Các lỗi thông thường trong bài thơ Đường luật

27/11/2012 at 7:55 sáng Để lại bình luận


Các lỗi thông thường trong bài thơ Đường luật

Thơ Đường hay Đường thi (chữ Hán:唐诗) là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà thơ người Trung Quốc sáng tác trong khoảng từ thế kỉ 7 – 10 (618 – 907). Các sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường thi gồm 48.900 bài. Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú thành “Đường thi tam bách thủ” được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc, Việt Nam…

Thơ Đường có thể chia ra làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 – 713), Thịnh Đường (713 – 766), Trung Đường (766 – 835), Vãn Đường (835 – 907).

Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là “Tứ kiệt” gồm Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương và Vương Bột đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước. Tới Trần Tử Ngang thì có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của “Kinh thi” và “phong cốt Hán Ngụy”, chủ trương làm thơ phải có “kí thác”, nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường như Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn. Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ “kí thác” đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, tuỳ người sáng tác theo đạo Nho, đạo Phật hoặc theo Lão Trang.

Thơ Đường có loại thơ như sau: “biên tái” (Cao Vích, Sầm Tham sáng tác), thơ “điền viên” (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên sáng tác), thơ “tân nhạc phủ” (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn sáng tác), thơ “chính nhạc phủ” đời Vãn Đường (sáng tác Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc) và theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị sáng tác).

Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật Đường, thơ Cổ phong và Nhạc Phủ.

Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong Vích hợp với phong cách phóng túng của ông. Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình. Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở Vích cũng khác nhau. Nhưng về ngôn ngữ, thơ Đường tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú. Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ; đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ. Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến. Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Muốn một bài thơ Đường hay và đúng niêm luật phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định theo luật thơ. Ngày nay số người còn làm thơ Đường không nhiều và cảm nhận cái hay cũng không còn bao nhiêu.

Sau đây tôi xin giới thiệu một số lỗi thường gặp phải khi sáng tác một bài thơ theo thể thơ Đường luật.

1. Thất luật

Để biết một bài thơ có thất luật hay không thì nhìn vào các chữ thứ 2, 4, 6.

Trong mỗi cặp câu thì các chữ thứ 2, 4, 6 của câu trên phải khác nhóm thanh (bằng hay trắc) với chữ thứ 2, 4, 6 của câu dưới.

Trong cùng một câu thì chữ thứ 2 phải khác nhóm thanh với chữ thứ 4 và cùng nhóm thanh với chữ thứ 6. Ví dụ bài thơ thất luật:

Tự trào

Vùng đất Sơn Tây nảy một ông

Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng

Sông Đà núi Tản ai hun đúc

Bút thánh câu thần sớm vãi vung

Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh

Khuyên khuyên điểm điểm có hay không

Bởi ông hay quá ông không đổ

Không đổ ông càng tốt bộ ngông                  (Tản Đà)

Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo

Cửa son đỏ loét tùm hum nóc

Hòn đá xanh rì lún phún rêu

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo

Hiền nhân quân tử ai là chẳng

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

                          (Hồ Xuân Hương)

2. Thất niêm

Muốn xét một bài thơ có thất niêm hay không thì nhìn chữ thứ 2:

– Chữ thứ 2 câu 2 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 3

– Chữ thứ 2 câu 4 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 5

– Chữ thứ 2 câu 6 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 7

– Chữ thứ 2 câu 8 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 1

Ví dụ bài thơ thất niêm:

Dĩ hoà vi quý

Ở thế đừng tranh tiếng trượng phu

Làm chi cho có sự đôi co

Ðấy cậy đấy khôn, đây chẳng nhịn

Ðây rằng đây phải, đấy không thua

Duật nọ hãy còn đua với bạng

Lươn kia hầu dễ kém chi cò

Chữ rằng: Nhân dĩ hòa vi quý

Vô sự thì hơn, kẻo phải lo

             (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Hà tiện

Giàu thì ba bữa khó thì hai

Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy

Nón đổi lá ngoài quần đổi ống

Dép thay da mặt túi thay quai

Dặn vợ có cà đừng gắp mắm

Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai

Thế gian mặc kẻ cười hà tiện

Ta chẳng phiền ai chẳng luỵ ai

                       (Nguyễn Minh Triết)

3. Lạc vận/Cưỡng vận

Vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc cho thơ. Do đó cần phải tránh gieo vần cưỡng ép hay lạc vận. Nếu không dùng vần chính thì nên lựa vần thong càng gần nhau càng tốt.

Ví dụ bài thơ lạc vận:

Thu vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào

Mấy chum trước giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào

Nhân hứng đã vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

                         (Nguyễn Khuyến)

Than thời loạn

Lửa hồng từ dậy mái thành đô

Đòi chốn lầm than chyện được thua

Xanh biếc thú quê người ẩn dật

Bạc đen đường thế khách bôn xu

Suy tường mỗi mỗi đau lòng trí

Tính quẩn trần trần nát dạ ngu

Muốn đến Vỵ Xuyên tìm hỏi Lữ

Rằng Thương xưa cũng thế này ư

                             (Khuyết danh)

Thơ cưỡng vận:

Không chồng mà chửa

Cả nể cho nên hoá dở dang,

Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,(1)

Phận liễu sao đà nảy nét ngang.(2)

Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?(3)

Mảnh tình một khối thiếp xin mang.(4)

Quản bao miệng thế lời chênh lệch

Những kẻ không mà có mới ngoan

                                  (Hồ Xuân Hương)

(1)-(2) ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ Phu là chồng; chữ Liễu là rõ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử là con. Hai câu này ý nói: Gái chưa chồng mà sao đã có con trong bụng?

(3)-(4) Tình và nghĩa gắn liền đặc tính truyền thống của Hồ Xuân Hương nhấn mạng cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.

(5) Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ý một câu ca dao: “Không chồng mà chửa mới ngoan; Có chồng mà chửa thế gian sự thường”!

Đêm buồn

Trời không chớp bể với mưa nguồn

Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn

Bối rối tình duyên cơn gió thoảng

Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông

Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện

Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng

Ngủ quách sự đời thây kẻ thức

Bên chùa thằng trọc đã hồi chuông

                           (Trần Tế Xương)

4. Thất đối

Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ Đường luật. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ Đường luật nữa. Ví dụ bài thơ thất đối:

Nghe hát

Phách ngọt đàn say nệm gối êm

Tiếng ca buồn nổi giữa trời đêm

Canh khuya đưa khách lời reo ngọc

Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm

Ai lạ nghìn thu xa tám cõi

Sao vàng như động phía châu liêm

Nao nao khói biếc hài thương nữ

Trở gối hoa lê rụng trắng thềm

                         (Vũ Hoàng Chương)

Nghẹn bước

Nắng rụng gầy sương đường lỡ thì

Thương người khăn gói nghẹn chân đi

Quán nghiêng nửa mái chờ giông tố

Ngõ hẹp mây đùn sập nét mi

Quỷ dựng đàng sau muôn lớp ải

Lòng nghe nai gặm cỏ biên thuỳ

Xoa tay nhớ lại mùa xuân trước

Phấn bướm còn vương nhịp trúc ty

                                           (Vũ Hân)

5. Khổ độc

Lỗi khổ độc rất phổ biến trong các người làm thơ Đường luật mà không rành luật thơ, ngay cả đối với một số nhà thơ nổi tiếng cũng có khi mắc phải. Ví dụ:

Hát bội

Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi

Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi

Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc

Kẻ nịnh râu hoe mấy sợi còi

Trên trính có nhà còn lợp lọng

Dưới chân không ngựa lại giơ roi

Hèn chi chúng nói bội là bạc

Bôi mặt đánh nhau, cú lại thoi

                             (Phan Văn Trị)

6. Trùng vận

Thơ Đường luật chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.

Tuy nhiên nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau, không phạm lỗi. Tuy nhiên không nên để hai vần đồng âm gần nhau để tránh nghe đọc không hay. Ví dụ:

Thăng Long Thành hoài cổ

Tạo hoá gây chi cuộc hí trường

Đến nay thắm thoát mấy tinh sương

Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường

                      (Bà Huyện Thanh Quan)

Chữ “trường” câu 1 với chữ “trường” câu 8 có nghĩa khác nhau nên không phạm lỗi trùng vận .

Cũng vậy trong bài sau, hai chữ cờ có nghĩa khác nhau:

Cảm tác

Mấy chục năm qua gió bụi mờ

Tưởng rày bớt đục hoá thêm nhơ

Mặt đành bôi mặt gà chung mẹ (*)

Tay sẵn ngon tay gió phất cờ (**)

Ruột đứt non song trời Bến Hải

Sầu vương cây cỏ đất Cần Thơ

Đêm đêm dưới nguyệt gươm mài hận (***)

Ai nữa chung tay lật thế cờ

                                 (T. X.)

(*) Gà nhà bôi mặt đá nhau

(**) Theo gió phất cờ

(***) thơ Đặng Dung: Kỷ độ Long tuyền đái nguyệt ma (dưới trăng bao bận tuốt gươm mài)

Nhưng nếu để hai vần đồng âm gần nhau sẽ nghe rất dở! Ví dụ:

Tám phương bước lạc đến công trường

Thấy cảnh tình ai khỏi đoạn trường

                                     (Khuyết danh)

7. Trùng từ

Cùng một chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.

Ví dụ bài thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan bị trùng từ ở hai chữ “cũ” Dùng lại chữ một lần thì tạm chấp nhận, dùng lại hai, ba lần thì bài thơ bị đánh giá là kém cỏi.

Trong trường hợp sử dụng mỹ từ pháp điệp ngữ thì không tính là lỗi. Ví dụ:

Dại khôn

Thế sự đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn ?

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Mấy kẻ nên khôn đều có dại

Những người có dại mới nên khôn

Cái khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn

                           (Trần Tế Xương)

Ghẹo cô bán cau

Hỏi cau ai bán tiếng nghe rao

Tốt vóc mà trong biết thế nào

Giấu để trong buồng e đóng đục

Bày ra trước mắt thấy ngon dao

Muốn mua nên phải coi từ vú

Có bán xin cho thử chút mào

Chuốt ngót của mình ai dám chắc

Biết lòng biết mặt xỉa tiền trao

                            (Đỗ Thanh Tân)

Hỏi thăm ông ấm

Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà

Trước nhà có miếu có cây đa

Vườn ao đất cát chừng ba thước

Nửa lá tre pheo đủ mọi toà

Mới sáu bận sanh đà sáu cậu

Trong hai dinh ở đủ hai bà

Lưng ông mốc thếch như trăn gió

Ông được phong lưu tại nước da

                          (Trần Tế Xương)

Cũng là trùng từ khi hai chữ đọc khác nhau nhưng cùng một nghĩa, Ví dụ:

Tặng biệt

Dù bắc dù nam cũng một trời

Ba sinh tan hợp cái trò chơi

Cười ta tri kỷ bên mình ít

Mừng bạn cao đường dưới gối vui

Trăng nước Cù Giang duyên mãi thắm

Cỏ hoa Hồng Lĩnh bút thêm tươi

Những đêm êm ấm lòng rung động

Là biết nơi đây tớ nhớ người

                                            (T.X.)

Ta và tớ đều nói cùng một nghĩa, phạm lỗi trùng từ nên giá trị bài thơ cũng giảm sút nhiều.

8. Trùng ý

Trong bài thơ Đường luật nếu có câu chữ nào lặp lại ý của các câu chữ đã dùng mặc dù dùng từ khác đi thì cũng bị lỗi trùng ý. Nếu lỗi trùng ý nằm trong hai câu thực, hoặc hai câu luận thì gọi là hiệp chưởng (câu trên câu dưới đối nhau mà ý nghĩa giống nhau như hai bàn tay úp lại). Ví dụ:

Thách họa

Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ

Càng nhìn càng nghĩ lại càng dơ

Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm

Gõ vỡ trần gian tiếng mõ trưa

Chu tử ngán mùi nên vải ấm

Đỉnh chung lợm giọng hoá chay ưa

Lên đàn cứu khổ toan quay lại

Bể ái trông ra nước đục lờ

            (Công chúa em Minh Mạng)

Vịnh pháo tre

Đông tàn xuân đã đến đây be

Bốn phía rền vang những pháo tre

Mắng tiếng giật mình loài quỷ xó

Nghe hơi mất vía lũ ma hè

Trêu người trướng gấm kinh hồn điệp

Ghẹo kẻ màn loan tỉnh giấc hoè

Trừ cựu mượn chàng kêu một tiếng

Mừng xuân muôn cửa chán tai nghe

                                   (Hương Kiểu)

Nếu hai cặp thực và luận trùng ý nhau thì gọi là sàng túc (hai chiếc giường chồng lên nhau) hay là điệp sàng xá ốc (giường nhiều lớp, nhà gác chồng).

9. Phạm đề/Mạ đề

Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề. Ví dụ:

Theo voi ăn bã mía

Ăn mía theo voi tiếng đến giờ

Vì chi miếng bã để trò dơ

Rón chân những chực khi vòi nhả

Rát lưỡi đành xơi cái ngọt thừa

Ấy đã theo đuôi thời phải hít

Còn đâu nên tấm nữa mà vơ

Nghìn năm bia miệng là câu thế

Những khách ăn tàn đã biết chưa

                                     Tản Đà

Bài này bị phạm đề ở chữ theo trong câu 5.

10. Điệp điệu

Điệp điệu là khi nhiều câu liên tiếp ngắt nhịp cùng một cách. Lỗi này thường hay xảy ra ở các câu giữa của bài thơ. Ví dụ:

Giữ mực thanh liêm

Chớ nghĩ là quan đã bảnh bao

Yêu nhau một giống nghĩa đồng bào

Bới lông tìm vết / lòng không nỡ

Giục bị xui nguyên / tội xiết bao

Dấu đỏ loè dân / trò lính lệ

Môi thâm hót nhảm / lối cường hào

Kiếm xu không phải mình không thạo

Bắt nạt dân đen có lẽ nào

                           (Đặng Xuân Bảng)

Hằng Nga

Hỡi chị Hằng Nga náu Quảng Hàn

Bốn mùa trăng gió với giang san

Áo tiên / tuy nhuộm / mùi Vương Mẫu

Hương tục / còn nồng / lửa Hậu Lang

Mắt phượng / đã say / miền ngọc thỏ

Cung nghê / nỡ phụ / khúc cầm loan

Nếu không duyên nợ cùng người thế

Xin chớ gieo mình nước hợp loan

                             (Hồ Xuân Hương)

11. Bình đầu

Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt. Ví dụ:

Đĩ già đi tu

Lầu xanh thánh thót tiếng chuông chiền

Tỉnh giấc Cao đường lúc ngửa nghiêng

Mượn chiếc thuyền tình qua bể ái

Đưa con sóng sắc tới rừng thiền

Trông gương trí tuệ đau lòng tục

Lần chuỗi bồ đề kết trái duyên

Mát mẻ cửa Không trăng gió sẵn

Dầu chưa nên Phật cũng nên tiên

                                (Huỳnh Mẫn Đạt)

Đón Tết

Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy

Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh đường sắp gói e nồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành tết khác

Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo

                            (Trần Tế Xương)

12. Thượng vỹ

Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú  nếu chữ thứ 5, 6, 7 của nhiều câu liên tiếp (nhiều hơn 3) cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ. Ví dụ:

Khuyên người đời

Cho hay thiên hạ khéo xem gương

Hễ khó thời thôi mấy kẻ màng

Miệng nói đã đành mua chuyện ghét

Tay không chưa dễ ép người thương

Khéo khôn ai cũng tranh phần được

Trong sạch ta thời giữ mực thường

Ði lại chẳng qua thời với mệnh

Cũng đừng thắc mắc, chớ lo lường

                            (Nguyễn Công Trứ)

Than nghèo

Chẳng lợi danh gì lại hóa hay

Chẳng gì phiền lụy chẳng ai rầy

Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp

Trong thú yên hà mặt tỉnh say

Liếc mắt coi chơi người lớn bé

Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay

Của trời trăng gió kho vô tận

Cầm hạc tiêu dao đất nước này

                      (Nguyễn Công Trứ)

13. Điệp thanh

Trong thơ thất ngôn, một câu có 4 tiếng bằng và 3 tiếng trắc hoặc bốn tiếng trắc và ba tiếng bằng. Những tiếng bằng hay trắc đó phải có thanh độ khác nhau thì câu thơ mới giàu âm điệu. Ví dụ câu thơ có 4 tiếng bằng thì chỉ nên dùng 2 chữ có dấu huyền (trầm bình thanh), dùng 3 hoặc cả 4 chữ có dấu huyền làm câu thơ yếu ớt, giọng trầm trầm khó nghe. Ngược lại nếu dùng nhiều tiếng không dấu (phù bình thanh) sẽ làm câu thơ nghe ngang ngang không êm dịu. Ví dụ:

Cung oán

Trên đài hiu hắt ngọn đèn hoa

Gang tấc xem bằng mấy dặm xa

Một kiếp đã đành rằng để vậy

Chín trùng có thấu đến chăng là

Ỏi tai ngán nỗi đàn ve gảy

Tan mặt buồn tênh cái nhện sa

Ví biết than này chi khó bấy

Quyền môn chen chúc chẳng bằng thà

                                   (Ôn Như Hầu)

Than nghèo

Chẳng chán ru mà quấy mãi đây

Nợ nần dan díu bấy lâu nay

Mang danh tài sắc cho nên nợ

Quen thói phong lưu hoá phải vay

Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt

Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay

Còn trời còn đất còn non nước

Có lẽ ta đâu mãi thế này

                          (Nguyễn Công Trứ)

14. Điệp âm

Điệp âm là những chữ có cùng âm đứng gần nhau trong một câu hoặc cùng vị trí trong hai câu.

Ví dụ:

Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ

Chồn toan mượn lốt để hù nai

Giàn treo trã cá vung không đậy

Bếp tạt mưa đêm nước nhỏ đầy

Chim oanh đường cũ đương bay nhảy

Chồi quế sân trong muốn thập thò

                            (Khuyết danh)

Hai tiếng cùng âm đứng kế liền nhau, các từ đôi lắp láy thì không kể là lỗi.

Ví dụ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

                            (Nguyễn Khuyến)

Ngàn mai lác đác chim về tổ

Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà

                     (Bà Huyện Thanh Quan)

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

Chỉ vì một chút tẻo tèo teo

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc

Trái gió cho nên phải lộn lèo

                       (Hồ Xuân Hương)

15. Đại vận

Bài thơ Đường luật chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận

Ví dụ:

Bâng khuâng ngày xế cả than trời

Ai đố cho người gánh nạn đời

Làng đế đành theo ông hữu đạo

Cõi phàm hỗ ngó lũ vô quân …

                       (Nguyễn Đình Chiểu)

Siếu mai chi dám tình trăng gió

Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh

                           (Hồ Xuân Hương)

Một ngày hai bữa cơm kề cửa

Nửa bước ra đi lính phải hầu

                           (Trần Tế Xương)

Nước non nào phải của ai đâu

Nhiều ít công hầu cũng mặc dầu

                        (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

16. Tiểu vận

Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.

Ví dụ:

Chưa mở trí khôn đừng dở dại

Muốn xong việc nước phải êm nhà

                    (Nguyễn Đình Ngọc)

Chín bệ dâng lời dù khép nép

Bốn phương trông ngóng cũng nương nhờ

                            (Phan Huy Ích)

Ví dụ cả đại vận và tiểu vận:

Thi hỏng

Mai này tớ hỏng tớ đi ngay

Cúng giỗ từ nay nhớ lấy ngày

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín

Thi không ăn ớt thế mà cay

Sách đèn phó mặc đàn con trẻ

Thưng đấu nhờ tay một mẹ mày

“Cống hỉ” “mét xì” đây thuộc cả

Chẳng sang Tàu tớ cũng sang Tây

                          (Trần Tế Xương)

17. Phong yêu

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.

Ví dụ:

Để bụng phải đeo điều nhẹ nặng

Ôm tai mặc quách tiếng chê khen

                        (Trần Tế Xương)

Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến

Giong lèo thây kẻ ráp xui ghềnh

                       (Hồ Xuân Hương)

18. Hạc tất

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.

Ví dụ:

Nghe lời phi pháp tai làm điếc

Nghĩ nỗi nhân tình ruột lại đầy

                             (Khuyết danh)

Tôn Phu Nhân Qui Thục

Cật ngựa thanh gươm ven chữ tòng

Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông

Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc

Về Hán trau tria mảnh má hồng

Son phấn thà cam dày gió bụi

Đá vàng chi để thẹn non sông

Ai về nhắn với Chu Công Cẩn

Thà mất lòng anh được bụng chồng

                              (Tôn Thọ Tường)

Bài này câu 2 phạm phong yêu, câu 3 phạm hạc tất.

Cảm hoài

Chút nghĩa vương mang phải gắng đi

Tang bồng đành rõ khí nam nhi

Thuyền ngô phơi phới giăng hòn bạc

Khói đá phăng phăng lướt tích ti

La Hán dang tay chờ khách đến

Tướng quân hé mắt hẹn ngày về

Phen này miễn được hoà hai nuớc

Nỗi tớ xin đừng bận bịu chi

                  (Phan Thanh Giản)

Bài này câu 1, 4 phạm hạc tất, câu 5 phạm phong yêu.

19. Chánh nữu

Trong một câu có nhiều hơn hai chữ có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu. Ví dụ:

Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt

Làn ao long lánh bóng trăng loe

                          (Nguyễn Khuyến)

20. Bàng nữu

Nếu các chữ có cùng phụ âm đầu hoặc bắt đầu bằng nguyên âm nằm gần nhau trên hai câu liên tiếp thì phạm lỗi bàng nữu. Ví dụ:

Đón Tết

Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy

Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu

Bánh đường sắp gói e nồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi đành tết khác

Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo

                           (Trần Tế Xương)

Câu 1, 8 và câu 7 phạm lỗi chánh nữu, câu 1-2 phạm lỗi bàng nữu. Ví dụ:

Viếng thành Huế sau ngày đình chiến

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng

Sầu vương lau lách lạnh thành hoang

Tro tàn thư viện duyên ngao ngán

Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng

Gầy gọ gió sương tùng Thế miếu

Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang

Trông vời Thiên Mụ mây man mác

Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng        (T.X.)

Tài Liệu Tham Khảo

Wikipedia – Ái Hoa

Dương Quảng Hàm – Văn Học Việt Nam

Quách Tấn – Thi Pháp Thơ Đường

Về hai lỗi thường gặp nhất trong Sáng Tác Thơ Đường luật hiện nay: mạ đề và điệp  từ.

     Luật lệ Đường thi rất nghiêm nhặt. Ngoài những qui định cơ bản về số lượng  câu trong bài thơ và âm tiết (chữ, tiếng) trong câu, thanh (luật bằng trắc), niêm, vần, kết cấu (bố cục), tiết tầu (nhịp),đối ngẫu…, luật lệ Đường thi còn chỉ rõ  20 bệnh, lỗi thường gặp mà người sáng tác thơ Đường cần phải tránh mắc phải:
Tám bệnh  của Đường thi ( thể thất ngôn) là:
1. Bệnh Bình Đầu
2. Bệnh Thượng Vỹ
3. Bệnh Phong Yêu
4. Bệnh Hạc Tất
5. Bệnh Bàng Nữu
6. Bệnh Chánh Nữu
7. Bệnh Đại Vận
8. Bệnh Tiểu Vận
Và 12 lỗi  của Đường thi là:

1. Lạc vận
2. Lạc đề
3. Thất niêm, thất luật
4. Thất đối
5. Khổ độc
6. Điệp thanh
7. Điệp điệu
8. Điệp âm
9. Trùng vận
10. Trùng từ/điệp từ
11. Trùng ý /Hiệp Chưởng
12. Phạm đề/Mạ đề
Trong 20 lỗi, bệnh trên, có những lỗi như lạc vận, thất niêm, thất luật,.. người làm thể thơ Đường luật ít phạm phải, vì đã có qui định về niêm, luật, vần… trong luật lệ cơ bản,  có những lỗi như  điệp thanh, điệp điệu, điệp âm, thất đối…, người viết vẫn biết mà phải phạm do hạn chế về năng lực sử dụng ngôn ngữ. Điều đáng nói là trong sáng tác, giao lưu và trên các diễn đàn thơ Đường luật hiện nay, có 2 lỗi thường thấy nhất mà người làm thơ Đường luật và ban biên tập các trang thơ Đường luật  thường bỏ qua (nhất là trên các diễn đàn ở phía Bắc và của người Việt ở nước ngoài) là mạ đề và điệp  từ. Hiện trạng nầy xảy ra do 3 nguyên nhân: Thứ nhất là do cả người sáng tác lẫn người  phụ trách, biên tập các trang thơ Đường luật đó “không hề biết trên đời nầy” có 2 lỗi nầy; thứ hai là do tưởng rằng phạm vào 2 lỗi này cũng không hoặc ít ảnh hưởng đến nội dung bài thơ; thứ ba là do quan niệm của những người sáng tác và biên tập. Đây là điều đáng bàn. Nhiều thi hữu của TQH khi thơ được biên tập để sửa lại 2 lỗi nầy đã rất thực lòng khi nói: “Tôi chỉ mượn luật Đường thi để viết thơ thuần Việt(!), bất chấp và không cần biết những qui định khác!”. Họ quên rằng những bệnh, lỗi phải tránh khi viết thơ Đường luật cũng không nằm ngoài luật lệ Đường thi! Người tiếp thụ (độc giả) thơ Đường luật thì được, chỉ cần biết luật lệ cơ bản như đã nói ở trên là đủ để cảm hiểu , nhưng giới sáng tạo ( nhà thơ, người viết …) thơ Đường luật phải biết rành rẽ về phép tắc  Đường thi thì mới  sáng tác được bài thơ gọi là thơ luật Đường được (chưa nói đến chuyện thơ hay)!  Có người cũng rất thực lòng khi thơ được biên tập để sửa lại 2 lỗi nầy (cùng những lỗi, bệnh khác): “Tôi muốn vượt ra ngoài khuôn khổ gò bó, luật lệ nghiêm khắc!”. Thế thì cứ làm thơ tự do, như phong trào thơ mới đã  làm cách mạng trong thơ ca và ngày nay thơ hiện đại VN đang thừa kế, phát triển. Còn muốn nói đến ý muốn cách tân, đổi mới thơ luật thì trước hết phải  am hiểu sâu sắc về luật thi đă thì mới  nói  đến chuyện cách tân được! Không biết đối tượng là ai, là thế nào, ở đâu, mặt mủi ra làm sao, nguồn gốc, con cái nhà ai …, thì  làm sao sửa đổi đối tượng được! Hơn nữa, chủ nghĩa cổ điển trong văn học dù ràng buộc sáng tạo với những luật lệ nghiêm nhặt , nhưng lại có cái hay là xác định những chuẩn mực để bình ổn văn hóa và tạo điều kiện  cho sự sáng tạo trong khuôn khổ.  Chẳng hạn,  qui định về kết cấu của thơ Đường luật, nhất là thể  bát cú, với  bố cục chặt chẽ: đề, thực, luận, kết đã là cấu tứ  của bài thơ, cái TỨ có sẵn tặng người làm thơ. Người viết, ngoài TÌNH thật , TỪ hay , nếu Ý thơ  tuân thủ được kết cấu trên thì tứ thơ đã tự nhiên hình thành và bài bát cú đó là thơ, vì  đã có sẵn TỨ THƠ ( cái phải có để phân biệt thơ với vè, văn vần, khẩu hiệu…) do kết cấu chặt chẽ  tạo nên, không phải vè, văn vần, khẩu hiệu… rồi (dĩ nhiên giá trị của bài thơ còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác). Ngay trong 2 lỗi đang bàn đến: mạ đề và điệp từ, hai qui định nầy tạo điễu kiện cho người viết nâng cao  giá trị bài thơ. Qui định  về lỗi điệp từ ( vì nghèo từ vựng, vì không nghiêm túc trong sáng tạo nghệ thuật…)  giúp tác giả có sự chọn lọc những từ ngữ “đắt” nhấi,làm đẹp câu chữ, làm tăng giá trị nghệ thuật của bài thơ và  qui định về lỗi mạ đề  giúp cho tựa đề bài thơ thực hiện được trạng thái “phi giao tiếp” (Lời kị thẳng, Mạch kị lộ(*)_ Lê Quí Đôn),  làm tăng  giá trị thẩm mỹ của bài thơ. Trong luật thơ Đường và thi pháp thơ Đường, có những yếu tố mà thơ Đường luật VN đương đại cách tân thành công. Chẳng hạn về tiết tấu, thay vì nhịp 4/3 như qui định, thơ Đường VN đương đại dùng các nhịp phá cách như:  3/4, 2/5, 5/2, 2/3/2… trong nhiều bài thơ giá trị, hoặc về ngôn ngữ, thay cho từ ngữ ước lệ, tượng trưng, điển cố… trong thơ Đường luật truyền thống bằng ngôn  ngữ đời thường cụ thể, sinh động, hình ảnh, gợi cảm… trong nhiều bài thơ Đường luật được yêu thích. Nhưng có những yếu tố cơ bản của Đường luật không thể thay đổi được, vì nếu thay đổi sẽ biến dạng thành quái dị hoặc thành một loại thơ khác, chứ không còn là thơ Đường luật nữa!
Xin nói kỹ hơn về  2 lỗi thường gặp  nhất mà người làm thơ Đường luật và ban biên tập các trang thơ Đường luật hiện nay thường bỏ qua là mạ đề và điệp  từ.
1. Phạm đề/Mạ đề:
     Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề. Nói ngược lại và ngắn gọn, là đề không được dùng chữ trong 4 câu giữa  của bài thơ.
Người viết  ngày nay thường “lách luật”, tránh lỗi mạ đề bằng cách đưa tựa đề mà mình thích nhưng phạm mạ đề thành tựa phụ đặt sau tựa đề chính và  trong dấu ngặc đơn

2.Trùng từ/ điệp từ:  Cùng một  chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ, ngoại trừ trường hợp cố ý.

      Đó là cách giải thích thống nhất xưa nay như là một định nghĩa trong các sách vở, tài liệu, trên mạng…  viết về phép tắc, luật lệ Đường thi  đối với lỗi nầy. Theo nhận thức của chúng tôi,  trong 3 trường hợp cụ thể sau thì cùng một âm tiết được dùng nhiều lần ở trong bài thơ  vẫn  không bị qui vào  phạm lỗi điệp từ:
1) Dùng hai từ, ngữ, âm tiết hay  từ tố (viết ra gọi là chữ, đọc lên gọi là tiếng) đồng âm nhưng nghĩa gốc khác nhau (từ đồng âm dị nghĩa) như “cánh” trong “cánh chim” và ‘cánh” trong “canh cánh” thì không phạm điệp từ. Cần phân biệt với  trường hợp dùng nhiều lần các từ tố của một từ đa nghĩa (cùng nghĩa gốc) thì phạm lỗi điệp từ, chẳng hạn: dùng nhiều lần từ tố  “cánh” trong các từ: cánh chim, cánh quân, cánh quạt, cánh đồng,  cánh quạt, phe cánh, sát cánh, cánh gà (sân khấu), cánh cửa là phạm lỗi điệp từ, vì chúng dùng một hay nhiều nét nghĩa của một nghĩa  gốc ( có một trục, điểm tựa; dựa vào, di động, mở ra…  quanh trục, điểm tựa đó)  của một từ đa nghĩa.
2) Dùng nhiều lần một từ, ngữ, từ tố, câu, kiểu câu với dụng ý nghệ thuật thì là sử dụng biện pháp tu từ (xưa gọi là mỹ từ pháp) điệp ngữ thì  không phạm lỗi điệp từ
3) “Lách luật” bằng cách dùng từ biến âm, phương ngữ… đồng nghĩa hoàn toàn của từ đã dùng trong bài thơ, để không phạm điệp từ, chẵng hạn  2 từ  tố ” nghĩa” và “ngãi ”  trong các từ ghép sau: “nhân ngãi” và “tình nghĩa”.

Minh Thu

 

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Nhân đọc bài Bốc thơm Hoàng Quang Thuận của Hội nhà văn VN Luật bằng, trắc trong thơ Lục bát và Song thất lục bát

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Mười Một 2012
M T W T F S S
« Oct   Dec »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: