá tội, chúng con sẽ không quên ơn Người ạ!

– Lũ sâu mọt, chúng bay thích quỳ hay thích bò?

– Thưa! Đại quan cho chúng con bò ạ!

Ta bảo bọn nha lại cho mỗi đứa hai đôi xà cạp để bao tay và đầu gối, xong lấy dây thừng buộc cổ từng đứa, dắt chúng như chó ra ngoài đường, dân chúng đứng xem hai bên, vỗ tay cười rầm rĩ , đáng đời hai tên đó. Đến gần trưa thì Huyền Đức đã đỡ, ông lại ra huyện đường. Thấy nha lại dẫn hai tên bò từ cổng vào, ông bảo hãy giam hai tên lại. Sau khi anh em ta bàn bạc, Vân Trường bảo đem chúng ra giữa công đường, đánh mỗi đứa năm chục gậy rồi thả chúng đi. Hai tên được thả, cổ đeo ấn quan úy huyện ra đi, ba anh em ta bỏ An Hỉ sang sống với Công Tôn Toản. La lão bảo ta bẻ cành liễu đánh không đúng đâu, với bọn sâu mọt phải trị như thế.

– Thưa Quân hầu! La Quán Trung nói Ngài sức khỏe như hùm, lấy đầu đại tướng trong trận như thò tay lấy vật trong túi, việc đó thật hư thế nào?

– Ôi! Truyện là truyện, thực là thực. Ta có sức vóc hơn người, có tài đánh mâu, cái đó là thực, nhưng nói quá lên cũng không hay đâu. Trên ta còn có Lã Ôn hầu và nhị ca, sức vóc họ hơn, và võ thuật cũng nhỉnh hơn, còn lại là tầm ta, hoặc dưới thôi.

– Thưa, đấu tay đôi với quân hầu được là những tướng nào ạ?

– Ôn hầu, Vân Trường hơn ta, còn cùng bậc chắc có Triệu Vân, Mã Siêu, Bàng Đức thôi. Triệu Vân sức vóc có thể kém ta chút đỉnh, nhưng tài thương mã, quả thật ta không thể bằng được, đặc biệt ông ta trẻ hơn, nhanh nhẹn hơn ta. Mã Mạnh Khởi sức không kém ta, lại có tài đánh siêu đao. Ông ấy và ta đã đánh nhau tới hai ngày đêm, đổi ngựa mấy lần mà vẫn không phân thắng bại. Bàng Đức tuy ta chưa gặp, nhưng tài đánh đao không khác Vân Trường đâu. Còn bọn Hứa Chử, Từ Hoảng, Trương Liêu, Trương Cáp… đều dưới tay cả. Ta đã từng đánh trọng thương Hứa Chử ở đường Bao Châu, tiếc rằng quân tướng Tào đông nên cứu y chạy thoát. Trương Cáp sau khi đánh với ta hơn ba chục hiệp, suýt bị ta bắt sống ở ải Ngõa Khẩu. Cũng may cho y, thạo đường, nhanh chân nên cưỡi ngựa tẩu thoát.

– Thưa, Quân hầu đã từng đấu tay đôi với Lã Ôn hầu?

– Có, có đấy. Đó là trận đánh trước cửa Hổ Lao. Lúc ấy, khi Lã xuất trận, bên liên quân chư hầu của Viên Thiệu không ai dám ra đối mặt ông ta. Thấy vậy, ta nổi xung ra thách Lã đánh ba trăm hiệp. Nói to mồm vậy thôi, khi đánh được hơn trăm hiệp, ta thấy mình thua kém hẳn Ôn hầu, sức y hơn ta, đường kích lại rất kì ảo. Biết mình yếu thế, ta chỉ tìm các tránh và đỡ chứ không thể ăn miếng, trả miếng như ban đầu. May cây xà mâu của ta dài, Lã không có cơ hội tiếp cận để hạ thủ. Nếu đánh ngoài ba trăm hiệp, chắc ta sẽ bị Lã sát hại, điều đó là đúng đấy. Thấy ta núng thế, nhị ca vào tiếp chiến ngay. Mới nhận đao đầu tiên, Lã chùn tay, lùi ngựa trước cây đao quá nặng. Thế là anh em ta lại ở thế công. Nếu trận ấy Huyền Đức không nhảy vào chọc thối, thì dù không bắt sống được Lã, anh em ta cũng đánh ông ta trọng thương. Tuy vậy, ta vẫn phải thừa nhận mình kém Ôn hầu một bậc.

– Thưa, việc quân hầu đại náo cầu Tràng Bản, một mình đánh lui hàng vạn quân tướng Tào, quát chết Hạ Hầu Kiệt ra sao?

– À! Lúc ấy chúng ta đang thua trận, Lưu Huyền Đức chạy trước, ta cũng chỉ còn mấy chục quân kị theo sau. Đến cầu Tráng Bản thì thấy địa thế có thể chống cự được cho Huyền Đức có thời gian trốn thoát, ta quyết định dừng lại. Ta sai bọn lính kị lấy cành cây buộc vào đuôi ngựa chạy bên kia đám cây làm bụi bay mù lên, một mình đứng giữa cầu để cản giặc không cho vượt qua, càng lâu càng tốt.

Quân Tào kéo đến, thấy ta đứng trên cầu, đằng sau lại thấy bụi bay mù mịt, tưởng quân phục đang triển khai nên dừng lại. Tào Tháo đến, dừng ngựa quan sát. Tào Tháo vốn sợ phục binh, thấy bụi bay mù, tưởng đối phương đang triển khai quân phục nên mới rút thôi. Còn chuyện quát mà Hạ Hầu Kiệt sợ quá đứt ruột chết là bịa thôi. Trong lúc Mạnh Đức đang quan sát và tính toán thì Hạ Hầu Kiệt, một viên tướng trẻ định xông lên cầu giao chiến. Ta thấy một tên nhãi con mà cả gan lên vuốt râu hùm liền quát to một tiếng. Con ngựa y cưỡi giật mình chồm lên quay đầu lại, quẳng y ngã vào cái cọc nhọn. Cái cọc đâm y thủng bụng nên chết ngay. La lão tô vẽ cho ta thêm oai, nhưng như thế là không tốt đâu.  

– Thưa Quân hầu, Phạm Cương, Trương Đạt đều là người làm việc cho Ngài, trong truyện lại nói hai kẻ đó giết Quân hầu, việc đó hư thực ra sao ạ?

– Chuyện hơi dài đấy Lê Vân ạ. Khi ta mới được tấn phong Lãng Trung hầu, thì hai tên Phạm Cương, Phạm Đạt chỉ là loại thợ may khố rách, áo ôm. Đầu tiên hai tên mang lễ vào gặp xin được nhận may quần áo cho lính dưới quyền ta. Ta cho rằng việc đó cũng đơn giản, vì không thuê chúng thì cũng phải thuê người khác. Ta gọi tên phụ trách quân lương đến, bảo y giao việc cho Phạm Cương, Phạm Đạt.

Lần đầu chúng làm tốt lắm, quần áo đẹp, chỉ, vải đều tốt, tiết kiệm được chi phí, mọi người rất hài lòng. Sang đến lần thứ hai, giá có cao lên đôi chút, song quần áo vẫn đảm bảo. Sau hai đợt, Phạm Đạt xin vào thăm và biếu ta viên huyền ngọc đẹp lắm, ước bằng quả trứng chim. Biếu ta viên ngọc đẹp ấy, Phạm Đạt cúi đầu xin nhận ta là nghĩa phụ. Ta thích viên ngọc và cảm cái lòng thành của hắn, đổi hắn sang họ Trương. Từ đấy, Trương Đạt, Phạm Cương là thợ may quần áo, trang bị cho đội quân dưới quyền ta. Hai tên ấy và viên quản lí quân lương cứ ngày tuần, ngày tiết đều vào phủ biếu ta quà. Có những lần ba tên sai người gánh đến biếu ta cả vạn ngân lượng.

Mấy năm sau, tài sản của viên quản kho và của Trương, Phạm nở ra nhanh lắm. Chúng giàu lên trong thấy, ăn mặc sang trọng, đi lại ngênh ngang chẳng coi ai ra gì cả. Ta hỏi các thuộc hạ, hầu như không ai dám nói, ai cũng chỉ lắc đầu kêu không biết. Đến một ngày nọ, ta thấy bức xúc, gọi một thủ túc thân tín vào phòng riêng hỏi, người đó ấp úng:

– Thưa Quân hầu, ba tên ấy nhúng tay vào tất cả các lĩnh vực làm ăn của đất Lãng Trung này. Chúng moi móc tiền trong công quỹ, chúng ức hiếp, bóc lột tàn tệ mọi người dân nên mới giàu sang như vậy.

– Ta giao cho ngươi đi điều tra, ngươi có làm nổi không?

– Thưa, Trương Đạt là nghĩa tử của Quân hầu, tiểu nhân đâu dám làm, đụng đến là y chém tiểu nhân trước đó.

– Theo ngươi thì ai giúp ta được việc này?

– Thưa, chỉ có Đại công tử mới có thể giúp hầu gia việc đó.

– Trương Bào là võ tướng, không am hiểu về tiền tài, kinh tế, hắn không thể tìm hiểu kĩ được.

– Nếu có Đại công tử đi cùng, tiểu nhân có thể làm giúp được Quân hầu.

Ta rút Trương Bào về đi cùng tên tiểu lại ấy đến các nơi tìm hiểu. Ba tháng sau hai đứa quay về phủ đường trình bày cho ta tất cả mọi vấn đề. Thì ra, bước đầu ba tên ấy lấy lòng ta nên mẻ quân nhu đầu ai cũng khen. Thấy dư luận ai cũng bảo chúng làm tốt, thế là ta tin chúng tuyệt đối. Các lần sau chúng bớt dần, bớt dần để lấy tiền chi tiêu riêng. Sang năm thứ ba thì binh khí và quân nhu chỉ được mua sắm có một nửa, nửa số còn lại ba tên chia ra làm bốn phần, phần lớn nhất cúng biếu ta, phần thứ hai là của Trương Đạt, hai phần còn lại là hai đứa. Thế là mỗi năm bọn chuột ấy ăn cắp trên mười vạn lạng kim ngân để chia chác, con chuột lớn nhất lại là ta!

Có tiền, bọn chúng bắt đầu chiếm đất. Lũ Trương Đạt và tên nắm giữ quân nhu đến đâu cũng đưa ra cái danh công tử nhà họ Trương để lòe thiên hạ mà làm bậy. Lấy lí do cần đất cho quân đồn trú bảo vệ bốn cổng thành, ba đứa cướp không hàng chục mẫu đất, đuổi hàng trăm gia đình đang sinh sống gần bốn cổng thành đó đi, không cần biết họ khó khăn gì. Dân mất đất, mất nhà đến khiếu kiện thì bị chúng chặn lại từ xa, dùng quân mang vũ khí đánh đuổi, hàng trăm người bị thương trong các vụ xô sát ấy.

Sau khi chiếm xong số đất ấy, chúng có xây bốn đồn gác cạnh bốn cổng thành, mỗi đồn chứa chục tên để đóng mở cổng. Toàn bộ số đất còn lại chúng cho dựng nào nhà chứa, nào quán rượu, nào chỗ bán hàng… Cả khu liên hợp buôn bán phía Đông là đẹp và đông khách nhất, chúng cho không đứa con gái lớn ta để kinh doanh, kiếm lãi. Bọn này lợi dụng Trương ta suốt ngày rượu bí tỉ, không biết gì nên làm bậy.Bọn chúng còn cướp nhiều bờ xôi, ruộng mật của dân đang canh tác để xây tư dinh, để lấy đất cho làm thuê lấy tô, tức.

Ăn cướp đất chán, chúng quay ra bóc lột các nhà buôn. Lấy danh nghĩa công tử trong Trương phủ, Trương Đạt bắt các nhà buôn hàng năm nộp kim ngân cho y để đổi lấy việc được vận chuyển hàng trong đất Lãng Trung. Ba tên ấy còn liên kết với các nhóm thảo khấu để làm việc này. Kẻ nào không nộp đủ, chúng đưa ngay bọn thảo khấu chặn đường cướp hết hàng hóa, thậm chí có vụ chúng giết hết cả một đoàn người buôn. Tình hình Lãng Trung thật là rối loạn.

Trương Bào nóng nảy, xin ta cho gọi ba tên ấy vào, bắt giết đi và xung công tất cả tài sản của ba nhà ấy. Tay tiểu lại cẩn thận hơn, xin cho gọi ba tên vào, giao cho quan xét xử, có văn án hẳn hoi, thi hành công khai để răn đe kẻ tham nhũng. Ta thấy tay tiểu lại có lý, nhưng công khai xét xử thì ta cũng sẽ là một tội đồ, đứa con gái lớn ta cũng là một tội đồ nữa, nên ta chưa quyết định ngay. Ta đưa Trương Bào trở lại tiếp tục huấn luyện quân sĩ, để ta và tay tiểu lại cân nhắc thêm.

Trong lúc ta đang đắn đo, cân nhắc thì cái tin Trương Bào và tay tiểu lại đi xem xét mọi việc đã đến tai ba đứa tham nhũng. Ba đứa lập tức vào trong phủ, xin ta tìm cách cứu chúng. Ba đứa khóc lóc thảm thiết lắm, làm ra vẻ rất ân hận về những tội lỗi của mình. Một mặt chúng khóc lóc van xin ta, mặt khác chúng cũng hé lộ cho ta thấy nếu xét xử chúng công khai, thế nào ta cũng dính vào sự việc bẩn thỉu ấy. Tội chúng tày đình, không thể tha được, nhưng nếu xét xử chúng, tất là mình cũng có tội như chúng, làm cách nào đây? Ta gợi ý chúng, nếu tự mang hết tài sản nộp vào cho công quỹ, thì ta tha tội và cũng im nhẹm sự việc ấy đi. Tay tiểu lại tuy thấy không phải, nhưng hắn vì rất trung thành với ta, nên cũng đành chịu theo.

Công việc được quyết định vậy, ta thấy mừng vì mình cũng vượt qua được một cái khó ở đời nên ta mang rượu ra uống cho thật say. Ba tên ấy về nhà suy nghĩ, chúng tiếc cái gia sản kếch xù của mình, nên họp lại bàn nhau. Chúng thống nhất chỉ có giết ta, tay tiểu lại và Trương Bào thì mới bịt được chuyện này, giữ nguyên được gia sản của chúng. Bàn bạc xong, chúng giắt dao vào phủ hại ta, cái cảnh chúng giết ta mà La lão tả là đúng đấy, tên coi quân nhu canh chừng bên ngoài, còn Phạm Cương, Trương Đạt vào ám hại ta. Xong công việc, chúng tìm sang nhà định giết tên tiểu lại.

Tên tiểu lại tinh khôn, y không tin ba tên tham nhũng hối cải, nên y không ở nhà mà trốn ra ngoại thành nghe tin tức đã. Thấy ta bị giết, y mượn ngựa phi một mạch đến báo tin cho Trương Bào. Y và Trương Bào kịp đưa quân về, hai đứa làm cỏ sạch sẽ cả gia đình ba đứa rồi mới cấp báo về Thành Đô cho Tiên chủ. Xuống dưới cõi âm này, mọi tên gian tham phải quỳ sám hối, ta cũng quỳ chung sân với ba tên đó. Sân thì nắng rọi, đói và khát nước suốt ngày, xung quanh sân chỉ có một lũ chó ngao dữ tợn ngồi canh. Ở đời ăn uống cũng chẳng được nhiều, chết chả mang được gì đi theo. Xuống cõi âm quỳ sám hối vì tội tham nhũng cực khổ và nhục nhã vô kể Ngài Lê Vân ạ. Có lẽ ta kể cũng đã hết đấy.

– Vô cùng đội ơn Quân hầu.

 

 Hồi thứ mười bốn

TRIỆU VÂN LIỀU MÌNH  VÌ  A ĐẨU

TỬ LONG  THA ĐỊCH, CỨU KHỔNG MINH

Trời về đêm hè, gió mát hây hẩy, trăng lúc tỏ, lúc mờ, sương rơi đã thành hạt, tôi kiên trì ngồi đợi Võ Hương hầu Gia Cát Lượng. Đợi khá lâu, tôi thiu thiu ngủ gật trên chiếc ghế bên hè. Bỗng có tiếng vó ngựa đều đều làm tôi thức lại; quái lạ, Thừa tướng nhà Thục Hán có đi ngựa đâu nhỉ? Tôi vừa ngồi lại cho ngay ngắn thì một con ngựa bạch phi vào trong sân. Vừa đến giữa sân, con ngựa dừng ngay lại, chủ nhân của nó nhanh nhẹn nhảy xuống và nhẹ nhàng bước lên hè. Dưới ánh trăng, tôi nhìn, thành ra không phải Gia Cát Lượng mà là Thường Sơn Triệu Tử Long. Sau khi ông an tọa, tôi cúi đầu kính cẩn chào:

– Vãn sinh Lê Vân xin kính chào Đại tướng quân!

– Chào Ngài Lê Vân, Gia Cát Thừa tướng vẫn dở ván cờ mấy hôm nay, ta đành đến trước vậy.

– Thưa, Đại tướng quân có thể cho vãn sinh biết chút ít về xuất thân của Ngài chăng?

– Ta sinh ở Thường Sơn, trong một gia đình khá giả. Lúc trẻ, cha mẹ ta cho theo sư phụ học văn, khi gần mười tuổi, sư phụ mới dạy ta học võ. Sư phụ thường bảo ta: Thời loạn, nam nhi phải cố công học rèn võ thuật để giúp nước, giữ nhà. Con cố công luyện rèn cho tinh thông võ nghệ để lớn lên ra giúp đời. Ban đầu sư phụ dạy ta cả mười tám ban võ nghệ, sau thấy ta ham đánh thương, nên ông truyền hết bí quyết về thương mã cho ta. Sư phụ ta có tài múa thương, ông múa thương có thể gạt tên của hàng trăm cung thủ bắn ra một lúc, tên rơi lả tả xuống đất, không một mũi phạm vào mình. Hàng chục năm theo sư phụ học thương mã, nên ta rất thành thạo nghề này Ngài ạ.

Mới xuất thân ta theo Công Tôn Toản, người đang cai quản địa phương mà gia đình ta sống. Theo ông một thời gian, ta được gặp Lưu Huyền Đức, Huyền Đức cũng mến tài của ta và mời ta theo ông. Bước đầu ta cũng có chút cảm tình với ông ấy, nhưng chưa nỡ bỏ Công Tôn Toản. Thế rồi Huyền Đức không ở lại Bình Nguyên nữa, ông dẫn quân về Từ Châu cứu Đào Khiêm. Đào Khiêm mất, Lưu Bị ở lại làm quan Thái thú, trấn nhậm ngay đất ấy.  Công Tôn Toản thấy ta mới, không tin dùng nên để Viên Thiệu đánh bại, thân chết, nhà tan. Cái thời hủ lậu ấy thì mạnh ai nấy làm, đánh giết nhau tranh đất đai, tranh của cải xảy ra liên miên ấy mà.

Công Tôn Toản chết, ta một thân vô chủ định đi Từ Châu tìm Huyền Đức, lại nghe tin Từ Châu bị Lã Bố chiếm mất, rồi tin Tào Tháo đã diệt Lã Bố và đánh đuổi Huyền Đức khỏi Tiểu Bái, phải chạy sang với Viên Thiệu… Một thân không chỗ dựa, ta vẫn định đi tìm Huyền Đức. Một buổi trưa, ta đi qua một con đường hẻm ven một quả núi khá cao. Đường độc đạo, trưa hè nắng oi rất khó chịu, người ngựa đều khát nước. Ta đang tìm một chỗ nào có nước để uống và cho ngựa xuống tắm qua rồi tiếp tục hành trình của mình. Rất may, ngay dưới đường đi có một lạch nước chảy trong vắt. Ta xuống uống nước, cho con bạch mã uống rồi tắm cho nó. Con ngựa đang khát, được uống nước mát, được tắm táp thích quá hí vang lên. Tắm xong, ta dắt nó lên đường chuẩn bị hành trình thì thấy cả hai đầu đường có bọn người cầm đao, thương chặn lại. Một tướng người to, đen, đội mũ trận, cầm đại đao, cưỡi con ngựa đen tiến đến quát:

–  Này! Tên kia, nếu biết điều có bao nhiêu của cải và con ngựa mang đến đây nộp cho lão gia thì ta cho đi qua. Nếu nói nửa lời không thì ta sẽ cho làm ma không đầu.

Đường độc đạo, hai bên đều bị bọn cướp trấn giữ, đi xuống lạch nước thì không còn đường. Đánh giết bọn này thì ta có thể, nhưng tự dưng giết những người nghèo khổ quá phải bỏ nhà đi làm thảo khấu thì ích gì? Tiền của ta chả có là bao, nên cũng không tiếc, nhưng con bạch mã ta dùng lâu, trải qua bao trận đánh nên ta coi nó như người bạn. Vả lại đưa nộp cho bọn cướp rồi thì còn ngựa đâu mà đi? Ban đầu ta nhẹ nhàng:

– Tâu đại vương! Tiểu nhân mới đi qua con đường này lần đầu, chưa biết uy danh của đại vương. Xin đại vương cho tiểu nhân đi qua. Có bao niêu tiền của trong người tiểu nhân xin nộp hết. Chỉ xin đại vương để cho con ngựa vì tiểu nhân có việc phải đi xa.

– Đi thế nào mặc mẹ nhà ngươi! Xuống ngựa nộp mau kẻo đại vương ta không muốn nói dai.

Đi đường, ta không mang ngọn thương, chỉ có thanh kiếm tùy thân, thấy ta có vẻ thư sinh tên đầu đảng cướp càng làm già. Ta đang trù trừ tính kế thoát ra thì tên đó xô ngay lại bổ ta một nhát đao cực mạnh. Không nói nữa, ta rút kiếm ra đối phó. Tránh được nhát đao, ta nhảy ngựa sát vào y chọc cho một mũi kiếm. Tên đầu đảng to người, nhưng khá nhanh nhẹn, hoảng hốt nhảy ngựa lùi lại nên tránh được nhát kiếm đầu. Hắn tiếp tục múa đao đánh ta, ta không dùng kiếm đỡ mà chỉ tránh rồi dùng kiếm chém hắn. Giá ta có kiếm thanh công như sau này, chắc hắn đã toi mạng rồi. Thanh kiếm thường không thể chém đứt cái áo giáp kiên cố của hắn mà chỉ làm hắn bị thương nhẹ. Đánh được mấy hiệp, hắn bắt đầu lùi dần, quân của hắn đứng nguyên, trố mắt xem hắn đánh với ta. Khi hắn lùi đến sát hàng quân đằng sau thì bọn cướp lao sang hai vệ đường nhường cho chúng ta đánh nhau. Đánh mấy hiệp nữa, hắn trúng đến hơn chục vết thương, liền quay ngựa bỏ chạy.

Bọn cướp ban đầu đứng xem chúng ta đánh nhau, sau thấy đại vương của chúng bỏ chạy, chúng vỗ tay cười ầm ĩ rồi tiến đến gần ta, chúng quỳ xuống xin hàng và tôn ta lên làm chủ trại. Đang một thân, một mình, bây giờ có một lũ tôi tớ hầu hạ, ta cũng định tá túc tạm để nghe xem Huyền Đức ở đâu sẽ đi tiếp. Ta theo chúng lên núi thì được biết người vừa đánh nhau với ta là Châu Sương, một người rất khỏe, có sức địch muôn người. Y cũng mới giết tên chủ trại cũ, dụ hàng bọn cướp này chưa được tháng nay. Ta lên trại nghỉ ngơi chưa trọn ngày đêm thì Châu Sương quay lại trại chửi bới, thách đánh. Giận quá, ta cầm cây thương, phi ngựa xuống núi định giết y. Thấy ta phi ngựa xuống, Châu Sương vội bỏ chạy ngay. Quan Vân Trường nhìn thấy ta liền xuống ngựa gọi to:

– Tử Long! Triệu Tử Long đấy ư?

Thấy người nhảy xuống ngựa, gọi tên, ta cũng nhảy xuống cung kính vòng tay, nhìn lại chính là Vân Trường. Đằng sau ông ta là Dực Đức và Huyền Đức. Ta về với Huyền Đức từ đấy.

– Thưa, La Quán Trung kể hai lần Đại tướng quân cứu A Đẩu, chuyện đó xảy ra đúng vậy không?

– Ta có cứu A Đẩu hai lần thực, hai lần đều rất khó khăn. Lần đầu, khi Tào Tháo đánh chiếm Kinh Châu, Lưu Bị bại trận rất nặng nề, định chạy về Tương Dương lấy quân của Lưu Tôn cự Tào, song Lưu Tôn không cho vào, ông ta đành chạy về Hán Tân, sai Quan Vân Trường sang Hạ Khẩu mượn quân Lưu Kỳ quay lại đánh nhau tiếp. Lúc sắp vào trận, Lưu giao cho ta trông nom, bảo vệ gia đình ông ấy.

Thế quân Tào lớn quá, ta có được ba trăm quân, không thể đương nổi. Trong lúc ta cố đánh cản thì ba trăm quân đã bị quân Tào giết sạch; gia đình Huyền Đức cùng bọn My Chúc, Tôn Càn cũng chạy tan tác cả. Ta cố đánh cản, dù giết được rất nhiều giặc, nhưng một thân, một mình không cản nổi cả vạn quân Tào tràn vào như thế nước đổ khi đê vỡ. Thế là ta cùng cả bọn lọt vào trong vòng vây của quân Tào.

Đánh lúc lâu, ngoảnh lại không thấy gia đình Huyền Đức đâu, ta liền phá vây, lùi vào khu dân chúng hỗn độn để tìm vợ con Huyền Đức. Ra khỏi vòng vây, ta phi ngựa vào chỗ dân tình đang chạy loạn cách đấy chưa đầy nửa dặm thì gặp một tướng trẻ tên là Hạ Hầu Ân dùng đao bổ xuống đầu ngựa của ta. Ta giật ngựa né tránh và lao cho y một ngọn thương. Y ngã ngay xuống, cái kiếm tuột khỏi bao văng ra. Ta nhìn thấy kiếm có chữ trạm vàng, biết là kiếm quý liền nhảy xuống ngựa cướp lấy thay cho thanh kiếm tùy thân của mình.

Đến chỗ dân chúng chạy loạn, không gặp gia đình Huyền Đức đâu cả, ta lại quay ngựa đi tìm. Đang tìm thì thấy My Chúc, Tôn Càn bị trói, bốn tướng Tào đang dẫn đi. Ta lao vào đánh giết luôn bốn tướng, cứu được hai người. Ta bắt lấy hai con ngựa cho hai người cưỡi và chỉ cho họ đi về cầu Tràng Bản với Trương Phi. Hai người đó ra roi phi miết chạy đi, còn ta quay lại tìm gia đình Huyền Đức. Quân của Lưu Bị hầu như đã bị diệt hết trong vòng vây quân Tào, chỉ còn số rất nhỏ lẫn trong dân chạy loạn, nên việc tìm của ta rất khó khăn. Ta phi ngựa xông xáo tìm đi, tìm lại chưa gặp gia đình Huyền Đức thì lại bắt gặp My Chúc, Tôn Càn và Cam phu nhân bị quân Tào bắt lại. Hai tướng Tào là Trung Tấn, Trung Thân đang trói giải ba người quay về nộp cho Tào. Ta lại lao vào đánh giết hai viên tướng đó, cứu họ ra. Giao cho Tôn và My bảo vệ Cam phu nhân theo sau ta, ta đánh ra đến cầu Tràng Bản. Giao ba người cho Dực Đức, ta quay lại tìm A Đẩu và My phu nhân.

Ta đi lại xông xáo hàng giờ trong vòng vây quân Tào, rất may đến một khu nhà đổ, ta thấy My phu nhân bị thương đang bế A Đẩu. Thấy ta đến, phu nhân trao A Đẩu cho ta rồi nhất định không lên ngựa. Nhùng nhằng chốc lát, bà lao đầu xuống giếng tự vẫn, để ta có ngựa cứu con bà. Ta bọc kĩ A Đẩu trong một lớp tã bông và bọc ngoài lớp giáp, đeo trong giáp trước bụng rồi nhảy lên ngựa tìm cách thoát ra. Vừa lên ngựa, gặp ngay mấy tướng Viên Thiệu đã hàng Tào vây đánh. Ta cố sức giết cả bốn người rồi phi ngựa chạy đi. Bây giờ nhiệm vụ nặng nhất là giữ cho A Đẩu sống, nên ta lấy gươm thanh công phạt bớt cây trường thương đi. Tay trái cầm đoản thương, tay phải gươm thành công, ta phá vây để thoát ra.

Tào Tháo đứng trên đồi cao, ông ta nắm rất vững tình hình của trận đánh. Thấy một tướng đi đến đâu người dạt hết ra, ông ta phất cờ điều khiển quân bao vây tiếp. Ta không được biết điều đó, nhưng cứ định hướng về cầu Tràng Bản mà chạy ra. Tay trái dùng thương che đỡ cho mình và A Đẩu, tay phải dùng gươm báu chém tất cả những gì cản đường đi. Con ngựa trắng ta cưỡi máu phủ kín, bộ giáp mặc đỏ lòm, không còn lộ chỗ nào trắng của màu bạc nữa. Con bạch mã khỏe và rất thuần, dễ điều khiển, ta luôn khiến nó bằng chân nên nó đã quen cứ theo hướng đến cầu mà đi.

Đang đánh ra thì gặp ngay tướng Ngụy là Văn Sính, y tiếp chiến được ba hiệp thì bị ta chém một gươm, bộ giáp rách toạc, y sợ quá bỏ chạy mất. Ta không ham đuổi, vẫn cố đánh giết mở đường thoát ra cầu. Giết đến tên lính cuối trước ngựa, ta tưởng đã thoát ra, không ngờ một tướng xồng xộc tế ngựa đến đánh, nhìn ra thì là Trương Cáp, một dũng tướng của Viên Thiệu đã về hàng Tào. Ta thì người ngựa đều mỏi, muốn đánh không thể đánh lâu, muốn chạy thì ngựa không còn sức, đành tiếp y. Ta định che đỡ rồi cũng dùng gươm báu tặng y một nhát như Văn Sính, nhưng Trương Cáp đảm lược hơn nhiều. Cây thương của y dài, không cho ta tiếp cận, nên ta chưa biết làm thế nào. Đúng lúc y lao cây thương vào ta, ta tránh thoát ra, tiện gươm thanh công, ta đưa một nhát, cây thương cụt hơn một nửa. Thấy vậy Trương Cáp kinh hoảng, y tế ngựa bỏ chạy. La lão viết Trương đuổi ta, ngựa ta sa xuống hố hay việc tám mươi ba vạn quân vây là không thật đúng đâu. Chắc vây ta hôm ấy cũng chỉ khoảng vài ba vạn quân Tào thôi. Thoát khỏi Trương Cáp, ta chạy qua cầu Tràng Bản, Dực Đức vẫn đứng trên cầu. Qua được cầu, ta theo Huyền Đức về Hán Tân, rồi về Hạ Khẩu. Còn cứu A Đẩu trên sông thì đúng nha La Quán Trung đã viết, ta không kể nữa.

– Thưa, trong đời chinh chiến của tướng quân, có những trận đánh nào đáng nhớ nhất?

– Ôi! Làm tướng thì phải ra trận, đánh nhau suốt đời ấy mà. Ngoài trận ta cứu A Đẩu, ta còn cứu Hoàng Trung, Gia Cát Lượng nữa. Chuyện cứu Hoàng Trung thì La tả khá kĩ rồi đấy, đại loại cũng vậy thôi, không có gì mới đâu, chỉ có chuyện ta cứu Gia Cát Lượng trong Nam chinh là không thấy La lão nói đến. Ta kể cho nghe nhé.

Trong thời gian Khổng Minh đưa quân đi đánh Mạnh Hoạch, nhờ có nhiều tướng giỏi và mưu trí của ông ta, quân Thục thắng nhiều lắm, nhiều lần bắt được Mạnh Hoạch, chúa của quân Nam. Bắt được mấy lần thì đến bây giờ quá lâu, ta không nhớ được chính xác, có thể đến ba, bốn lần ấy chứ chả ít đâu. Song lần cuối chính là lần Khổng Minh bị Chúc Dung phu nhân tóm được.

Lần ấy Khổng Minh sai ta và Ngụy Diên mang quân đi đánh Mạnh Hoạch ở gần suối Đào Hoa. Suối nước độc đó lội qua là rụng hết tóc, uống nước đó là chết ngay. Biết vậy, ta và Ngụy Văn Tràng lui quân về năm dặm, đóng quân ở đó đợi Mạnh Hoạch đến. Mạnh Hoạch đi mượn được mấy vạn quân giáp mây của nước Ô Qua. Quân đã mặc giáp mây thì tên bắn không thủng, gươm chém không đứt, nên bước đầu chúng ta bại trận, phải lui hơn mười dặm hạ trại. Ta chọn được chỗ có địa thế tốt, lập tức sai quân lấy gỗ đóng cọc, lập lũy thưa cản quân giáp mây, việc ấy làm trong một đêm, một ngày là xong. Quân ta không dám ra đánh, quân họ đến gần thì quân ta dùng giáo dài, cứ chân, cổ chúng, chỗ không có giáp mà đâm, mà xỉa. Thế là quân ta và quân Nam cứ nhùng nhằng cầm cự nhau bên cái chiến lũy đó.

Biết tin quân mình bại trận, Khổng Minh ở hậu cứ cách sau quân ta vài chục dặm, ông lui quân vào một cái thành cũ của Mạnh Hoạch, sai đắp thêm đất khá kiên cố để tạm cố thủ nếu tình hình xấu hơn. Trong thành, Khổng Minh cho dựng nhà cho quân ở và chỗ chứa lương thảo. Ông cho gọi Ngụy Diên về, bày cho mưu dụ quân giặc vào đường hẻm rồi dùng hỏa công. Văn Tràng trở lại bàn với ta thực hiện mưu đó.

Chúng ta dò tìm được một hang, chất sẵn củi khô trong hang và hai đầu rồi đến khiêu chiến. Mạnh Hoạch và thủ lĩnh quân giáp mây liền ra đánh. Ta giả thua, chạy vào hang, khi ta ra khỏi đầu kia thì quân lính lăn củi gỗ xuống lấp lối, bên kia hang Ngụy Văn Tràng cũng dùng củi gỗ bịt chặt lối ra rồi nhất tề phóng hỏa. Gần ba vạn quân giáp mây đều chết cháy trong hang. Ta và Văn Tràng quay lại đón đánh Mạnh Hoạch và thủ lĩnh quân giáp mây cùng mấy trăm quân sót lại. Tên thủ lĩnh giáp mây bị ta dùng gươm thanh công chém chết, mấy trăm quân còn lại bị quân Thục giết sạch. Mạnh Hoạch định chạy trốn, bị Ngụy Diên bắt sống điệu về trại.

Vừa về đến trại, ta được ngựa lưu tinh cấp báo, hậu cứ ở nhà đang bị quân Nam tràn vào đánh giết, cần dẫn quân về cứu ngay. Ta lại tất tả mang quân về cứu hậu cứ, nhưng đã quá chậm, cái thành Khổng Minh cố thủ đã bị hạ, toàn bộ tướng sĩ ở nhà đều hoặc bị giết hoặc bị bắt sống. Hiện Chúc Dung phu nhân đang chia quân Nam lên mặt thành phòng thủ.

Thì ra trong lúc cần người đắp thành, làm nhà một số quân Nam đã trà trộn vào cùng đắp với quan Thục. Vừa đắp xong thành thì Chúc Dung phu nhân dẫn quân đến đánh. Gia Cát Lượng đưa quân lên mặt thành dùng cung nỏ phòng giữ. Ông hi vọng chúng ta bắt xong Mạnh Hoạch sẽ quay về hợp công diệt nốt số quân còn lại của Chúc Dung. Không ngờ đêm ấy số quân Nam đã biết một lối đi bí mật vào thành mà trước kia họ để sẵn. Quân Nam theo lối ấy bí mật đi vào, họ cẩn thận ém sẵn những chỗ cần. Lúc ém xong, số quân trà trộn trước đốt lửa, quân mới vào chia nhau đánh phá. Trong trại Thục có Mã Đại giỏi thì đang về tải lương, không còn viên tướng nào có thể chống lại được Chúc Dung. Vả lại, bị đánh bất ngờ, chỗ nào cũng thấy lửa cháy, chỗ nào cũng có quân Nam, quân Thục hoảng hốt, tan rã. Thế là thành nhanh chóng bị hạ, Gia Cát Lượng bị bắt giải đến trước Chúc Dung. Tuy là nữ, nhưng bà cư xử rất đại lượng, quân tướng Thục bà cho giam lại, nhưng vẫn cấp ăn uống đầy đủ. Riêng Gia Cát Lượng, Chúc Dung vẫn đãi như một khách đến thăm nhà để trả ơn mấy lần ông không giết chồng mình.

Khi ta và Ngụy Diên dẫn quân về vây thành đất đó, Chúc Dung đưa quân lên mặt thành phòng bị vô cùng chắc chắn. Sau đó, bà tự bắn ra một phong thư kêu gọi hòa giải. Trong thư nêu rõ hiện nay bà đã bắt toàn bộ tướng sĩ quân Thục trong thành. Nếu hai bên giải hòa thì bà sẽ trả toàn bộ quân Thục và thừa tướng Gia Cát Lượng, với điều kiện quân Thục trả Mạnh Hoạch, sau đó phải rút qua sông Lư Thủy, lấy sông đó làm gianh giới, hai bên thề không xâm phạm lẫn nhau nữa.

Ta thì dĩ nhiên muốn hòa, Văn Tràng thì sợ bị lừa, yêu cầu được nhìn thấy mặt Thừa tướng đã mới bàn. Chúc Dung cho dẫn Gia Cát Lượng lên mặt thành và yêu cầu được nhìn thấy Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch đựơc cởi trói và dẫn đến ngay dưới lũy. Bước đầu ta và Chúc Dung chưa tin nhau, trao đổi thư từ được bắn bằng tên vào và ra. Ta sợ Thừa tướng bị hại nên đề nghị đánh đổi Mạnh Hoạch lấy Khổng Minh trước, Chúc Dung còn sợ chồng bị hại hơn ta, nên bà thuận ngay. Thế là hai cái thang tre được bắc lên mặt thành. Một tiếng trống đánh lên, Mạnh Hoạch thì trèo lên, Khổng Minh thì trèo xuống. Khi hai người về đến bên mình, quân hai bên đều tung giáo lên hoan hô ầm ĩ.

Gia Cát Lượng đã về, ông cám ơn ta và Văn Tràng; chính vì cái nghĩa đó, sau này các lần ra Kỳ Sơn, Khổng Minh tin và cất Ngụy Diên làm Đại tướng. Bây giờ việc điều đình là do Khổng Minh và Mạnh Hoạch. Khổng Minh thấy đánh mãi, hao binh, tổn tướng mà chưa chắc đã đi đến đâu; việc ông cần là ổn định biên giới phía Nam để có thể yên tâm phạt Ngụy, nên có ý muốn hòa. Mạnh Hoạch thì thấy khó thắng quân Thục, nên cũng có ý đó. Công việc hòa đàm nhanh chóng kết thúc. Ngày hôm sau toàn bộ quân Thục được trả về cho Khổng Minh, hai bên ăn thề lấy sông Lư làm biên giới. Trong buổi ăn thề, quân Nam theo lệnh của Mạnh Hoạch trả lại toàn bộ lương thực khí giới trong cái thành đất đó để Khổng Minh có lương mà thu quân trở về Bắc, từ đó hai bên không xâm lấn bờ cõi của nhau nữa.   

– Vãn sinh xin cám ơn Đại tướng quân vì những thông tin mới, rất bổ ích.

( Còn nữa )

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Biển đảo của ta ! Khi chiếc mặt nạ rơi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Mười Hai 2012
M T W T F S S
« Nov   Jan »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: