Đường luật

17/11/2012 at 6:32 chiều Để lại bình luận


   Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường (Tang), Trung Quốc. Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy[1].

Vì giáo dục, thi cử… đều bằng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán, trong đó có thơ theo luật Đường.

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt [1].

Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài từ thời nhà Trần cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, số người trong nước làm luật thi đã bị giảm đi đáng kể.

Thơ Đường luật có một hệ thống quy tắc phức tạp được thể hiện ở 5 điều nghiêm khắc sau: Luật, niêm, vần, đối và bố cục. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng “thất ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn, biến thể có các dạng: “thất ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), “ngũ ngôn tứ tuyệt” (bốn câu, mỗi câu năm chữ), “ngũ ngôn bát cú” (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.

Mục lục

1.Luật

Điều căn bản của luật thơ Đường là đối, đó là hai nguyên tắc đối âm và đối ý. Nghĩa là lần lượt những chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, … của câu trên phải đối với các chữ thứ nhất, thứ 2, thứ 3, … của câu dưới cả về âm và ý. Nhưng làm được như thế thì rất khó, vì vậy người ta quy ước Nhất tam ngũ bất luật (chữ thứ nhất, thứ ba, thứ năm không cần theo luật).

1.1 Đối âm (Luật bằng trắc)

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằngthanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.

Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”.

Ví dụ: xét câu “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà” trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ “tới” (thứ 2) và “xế” (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ “Ngang” là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệtThất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ “B”, vần trắc bằng chứ “T”, những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

1. Luật vần bằng

  • Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số

Vần

Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương

1

 

B

 

T

 

B

B

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

2

 

T

 

B

 

T

B

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

3

 

T

 

B

 

T

T

phải duyên nhau thì thắm lại

4

 

B

 

T

 

B

B

Đừng xanh như , bạc như vôi

Chữ thứ

1

2

3

4

5

6

7

 

  • Thất ngôn bát cú

Câu số

Vần

Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương

1

 

B

 

T

 

B

B

Quanh năm buôn bánmom sông

2

 

T

 

B

 

T

B

Nuôi đủ năm con với một chồng

3

 

T

 

B

 

T

T

Lặn lội thân khi quãng vắng

4

 

B

 

T

 

B

B

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

5

 

B

 

T

 

B

T

Một duyên hai nợ âu đành phận

6

 

T

 

B

 

T

B

Năm nắng mười mưa dám quản công.

7

 

T

 

B

 

T

T

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

8

 

B

 

T

 

B

B

chồng hờ hững cũng như không!

Chữ thứ

1

2

3

4

5

6

7

 

2. Luật vần trắc

  • Thất ngôn tứ tuyệt

Câu số

Vần

Ví dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊)
của Trương Kế (张继 Zhang Jì)

Phiên âm Hán-Việt

1

 

T

 

B

 

T

B

月落烏啼霜滿天

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

2

 

B

 

T

 

B

B

江楓魚火對愁眠

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

3

 

B

 

T

 

B

T

姑蘇城外寒山寺

thành ngoại Hàn San tự

4

 

T

 

B

 

T

B

夜半鐘聲到客船

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Chữ thứ

1

2

3

4

5

6

7

 

 

Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

  • Thất ngôn bát cú

Câu số

Vần

Ví dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương

1

 

T

 

B

 

T

B

Ta nhớ người xa cách núi sông

2

 

B

 

T

 

B

B

Người xa, xa lắm nhớ ta không

3

 

B

 

T

 

B

T

Sao đương vui vẻ ra buồn bã!

4

 

T

 

B

 

T

B

Vừa mới quen nhau đã lạ lùng

5

 

T

 

B

 

T

T

Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng

6

 

B

 

T

 

B

B

Khi riêng, riêng cả đến tình chung

7

 

B

 

T

 

B

T

Tương lọ phảitrai gái,

8

 

T

 

B

 

T

B

Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng

Chữ thứ

1

2

3

4

5

6

7

 

1.2 Đối ý

Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải “đối” nhau và hai câu 5, 6 cũng “đối” nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Đối chữ; danh từ đối danh từ, động từ đối động từ. Đối cảnh; trên đối dưới, cảnh động đối cảnh tĩnh… Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì bị gọi “thất đối”.

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà,2

“Lom khom” đối với “lác đác” (hình thể và số lượng – thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), “dưới núi” đối với “bên sông” (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên “lom khom dưới núi” và “lác đác bên sông” thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm “lom khom” chỉ dáng người của câu trên, và “lác đác” chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp: “tiều vài chú” đối với “chợ mấy nhà” (đối lập về số lượng và tĩnh/động). Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh. Xin xem thêm về thơ đối hoặc Câu đối Việt Nam để hiểu thêm về luật đối trong thơ. Nhị tứ lục phân minh (Câu 2,4,6 phải đối ý)

2.Niêm

Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là “những câu niêm với nhau” (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ suất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là “thất niêm”.

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

·         câu 1 niêm với câu 8

·         câu 2 niêm với câu 3

·         câu 4 niêm với câu 5

·         câu 6 niêm với câu 7

Chẳng hạn với luật vần bằng:

1.     B – T – B B

2.     T – B – T B

3.     T – B – T T

4.     B – T – B B

5.     B – T – B T

6.     T – B – T B

7.     T – B – T T

8.     B – T – B B

Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

3.Vần

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là “vần với nhau”. Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi “thất vận”.

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là “vần chính”, những chữ có vần gần giống nhau gọi là “vần thông”. Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

hai chữ “tà” và “hoa” được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là “vần thông” vì chỉ phát âm gần giống nhau.

4.Bố cục

Bố cục một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật theo truyền thống thường được chia gồm 4 phần: Đề, Thực (hoặc Trạng), Luận, Kết. “Đề” gồm 2 câu đầu trong đó câu đầu tiên gọi là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau. “Thực” gồm 2 câu tiếp theo, giải thích rõ ý đầu bài. “Luận” gồm 2 câu tiếp theo nữa, bình luận 2 câu thực. “Kết” là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài, trong đó câu số 7 là câu “thúc” (hay “chuyển”) và câu cuối là “hợp”.

Thơ thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng chính điều đó lại được người xưa ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, xướng họa… Và trong tất cả các kỳ thi xưa đều bắt thí sinh phải làm.

Tại quê hương của Đường thi cũng là nơi mà phong trào tập cổ, sáng tác thơ Đường luật rầm rộ nhất, lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng khái niệm đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên, nói ngắn gọn bằng tổ hợp bốn từ Khởi (khai), Thừa, Chuyển, Hợp. Tuy nhiên cách phân chia này cũng không khác gì cách phân Đề, Thực, Luận, Kết về mặt ý nghĩa.

Một quan niệm khác áp dụng cấu trúc 2-4-2 cho bài thơ thất ngôn bát cú. Theo đó quan niệm này đứng ở góc độ không gian-thời gian nghệ thuật để khảo sát toàn bài dựa theo logic hai câu đầu và hai câu cuối bài thơ Đường luật thường yếu tố thời gian chiếm vị trí chủ đạo, còn bốn câu giữa trật tự không gian là chủ đạo và tác giả dường như dừng lại để quan sát sự vật.

Cũng cần nhắc đến quan điểm “Cảnh-Tình” của Kim Thánh Thán khi chia bài thất ngôn bát cú thành hai phần đều nhau, theo đó bốn câu trên của bài nặng về cảnh và bốn câu dưới nặng về tình.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu có xu hướng không cố tìm quy luật chung về bố cục để áp dụng trong hàng loạt bài thơ mà áp dụng quan điểm nghiên cứu đã có từ thời Minh mạt Thanh sơ ở Trung Hoa, quan điểm bám sát và tuân thủ cách phân chia bố cục của từng bài thơ theo mạch cảm xúc của thi nhân biểu hiện trong bài. Một ví dụ là bài thơ hết sức nổi tiếng Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan hoàn toàn có thể được phân tách theo bố cục 1/7, hoặc bài Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến có thể bố cục 7/1 hoặc 1/6/1.

5. Một số dạng thơ

5.1 Thất ngôn bát cú

Đó là thơ Đường chuẩn luật, gồm có 8 câu, mỗi câu 7 chữ. Hai câu đầu là 2 câu đề (đặt vấn đề mà bài thơ đó nói tới). Hai câu tiếp theo là hai câu thực (tả hoặc nói thực về vấn đề đó). Hai câu sau đó là 2 câu luận (bàn luận về vấn đề đó). Cuối cùng là 2 câu kết (kết luận vấn đề)

Nếu tách ra từng cặp một thì chúng có thể thành những cặp câu đối riêng biệt.

Ngoài dạng thơ Đường chuẩn luật là “thất ngôn bát cú” còn có các biến thể sau:

5.2 Thất ngôn tứ tuyệt

Thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối. Luật bằng trắc và niêm, vần… vẫn giữ nguyên, có thể bỏ luật đối ở hai câu 3, 4 hoặc 5, 6. Lúc này nó sẽ thành một bài thơ “bốn câu ba vần” mà Nguyễn Du đã nhắc trong truyện Kiều.

Ví dụ: bài thơ sau của Quách Tấn

Từ buổi thuyền đưa khách thuận dằm

Trông chừng bến cũ biệt mù tăm

Cảm thương chiếc lá bay theo gió

Riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm

5.3 Ngũ ngôn tứ tuyệt

Thực chất là bài thất ngôn tứ tuyệt đem bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu; các chữ còn lại vẫn giữ nguyên luật bằng trắc, niêm và vần.

Ví dụ: từ bài trên mà thành

Thuyền đưa khách thuận dằm

Bến cũ biệt mù tăm

Chiếc lá bay theo gió

Tình xưa ghé đến thăm

5.4 Ngũ ngôn bát cú

Cũng là từ bài thất ngôn bát cú bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành, luật bằng trắc, niêm và vần ở các chữ còn lại vẫn giữ nguyên.

5.5 Yết hậu

Yết Hậu3 (yết: nghỉ; hậu: sau) là lối thơ có ba câu trên đủ chữ, còn câu cuối cùng chỉ có một chữ.

Ví dụ: bài Lươn

Cứ nghĩ rằng mình ngắn,

Ai ngờ cũng dài đường.

Thế mà còn chê trạch:

Lươn!

 

 

 

 

 

 

 

Trước hết là thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật:

I. Bố cục:
Cách bố cục bài thơ Thất ngôn bát cú giống như một bức tranh. Trong khuôn khổ nhứt định với 8 câu 56 chữ, làm sao ta vẽ thành một bức tranh hoàn toàn, hình dung được ngoại cảnh thiên nhiên, hay nội cảnh của tâm tình. Như vậy, bố cục của bài thơ phải có đủ 3 phần: – Nhập đề. – Thân đề có Tả đề và Luận đề. – Kết thúc.
Vậy, bố cục bài thơ đường luật phân chia ra như sau:
* Câu 1: gọi là Phá (đề)
* Câu 2: gọi là Thừa (đề)
* Câu 3 và 4: gọi là cặp Trạng (Thực)
* Câu 5 và 6: gọi là cặp Luận
* Câu 7: gọi làThúc (Chuyển)
* Câu 8: gọi là Kết.
II. Luật thơ:
Luật thơ là cách sắp đặt các tiếng Bằng và tiếng Trắc trong bài thơ. Luật ấy được đặt ra nhứt định, các người làm thơ phải tuân theo luật ấy mà đặt thì bài thơ đọc mới nghe hay.
Luật thơ có:
1.Luật Bằng: luật thơ mà chữ thứ nhì câu 1 là Bằng.
2.Luật Trắc: luật thơ mà chữ thứ nhì câu 1 là Trắc.
3.Luật: Nhứt tam ngũ bất luận, Nhì tứ lục phân minh.
– Bất luận là không bàn tới. Nhứt tam ngũ bất luận: chữ thứ 1, 3, 5 trong mỗi câu không kể luật B, T, làm dấu (o), nghĩa là dùng B hay T đều được, miễn là đọc lên nghe êm tai thì thôi.
– Phân minh là phân biệt rõ ràng. Nhì tứ lục phân minh: chữ thứ 2, 4, 6 thì phải theo luật B, T rõ ràng. Nếu đặt không đúng luật B, T thì gọi là Thất luật (sai luật).
Cách Gieo Vần-Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:
– Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ôi thì đi với ôi, vần ta thì đi với ta hoặc tà.
– Trong bài thơ có 5 vần được gieo ở cuối câu đầu (tức câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (tức câu 2, 4, 6 và 8).
– Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hòn, non, mòn, con… Nếu gieo vần mưa với mây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.
4. Luật đối: Câu thứ ba và thứ tư, câu thứ năm và thứ sáu phải đối với nhau
Nguyên Tắc Đối-Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú có hai cặp câu thơ phải đối với nhau. Câu thứ ba phải đối với câu thứ tư, câu thứ năm phải đối với câu thứ sáu.
Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, về tình, về thể loại từ ngữ, v.v… Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v…
Tóm tắt:
Luật Trắc: (o là bất luận, T là trắc, B là bằng, v là vần)
1 2 3 4 5 6 7
1. o T o B o T B v
2. o B o T o B B v
3. o B o T o B T
4. o T o B o B v
5. o T o B o T T
6. o B o T o B B v
7. o B o T o B T
8. o T o B o T B v

Ví dụ:

Văng vẳng tai nghe tiếng khóc gì?
Thương chồng nên khóc tỉ tì ti.
Ngọt bùi, thiếp nhớ mùi cam thảo,
Cay đắng, chàng ơi, vị quế chi.
Thạch nhũ, trần bì, sao để lại,
Quy thân, liên nhục, tẩm mang đi.
Dao cầu, thiếp biết trao ai nhỉ?
Sinh ký, chàng ơi, tử tắc quy.
(Hồ Xuân Hương-Bà Lang Khóc Chồng)

*Luật bằng thì ngược lại, chữ thứ 2 của câu thứ nhất trong bài thơ gieo vần bằng

1 o B o T o B B (V)
2.o T o B o T B (V)
3.o T o B o T T
4.o B o T o B B (V)
5.o B o T o B T
6.o T o B o T B (V)
7.o T o B o T T
8.o B o T o B B (V)

Ví dụ:
Cô hàng lấy sách cắp ra đây!
Xem thử truyện nào thú lại say.
Nữ tú có bao xin xếp cả,
Phương hoa phỏng liệu có còn hay…?
Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.
(Hồ Xuân Hương-Hỏi Cô Hàng Sách)
III. Niêm:
Niêm nghĩa là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ trong bài thơ Đường luật.
Hai câu thơ niêm với nhau là khi các chữ B và T trong “nhì tứ lục phân minh” giống nhau:
* Câu 1 niêm với câu 8.
* Câu 2 niêm với câu 3.
* Câu 4 niêm với câu 5.
* Câu 6 niêm với câu 7.
(còn tiếp- theo Cao đài từ điển)

Thơ Tứ Tuyệt:
Tuyệt là dứt, ngắt. Tứ Tuyệt là ngắt lấy 4 câu trong một bài thơ đường luật thất ngôn bát cú.
Có nhiều cách ngắt lấy 4 câu của một bài thơ thất ngôn bát cú, nên có nhiều cách làm thơ Tứ tuyệt:
1.Ngắt lấy 4 câu đầu gồm: phá thừa và cặp trạng.
2. Ngắt lấy 4 câu cuối: cặp luận và thúc kết.
3. Ngắt lấy 4 câu giữa: cặp trạng và cặp luận.
4. Ngắt lấy 2 câu đầu và cặp luận: phá thừa, cặp luận.
5. Ngắt lấy 2 câu đầu và 2 câu cuối: phá thừa, thúc kết.
Bài thơ Tứ tuyệt theo lối nầy (phá thừa, thúc kết) có 3 vần và không có đối nhau, nên dễ làm, và chúng ta thường thấy thơ Tứ tuyệt phần lớn thuộc loại nầy.
Td:
Tiền trình Thầy dạy các con tường,
Đợi hạ sang năm mới tuyển lương.
Năm bảy năm sau nên nghiệp lớn,
Đến chừng ấy khá Đạo lo lường.

Như vậy, Tứ tuyệt Đường luật, là kế thừa của Bát cú. Niêm, luật, bố cục tương đương. Biết làm Bát cú, là có thể làm được tứ tuyệt. Tuy nhiên, thể Tứ tuyệt ngắn gọn hơn, nên lại càng phải súc tích lắng đọng.
Nhớ ngày xưa đi học, được cô giáo dạy: thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật gồm có 4 câu, chia làm 4 phần: : Đề, thực, luận, kết…
Đề: như câu mở bài, nêu ý toàn vẹn.
Thực: để miêu tả
Luận: nói lên ý nghĩa
Kết: rút ra, kết thúc ý nghĩa cả bài thơ

THƠ BỐN CHỮ.
Nếu tiếng thứ 2 bằng thì tiếng thứ 4 trắc; ngược lại, tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng.
2 4
trắc bằng
2 4
bằng trắc
Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không theo luật đó.
[B]Cách gieo vần

1. Vần tiếp (ít dùng)
Lính đóng ven rừng
Giữa mùa nóng nực
Uống cạn hố nước
Thấy toàn đầu lâu
Thịt rữa đi đâu
Còn xương trắng nhỡn
Trần Đức Uyển

2. Vần tréo

Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày
Nhã Ca

Người từ trăm năm
Về ngang sông rộng
Ta ngoắc mòn tay
Trùng trùng gió lộng
Nguyễn Tất Nhiên

3. Vần ôm

Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng
Phạm Thiên Thư

4. Vần ba tiếng (ít dùng) ]

Sao biếc đầy trời
Sầu trông viễn khơi
Ðêm mờ im lặng
Nhìn hạt sương rơi
Khổng Dương

Em là ánh trăng
Vừa biếc vừa xanh
Em là giấc mộng
Ðêm xuân của anh
Huyền Kiêu

THƠ NĂM CHỮ.

Cũng giống như thơ bốn chữ: nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 bằng, hay ngược lại. Nhưng cũng có nhiều trường hợp không phải vậy.

Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
Nguyễn Nhược Pháp

Cách gieo vần

[B]1. Vần tréo

Hôm nọ em biếng học
Khiến cho anh bất bình,
Khẽ đánh em cái thước
Vào bàn tay xinh xinh
Nguyễn Xuân Huy

Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Hàn Mặc Tử

2. Vần ôm

Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Lưu Trọng Lư
3. Vần ba tiếng bằng

Tuyết rơi mong manh buồn
Ga Lyon đèn vàng
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng.
Cung Trầm Tưởng

Đưa em về dưới mưa
Nói năng chi cũng thừa
Phất phơ đời sương gió
Hồn mình gần nhau chưa?
Nguyễn Tất Nhiên

THƠ SÁU CHỮ.


Cách gieo vần

1. Vần tréo

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Đỗ Trung Quân

2. Vần ôm
Xuân hồng có chàng tới hỏi:
— Em thơ, chị đẹp em đâu?
— Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội
Huyền Kiêu

Nếu bước chân ngà có mỏi
Xin em tựa sát lòng anh
Ta đi vào tận rừng xanh
Vớt cánh vông vàng bên suối
Đinh Hùng

THƠ LỤC BÁT.

Lục bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà truyện Kiều là tác phẩm tiêu biểu nhất. Vần thơ lục bát có thể phân tách như sau:
2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6 8
bằng trắc bằng bằng
Tiếng thứ 6 của câu lục vần với tiếng thứ 6 của câu bát. Tiếng thứ 8 của câu bát vần với tiếng thứ 6 của câu lục tiếp theo. Trong câu bát, tiếng 6 và 8 tuy cùng vần bình nhưng một tiếng có dấu huyền và một tiếng không có dấu.
Thôn đoài ngồi nhớ thôn Ðông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Nguyễn Bính

Bỗng dưng buồn bã không gian
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
Huy Cận

Có hai ngoại lệ trong thơ lục bát:

1. Tiếng thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu.
Người nách thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.
Nguyễn Du

2. Tiếng cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó tiếng 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát, như trong câu ca dao sau:
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em.

Cách gieo vần trong thơ lục bát
Khác với thơ bảy chữ, thơ lục bát gieo vần ở cuối câu lục và ở chữ thứ 6 của câu bát theo luật như sau :
-Chữ cuối câu lục vần với chữ thứ sáu của câu bát , chữ cuối câu bát vần với chữ cuối câu lục tiếp theo, cứ như thế tiếp tục .
ví dụ :
Khúc đâu Tư mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng !
Kê Khang này khúc Quảng lăng,
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân

– các chữ thứ 2,4,6 của câu lục phải là bằng, trắc, bằng
Ví dụ : Trong như tiếng hạc bay qua B-T-B
-Các chữ thứ 2,4,6,8 của câu bát phải là bằng, trắc, bằng, bằng
ví dụ : đục như tiếng suối mới sa nửa vời B-T-B-B

SONG THẤT LỤC BÁT.

Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này. Trong câu thất trên, tiếng thứ 3 là trắc, 5 bình ( bằng ), 7 trắc; trong câu thất dưới, tiếng thứ 3 là bình, 5 trắc, 7 bình. Hai câu lục bát thì theo luật thường lệ.
Tiếng cuối câu thất trên vần với tiếng 5 câu thất dưới, tiếng cuối câu thất dưới vần với tiếng cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát. Và tiếng cuối câu bát vần với tiếng 5 của câu thất tiếp theo. Tuy nhiên, tiếng cuối câu bát cũng có thể vần với tiếng 3 câu thất, biến tiếng này đổi sang vần bình. Do đó, tiếng 3 trong câu thất trên có thể là trắc hay bằng.
3 5 7
trắc/bằng bằng trắc
3 5 7
bằng trắc bằng
   
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
            Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
             Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
Đặng Trần Côn

THƠ BẨY CHỮ.

Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:
2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6
trắc bằng trắc
Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
Xuân Diệu

Nhiều khi không lại như thế:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Hàn Mặc Tử

Cách gieo vần
1. Vần tréo (thường dùng)
Nhiều khi trong thi đoạn bốn câu, chỉ cần hai tiếng bình ở cuối câu hai và bốn vần với nhau, hai tiếng trắc cuối câu một và ba không cần:
Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
Một hôm trận gió tình yêu lại:
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.
Huy Cận

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Tô Thùy Yên

2. Vần ba tiếng bằng (thường dùng)

Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
Huy Cận

Dĩ vãng nào xanh như mắt em?
Chao ôi! Màu tóc rợn từng đêm!
Hàng mi khuê các chìm sương phủ
Vời vợi ngàn sao nhạt dáng xiêm.
Đinh Hùng

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
Quang Dũng

THO TÁM CHỮ.

Thể thơ này không có quy luật nhất định, có nghĩa là vần điệu tự do hơn. Thường thì trong câu ở cuối có tiếng trắc thì tiếng 3 trắc, tiếng 5 và 6 bằng; ở cuối có tiếng bằng thì tiếng 3 bằng, tiếng 5 và 6 trắc. Nhưng nhiều lúc cũng không như thế.
Cách gieo vần
1. Vần tiếp

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Tôi sẽ trách — cố nhiên — nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…
Hồ Dzếnh

2. Vần tréo

Hai đứa kéo nhau chạy vào mộng mị
Giờ tắt thở nằm trên bãi hư vô
Bầy ngựa chứng hàng thùy dương vó bão
Gió đưa trăng lăn vào đá tiếng ru
Tô Thùy Yên

Em sẽ chết với mảnh hồn trống đó
Chúa đứng đón em ở cửa thiên đường
Con trả chúa trái tim hồng lãng mạn
Dưới thế gian con dại dột cho chàng
Trần Mộng Tú

3. Vần ôm

Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
Tôi thay mực cho vừa màu áo tím.
Nguyên Sa

Không có em, chắc ngày mai anh chết
Anh sẽ buồn, sẽ kết tội trần gian
Nắng sẽ phôi pha, hoa sẽ úa tàn
Cây thành phố hai hàng giăng nước mắt
Vũ Thành
Muốn cho thơ tám tiếng thêm âm điệu, một số nhà thơ thường vần tiếng 8 câu trên với tiếng 5 hay 6 câu dưới:
Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau
Cao Tần

CÁCH LÀM THƠ TÁM CHỮ.

Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc ví dụ Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách, đệ có thể theo các cách tương tự như gieo vần thơ 7 chữ như sau :

1. Gieo vần ôm :
– Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 .
Ví dụ :
Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng
Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây
Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây
Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng

2. Gieo vần chéo :
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4
Ví dụ

Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc !
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian !
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt !
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn

Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa
Với tháng ngày biền biệt đuổi nhau trôi
Xuân đừng về ! Hè đừng gieo ánh lửa
Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi

3. Chữ cuối câu 1 vần với chữ 5 hay 6 câu 2 , chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3 và vần với chữ 5 hay 6 câu 4

Ví dụ :

cõi thiên tiên kiều diễm ngàn ảo ảnh
điện nguy nga tỏa muôn ánh pha lê
thuyền Từ Thức bồng bềnh tới bến mê
rồi ngơ ngẩn khi trở về hiện thực

Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ rtfm.gifồng không vần với lộng
Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau
Ví dụ :

Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến

Đây là quán tha hồ muôn khách đến
Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
Đây là vườn chim nhả hạt mười phương,
Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc

THẤT NGÔN BÁT CÚ.

Thất ngôn bát cú (7 tiếng (chữ) 8 câu) là thể cơ bản của thơ Đường luật.
Về Vần: Trong 7 tiếng 8 câu thì chữ cuối câu một và các câu chẳn vần với nhau (vần chân và độc vận). Vần chủ yếu là vần bằng; cũng có vần trắc nhưng ít gặp hơn.
Về Thanh: Phổ biến là luật bằng – vần bằng: Chữ thứ hai, chữ thứ sáu và chữ thứ bảy ở câu một là thanh bằng, còn chữ thứ tư là thanh trắc.
Sơ đồ như sau:
1 bB tT tBB (vần)
2 tT bB tTB (vần)
3 tT bB bTT
4 bB tT tBB (vần)
5 bB tT bBT
6 tT bB tTB (vần)
7 tT bB bTT
8 bB tT tBB (vần)

Chú ý:
nhất, tam, ngũ bất luận
nhị, tứ, lục phân minh
Nghĩa là:
_ Những chữ thứ 1,3,5 không bắt buộc phải theo đúng thanh.
_ Những chữ thứ 2,4,6 bắt buộc phải theo đúng thanh.

Ví dụ:

Hà Nam Tức Sự

Hà Nam danh giá nhất ông cò,
Trông thấy ai ai chẳng dám ho.
Hai mái trống tung đành chịu dột,
Tám giờ chuông đánh phải nằm co.
Người quên mất thẻ âu trời cãi,
Chó chạy ra đường có chủ lo.
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được,
Phen này ắt hẳn kiếm ăn to.
Trần Tế Xương

Tức Sự: cảm hứng trước những sự trông thấy. Thơ tức sự là một lối thơ nhân thấy một việc gì mà làm ra.
Cũng có thể có luật trắc – vần bằng: chữ thứ hai và chữ thứ sáu của câu một là trắc và chữ thứ tư và chữ thứ bảy ở câu một là bằng.

Ví dụ:

Hội Tây
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo,
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.
Khen ai khéo vẽ trò vui thế,
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.
Nguyễn Khuyến

Về Niêm: Tức là sự liên hệ về âm luật giữa hai câu thơ chẳn và lẻ đi liền nhau: Chữ thứ hai, chữ thứ tư và chữ thứ sáu của hai câu đó phải cùng thanh bằng hoặc cùng thanh trắc. Phải đúng niêm ở hai câu 2-3, 4-5, 6-7, và 8-1.
Về Bố Cục: Bài thơ thất ngôn bát cú phải được cấu tạo thành bốn phần như sau:
1- Đề:
Hai câu đầu gồm có:
– Phá đề (câu 1): mở vào bài
– Thừa đề (câu 2): nối với phá đề chuẩn bị chuyển tiếp sang phần sau.
2- Thực:
Hai câu tiếp( câu 3 và 4):
– Giải thích đầu đề, bắt đầu vào thân bài. (Hai câu này phải đối nhau)
3- Luận:
Hai câu tiếp(câu 5 và 6):
– Bàn luận vào đầu đề, đi sâu vào thân bài.
– Bốn câu thực và luận yêu cầu phải đối nhau theo từng cặp.
Thí dụ :
Câu 3 đối câu 4
Bà quan tênh nghếch xem bơi trãi,
Thằng bé lom khom nghé hát chèo.
Bà quan đối Thằng bé ; tênh nghếch đối lom khom ; xem bơi trãi đối nghé hát chèo.
Câu 5 đối câu 6
Cậy sức, cây đu nhiều chị nhún,
Tham tiền, cột mỡ lắm anh leo.
Cậy sức đối Tham tiền ; cây đu nhiều chị nhún đối cột mỡ lắm anh leo
4- Kết:
Hai câu cuối:
– Gói chủ đề lại và phát biểu tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.
Nhìn chung, xét cả về vần, niêm, luật và bố cục, bài thơ thất ngôn bát cú là một kết cấu hoàn chỉnh, cô đúc, nhưng quá chặt chẽ và gò bó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý-nghĩa thơ Đường Luật:
Thơ Luật lấy tình và cảnh làm tư liệu, lấy ý và từ làm sự vận dụng . Tình nhiều cảnh rõ, ý cao, từ đẹp là thơ hay .
Mỗi bài thơ Luật tám câu, chia ra làm hai giải
Giải trên bốn câu:
Hai câu 1,2 mở đầu cho một chủ đề (khởi)
Hai câu 3,4 nói lên tình trạng của chủ đề cho rõ ràng (thực)
Giải dưới bốn câu:
Hai câu 5,6 từ cái tình trạng mà bàn đến cái cảnh diễn ý rộng thêm(luận)
Hai câu 7,8 hợp ý cả bài của chủ đề (kết)
Những câu mở đầu hay kết , đều cốt ở dùng ý, mà dùng ý thì cần nói cho rõ , cho nên những câu ấy đi lẽ không cần đối
Những câu thực (tình) hay luận (cảnh) đều cốt dùng từ, mà dùng từ thì cần lời nói cho đẹp, cho nên những câu ấy phải đối với nhau

Những đều ấy rất quan hệ trong sự làm thơ Đường Luật

**********
Thất Ngôn Bát Cú
Là thơ có 8 câu, mỗi câu có 7 chữ và có 5 vần
Thơ luật chỉ dùng cùng một vần và chỉ dùng vần bằng
VẦN: Chữ thứ 7 là chữ cuối của các câu 1-2-4-6-8 phải có cùng vần với nhau
LUẬT: Chữ thứ 2-4-6-7 của các câu bắt buộc phải theo Luật Bằng hay Trắc
Chữ thứ 1-3-5 của tất cả các câu không theo luật
(tuy nhiên, vì câu 3,4,5,6 có đối, nếu các chữ 1,3,5 giữ được theo luật đối bằng trắc thì tốt)
NIÊM:
Là làm cho chắc hay dính với nhau
Nghĩa là: tiếng trắc, đi với tiếng trắc; tiếng bằng đi với tiếng bằng
như câu 1 và câu 8 luật bằng trắc các chữ phải giống nhau thì gọi là niêm
Câu 2 đi với câu 3
Câu 4 đi với câu 5
Câu 6 đi với câu 7 đều phải niêm như vậy
Lưu ý: Luật Niêm không áp dụng cho chữ cuối câu (vì đã theo luật vần) và các chữ thứ 5
ĐỐI:
Khi làm thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật bắt buộc câu 3 phải đối với câu 4 , và câu 5 phải đối với câu 6
Đối là gì ?
Là điều trái lại , hay có tính cách ngược nhau (opposite)
1/ Đối theo luật bằng trắc:
hễ chữ thứ 1 trên câu ba là luật trắc
thì chữ thì chữ thứ 1 dưới câu bốn phải là luật bằng (luật trắc thì ngược lại)
và cứ như vậy cho các chữ còn lại phải theo luật định trên
* Coi các câu thơ đối 3 và 4 , 5 và 6 trong hai bài thơ dưới thì sẽ hiễu
Ví dụ: hai chữ Trời , Đất
Chữ trời là luật bằng, vì là dấu huyền
Chữ đất là luật trắc, vì là dấu sắc
Hai chữ trên đây đã đối luật
2/ Đối ý nghĩa: hai chữ này có ý trái ngược nhau , một chữ nói về trên trời, một chữ nói về dưới đất
3/ Đối theo từ loại: phải tương-ứng và cân-xứng như :
Danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ
Danh tư`như: bao gồm tên người và vật hay địa danh
Quang-Trung, Nha Trang, Bướm, Hoa …
Động từ như: đi, chạy,nhảy …
Tính từ như: đỏ, vàng, hồn nhiên, hóm hỉnh …
Dưới đây là một số từ đối với nhau:
mẹ<>cha / má<>ba / anh<>chị / em<>chị / chú<>cô / cậu<>dì
kẻ<>người / tôi<>bạn / thầy giáo<>học trò / thầy hiền<>bạn tốt
chợ<>trường<>lớp / đình<>miếu / phố<>làng
ong<>bướm / chim<>cá / gà<>vịt / chó<>mèo
chuột<>voi / hổ<>nai / cọp<>beo
đi<>chạy<>bò / nhảy<>bò / mang<>gánh / đào<>xới / cày<>cấy
Đất<>Trời / núi<>đồi / biển<>sông / gió<>mây
nắng<>mưa / bão<>dông / ướt<>khô
sớm<>trưa / tối<>chiều / sáng<>chiều
yêu<>ghét / hờn<>giận / cười<>khóc
cõi<>nơi / lúc<>khi / hay<>cũng / kia<>nọ / dù hay<>dẫu có
nhạc<>thơ<>họa / thi<>tửu
túi thơ<>bầu rượu / bài thơ<>bản nhạc / tập thơ<>be rượu
kèn<>trống / tiêu<>sáo / vang<>vọng /chuông<>mõ
cạnh<>bên / dưới<>trên / cuối xuống<>trông lên
tới<>lui / ngược<>xuôi / trước<>sau
… còn nhiều lắm , các bạn có thể biết thêm khi coi các câu thơ có đối , hoặc trong sách thơ .
có ai nhứt đầu hong vậy ?
Luật có hai thứ: một thứ luật bằng và một thứ luật trắc .
Hễ chứ thứ 2 của câu thơ đầu là tiếng bằng, thì gọi là luật bằng
Hễ chữ thứ 2 là tiếng trắc, thì gọi là luật trắc .

Thất Ngôn Bát Cú Luật Bằng

Chữ….1..2..3..4..5..6..7
Câu 1: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)
Câu 2: tb-T-tb-B-tb-T-B(v)
Câu 3: tb-T-tb-B-.B-T-T—-(đối câu 4)
Câu 4: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)(đối câu 3)
Câu 5: tb-B-tb-T-tb-B-T—-(đối câu 6)
Câu 6: tb-T-tb-B-tb-T-B(v).(đối câu 5)
Câu 7: tb-T-tb-B-B-.T-T
Câu 8: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)

*******Xuân Tàn******
Mùa đông lạnh lẽo đã dần tan
Nắng ấm xuân sang bướm chập chờn
Trước cổng lưa thưa vài bụi trúc
Bên thềm một dãy mấy cành lan
Hai câu đối đỏ treo nơi cửa
Bốn bánh chưng xanh để cạnh bàn
Vạn cánh hoa mai rơi dưới đất
Như đang báo hiệu ánh xuân tàn

BT

Thất Ngôn Bát Cú Luật Trắc

Chữ….1..2..3..4..5..6..7
Câu 1: tb-T-tb-B-tb-T-B(v)
Câu 2: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)
Câu 3: tb-B-tb-T-B-B.-T—-(đối câu 4)
Câu 4: tb-T-tb-B-tb-T-B(v)(đối câu 3)
Câu 5: tb-T-tb-B-tb-T-T—-(đối câu 6)
Câu 6: tb-B-tb-T-tb-B-B(v)(đối câu 5)
Câu 7: tb-B-tb-T-B-B.-T
Câu 8: tb-T-tb-B-tb-T-B(v)

*******Cuội Nga Mơ Mộng******
Một tối đêm kia nguyệt sáng mờ
Hồn tôi mãi miết nghĩ vần thơ
Nhìn trăng Chú Cuội như vui vẻ
Thấy bóng Hằng Nga giống khóc cơ
Chú Cuội đêm kia nằm mớ mộng
Hằng Nga sáng nọ đứng màng mơ
Bao nhiêu áng mộng theo mây khói
Rớt bút buông thơ, ngũ ngáy khò

V=là Âm Vần
T=lớn là phải theo luật Trắc (sắc, hỏi, ngã, nặng)
B=lớn phải theo luật Bằng ( dấu huyền và chữ O dấu )
tb=nhỏ là luật Trắc hay Bằng (nhưng nhớ phải theo niêm luật)

CÁCH VIẾT ĐÚNG NIÊM LUẬT BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Một bài thơ đường hoàn chỉnh được kết cấu bố cục như sau:

+) ĐỀ – THỰC (TRẠNG) – LUẬN – KẾT 
 … Còn nhiều cách gọi khác

Tùy theo cách gọi của mỗi người nhưng cái chung nhất vẫn là: ĐỀ – THỰC – LUẬN – KẾT

1-ĐỀ:
– Phá đề (câu 1) giới thiệu tựa đề.
– Thừa đề (câu 2) chuyển đề xuống.
2-THỰC : câu 3 và 4: giải thích, khai triển tựa đề.
3-Luận: câu 5 và 6: bàn luận ý nghĩa của bài.
4- Kết: câu 7 và 8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm, thái độ với sự vật sự việc trong bài.

          Quy tắt bắt buột phải nhớ:

         1) Các dấu: Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng thuộc về thanh trắc (T)

         2) Các dấu Huyền, Thanh ngang tức không dấu thuộc thanh bằng (B)

        3) Nhất, Tam, Ngủ bất luận ( không viết theo luật nhưng tất cả chữ thứ 5 trong câu 1, 2, 4, 6, 8 trắc (T) được càng tốt )

          4) Nhị, Tứ, Lục phân minh ( phải viết theo luật nếu chữ thứ 2 trong một câu là bằng (B), thì chữ thứ 4 phải trắc(T) và chữ thứ 6 là bằng (B) nếu sai không thể nói là thơ Đường Luật được)

          5) Niêm

                1 niêm với 8
                2 niêm với 3
                4 niêm với 5
                6 niêm với 7

          Sau đây là một VD minh họa:

LĂNG MAI XUÂN THƯỞNG

Lưng ngựa ba đông dặm chiến trường
Hoành sơn đá chất nghĩa Cần Vương
Làu làu bóng rạng gương Hoàng Nguyễn
Vọi vọi nền cao tiết Vũ Trương
Ôm ấp hùng tâm bia chuốt ngọc
Giữ gìn trung cốt đất sanh hương
Trăng lên ba biểu chờ tin hạc
Một nén tinh thành gió bốn phương
Tú Xương

          Bài thơ này thuộc luật trắc, vần bằng. ( cách nhận dạng bài thơ khởi Xướng theo luật gì: nếu chữ thứ 2 của câu mở đầu Bằng (B) thì bài thơ thuộc luật bằng (B), nếu chữ thứ 2 của câu mở đầu Trắc (T) thì bài thơ thuộc luật trắc (T) )

          Cách tiến hành kiểm tra bài viết có đúng niêm luật chưa:

          Lấy bài trên xuống tô màu các chữ thứ 2, thứ 4, thứ 6 trong mỗi câu và đọc từ trên xuống:

LĂNG MAI XUÂN THƯỞNG

                  2                      4                            6

Lưng     ngựa   ba      đông     dặm       chiến       trường
Hoành   sơn     đá      chất      nghĩa      Cần       Vương
Làu       làu    bóng    rạng      gương    Hoàng     Nguyễn
Vọi        vọi    nền      cao       tiết                 Trương
Ôm        ấp    hùng    tâm       bia        chuốt        ngọc
Giữ       gìn    trung    cốt       đất         sanh       hương
Trăng    lên     ba       biểu      chờ          tin          hạc
Một      nén    tinh     thành    gió         bốn        phương

Tú Xương

 Đọc chữ thứ 2, 4, 6 từ câu 1 đến câu 8:

+) Trắc bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc ( chữ thứ 2 từ câu 1 xuống câu 8 )

+) Bằng trắc trắc bằng bằng trắc trắc bằng ( chữ thứ 4 từ câu 1 xuống câu 8 )

+) Trắc bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc ( chữ thứ 6 từ câu 1 xuống câu 8 )

Hoặc xếp theo ký hiệu: ( chú ý ở đây chỉ kiểm tra theo luật chữ thứ 2, 4, 6 nhũng ký tự khác bỏ qua )

         2        4        6

1. B  T  B  B  T  T  B

2. B  B  T  T  T  B  B
3. B  B  T  T  B  B  T

4. T  T  B  B  T  T  B
5. B  T  B  B  B  T  T

6. T  B  B  T  T  B  B
7. B  B  B  T  B  B  T

8. T  T  B  B  T  T  B

Và đây là bài luật bằng vần bằng đọc như trên nhé chỉ ngược lại thôi.

TỰ TÌNH 2

Tiếng văng vẵng gáy trên bom
Oán hận trông ra khắp mọi chòm
thảm không thuacũng cốc
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ
Sau giậnduyên để mõm mòm
Tài tử văn nhân ai đó
Thân này đâu đã chịu già tom.
Hồ Xuân Hương

6. Đối

Có 2 cặp đối

+) 3 đối với 4

+) 5 đối với 6 ( thành thạo niêm luật học đối sau nhé )

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG TRONG THI VĂN VIỆT NAM. Giải mã Đường Thi ( 2 )

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Mười Một 2012
M T W T F S S
« Oct   Dec »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
2627282930  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,025 hits

%d bloggers like this: