Giải mã Đường Thi ( 2 )

17/11/2012 at 7:59 chiều Để lại bình luận


( Tiếp theo )

2/5 TẶNG KHUYẾT HẠ BÙI XÁ NHÂN

Nhị nguyệt hoàng ly phi Thượng Lâm     (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Xuân thành tử cấm vãn âm âm

Trường lạc chung thanh hoa ngoại tận

Long Trì liễu sắctrung thâm

Dương hòa bất tán cùng đồ hận             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Tiêu hán thường huyền bổng nhật tâm

Hiến phú thập niên do vị ngộ

Tu tương bạch phát đối hoa trâm.

Tiền Khởi

 

Dịch thơ : TẶNG XÁ NHÂN HỌ BÙI TRONG CUNG

Vườn Thượng Lâm oanh bay tháng hai

Thành xuân cửa sấm sớm mờ phai

Hoa ngoài Trường Lạc chuông văng vẳng

Mưa giữa Long Trì liễu bẻ bai

Khí ấm không tan hờn khốn quẫn

Sông ngân còn đỡ nỗi quan hoài

Mười năm dâng phú thời chưa gặp

Tóc trắng trâm hoa luống thẹn cài!

Lê Nguyễn Lưu

 

3/5 TỰ CỦNG LẠC CHU HÀNH NHẬP HOÀNG HÀ TỨC SỰ, KÝ PHỦ HUYỆN LIÊU HỮU

(nêu rồi ở 3/4 Luật, nêu lại để thấy luôn phần Niêm)

Lục thủy thương thiên lộ hướng đông    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Đông Nam sơn khoát đại thông

Hàn thụ y vi viễn thiên ngoại                (bỏ Luật chữ thứ 6

Tịch dương minh diệt loạn lưu trung

thôn kỷ tuế lâm y ngạn                    (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Nhất nhạntìnhsóc phong

Vi báo Lạc Kiều du hoạn lữ

Thiên chu bất hệ dữ tâm đồng.

Vi Ứng Vật

 

Dịch thơ : KỂ VIỆC TỪ CỦNG LẠC ĐI THUYỀN VÀO SÔNG HOÀNG HÀ, GỬI CÁC BẠN CÙNG LÀM QUAN Ở PHỦ VÀ HUYỆN

Nước biếc trời xanh lối tới đông

Đông nam núi rộng một dòng thông

Cây lạnh mịt mù trời thẩm thẩm

Nắng chiều thấp thoáng nước bềnh bồng

Bờ kia mấy độ thôn nằm quạnh

Gió bấc trời trong nhạn liệng không

Nhắn giúp Lạc Kiều bè bạn cũ :

Lòng với thuyền con chẳng buộc đồng.

Lê Nguyễn Lưu

 

4/5 TỐNG TIỀN VỆ HUYỆN – LÝ THẨM THIẾU PHỦ

Hoàng điểu phiêu phiêu dương liễu thùy                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Xuân phong tống khách sử nhân bi

Oán biệt tự kinh thiên ngoại

Luân giao khước ức thập niên thì

Vân khai Mấn Thủyphàm viễn                              (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Lộ nhiễu Lương Sơn thất trì

Thử địa tòng lai khả thừa hứng                                 (bỏ luật chữ thứ 6)

Lưu quân bất trú ích thê kỳ.

Cao Thích

 

Dịch thơ : TIỄN ĐƯA QUAN THIẾU PHỦ – LÝ THẨM HUYỆN TIỀN VỆ

Vút giọng oanh vàng tơ liễu buông

Gió xuân tiễn khách dạ sầu thương

Chia ly ngàn dặm bao đau xót

Gắn bó mười năm mấy vấn vương

Mấn Thủy mây giăng buồm lẻ bóng

Lương Sơn ngựa chậm núi chen đường

Nơi đây ngày trước cùng vui thú

Chẳng giữ chân anh thật đáng buồn !

Đinh Vũ Ngọc

 

5/5 TÍCH VŨ VÕNG XUYÊN TRANG TÁC

Tích không lâm yên hỏa trì                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Chưng xuy thử hướng đông chuy

Mạc mạc thủy điền phi bạch lộ

Âm âm hạ mộc chuyên hoàng ly

Sơn trung tập tĩnh quan triêu cẩn         (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Tùng hạ thanh trai chiết lộ quỳ

lão dữ nhân tranh tịch bải

Hải âusự cánh tương nghi?

Vương Duy

 

Dịch thơ : LÀM Ở NHÀ VÕNG XUYÊN TRONG CƠN MƯA DẦM

Mưa dầm leo lét lửa rừng hoang    

Quê kệch canh lê cháo nếp xoàng

Nước ruộng mênh mông đàn hạc trắng

Cây hè dìu dặt cái oanh vàng

Xem cẩn ngồi thiền trong núi quạnh

Bè quỳ ăn nhạt dưới thông quang

Giành ngồi chiếu rượu kìa bao bác!

Âu biển vì đâu cứ ngỡ ngàng?

Lê Nguyễn Lưu

 

dạng Niêm Luật 12/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Trắc

          dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo

          nên xin mượn tạm một bài TNBC Đường Luật của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm

để thấy dạng thơ.

 

DĨ HÒA VI QUÝ

thế đừng tranh tiếng trượng phu       (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Làm chi cho sự đôi co

Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn

Ðấy rằng đấy phải đấy không thua

Duật nọ hãy còn đua đến bạng              (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Lươn kia hầu dễ kém chi

Chữ rằng : Nhân hòa vi quý

sự thì hơn khỏi phải lo.

Nguyễn-Bỉnh-Khiêm

 

dạng Niêm Luật 13/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Bằng

            Dạng Niêm Luật này có 1 bài ĐƯỜNG THI :

                                                                                                            

SỨ QUÂN TỊCH DẠ TỐNG NGHIÊM HÀ NAM PHÓ TRƯỜNG THỦY, ĐẮC “THÌ” TỰ

 

Kiều ca cấp quản tạp thanh ti                (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Ngân chúc kim bôi ánh thúy mi

Sứ quân địa chủ năng tương tống

doãn thiên minh mạc tọa từ

Xuân thành nguyệt xuất nhân giai túy    (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

thú hoa thâmkhứ trì

thanh báo nhĩ sơn ông đạo:

Kim nhậtNam thắng tích thì.

Sầm Tham

 

Dịch thơ : SỨ QUÂN ĐẶT TIỆC ĐÊM TIỄN QUAN DOÃN HÀ NAM HỌ NGHIÊM ĐI TRƯỜNG THỦY (lấy vần “thì”)

 

Hát vang sáo rộn nhịp đường tơ

Đuốc bạc ly vàng rạng ánh mơ

Chủ hạt sứ quân mời tiễn biệt

Thâu đêm Hà doãn chẳng đành ngơ

Thành xuân trăng mọc người say khướt

Đồn lính hoa đầy ngựa thẩn thơ

Xin với sơn ông lời nhắn gởi:

Hà Nam xưa kém hẳn bây giờ.

Lê Nguyễn Lưu

 

dạng Niêm Luật 14/16 : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Trắc

          Dạng Niêm Luật này có 2 bài ĐƯỜNG THI :

 

1/2 PHỎNG LÃ DẬT NHÂN BẤT NGỘ (nêu rồi ở 2/4 Luật, nêu lại để thấy luôn phần Niêm)

Đào nguyên diện diện tuyệt phong trần (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Liễu thị nam đầu phỏng ẩn nhân

Đáo môn bất cảm đề phàm điểu

Khan trúctu vấn chủ nhân

Thành ngoại thanh sơn như ốc lý                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Đông gia lưu thủy nhập tây lân

Bế hộ trừ thư đa tuế nguyệt

Chủng tùng giai tác lão long lân.

Vương Duy

 

Dịch thơ : THĂM NGƯỜI ẨN HỌ LÃ, KHÔNG GẶP

Đào Nguyên gió bụi cách xa đây

Nam Liễu thăm ai ẩn chốn nầy

“Phàm điểu” dám đề lên cổng trước

Chủ nhân chẳng hỏi ngắm tre gầy

Non xanh ngoài quách như trong mái

Nước đổ nhà đông đến xóm tây

Đóng cửa bao năm ngồi viết sách

Hàng thông đã mọc vảy rồng đầy.

Lê Nguyễn Lưu

 

2/2 LONG TRÌ  

 

Long trì dược long, long phi,      (N. 1-3 2-4, L. Bằng, câu 1 bỏ Luật 2 chữ 4 và 6

Long đức tiên thiên, thiên bất vi.

Trì khai thiên hán phân hoàng đạo,

Long hướng thiên môn nhập tử vi.

Để đệ lâu đài đa khí sắc,                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Quân vương phù nhạn hữu quang huy.

Vị báo hoàn trung bách xuyên thủy,      (bỏ Luật chữ thứ 6

Lai triều thử địa mạc đông quy.

Thẩm Thuyên Kỳ

 

Dịch thơ : AO RỒNG

 

Ao Rồng rồng nhảy, rồng bay đi,

Trời với đức rồng chẳng trái nghi.

Ao khơi Thiên Hán chia Hoàng Đạo,

Rồng hướng Thiên Môn tới Tử Vi.

Dinh thự lầu đài tươi khí sắc,

Quân vương thần tử rỡ quang huy.

Hoàn vũ trăm sông xin nhắn bảo:

Chầu đây, còn phải chảy đông chi!

Lê Nguyễn Lưu

 

dạng Niêm Luật 15/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Bằng

Dạng Niêm Luật này không có trong 3 quyển ĐƯỜNG THI tham khảo

nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật để thấy dạng thơ.

 

BÁC LÁ YÊU DẤU !

 

Bác  vui đùa bạn hữu đông                (Niêm 1-3 2-4, luật Trắc

Ông đi vắng lặng hỏi buồn không ?

Chỉ lối ngay đường thường đụng chạm

Lời ngay nẻo phải khó tương đồng

Tình ơi kính Lão đời thanh thản              (Niêm 1-3 2-4, luật Bằng

Bạn hởi thương người nước đục trong

Chờ Rơilại đừng xa nhé

Bé tịt hồn thơ muối xát lòng. 

Vancali

         

dạng Niêm Luật 16/16 : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Trắc

            Dạng Niêm Luật này có 2 bài ĐƯỜNG THI :

 

1/2 ĐỀ ĐÔNG KHÊ CÔNG U CƯ

Đỗ Lăng hiền nhân thanh thả liêm     (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc, bỏ Luật chữ ‘Lăng’

Đông Khê bốc trúc tuế thời yêm

Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu

Môn thùy bích liễu tự Đào Tiềm

Hảo điểu nghinh xuân ca hậu viện                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Phi hoa tống tửutiền thiềm

Khách đáo đãn tri lưu nhất túy

Bàn trung chi hữu thủy tinh diêm.

Lý Bạch

 

Dịch thơ : ĐỀ CHỖ Ở ẨN CỦA ĐÔNG KHÊ CÔNG

Đỗ Lăng đã nổi tiếng người hiền

Về ẩn Đông Khê trải mấy niên

Nhà cận núi xanh như Tạ Diễu

Cửa buông liễu biếc tựa Đào Tiềm

Đón xuân chim quý ca sau viện

Mời rượu hoa bay múa trước hiên

Khách đến nài nhau say một bữa

Trong mâm chỉ có muối tinh nghiền.

Đinh Vũ Ngọc

 

2/2 CHƯỚC TỬU DỮ BÙI ĐỊCH (nêu rồi ở 4/4 Niêm, nêu lại để thấy luôn phần Luật)

Chước tửu dữ quân quân tự khoan                            (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Nhân tình phiên phúc tự ba lan

Bạch thủ tương tri do án kiếm

Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan

Thảo sắc toàn kinh tế thấp                                    (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Hoa chi dục động xuân phong hàn

Thế sự phù vântúc vấn

Bất như cao ngọa thả gia xan.

Vương Duy

 

Thơ dịch : RÓT RƯỢU MỜI BÙI ĐỊCH

Mời anh cạn chén để nguôi sầu

Tráo trở tình đời khác sóng đâu

Tóc trắng quen thân còn thủ kiếm

Cửa son hiển đạt lại cười nhau

Mưa dầm cỏ dại càng phơi phới

Gió lạnh hoa xuân chịu dãi dầu

Chuyện thế mây trôi thôi chớ hỏi

Chi bằng ăn ngủ khỏi lo âu.

Đinh Vũ Ngọc

            Bài mẫu của 16 dạng Niêm Luật cho thấy rõ ràng thi nhân đời Đường làm bài Thất Ngôn Bát Cú với 2 bài Tứ Cú tự do theo Niêm riêng, Luật riêng. Dạng Niêm Luật nào cũng cho được âm điệu hài hòa cho bài Thất Ngôn Bát Cú Đường Thi.

 

1.5 Các chi tiết khác của 2 bài Tứ Cú

 

            Tuy ít thấy nhưng trên nguyên tắc, ngoài việc áp dụng sự tự do Niêm và Luật, 2 bài Tứ Cú cũng được tự do dùng số vần (2 hay 3 chữ Vần) và dùng thanh vần (vần Trắc hay vần Bằng).

 

a/ Về số Vần

            Trong những bài TNBC ĐƯỜNG THI:

– bài Tứ Cú trên thường dùng 3 vần, nhưng thỉnh thoảng cũng có bài dùng 2 vần như bài ĐỒNG BÁCH QUÁN đã nêu làm mẫu cho Thể Luật a/.

– còn bài Tứ Cú dưới thì ngược lại, trong 3 quyển sách tham khảo, chỉ gặp duy nhất bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC của Vương Bột là dùng 3 vần cho bài Tứ Cú dưới. Những bài ĐƯỜNG THI khác đều dùng 2 vần có lẽ để tiện viết cặp đối nơi hai câu 1-2 của bài Tứ Cú dưới.

 

b/ Về vần Trắc hay vần Bằng

 

            Thơ TNBC ĐƯỜNG THI có thể dùng vần Trắc hay vần Bằng. Nhưng trong ba quyển ĐƯỜNG THI Trích Dịch, Cảm Dịch và Tuyển Dịch nêu trên, những bài được chọn dùng toàn vần Bằng. Nên xin dùng tạm một bài TNBC Đường Luật dưới đây làm mẫu thơ vần Trắc.

            Bài này có dạng Niêm Luật giống bài ĐĂNG TÙNG GIANG DỊCH LÂU BẮC VỌNG CỐ VIÊN của Lưu Trường Khanh, nhưng dùng vần Trắc:

 

ĐÀN XƯA NHỊP MỚI

 

Đâu biết ai yêugọi hỡi                 (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc, vần Trắc

Tình xuân luôn nóng khi chờ đợi

Thư hồng một bức nhạn cưu mang

thắm đôi dòng oanh nhắn gởi

Những ngày xuân sắc cứ đi qua         (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Nửa trái tim vàng chưa kịp tới

Tìm đâu ra được khách tri âm

Đưa bản đàn xưa theo nhịp mới !

LCR

 

1.6 Một bài thơ “PHÁ CÁCH”

 

Trong 3 quyển ĐƯỜNG THI nêu tên ở phần trên, chỉ gặp duy nhất một bài thơ TNBC có thể gọi là thơ « phá cách » dưới đây :

 

VÕNG XUYÊN BIỆT NGHIỆP

trên 1-4 2-3 luật Trắc, dưới 1-2 3-4 luật Trắc

Bất đáo Đông sơn hướng nhất niên               (Niêm 1-4 2-3

Qui lai tài cập chủng xuân điền

trung thảo sắc lục kham nhiễm

Thủy thượng đào hoa hồng dục nhiên

*Ưu lậu tỳ khưu kinh luận học             (Niêm 1-2 3-4)

U trượng nhân hương hiền

Phi y đảo tỷ thả tương kiến

Tương hoan ngữ tiếu hành môn tiền.

Vương Duy

* bài Tứ Cú dưới : Niêm câu1 với câu2 và câu3 với câu4, không trúng vào 2 cách Niêm thông dụng của thơ Tứ Cú.

 

Dịch thơ : BIỆT THỰ Ở VÕNG XUYÊN

Đông Sơn chẳng đến trọn năm nay

Về gặp mùa xuân kịp cấy cày

Cỏ dại trong mưa xanh biếc biếc

Hoa đào trên nước đỏ hây hây

Tỳ hưu học đạo bàn kinh kệ

Bô lão làm gương giữ tháng ngày

Khoát áo trở giày tìm gặp bạn

Nói cười trước cổng thật vui thay !

Đinh Vũ Ngọc

 

1.7 Một bài thơ áp dụng sự phóng khoáng tột cùng

 

Tiêu biểu cho sự phóng khoáng tột cùng là bài Đằng Vương Các của Vương Bột, cho thấy 2 bài TC trên và TC dưới hoàn toàn tự do dùng mọi đặc điểm của thơ Tứ Cú :

Niêm : trên / dưới khác nhau, Luật : trên / dưới giống nhau.

số chữ vần : dùng 3 chữ vần cho cả bài Tứ Cú dưới (thông thường bài TC dưới chỉ dùng 2 chữ vần)

vần Bằng / Trắc : TC trên dùng vần Trắc, TC dưới dùng vần Bằng

Và bài thơ được lưu truyền như là một kiệt tác. Đã nêu rồi nhưng xin nêu lại để thấy rõ những đặc điểm vừa kể trên.

ÐẰNG VƯƠNG CÁC

Ðằng Vương cao các lâm giang chử   Niêm 1-4 2-3, 3 vần “u” thanh Trắc

Bội ngọc minh loan bãi ca

Họa đống triêu phi Nam phố vân

Châu liêm mộ quyển Tây sơn

Nhàn vân đàm ảnh nhật du du                       Niêm 1-3 2-4, 3 vần “u” thanh Bằng

Vật hoán tinh di kỷ độ thu

Các trung đế tử kim tại ?

Hạm ngoại trường giang không tự lưu.

Vương Bột

 

Dịch thơ : ÐẰNG VƯƠNG CÁC

Gác Đằng cao ngất bên sông sâu

Múa hát đàn ca vắng bấy lâu

Nam phố mây mai in cột chạm

Tây sơn mưa xế cuốn rèm châu

Mây trôi đầm lặng soi bao thuở

Vật đổi sao dời trải mấy thâu

Trong gác con vua đâu vắng bóng ?

Hiên ngoài sông nước vẫn trôi mau.

Đinh Vũ Ngọc

 

PHẦN II. DẢI SỐ Kiểm Soát 1-8 2-3 4-5 6-7

 

Hầu hết các nhóm chơi thơ Đường Luật hiện nay đều dùng dải số trên đây (1-8 2-3 4-5 6-7) để Kiểm Soát những bài thơ làm ra. Bài thơ phải Niêm đúng với sự qui định của dải số thì mới được công nhận là thơ TNBC Đường Luật.

Phân tách cấu trúc của dải số Kiểm Soát 1-8 2-3 4-5 6-7 thì thấy những kết quả như sau

2.1 Dải số không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 của thơ Tứ Cú

Do các nhóm số KS 2-3 và 6-7, dải số bắt buộc bài Bát phải dùng 2 bài Tứ Cú cùng theo phép Niêm 1-4 2-3.

Vì thế nên những bài TNBC ĐƯỜNG THI với 1 hay 2 bài Tứ Cú dùng phép Niêm 1-3 2-4 thì bị loại ra.

2.2 Dải số không chấp nhận 2 bài Tứ Cú trên/dưới có Luật khác nhau

Do các nhóm số KS 1-8 và 4-5, dải số bắt buộc bài Bát Cú phải dùng 2 bài Tứ Cú cùng có Luật giống nhau.

Vì thế nên những bài TNBC ĐƯỜNG THI với 2 bài Tứ Cú có Luật khác nhau thì bị loại ra.

2.3 Dải số vô tình chấp nhận những bài thơ “dở tệ” của người mới học

 

Ngược lại, cấu trúc của dải số với phép Niêm theo từng cặp 1-8 2-3 4-5 6-7, thì lại cho phép chấp nhận những bài thơ Bát Cú vụng về sai bét về Niêm, của những người mới tập chơi thơ Đường Luật.

Xin nêu 3 bài gặp được trên một diễn đàn :

 

TÌNH NGHĨA 2

Ăn rồi cũng phải ăn cơm

Dẫu gặp toàn những món ngon

Dưới biển, rừng sâu bao thức quí

Vườn thìvịt múp non

Ai ai cũng muốn xơi cho biết

Gọi thay đổi cái kèo rơm

Rồi về bếp lục tìm cơm nguội

Chiên lên thì nguội cũng thành dòn!  

 

GHÉ THĂM VÀ HỌC HỎI

Bài thơ ai viết với vần ‘tui’

Càng đọc càng nghe thấy thật vui

Quên mất thời gian không chút tiếc

Mãi xem mãi đọc miệng mãi cười

Thật tình khen bạn thơ hay quá

Càng xem càng thấy khoẻ thêm thôi

Xem thơ học hỏi vần thi mới..

Câu văn đúng luật, thẳng đường ngôi.

 

LẠI CÙNG BAY

Trăm năm một kiếp mộng này

đủ vui buồn lẩn ngọt cay

Những phút ái ân ai cũng nhớ

Những lần đau khổ xác thêm gầy

Kẻ mong thêu dệt câu trao gửi

Người chờđiểm chữ say

Cơn mưa khi tạnh trời thêm sáng

Như chim liền cánh lại cùng bay.

3 bài thơ vừa nêu có các câu đều đúng Luật : nhì-tứ-lục phân mình, và toàn bài lại Niêm đúng theo 1-8 2-3 4-5 6-7.

            Đây là những bài thơ vụng về của người mới học nên dĩ nhiên không kể sự thiếu sót nhiều về phần đối ngẩu. Nhưng về Niêm, tuy sai bét so với các bảng Luật của thơ TNBC Đường Luật, nhưng lại hoàn toàn ăn khớp với sự quy định của dải số.

 

2.4 Lý do thực sự khiến có những bài TNBC ĐƯỜNG THI nằm ngoài dải số

 

            Sự phân tách trên đây cho thấy rõ ràng rằng vì dải số không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 và cũng không chấp nhận hai bài Tứ Cú có Luật khác nhau, nên có một số lớn bài TNBC ĐƯỜNG THI danh tiếng nằm ngoài dải số.

            Tại sao không chấp nhận phép Niêm 1-3 2-4 là 1 trong 2 phép Niêm chính thức của loại thơ Tuyệt Cú ?

            Tại sao không chấp nhận hai bài Tứ Cú khác Luật nhau ?

Sự pha trộn hai Luật Trắc và Bằng cũng như hai phép Niêm 1-3 2-4 và 1-4 2-3 trên 2 bài Tứ Cú hoàn toàn không hề gây trở ngại nào cho phần âm thanh của bài Bát Cú Đường Thi, mà thường là ngược lại, giúp cho bài thơ sống động hơn. Bài mẫu của các dạng Niêm Luật đã cho thấy rõ ràng như thế.

 

2.5 Hai cách giải thích hoàn toàn thiếu căn bản hợp lý

 

            Vì cho rằng thơ Niêm đúng theo dải số mới là thơ TNBC Đường Luật chính thống, nên người chơi theo dải số phải tìm cách giải thích lý do tại sao có những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng nằm ngoài dải số.

Có hai cách giải thích được dùng : hoặc gọi đó là thơ “phá cách” hoặc cho đó là thơ Cổ Phong.

Tuy nhiên hai giải thích này đều rất là gượng ép, không có căn bản thuyết phục như trình bày dưới đây:

 

2.5.1 Giải thích với câu “Đại gia văn chương bất câu Niêm Luật”

 

Để giải thích sự nằm ngoài dải số KS của những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng lưu truyền, có người dùng câu “đại gia văn chương bất câu Niêm Luật” để cho rằng các nhà thơ lớn, sau khi đã nổi danh, bèn phá cách chơi.

Nhưng khó chấp nhận lập luận này vì số tác phẩm bị coi là thất Niêm “phá cách” đó quá nhiều. Chỉ riêng trong 3 quyển Đường Thi tham khảo nêu trên đã có đến 26 bài nằm trong 14 dạng Niêm Luật nằm ngoài dải số. Nhà thơ Quách-Tấn, dù rất trung thành với dải số, cũng nói lên sự không đồng ý như sau :

’’ Có người trông thấy những bài thơ Thất Niêm Thất Luật phần nhiều là của các danh gia, cho nên bảo « Ðại gia văn chương bất câu Niêm Luật ». Sự thật, niêm luật đối với người đã thạo nghề chẳng khác những đường mòn trong xóm đối với người địa phương, muốn đi cho đúng có khó khăn gì. Thiết tưởng sự Thất Niêm Thất Luật kia là cố tình chớ không phải sơ ý. Tất có lý do. Nhưng dù chi chi đi nữa, chúng ta – kẻ hậu học – vẫn không nên bắt chước.’’ (trích Thi Pháp Thơ Ðường của Quách-Tấn, trang 168)

Tuy chưa thấy cái lý do, nhưng Quách-Tấn vẫn quả quyết là « việc dùng Niêm/Luật theo những cách ấy tất có lý do ».

Và cái lý do đó, sự giải mã đã cho thấy như trên : « Hai bài Tứ Cú của bài Bát Cú được tự do dùng Niêm và Luật khác nhau. »

 

2.5.2 Giải thích rằng những bài thơ nằm ngoài dải số KS đó là thơ Cổ Phong

 

Vì thấy khó chấp nhận câu « Đại gia văn chương bất câu Niêm Luật » nên một số khác tìm cách gán ép gọi những bài đó là thơ Cổ Phong :

Và để có thể làm thế, một bài thơ Đường luật tương tự được đưa ra làm mẫu, là bài « Vịnh Dế Duỗi » của Tú Quỳ.

Bài VỊNH DẾ DUỖI giống bài HOÀI CỔ TÍCH – Kỳ Nhị của Đỗ Phủ, thuộc dạng Niêm Luật 11/16, là 1 trong số 14 dạng Niêm Luật nằm ngoài dải số.

Bài « Vịnh Dế Duỗi » của Tú Quỳ có câu đầu dùng lục ngôn thể là : « Kiến chẳng kiến, voi chẳng voi ».

Ý tác giả muốn nói rằng con dế duỗi chẳng nhỏ như con kiến, cũng chẳng to như con voi.

Nhưng một chữ ‘phải’ được thêm vào ở vị trí thứ 3 : « Kiến chẳng phải kiến voi chẳng voi » khiến cho ba chữ nhì-tứ-lục đều là Trắc, để rồi dựa vào đó mà đem bài Vịnh Dế Duỗi làm mẫu cho thơ Cổ Phong.

Trong khi đó nếu thêm đúng ý tác giả là : « Kiến chẳng kiến voi chẳng voi » thì câu thơ sẽ có ba chữ nhì-tứ-lục phân minh.

Nhận xét toàn bài thơ Vịnh Dế Duỗi thì thấy như sau :

 

VỊNH DẾ DUỖI

Kiến chẳng kiến () voi chẳng voi    – lục ngôn thể nếu bỏ chữ (mà)

Ðời sanh dế duổi cũng choi choi

Ngắn cánh lên trời không đủ sức

Co tay vạch đất cũng khoe tài

Mưa tuôn gió tạt lên cao

Lửa bỏng dầu sôi nhảy đến chơi

Quân tửthương thời chớ phụ

Ðể cho bay nhảy thử coi.

Tú Quì

Đây đúng là một bài thơ Đường Luật, vì trong mỗi câu các chữ nhì-tứ-lục đều phân minh đúng luật, hai cặp 3-4 và 5-6 đối nhau chỉnh tề, toàn bài chỉ dùng có một vần, và chỉ dùng 8 câu.

Còn thơ thất ngôn Cổ Phong đúng theo định nghĩa thì phải là :

– toàn bài có thể dùng 6, 8, 10, 12 câu            

(vậy tại sao không chọn bài mẫu khác hơn 8 câu ?)

– toàn bài có thể dùng nhiều vần

(vậy tại sao không chọn bài mẫu có hơn một vần ?)

– không cần phải đối

(vậy tại sao không chọn bài mẫu không có đối ?)

– không cần theo Niêm Luật

(vậy tại sao không chọn bài mẫu với nhì-tứ-lục chẳng phân minh ?

Và thắc mắc sau cùng là : tại sao không dùng một bài thơ Cổ Phong lưu truyền từ thời Tiền Đường, Sơ Đường làm mẫu mà lại dùng một bài thơ của thi nhân hiện đại Việt Nam ?

Như trên vừa cho thấy : bài Vịnh Dế Duỗi không mang một đặc điểm riêng nào của thơ Cổ Phong. Nhưng vẫn được đem dùng làm mẫu để có thể xếp vào loại thơ Cổ Phong những bài ĐƯỜNG THI theo dạng Niêm Luật tương tự, không tương ứng với dải số 1-8 2-3 4-5 6-7.

2.6 Thử tìm nguyên nhân phát sinh ra dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7

Trong số 16 dạng Niêm Luật được thi nhân đời Đường dùng để làm loại thơ Thất ngôn Bát Cú ĐƯỜNG THI, thì dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7 chỉ tương ứng với 2 dạng Niêm Luật có nhiều bài nhất là :

Dạng Niêm Luật 1/16 : Tứ Cú trên Niêm 1-4 2-3, luật Bằng; Tứ Cú dưới Niêm 1-4 2-3, luật Bằng

và Dạng Niêm Luật 4/16 :Tứ Cú trên Niêm 1-4 2-3, luật Trắc; Tứ Cú dưới Niêm 1-4 2-3, luật Trắc

Ở thời khoa cử, người ta có lý do để qui định cho các sĩ tử chỉ dùng 2 dạng Niêm Luật có rất nhiều bài này thôi.

Vì nếu áp dụng tất cả kỹ thuật nêu trên của ĐƯỜNG THI, với 16 dạng Niêm Luật trên lý thuyết, thì việc chấm thi sẽ rất phiền toái, mất nhiều thì giờ, và có khi ngoài tầm tay của một vài vị giám khảo.

Nếu giả thuyết trên đây là đúng thì dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7 được lập ra để dùng cho giới khoa trường: Các sĩ tử dùng nó để kiểm soát những bài thơ làm để dự thi. Các giám khảo dùng nó để chấm thi.

PHẦN III. CÁCH CHƠI PHÓNG KHOÁNG CỦA ĐƯỜNG THI VỚI THI NHÂN VIỆT NAM

3.1 thơ của thi nhân tiền bối

Thi nhân tiền bối của chúng ta vẫn có những bài thơ chơi theo cách phóng khoáng của thi nhân đời Đường. Một ít bài đã nêu ở phần trên không phải do sưu tầm mà chỉ tình cờ gặp được. Xin nêu lại nơi đây với vài nhận xét.

 

VỊNH DẾ DUỖI

Kiến chẳng kiến, () voi chẳng voi   (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Ðời sanh dế duổi cũng choi choi

Ngắn cánh lên trời không đủ sức

Co tay vạch đất cũng khoe tài

Mưa tuôn gió tạt lên cao ở                             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Lửa bỏng dầu sôi nhảy đến chơi

Quân tửthương thời chớ phụ

Ðể cho bay nhảy thử coi.

Tú Quì

bài VỊNH DẾ DUỖI thuộc dạng Niêm Luật 11/16, giống bài HOÀI CỔ TÍCH – Kỳ Nhị của Đỗ Phủ

 

HÀ TIỆN

Giàu thì ba bữa khó thì hai                             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy

Nón đổingoài quần đổi ống

Dép thay da mặt túi thay quai

Dặn vợ đừng gắp mắm*                        (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai

Thế gian mặc kẻ cười tiện

Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.

Nguyễn-Minh-Triết

bài HÀ TIỆN đưọc dùng làm mẫu cho dạng Niêm Luật 2/16

* nhờ đổi luật nơi câu “Dặn vợ có cà đừng gắp mắm” mà nhạc thơ đổi điệu nghe rất đậm đà.

 

DĨ HÒA VI QUÝ

thế đừng tranh tiếng trượng phu (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Làm chi cho sự đôi co

Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn*

Ðấy rằng đấy phải đấy không thua

Duật nọ hãy còn đua đến bạng                      (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Lươn kia hầu dễ kém chi

Chữ rằng : Nhân hòa vi quý

sự thì hơn khỏi phải lo.

Nguyễn-Bỉnh-Khiêm

bài DĨ HÒA VI QUÝ đưọc dùng làm mẫu cho dạng Niêm Luật 12/16

* nhờ dùng phép Niêm 1-3 2-4 với câu “Đây cậy đây khôn đây chẳng nhịn” mà nhạc thơ nghe bốc mạnh lên.

 

CẢM CỰU TỐNG TÂN XUÂN CHI TÁC (bài I)

Xuân này nào phải cái xuân xưa,                    (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

sớm ư ? thời lại trưa.

Cửa động hoa còn thưa thớt bóng,

Buồng thoa oanh khéo dập dìu

Phong lưu trước mắt bình hương nguội,  (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Quang cảnh trong đời chiếc gối mơ.

Cân vàng nửa khắc xuân lửng,

Phố liễu trăm đường khách ngẩn ngơ.

Hồ Xuân Hương

Bài CẢM CỰU TỐNG TÂN XUÂN CHI TÁC thuộc dạng Niêm Luật 5/16

giống bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC của Vương Bột

 

ÐỘC TIỂU THANH KÝ

Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư                                (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Ðộc điếu song tiền nhất chỉ thư

Chi phấn hữu thần liên tử hậu

Văn chươngmệnh lụy phần

Cổ kim hận sự thiên nan vấn                                      (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Phong vận kỳ oan ngã tự

Bất tri tam báchniên hậu

Thiên hạnhân khấp Tố Như.

Nguyễn-Du

Bài ÐỘC TIỂU THANH KÝ cũng thuộc dạng Niêm Luật 5/16

giống bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC của Vương Bột

 

Thơ dịch : ĐỌC BÀI KÝ CỦA TIỂU THANH

Hoang vắng Tây Hồ hoa liễu xưa

Viếng nàng bên cửa một trang thư

Chết đi để tiếc, ôi son phấn

Lụy đến tàn tro, hỡi phú thơ

Kim cổ hận kia trời khó hỏi

Tài tình oan kiếp, khác gì ta

Ba trăm năm nữa trong thiên hạ

Chẳng biết ai người khóc Tố Như ?

Thảo Nguyên

          Về bài Độc Tiểu Thanh Ký của cụ Nguyễn Du, xin nêu thêm một đoạn ký sự của nữ ký giả Phạm Thanh Thủy như sau :

            (đầu phần trích dẫn)

          Đời nhà Thanh, có xây một Nghênh quán sứ, trên đồi mai có mộ Tiểu Thanh, cạnh hồ Tây, để làm chỗ nghỉ chân cho các sứ thần Việt Nam, Ai lao, Cao miên, Thái lan đi sứ, trên đường tới Bắc kinh. Sứ đoàn thời Gia long (1802-1820) khi qua Hàng châu được tiếp dẫn sứ nhà Thanh đưa vào ở đây. Chánh sứ là Nguyễn Du tiên sinh. Trên mộ Tiểu Thanh hiện (2001) có đến 6 bia, do 6 danh sĩ viết. Thời Tố Như qua đây chỉ có một bài bia. Trên bia ghi :

          « Tiểu Thanh, trường hận ký »

          Mai Khánh Sơn, Tiến sĩ Vĩnh lạc đề.

Chắc chắn cụ Tố Như đọc bài ký này, rồi thương hoa tiếc ngọc sáng tác bài thơ Độc Tiểu Thanh ký, nghĩa là cảm hứng sau khi đọc bài ký của Mai Khánh Sơn.

        (cuối phần trích dẫn)

          Cụ Nguyễn Du là Chánh Sứ, đại diện cho quốc gia, có trọng trách bảo vệ vinh dự và làm rạng danh cho dân tộc, nhất cử nhất động đều luôn phải lưu tâm, nhất là trong thời gian đi sứ.

Vậy lẽ đâu cụ lại “phá cách” làm chơi một bài thơ chẳng theo Niêm Luật ?

Trái lại, bài Độc Tiểu Thanh Ký với hai phép Niêm khác nhau cho hai bài Tứ Cú, lại có thể dùng làm bằng chứng cho người Trung quốc thấy rằng người Việt chúng ta cũng am hiểu tận tường cách chơi phóng khoáng của thi nhân đời Đường.

Cách chơi phóng khoáng này cho phép thi nhân buông thả cho hồn thơ tự nhiên chạy theo cảm xúc : ý thơ, tứ thơ cho những ngôn từ thuận tai với phép Niêm nào, thể Luật nào, thì viết theo Niêm Luật đó.

3.2 thơ của thi nhân hiện đại

Đa số người chơi thơ Đường Luật hiện nay đều tuân thủ chặt chẻ phép Niêm theo dải số KS 1-8 2-3 4-5 6-7. Nhưng lắm lúc thi hứng và thi tứ tự nhiên đưa họ lọt vào một cách chơi hoàn toàn đúng theo nguyên tắc chơi của thi nhân đời Đường. Có vài thi nhân khi tự thấy, hoặc được các bạn trung thành với dải số KS nhắc lỗi, thì họ lập tức sửa ngay, mặc dầu những câu thơ ấy không có khuyết điểm nào, mà thường khi lại ‘hay hơn’ những câu được sửa lại. Số khác thì vẫn để nguyên bài thơ làm ra theo cảm hứng.

            Sau đây là thơ của thi nhân hiện đại trúng vào 16 dạng Niêm Luật, kẻ vô tình người cố ý, ở mỗi dạng chỉ nêu 1 bài làm mẫu :

 

Dạng Niêm Luật 1/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Bằng

Đây là dạng thứ nhất trong 2 dạng thông dụng có nhiều bài nhất, và thuộc cách chơi của dải số.

MƠ TIÊN

Mới lưng lưng cốc đã châm đầy                  (Niêm 1-4 2-3, Bằng

Lại trách người sao khéo giả say

Rượu nhũn chân trần đi khó bước

Men nồng bến tục đến chưa hay

Nhá nhem đèn tối mờ con mắt                   (Niêm 1-4 2-3, Bằng

Chập choạng ai gần níu một tay

Quả tiếng Ðào Nguyên tuôn róc rách

Ta làm Từ Thức một đêm nay.

VNN (Nouméa 17/12/00)

 

Dạng Niêm Luật 2/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-4 2-3 Trắc

CHAY ĐỔI MẶN
Chay ăn không chán sức sung ra               (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Mặn nếm vài lần sẽ thích
Chay đậu tương phùng mời đến dự
Mặn cơm hợp tác bắt làm ra
Chay chánchùa qua đớp “phở”               (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Mặn ra phố muốn tìm “quà”
Mặn chê tôm nghe càng ớn
Chay liếm xương cầy chỉ ta.
Đoạn Trường

 

Dạng Niêm Luật 3/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Bằng

CHO TRỌN CUỘC TÌNH
Đông lạnh phòng không buồn lẻ bạn          (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc
Đêm dài trằn trọc đếm từng canh
Mưa rơi thổn thức rơi không dứt
Gió thổi lạnh căm thổi quẩn quanh
Thu về dỗ nhẹ cơn ảo                            (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Hạ đến ru êm giấc mộng lành
Duyên kiếp đời này duyên kiếp nữa
Tình em giữ trọn trong tim anh
Huyền Minh Sep.28/09

 

Dạng Niêm Luật 4/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-4 2-3 Trắc

Đây là dạng thứ hai trong 2 dạng thông dụng có nhiều bài nhất, và thuộc cách chơi của dải số.

 

NHẤT ĐỜI

Ai đã đem ta ném giữa đời                          (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Giang-hồthượng mặc rong chơi

Bến-Tre Bến-Nghé len từng ngách

Bờ Á Bờ Âu quậy khắp nơi

Mỗi mỗi nghề vui lại đến                          (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Một mình một chiếu ngự rồi lui

Trời cho ngày tháng Xuân cho tuổi

Tao ngộ nàng thơ nhất cõi người !

Châu-Anh Ðỗ-Ðơn-Chiếu (VT 20/7/2000)

 

Dạng Niêm Luật 5/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Bằng

GHẸO BẠN
Bạn hiền cứ nói đến đây vui                       (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Thấy rượu sợ say lại trốn chui
Chỉ mấy ly quèn đưa đẩy tới
Vài ba xị nhạt thoái de lùi
Mời ăn lại chối không cầm đũa                   (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Đã nhậusao hổng thấy mùi
*Cao đô bởi ngạinhà hứ
*Chỉ dám ngồi đong nước ngọt thôi.
Đồng Lão

được một ông bạn nhắc nên tác giả sửa 2 câu chót lại là :

*Chắc ngại về nhà nghe vợ hứ

*Đành xơi nước ngọt một mình thôi.

– 2 câu sửa lại kém súc tích hơn 2 câu gốc

 

Dạng Niêm Luật 6/16) : 1-4 2-3 Bằng + 1-3 2-4 Trắc

BÀI THƠ AI TẶNG…

Bài thơ ai tặng chẳng riêng chung             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Đậm nét từ ngoài đến nội dung

Ý đẹp với tiêu đề mở cuộc
Lời hay trong kết luận sau cùng

Đối chỉnh cung đàn reo thánh thót  (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Vần trơn tâm sự trải mông lung
Cả một trời xuân theo nét bút

Gieo muôn hương ngát của nghìn trùng.
LCR 29/01/08

 

Dạng Niêm Luật 7/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-3 2-4 Bằng

DUYÊN NỢ

Mắc nợ tình thơ với bạn hiền                      (Niêm 1-4 2-3 Trắc
Cũng tạo hóa khéo se duyên !
Từng câu từng chữ hồn vương đọng
Mỗi ý mỗi vần dạ khắc tên !
Non xanh suối biếc cùng vui dạo               (Niêm 1-3 2-4 Bằng
Biển ngọc mây hồng thỏa chí riêng
Từ đây chung lối đường muôn dặm
Kết nối niềm say vạn bạn vàng !
Sao Mai

 

Dạng Niêm Luật 8/16) : 1-4 2-3 Trắc + 1-3 2-4 Trắc

SẼ ÊM RƠ

Đâu đã còn đâu tuổi mộng mơ                   (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc
Giận nhau trong mộng thuở ngây khờ
Tranh ăn tranh nói lời gay gắt
Hay dỗi hay hờn chuyện phất phơ
Bữa trước vui mồm khen gái đẹp               (Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
Chiều nay buồn bụng chẳng ai chờ
Mở miệng mắc quai đành miệng
Đừng khen ai đẹp sẽ êm rơ.

LCR 12/03/09

 

Dạng Niêm Luật 9/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Bằng

VU LAN BUỒN NHỚ
Thu nào yên giấc mẹ xa chơi            (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Ba chục năm buồn nhớ chẳng nguôi
Thương con mỏi mắt tìm quanh quất
Nhớ trẻ xa quê khóc sụt sùi
Ai theo non nước ngày binh lửa                 (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng
Ta chọn sông hồ chuyến ngược xuôi
Mỗi bận Vu Lan buồn héo hắt
Ngây nhìn ảnh mẹ nhớ từng hồi.
VNN 10/05/07

 

Dạng Niêm Luật 10/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-4 2-3 Trắc

CHẤP NHẬN THÔI

Câu thơ trào phúng chĩ mua vui.               (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng

Xướng họa cùng nhau tặng nụ cười…

Hả! Ha! vài tiếng trêu ai giận

Hi! vần thơ chọc bạn chơi.

Đừng giận, đừng buồn thơ tiếu ý.             (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc

Chung mâm, chung tiệc nắm tay ngồi.

Tinh thần sảng khoáithanh nhẹ…

Huynh nghĩ như vầy chấp nhận thôi.

Thảo My 22/02/08

         

Dạng Niêm Luật 11/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Bằng

HỒN THƠ
*Gió thoảng trùng dương sóng gọi bờ (Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
*Trăng vàng chếch bóng dậy hồn thơ
Nước chảy trên sông làn nước đục
Mây che đỉnh núi áng mây mờ
Nhà tranh xiêu vẹo bên triền núi                         (Niêm 1-4 2-3 Luật Bằng
Vách đất cong queo cạnh suối
Gác vắng đêm dài trông nguyệt lặng
Tình quên thệ ước để duyên chờ.
Vancali 6.2.09

Sau đó tác giả tự thấy và tự cho là sai nên nhắn yêu cầu các bạn sửa lại 2 câu đầu là :

*Trùng dương gió thoảng sóng bờ

*Chếch bóng trăng vàng dậy túi thơ

– “dậy túi thơ” thì nghe chẳng hay bằng “dậy hồn thơ”

 

Dạng Niêm Luật 12/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-4 2-3 Trắc

KHỔ THÂN THẦY ĐỒ
Này mực, này nghiên mệt thí mồ                   (Niêm 1-3 2-4 Luật Trắc
Lại thêm trét giấy với pha hồ
Tướng cứ gầy tong mồm cứ
Áo thì ướt nhẹp túi thì khô
Dưới phố xăn quần đon đả khách           (Niêm 1-4 2-3 Luật Trắc
Bên đường trải chiếu chực chờ sô*
Chợt nghetiếng còi -lic
Vội chạy lăng quăng dọn hết đồ.
Tú Lòng…thòng
* show

 

Dạng Niêm Luật 13/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Bằng

NGỌT NHƯ THƠ ĐƯỜNG

Thơ Đường đối đáp trông hay hay    (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng

Trong trẻo ngọt ngào chút đắng cay

Nhà thơ tơi đất cho hạt giống

Đợi đến xuân về được mía cây

Tám câu ngắn ngủi hồn sâu lắng               (Niêm 1-3 2-4 Luật Bằng

Lộ tả chân dung độc đáo thay

Như mây yêu gió trên đầu núi

Chìm đắm thơ Đường tim ngất ngây

Bạch Vân Nam 2007

 

Dạng Niêm Luật 14/16) : 1-3 2-4 Bằng + 1-3 2-4 Trắc       

VUI XUÂN CON TRÂU

Không chờ chẳng đợi cũng nhanh qua       (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng
Tiễn chuột mừng trâu đến viếng nhà
Vui Xuânhoạ vài câu đối
Đón Tết nhâm nhi mấy chén trà
Xúc cảnh lời vàng bay bỗng mãi                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc
Tri tình bút ngọc toả lan xa
Nắn nót bài thơ xin chúc Bác
Thi ca đám trẻ chạy theo già. 

Sương Anh

 

Dạng Niêm Luật 15/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Bằng       

BÁC LÁ YÊU DẤU !

Bác  vui đùa bạn hữu đông                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Ông đi vắng lặng hỏi buồn không ?

Chỉ lối ngay đường thường đụng chạm

Lời ngay nẻo phải khó tương đồng

Tình ơi kính Lão đời thanh thản                  (Niêm 1-3 2-4, Luật Bằng

Bạn hởi thương người nước đục trong

Chờ Rơilại đừng xa nhé

Bé tịt hồn thơ muối xát lòng. 

Vancali 9.23.08

 

Dạng Niêm Luật 16/16) : 1-3 2-4 Trắc + 1-3 2-4 Trắc

CƠM PHỞ

Cơm phở đều từ lúa gạo ra                (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Phở cơm no bụng sống thôi

Phở mảnh mai xinh thèm bế ẳm

Cơm tròn ục ịch muốn ra

Cơm nuốt hằng ngày lâu cũng chán       (Niêm 1-3 2-4, Luật Trắc

Phở ăn thỉnh thoảng giống như quà

Cơm phở suy cùng đều gạo

Đổi thay cũng đúng phải hong ??? ta !

Nguyệt Ánh

            Bài mẫu của 16 dạng Niêm Luật cho thấy dạng nào cũng cho được âm điệu hài hòa cho bài Thất Ngôn Bát Cú Đường Thi.

3.3 Sự qui định ra ĐƯỜNG LUẬT

Về sự qui định ra Ðường Luật Quách-Tấn có nhận xét như sau :

“Ðường Luật không phải do một cá nhân hay một nhóm thi nhân cao hứng đặt ra theo sở kiến, sở thích của mình, mà chính là sự đúc kết những kinh nghiệm kỹ thuật lâu đời đã thành công, và điển chế những thành công ấy làm khuôn phép chung cho làng Thơ.

(trích Thi Pháp Thơ Ðường của Quách-Tấn, trang 38)

Sự Giải Mã ĐƯỜNG THI trình bày trên đây đã cho thấy đầy đủ phần kỹ thuật lâu đời đã thành công của thi nhân đời Đường.

Và nay không còn là thời kỳ khoa cử. Nên mọi người có thể tự do lấy những thành công ấy làm khuôn phép để làm thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Đó là cách chơi phóng khoáng của các thi nhân danh tiếng đời Đường, làm thơ Thất Ngôn Luật với 16 dạng Niêm Luật khác nhau.

16 dạng Niêm Luật đã nêu không phải là do ai đặt ra mà chỉ là cái kết quả tự nhiên của toán học trên cách chơi đã chọn của thi nhân đời Đường là dùng 2 bài Tứ Cú tự do theo Niêm riêng và theo Luật riêng.

Với sự lựa chọn này, khi làm thơ thi nhân khỏi phải nhắm vào một dạng thơ nào, mà chỉ cần tìm ý tứ để viết 8 câu thơ đúng theo bố cục (Mở Phá, Trạng, Luận, Thúc Kết). Tức là viết thành 4 cặp 1-2 3-4 5-6 7-8. Hứng thơ tứ thơ đưa đến những ngôn từ nào thì chọn ba chữ nhì-tứ-lục thích nghi với những ngôn từ ấy để có 1 câu đúng theo Luật Trắc một câu đúng theo Luật Bằng cho mỗi cặp, bất cứ là Luật nào cho câu trên Luật nào cho câu dưới cũng đều tốt cả. Dĩ nhiên phần đối ngẩu và gieo vần phải đúng theo khuôn phép của loại thơ “Thất Ngôn Luật”. Và khi viết xong 8 câu như thế thì bài thơ Thất Ngôn Bát Cú sẽ đương nhiên trúng vào 1 trong 16 dạng Niêm Luật khả hữu mà cách chơi cho phép, gồm luôn cả 2 dạng Niêm Luật tương ứng với dải số.

Chơi theo cách quy định bởi dải số, thì chỉ là dùng 2 dạng Niêm Luật thông dụng nhất trong số 16 cách chơi của Đường Thi. Sự giới hạn này đôi khi cũng gây khó khăn cho thi nhân và bài thơ có thể kém hay.

Xin nêu lại bài HÀ TIỆN làm ví dụ :

 

HÀ TIỆN

Giàu thì ba bữa khó thì hai                             (Niêm 1-4 2-3, Luật Bằng

Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy

Nón đổingoài quần đổi ống

Dép thay da mặt túi thay quai

Dặn vợ đừng gắp mắm*                        (Niêm 1-4 2-3, Luật Trắc

Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai

Thế gian mặc kẻ cười tiện

Ta chẳng phiền ai chẳng lụy ai.

Nguyễn-Minh-Triết

Nếu muốn làm đúng theo dải số thì phải đổi ngược Luật của 4 câu thơ chót : Trắc thành Bằng, Bằng Trắc. Với những tứ thơ đã đến như thế thì hầu như thi nhân không có cách thực hiện, hoặc chỉ thực hiện được trong sự gượng ép khiến lời lẽ không còn hồn nhiên thoải mái như trên.

Nhưng nói chung cách chơi nào cũng đều có thể cho ra được những bài thơ hay cho làng thưởng thức vì như đã nói cách chơi theo dải số chỉ là 2 trong số 16 cách khả hữu của phép chơi chung.

PHẦN IV. KẾT LUẬN

Nay không còn là thời kỳ khoa cử.

Nhưng người làm thơ lắm khi thích tìm cái khó để trổ tài. Làm thơ theo dải số 1-8 2-3 4-5 6-7 cũng là thêm một chút khó. Với cái khó đó mà cống hiến được cho làng thơ những bài thơ hay là điều đáng ca ngợi, chẳng ai mong muốn gì hơn.

Nhưng việc gọi những bài TNBC Đường Thi danh tiếng của Lý Bạch, Đỗ Phủ … Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, là thơ phá cách, thơ thất Niêm hay thơ Cổ Phong, chỉ vì chúng nằm ngoài dải số, thì bài Giải Mã này đã trả lời. Xin mọi người lấy công tâm mà kết luận.

LỜI CUỐI SÁCH

Phần kỹ thuật của thi nhân đời Đường đã được mỗ xẻ, phân tách và đúc kết như trên, cho thấy cách chơi của họ rộng rãi phóng khoáng hơn cách chơi quy định bởi dải số của thời khoa cử.

Mọi người chúng ta hoàn toàn tự do để chọn lựa cách chơi : theo thi nhân đời Đường hay theo dải số của giới khoa cử cũng đều tốt cả. Vì cách nào cũng cho được những bài thơ hay cho làng thưởng thức.

Nhưng nên trả lại César những gì của César:

1/ Trả lại cho những bài ĐƯỜNG THI danh tiếng cái địa vị tôn quý của chúng trong ĐƯỜNG THI. Đó là những bài TNBC ĐƯỜNG THI chính thống, không phải là thơ thất Niêm vì “phá cách”, lại càng không phải là thơ Cổ Phong.

2/ Thơ TNBC Đường Luật là thơ làm rập khuôn theo loại thơ “Thất Ngôn Luật” của thi nhân tiền bối đời Đường. Mà loại thơ này có tổng hợp 16 dạng Niêm Luật như đã trình bày. Làm theo dải số thì chỉ là trúng vào 2 dạng Niêm Luật “có nhiều bài nhất”, chứ không phải là “duy nhất”.

Thơ nằm trong 14 dạng Niêm Luật còn lại kia vẫn là thơ TNBC Đường Luật, nên chúng có quyền có mặt trong mọi trang thơ Đường Luật, thay vì bị gạt ra ngoài như hiện tại.

Sự sửa lại hay vứt bỏ vào sọt rác những bài thơ ấy khiến cho kho thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật bị thiếu mất đi những cách chơi đa dạng của thi nhân đời Đường.

Xin mượn 4 câu thơ của Xuân Diệu để dứt lời :

Thôi thì đó, nói cùng nhau cho thỏa,

Ai có thương thì tôi cũng cảm ơn,

Ai có ghét, tôi cũng cười khuây khỏa,

Lỗi vì tôi, tôi đâu dám giận hờn. – Xuân Diệu

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Đường luật Giải Mã Đường Thi ( 1 )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Mười Một 2012
M T W T F S S
« Oct   Dec »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: