Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức ( kỳ 11 đến kỳ 19 )

07/03/2012 at 8:55 chiều 1 Bình luận


Markus Wolf                            

http://ethongluan.org/component/content/article/733.html

 “…dùng căn cước của những người đã chết trong trận bom tại Dresden để làm bình phong cho các điệp viên định cư bên phương Tây, nhưng luôn luôn có cái rủi là một người sống sót tình cờ xuất hiện và phá hỏng nguỵ trang của điệp viên…”

 Ngay sau khi Bức Tường được dựng, một vài dải đất biên giới nằm trong vùng thôn quê vẫn còn dễ thâm nhập. Nhân cơ hội này tôi thúc đẩy các điệp viên khoa học và kỹ thuật, có một vài người chưa được huấn luyện kỹ lưỡng, sang Công Hoà Liên Bang Đức, nhưng chúng tôi mỗi lúc một khôn ngoan hơn trong việc giả mạo căn cước. Các giới chức phương Tây bẳt đầu đòi hỏi chứng cớ căn cước và những chi tiết về đời tư. Việc sử dụng các máy vi tính giúp cho họ kiểm soát tin tức dễ dàng hơn khi họ đem so với những hồ sơ lưu trữ ở nơi khác hoặc do các cơ quan chính quyền lưu giữ.

Nhưng cùng lúc Tây Đức nhanh chóng tìm phương pháp kiểm soát những người xâm nhập, chúng tôi tìm ra những phương pháp mới để đánh lừa họ. Đây là một cuộc chạy đua tuyệt vời và nhiều hào hứng. Chúng tôi có lợi thế trong việc này, tôi lấy một ví dụ, dùng căn cước của những người đã chết trong trận bom tại Dresden để làm bình phong cho các điệp viên định cư bên phương Tây, nhưng luôn luôn có cái rủi là một người sống sót tình cờ xuất hiện và phá hỏng nguỵ trang của điệp viên. Điều này mỗi lúc xảy ra thường xuyên hơn vì hệ thống máy vi tính của phản gián Tây Đức được mở rộng và đào sâu, vì vậy chúng tôi cuối cùng phải đình chỉ trò dựng xác chết dạy.

 Nhưng tôi cũng gặp khó khăn với chính phe của tôi. Họ tìm cách tập trung hồ sơ. Erich Mielke, cấp trên của tôi trong chức Bộ Trưởng Công An, nhất quyết buộc tôi cung cấp danh sách tập trung các điệp viên của tôi. Tôi dứt khoát từ chối. Sự giằng co này keo dài mãi cho đến ngày tôi từ chức. Tôi hãnh diện nói rằng dưới sự chỉ đạo của tôi không có một nơi nào trong cơ quan của tôi lưu trữ danh sách của tất cả những điệp viên. Tôi quyết định không lưu giữ một thẻ hoặc đĩa vi tính nào ghi lại tất cả các chi tiết hoạt động của chúng tôi. Trái lại, tôi khai triển một phương pháp qua đó danh tính của người cung cấp tin chỉ có thể biết nếu ba trên năm chi tiết được tiết lộ. Để có thể tiếp tục tìm kiếm, mỗi một chi tiết cần phải được kiểm chứng với chi tiết khác. Chúng tôi có những thẻ của hàng trăm ngàn cá nhân, trong đó có rất nhiều tên của phương Tây, từ dân biểu Quốc Hội cho đến những giám đốc kỹ nghệ, những thành viên của Uỷ Ban Kiểm Soát Đồng Minh. Những danh thẻ riêng biệt của nhân viên chúng tôi được lưu giữ tại mỗi cục; một cục quản lý nhiều nhất là từ sáu chục cho đến một trăm nguồn tin, điệp viên, giao liên, vân vân. Mỗi một thẻ ghi bí danh, địa chỉ, vùng và số hồ sơ. Con số quy chiếu về một hồ sơ chứa đựng tên thực của cá nhân điệp viên. Chồng thẻ nhỏ này trong mỗi cục thường được một sĩ quan cao cấp cất giữ. Bất kỳ ai muốn tìm kiếm hồ sơ phải trình bày lý do cho sĩ quan này, và nếu hồ sơ liên quan đến một gián điệp, người phụ trách đã có sẵn câu chuyện nguỵ trang. Trong thời chiến hoặc những lúc căng thẳng, công việc của sĩ quan là đem cất giấu hồ sơ của điệp viên ra khỏi bộ và đem về tổng tham mưu tạm thời của chúng tôi.

Một người không thẩm quyền muốn xem những thẻ và hồ sơ này phải lặn lội qua một số lượng khổng lồ giấy tờ để tìm ra hồ sơ thích hợp. Công tác tìm kiếm bí danh của một điệp viên cho ăn khớp với tên thật của y chắc chắn sẽ gây chú ý, trái ngược với những gì sẽ xảy ra nếu những hồ sơ này nằm trên đĩa vi tính. Tính cách vô bổ của công tác tìm kiếm này không phiền hà tôi tí nào vì tôi và các sĩ quan cao cấp của tôi lưu giữ tên tuổi của những điệp viên quan trọng nhất trong trí óc của chúng tôi. Từ đó trở đi, tôi dùng khuôn mẫu màng nhện để nhận diện những mối giấy liên lạc giữa các hệ thống điệp viên tại Đức thời hậu chiến. Tôi nhận thấy quả thật dễ dàng nhét những tên mới vào đầu tôi. Với phương cách này, việc đem tản mác hồ sơ đem lại an toàn cho chúng tôi. Khi chúng tôi gặp phản bội trong hàng ngũ, sĩ quan đào thoát chỉ biết những mối giây y điều khiển hoặc là những tin đồn y nghe ngóng qua những lời bất cẩn – mặc dù chúng tôi nghiêm cấm việc này, thường hay xảy ra trong những tổ chức rộng lớn.

Vào thập niên 1950, chúng tôi tiếp cận khá sâu sát với các gia đình quý tộc của Tây Đức. Một vài người trong giới này cảm thấy họ có bổn phận làm nguôi đi mặc cảm tội lỗi của giai cấp của họ vì họ đã không ngăn cản được việc Hitler lên nắm chính quyền. Một số khác không đóng một vai trò nổi bật nào và đôi khi không được quyền sử dụng danh tước của mình trong chế độ Cộng Hoà Liên Bang mới này. Nhiều người bị ông thủ tướng Adenauer, một người bài bác chủ nghĩa quốc gia, ủng hộ Hoa kỳ, loại trừ ra khỏi chính trường. Họ vẫn có một ước vọng mãnh liệt tham gia chính sự và nhiều người xem việc cộng tác với chúng tôi như là một cố gắng ngoại giao bí mật. Tôi chứa gặp một ai tự nhận mình là kẻ phản bội cả.

Tuy nhiên có một vài người bị Max Heim phản bội. Max Heim là giám đốc phụ trách đánh phá đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Tây Đức, một phó cục của Cục 2. Đương sự đào thoát hai năm trước khi Bức Tường sụp đổ, tiết lộ tình hình hiểu biết của chúng tôi về các đảng lãnh đạo tại Bonn và chỉ đường cho cơ quan phản gián Tây Đức đến bắt nhiều điệp viên của chúng tôi.

Trong số những người này có Wolfram von Hanstein. Nhờ vị thế xã hội cao ở phương Tây, ông đã xây dựng được một số đường giây liên lạc hữu dụng. Cha của ông và ông nội của ông là những giáo sư đại học và văn sĩ nổi tiếng, và Hanstein muốn tiếp tục truyền thống gia đình của những người trí thức phong lưu. Trước thế chiến ông sống và có được chút uy danh bằng nghề viết tiểu thuyết dã sử . Ông từ chối không nhập ngũ và sống ẩn dật vào thời kỳ chiến tranh, ông được đưa vào trại giam của Xô Viết và tại đây ông trở thành cộng sản. Ông định cư tạiDresdenvà cống hiến cuộc đời cho chủ nghĩa cộng sản. Trước khi von Hanstein và vợ sang phương Tây do lời yêu cầu của chúng tôi, họ cống hiến đất và biệt thự Dresden của họ cho nhà nước và sau đó giao cho Bộ Công An. Tại Bonn, viễn kiến nhân bản và tên tuổi của gia đình ông giúp ông nhanh chóng bước lên chức vị cao nhất trong giới vận động nhân quyền. Ông thân thiện với Heinrich Krone, bộ trưởng đặc trách về vấn đề an ninh của Adenauer, và Ernst Lemmer, bộ trưởng thuộc đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, trông coi về bang giao giữa hai nước Đức. Ông cũng thông báo tường tận về những hoạt động của Văn Phòng Đông của đảng SPD và xâm nhập nhiều tổ chức chống cộng. Ngay cả lúc bị giam giữ sáu năm trong tù, ông tiếp tục chăm chỉ làm việc và bắt liên lạc được với các bạn tù sau này cho chúng tôi. Sau khi ông được thả ra, von Hanstein xin được trở về Đông Đức, nơi đây ông qua đời năm 1965.

Một điệp viên khác bị Heim phản bội là Baron von Epp. Là một hậu duệ của một nhà quý tộc đã hỗ trợ Hitler từ những ngày đầu của phong trào Quốc Xã, von Epp làm việc cho chúng tôi để tìm cách chuộc lại mối nhục của gia đình. Khi ông bị bại lộ và bỏ tù, tôi thấy tiếc việc ông ra đi, mặc dù tôi không lấy làm ngạc nhiên. Là một con bài bất kham, ông công tước tiếp cận với cơ quan chúng tôi và tuyên bố sẵn sàng hoạt động khủng bố, nhưng ông thất vọng vì chúng tôi nói chúng tôi cần những trợ giúp kín đáo và liên lỉ để thu thập những tài liệu mật có tính hữu dụng.

Trước những ngày bầu cử năm 1969, chúng tôi phải đặc biệt theo dõi những thay đổi trong phong cảnh chính trị tạiBonn. Trong cuộc bầu cử này đảng Dân Chủ Xã hội đạt kết quả tốt đẹp nhất trong thời hậu chiến và chuẩn bị con đường đưa họ lên đỉnh cao của quyền lực. Vào đúng lúc này, xuất hiện một trong những điệp viên quái đản nhất mà tôi sung sướng gặp gỡ, tài phiệt Hannsheinz Porst. Tôi đã từng gặp nhiều cỡ trí thức ủng hộ chủ nghĩa Cộng Sản vì tất cả mọi lý do, cao cả và tầm thường có, nhưng tôi chưa bao giờ gặp một nhân vật có sức thuyết phục và lương thiên như ông, trong phong cách đặc biệt của ông. Với dáng người bé nhỏ nhưng có uy lực, ông có phong cách của một doanh nhân trẻ nhiều sinh lực. Điều đầu tiên tôi phải làm quen là trong khi nói chuyện chỉ có một con mắt của ông nhìn tôi, con mắt kia đã bị hư hỏng vào ngày cuối chiến tranh vì một quả lựu đạn nổ kề mặt ông.

Mối giấy liên lạc với Porst được kết là nhờ một người anh em họ của ông, một người tên Karl Böhm. Cả hai người đều sinh trưởng tạiNuremberg, và vào lúc thiếu thời của Porst, Böhm đóng vai trò người anh cả, người tâm sự và mẫu mực. Khi nhóm Quốc Xã nắm chính quyền, Böhm bị bắt vì là đảng viên Cộng sản và bị kết án sáu năm tù trong trại tập trungDachau. Cậu bé Porst không hiểu tại sao người thân thuộc đáng kính đã bị bắt đi và mong người ấy trở về, mặc dù cha mẹ của cậu nói nhỏ cho cậu biết là đôi khi có người không trở về từ các trại này.

Khi hạn tù chấm dứt, cha của Hannsheinz giao việc làm cho Karl trong một cửa hàng chụp ảnh nhỏ. Đây là một bước can đảm của một người phi chính trị, nhưng ông có tiếng là một người cần cù liêm chính. Nghề nhiếp ảnh phát triển vào thập niên 30, và khi chiến tranh bùng nổ, ông bố của Porst đã gầy dựng nên một kinh doanh phồn thịnh nhờ chụp hình những chàng thanh niên bảnh bao mặc quân phục, thường là tấm ảnh cuối cùng mà vợ và gia đình của họ còn giữ lại.

Vì mang lý lịch của một đảng viên Cộng Sản, Böhm bị đưa vào sư đoàn trừng giới đáng sợ. Quốc Xã Đức xem những người này như những tên lính không đáng tin cậy về mặt ý thức hệ và đối xử thích nghi với họ bằng cách đẩy họ vào những công tác tự sát. Nhưng Böhm vẫn sồng sót sau chiến tranh. Porst lúc đó làm sĩ quan phòng không ở đầu trận tuyến. Và khi họ được đoàn tụ trở lại, họ quyết định thành lập một nhà xuất bản. Porst sau này kể lại cho tôi « Karl nói về ý thức tuyệt đối để xây dựng một xã hội mới, an bình, và trong không khí giả dối của những năm tiếp sau 1945, tôi rất sung sướng được nghe một người nói lên điều này, một người đã từng đương đầu với bách hại, một người có phong cách tri hành hợp nhất ».

Chiến tranh chấm dứt, Böhm tiếp tục công khai ủng hộ chủ nghĩa cộng sản, và kết quả là chính quyền Hoa Kỳ không cấp môn bài kinh doanh cho các anh em họ Böhm. Böhm tức giận chạy sang Đông Đức và Porst ở lại Tây Đức. Porst tiếp tục làm việc với người cha và tỏ ra là một doanh nhân trẻ tài giỏi, đứng đầu một công ty trên đà phát triển trong vòng mười năm. Với cổ phần còn lại của công ty, ông mua máy in đặt ở ngoại ôNurembergvà cuối cùng trở thành một nhà in lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất tại nước Tây Đức mới.

Böhm cũng tìm đường sinh sống, mặc dù nằm trong một thế giới khác với những giá trị khác. Böhm đã thành công trong nghề xuất bản tại Đông Đức, một ngành dưới sự kiểm soát của nhà nước do Bộ Văn Hoá quản lý. Böhm là giám đốc của Văn Phòng Văn Hoá (Amt für Literatur). Văn phòng này che giấu cái gọi là trụ sở hợp pháp của cục tình báo hải ngoại của tôi, trong đó gồm một đội từ một đến hai sĩ quan làm việc cho ngành xuất bản của bộ. Tôi không rõ có phải là Böhm bắt liên lạc với Porst cho họ hoặc là theo như tôi được biết lúc đó, mối giấy liên lạc chỉ là một sự tình cờ. Nhưng dù gì đi nữa, vào những nửa thập niên 1950, hai điệp viên nguỵ trang gặp gỡ anh thanh niên chủ nhân kinh doanh tại phiên chợ Leipzig và thấy anh ta có cảm tình với mối lo âu của phía Đông Đức với việc tái vũ trang của Tây Đức. Chúng tôi tiếp cận với Porst và chúng tôi yêu cầu đương sự gia nhập đảng Đoàn Kết Dân Chủ Thiên Chúa Giáo của Adenauer và thông báo cho chúng tôi về những sinh hoạt của đảng này.

Đây là một bước quá xa đối với một nhà kinh doanh có đầu óc độc lập. Anh ta thu xếp để gặp người anh họ và cho biết anh ta rất sung sướng giúp Đông Đức biết về đường lối chính trị của Tây Đức, nhưng anh ta không thể là con cờ của họ. May mắn thay tôi ghé thăm Böhm vào mùa hè nắm đó tại Karlsbad, một trung tâm suối kháng của Tiệp, tại đây Böhm đến chữa trị bệnh cao huyết áp. « Em họ của tôi có tính khí độc lập» Böhm nói với tôi. « Nó không chịu ai dạy bảo hoặc bị sai khiến. Nhưng nó muốn nói chuyện về bối cảnh chính trị của hai nước Đức. Tại sao ông không liên lạc trực tiếp với nó ?».

Cuộc gặp gỡ đầu tiên với Porst là ở nhà nghỉ mát cuối tuần Böhm nằm ở ngoại ô Đông Bá Linh. Porst không ngừng chỉ trích Cộng Hoà Dân Chủ Đức. Khi tôi cố gắng phản kháng rằng phần lớn những thái quá của chúng tôi là do phản ứng chống lại những mối đe doạ của phương Tây, đương sự lắc đầu giống như một chuyên viên tham vấn về quản lý đang xem xét một cơ xưởng không được quan lý tốt và nói với tôi rằng những vấn đề của chúng tôi phần lớn là do chúng tôi tự tạo ra, khởi sự là việc đối xử bất nhã đối với du khách tại biên giới và kết thúc với tệ quan liệu hành chánh và tính chất không hiệu năng đang gây xáo trộn trong nền kinh tế của chúng tôi. « Cứ nhìn các cửa hàng quốc doanh tồi tệ của nhà nước, » đương sự lắp bắp nói.  « Nếu tôi điều khiển chúng, chúng sẽ trở nên hấp dẫn và tạo lợi nhuận giống như những cửa hàng chụp ảnh của tôi ở nhà».

Lúc đó, tôi vẫn còn nhạy cảm đối với những lời phê bình như vậy, vì tôi bị vây hãm trong não trạng phải nhìn những khía cạnh tốt của phe xã hội chủ nghĩa. Tôi bực tức ngồi nghe liệt kê danh sách những thất bại được trưng bày giống như làm kinh doanh. Nhưng có một vài điểm tôi phải công nhận, chẳng hạn như sự trì độn khủng khiếp và tính cách một chiều của giới truyền thông chúng tôi.

Mặc dù hiểu biết về những khuyết điểm của Đông Đức, Porst tin rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa ở đây, đặc biệt về hệ thống an sinh xã hội và truyền thống chống phát-xít, biểu trưng cho một đường lối đáng tin cậy khác với chủ nghĩa tư bản của Tây Đức. Một trong những chỉ dấu tinh tế và khuynh hướng chính trị của ông là phương thức ông khai triển để chia sẻ quyền sở hữu cơ xưởng với nhân viên của ông. Giống như nhiều điệp viên kinh doanh của chúng tôi, Porst luôn luôn tìm cách khai triển sáng kiến của mình. Ông có thể xoay tức khắc từ những phân tích cứng rắn trong quyết định nhập cảng những máy chụp hình và các sản phẩm điện tử của Nhật Bản vào Tây Đức – phương cách này đã giúp cho ông trở thành triệu phú – sang viễn kiến lãng mạn của một nước Châu Âu công bình và xã hội hơn.

Tôi sửng sốt vì những chi tiết trong công trình của ông và tôi hăm hở muốn biết thêm về thế giới của đại tư bản, một chủ nghĩa chúng tôi lên án những chúng tôi chưa thực sự hiểu rõ. Mặt khác ông lại muốn bàn về lý thuyết của Mác. Có lẽ tôi muốn trở thành một tay tư bản để thoát khỏi con người xã hội chủ nghĩa của tôi. Nhưng dù sao đi nữa, chúng tôi trở thành một mối hợp tác vượt lên trên những chi tiết tình báo.

Ông nói ông không thích gia nhập đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo vì họ có đầu óc quân binh và tôn thờ những giá trị người Phổ. Họ làm cho ông liên tưởng đến đàng bảo thủ Trung Tâm Công Giáo tiền chiến. Đảng này tỏ ra vô hiệu khi đối đầu với mối đe doạ của Hitler. Trái lại, ông tham gia đảng Dân Chủ Tự do, một nơi trú ngụ chính trị tự nhiên của các nhà kinh doanh. Nhờ vào những mối liên hệ chặt chẽ với đảng trung hoà hậu chiến này, ông có khả năng thăm dò những nhân vật lãnh đạo như Walter Scheel, sau này trở thành tổng thống của Tây Đức, và cấp lãnh đạo của Dân Chủ Tự Do, Erich Mende. Mende không biết Porst là một điệp viên nhưng biết ông có liên hệ với Cộng Hoà Nhân Dân Đức. Có một số nhân vật tiếng tăm vạch một lằn ranh mỏng giữa lời nói và việc cộng tác với một thế lực ngoại bang.

Khi ông già Adenauer cuối cùng bắt buộc phải từ chức năm 1963, người kế vị, ông Ludwig Erhard, mời ông Mende gia nhập chính phủ. Ông Mende, một người chủ xướng tự do, không muốn đưa đảng của mình vào một liên minh với một chính quyền thủ cựu, nhưng tôi nhận biết ông Mende có cảm tình với ý nghĩ hoà hợp và yêu cầu Porst thuyết phục bạn của mình gia nhập chính phủ. Cuối cùng Mende trở thành bộ trưởng Bộ Nội Vụ Tây Đức, một vị thế từ đó chúng tôi có thể tạo ảnh hưởng.

Chúng tôi không bao giờ tiếp cận với một bộ trưởng và ngu si đề nghi ông ấy trở thành nguồn tin cho chúng tôi. Nhưng bao lâu ông ấy bàn chuyện với những người bạn cũ và các đồng nghiệp, và những người này báo cáo cho chúng tôi, chúng tôi không dùng phương pháp này. Chúng tôi đặt một bí danh cho Mende là Elk. Những trường hợp như vậy khi một nhân vật có tiếng tăm lại có bí danh trong một hồ sơ ghi lại những quan điểm của mình, gây nên xáo trộn sau khi Đông Đức xụp đổ. Người ta cho rằng một tấm thẻ trong hồ sơ của chúng tôi có nghĩa là đối tượng đã ký kết hợp tác với chúng tôi. Nhưng chúng tôi hài lòng với rất nhiều người ở vị trị trung hoà xám không cần phải buộc họ đi quá xa, để cho họ vẫn trung thành với quốc gia của họ và xa lánh chúng tôi.

 Khi chúng tôi quyết định săn lùng những thông tin có thể gây nguy hại về quá khứ của Bộ Trưởng Ngoại Giao Hans-Dietrich Genscher, chúng tôi đặt cho ông bí danh là Tulip. Ông ta hết sức khó chịu khám phá sự việc này sau năm 1989. Ông đặc biết rất cẩn thận trong những mối liên lạc của ông bởi vì ông sinh trưởng ở Halle, thuộc Đống Đức, và ông biết rõ phương pháp của chúng tôi và đoán chừng chúng tôi chú ý rất kỹ đến ông . Lẽ cố nhiên chúng bới tìm quá khứ của ông, đọc tất cả các thơ ông viết cho ban bè cũ và gia đình tạiHalle và chúng tôi theo dõi ông khi ông viếng thăm. Có những vấn đề về mối quan hệ của ông Genscher với chính quyền Xô Viết trong thời gian ông còn là sinh viên tạiHalle và chúng tôi điều tra rất kỹ việc này. Và tôi có thể khẳng định là ông Genscher không có gì phải che dấu về thời quá khứ niên thiếu của ông.

Sau khi gia nhập đảng Dân Chủ Tự Do theo lời yêu cầu của chúng tôi, Porst có một thỉnh nguyện bất thường. Ông muốn trở thành đảng viên của đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng tôi. Điều này thật mới lạ đối với tôi. Tôi tham khảo các đồng chí biết rõ về quy chế nội bộ đảng. Họ nói, theo thủ túc triệt để, không một ai có thể trở thành đảng viên nếu không là công dân của Đông Đức. Ngay cả chi nhánh Tây Đức của đảng chúng tôi cũng được đăng ký là một tổ chức biệt lập, đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa tại Tây Bá Linh.

Nhưng tôi phản đối là chúng ta khó có thể từ chối tư cách đảng viên của một người làm việc cho chúng ta tại Tây Đức và sau đó có đặc cách. Sau hai năm dự bị đảng viên, thời gian để các thành viên trẻ chứng minh tinh thần trưởng thành và trách nhiệm của mình, nhà kinh doanh của chúng tôi được chấp nhận là đảng viên chính thức, người triệu phú đầu tiên và cũng là người triệu phú cuối cùng trong hàng ngũ của chúng tôi. Chúng tôi đưa cho ông xem quyển sổ đảng viên nhỏ màu đỏ, nhưng chúng tôi cất giữ nó kỹ trong tủ sắt kín tại Đông Bá Linh. Ông có vẻ hơi thất vộng vì chuyện này, nhưng chúng tôi không bao giờ để lọt một tài liệu như vậy ra ngoài khi người sở hữu đang làm việc ở hải ngoại. « Anh không thể nào mang thẻ này theo anh được, » tôi an ủi ông ta. « Anh thử tượng điều gì sẽ xảy ra nếu anh đánh rơi nó và cảnh sát khám phá nhà tài phiệt Hannsheinz Porst là một tay cộng sảng Đông Đức !».

Đường giây liên lạc của Porst trong giới kinh doanh và chính trị đối với chúng tôi quá ư quan trọng nên chúng tôi quyết gởi đi một sĩ quan liên lạc để cho việc chuyển giao báo cáo của ông được dễ dàng. Ông không nghĩ ông là gián điệp và vì vậy không thể có chuyện huấn luyện đượng sự theo kiểu lén lút. Một sĩ quan bí danh Optic được đặc phái đến phụ giúp ông với một ly lịch giả và một câu chuyện nguỵ trang là sĩ quan này đã vượt biên giới Đông Đức. Optic trở thành giáo viên riêng cho con cái của Porst, để tạo cớ cho sĩ quan có mặt trong gia đình. Nhưng Optic không phải là chỉ làm liên lạc viên mà thôi, đương sự cộng thêm vào với các báo cáo của Porst những đường giây liên lạc tạiBonncũng như trong Viện Kỹ Nghê Tây Đức và nhiều hiệp hội các nhà kinh doanh khác. Tổ chức phát triển cho đến khi chúng tôi phải bổ nhiệm thêm một nhân viên nằm vùng khác mang bí danh Eisert để hỗ trợ cho Porst và Optic.

Những mối lo ngại đầu tiên về Porst xuất hiện vào đầu thập niên 60, khi tôi khám phá đương sự chia sẻ những bí mật hoạt động của mình cho thư ký riêng của ông, Peter Neumann. Tôi ngờ lỗi lầm này là do bản tính đặc biệt vừa ngây ngô vừa kiêu hãnh của Porst. Với tư cách là một nhà kinh doanh có ngàn nhân viên, có nhiều biệt thự và một chiếc phi cơ riêng, đương sự nghĩ là cuộc sống sẽ thoải mái và đội ngũ cộng tác trung thành tuyệt đối với mình. Nhưng đương sự lầm to.

 Tuy nhiên, vào lúc này, mọi việc đều trôi chảy. Porst và tôi bỏ hàng giờ để bàn bạc về phương cách thúc đẩy kỹ nghệ và thương mại giữa hai khối Tây và Đông Đức để đánh bại chủ thuyết Hallstein của chính quyềnBonn. Chủ thuyết này không công nhận một quốc gia thứ ba khác nếu quốc gia này công nhận Đông Đức, ép buộc quốc gia này phải lựa chọn và ngăn cản những quốc gia khác công nhận Đông Đức trừ các nước theo khối Liên Bang Xô Viết. Theo một chiều hướng nào đó, những mối giây liên lạc với những người như Porst cho phép chúng tôi có được một mối liên hệ ngoại giao với phương Tây, mặc dù nó nằm trên bình diện nguỵ trang.

 Porst có bàn tới việc lập một nguyệt san để đề xướng tính cách hoà hoãn trong mối bang giao giữa hai nước Đức vào lúc giới truyền thông Tây Đức cực lực chống đối. Tôi hoài nghi một tờ báo ngoài luồng có thể đảo ngược tình thế, nhưng tôi ngạc nhiên khi biết ông đã tìm cách lập một đài truyền hình và một phụ trang báo giấy cho đài phát thanh tên là RTV để làm nền tảng cho một tập san có tầm ảnh hưởng chính trị lớn hơn.

Nhưng rồi năm 1967 tai hoạ xảy đến. Porst bị Neumann phản bội và chúng tôi bị chấn động mạnh vì tang chứng không ai khác hơn là Optic, nhân viên của chúng tôi. Anh này để tự cứu lấy mạng sống đã tố cáo Porst.

Sau khi bị bắt, Porst tiếp tục khẳng định sự hợp tác của ông ta với cơ quan của tôi không mang tính chất phản bội. Ông tuyên bố :

Đúng tôi là một triệu phú theo Mác. Tôi đã từng là đảng viên của Đảng Dân Chủ Tự do của Đức và Đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa của Đức. Tôi cung cấp tiền bạc cho Đảng Dân Chủ Tự Do để họ vận động tranh cử và đồng thời tôi đóng góp phần liễm của tôi cho Đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa.Tôi sống tại đây và tôi bàn luận chính trị ở nơi khác. Có sự mâu thuẫn nào không?

 Tôi xin thưa là không.

Không may, chánh án biện lý không chấp nhận lô-gíc của ông và toà đã kết án hai năm, chín tháng tù ở. Phong cách của Porst không hề suy xuyển trong suốt phiên toà. Được hỏi về những liên hệ với tôi, ông trả lời toà :

 Tướng Markus Johannes Wolf… tôi xem ông như một người bạn, mặc dù ông ông ấy dè dặt. Ông không tự hạn chế trong việc trao đổi ý kiến, ngay cả khi những ý kiến này không nằm trong sự chỉ đạo của chính quyền. Ông cùng thể cách với tôi, ông ăn mặc chỉnh tề và không thiếu tính hài hước. Tôi phải nói là họ không như ông ta.

Cách mô tả này về tôi đã xuất hiện hàng nhiều năm trên tất cả báo chí, đính kèm với hình ảnh của một người đàn ông nhã nhặn chắc chắn không phải là tôi. Tôi không hề biết đương sự là ai, nhưng tôi đoán chừng vì họ không có hình của tôi nên họ tự sáng chế.

Lẽ cố nhiên thời nay, tại Đông Đức cũ, các đèn màu của các cửa hàng ảnh Porst tiếp tục nhấp nháy tại các trung tâm thành phố cũng trên khắp nước Đức. Do đó cuối cùng anh bạn của tôi thực hiện được ước nguyện của mình, thấy được cơ cấu thị trường gây lợi nhuận và có hiệu năng ở phía Đông. Điều đáng buồn và bạc bẽo của cuộc sống của hai chúng tôi là để thực hiện được điều này là hệ thống mà một phần nửa tâm hồn của Porst và tất cả tâm hồn của tôi tin tưởng vào phải sụp đổ.

*

 Việc đóng cửa biên giới có nghĩa là phương pháp của cơ quan chúng tôi chắc chắn trở nên khó khăn hơn và không may lại tốn kém hơn. Việc liên lạc với các nguồn tin, việc chuyên chở nhân viên, việc chuẩn bị những gặp gỡ mới, tất cả đòi hỏi phải có tiền bạc mặt và thời buổi này càng lúc càng khó kiếm. Tôi cũng cần tiền mặt để mua phụ tùng hỗ trợ kỹ thuật cho nhân viên, máy nghe lén, máy khuếch đại làn sóng cao tần đài phát thanh, máy giải mã và những dụng cụ khác chúng tôi thua kém xa Hoa Kỳ và Tây Đức. Hy vọng lớn nhất của chúng tôi là được một bộ phận mới nhất của một dụng cụ và cố gắng sao chép lại với giá rẻ. Hầu hết các dụng cụ này đều nằm trong danh sách các món hàng cấm xuất cảng sang khối Đông Âu, vì vậy chúng tôi phải tìm người để thu mua những dụng cụ này mà không bị phát hiện. Tôi cũng cần tiền mặt để trả cho các nhân viên ở phương Tây và giữ mối liên lạc với các nguồn tin có tiềm năng. Tôi không dè sẻn trong việc này. Người phương Tây thích được một cơ quan tình báo vuốt ve, càng tiếp đón hoang phí chừng nào, cơ may họ cảm thấy được tân bốc và việc hợp tác càng cao. Nếu một trong những nhân viên của tôi ở Tây Đức đã xoay sở để tiếp cận với một nhân vật chính trị, ngoại giao hoặc kinh doanh tại Bonn và mời người này đi uống nước hoặc đi ăn, nhân viên này muốn một quán ăn sang trọng – không quá lộ liệu hoặc quá thời trang, nhưng là một nơi có tiếng biểu hiện tiền tài cho khách sành điệu. Rượu cũng là một yếu tố quan trọng. Tất cả những người phương Tây có địa vị và có ý nghĩ cung cấp bí mật cho chúng tôi phải cảm thấy là họ đang nói chuyện với một cơ sở đáng tin cậy và có nguồn tài trợ lớn. Tôi chẳng bao giờ nghĩ phải làm việc trong sự eo hẹp như các đồng nghiệp Xô Viết của tôi, vì tính chất bủn xỉn tiền bạc của họ ai cũng biết và phong cách của họ để lộ tầm nhìn giới hạn của họ.

Trong những ngày đầu, việc thu nhập tiền mặt để chi phí cho những nhu cầu trên chưa được tổ chức có hệ thống. Nhưng khi tổ chức phát triển và những công tác cũng được xúc tiến và đồng thời Bức Tường được dựng, chúng tôi cần tiền mặt nhiều hơn nữa. Vì nhu cầu này nên tôi biết đến ông phù thuỷ tài chánh của Đông Đức Alexander Schalck- Golodkowski. Shalck hay là Alex, như mọi người được biết, là một người to lớn với chiếc cằm bạnh, ngực to rộng và tiếng nói oang oang. Tôi gặp ông ta vào giữa thập niên 1960 do lời giới thiệu của một giám đốc trong cơ quan tôi, tướng Hans Fruck, người đã từng là Giám đốc của ngành công an rộng lớn Đông Bá Linh của Bộ Công An. Tại đây ông đã tiếp xúc với nhà kinh doanh Đông Bá Linh Simon Goldenberg và Michael Wischniewski. Trái với lời đồn đãi ở phương Tây, các nhà kinh doanh tư nhân hiện diện trong khối Đông, nhưng họ chiếm một vị trí ẩn khuất trong xã hội và tất cả những hoạt động của họ bị nhà nước kiểm soát cẩn thận, và vì vậy cuối cùng, phần đông các cơ sở này được đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Công An.

Alexander Schalck- Golodkowski và Franz Josef Strauss

 Nhu cầu về tiền mặt của nước DCCH Đức bao giờ cũng lớn hơn lợi tức thu vào của ngành xuất khẩu khiêm tốn của họ. Goldenberg và Wischniewski dàn xếp để chia sẻ lợi nhuận với nhà nước bù lại họ được phép tự do buôn bán hàng hoá và dự trữ. Schalk với tư cách là một giới chức nhiều tham vọng trong Bộ Liên Đức và Ngoại Thương đã ký kết thoả thuận này. Tiền được chuyển qua trung gian của Schalk cho Uỷ Ban Trung Ương Đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa và được dùng một phần để tài trợ một vài nhóm tại Tây Đức và các nước khác. Nhưng Schalk là một chuyên gia giỏi nên đương sự không ngừng tại đây. Kể từ cuối thập niên 1960 trở đi, khi Tây Đức và Đông Đức bắt đầu xích lại gần nhau, giới lãnh đạo tách rời phần bộ này ra khỏi cơ quan ngoại thương và tạo dựng một tổ chức mới được nguỵ trang và do Schalk điều khiển. Mục đích thật đơn giản: đem tiền mặt về cho CHDC Đức bằng hầu hết mọi phương cách.

Chúng tôi cần một con thoi đi lại biết rõ thị trường phương Tây, biết những thủ tục của những nhà băng và những quy tắc không thành văn của họ, và Schalk là một thí sinh toàn hảo. Đương sự được sự tự trị nhưng xét ra không được độc lập. Các thương gia và các cấp lãnh đạo phương Tây tiếp cận với đương sự không biết Schalk là một đại tá của Bộ Công An và chủ nhân thực sự của y là Mielke. Schalk cũng báo cáo trực tiếp cho Erich Honecker, người lãnh đạo đảng kế vị Ulbricht và Günter Mittag, một uỷ viên trong bộ chính trị phụ trách về kinh tế. Chức vụ của Schalk là « sĩ quan đặc vụ », và nhờ mối liên hệ mật thiết với Cục Khoa Học và Kỹ Thuật của HVA (Cơ Quan Tình Báo Hải Ngoại), đương sự có khả năng lấy được những dụng cụ vi tính và hàng hoá siêu kỹ thuật bị cấm vận. Cơ quan của tôi giúp Schalk xem xét những nhà cung cấp phương Tây nào sẵn sàng bán cho phương Đông. Giới kỹ nghệ và quân sự chúng tôi sẵn sàng trả giá gấp đôi giá cả hiện hành.

Schalk đặt tên cho văn phòng của mình là Kommerziale Koordination (Phối Họp Thương Mại) gọi tắt là Koko. Đây là một phương cách thận trọng để tạo nên bề thế và đồng thời tạo nên hình ảnh năng động và tân tiến đối với người phương Tây. Tổ chức này phát triển nhanh chóng dưới sự quản lý của Schalk – trên thực tế Schalk được mọi người biết đến dưới biệt hiệu Devisenbeschaffer – « người kiếm ra tiến »

Nguồn tài chánh dồi dào nhất đến từ những cuộc thương thuyết bí mật giữa nước CHDC Đức và chính phủ Tây Đức và các giáo hội lớn tại đây. Con tính vô cảm và đơn giản: chúng tôi buôn bán người đổi lấy hàng hoá mà chúng tôi có thể dùng hoặc bán lại để lấy tiền mặt. Vào khoảng giữa những năm 1964 và 1990 nước CHDC Đức đã thả hơn 33.000 tù binh chính trị và hơn 215.000 công dân để họ đoàn tụ gia đình và nhận tiền của Tây Đức hơn 3,4 tỷ Đức Mã. Schalk quản lý phần lớn số tiền này

Cho đến năm 1989, hành tung của Schalk và sự hiện diện của Koko là một bí mật đối với những ai nằm ngoài thế giới khép kín của giới tài chánh cao cấp của Tây Đức, và đương nhiên đối với dân chúng Đông Đức. Những dịch vụ cá biệt của tôi với Schalk thường diễn ra tại hội chợ Leipzig, nơi này là một cơ hội bằng vàng cho tôi để tìm những người có tiềm năng trở thành điệp viên mới trong giới kinh doanh Tây Đức. Tướng Hans Fruck, phụ tá của tôi, phụ trách về tất cả công tác An Ninh trong lúc hội chợ. Tất cả màn kịch này giống như một trò chơi đến độ Fruck, phản lại mọi quy tắc tình báo, trở thành một vị khách quý tại khách sạn cổ kính Astoria và mỗi tối ngồi ở cuối bàn ăn, có những nhà kinh doanh Đông Đức và các đại diện thương mại ngoại quốc, trong số đó có Schalk, bao quanh đương sự.

Tất cả các Cục trong Bộ Công An đều muốn nắm bắt Schalk để học hỏi và nhất là để lấy được dụng cụ và tiền bạc. Trong công việc này, có nhiều kẽ hở dễ thất thoát tài chánh vì kế toán cẩu thả. Năm 1982, Mielke và Schalk đều đồng ý phải xiết chặt kiểm soát những dịch vụ giữa Bộ Công An và Koko. Tất cả các dịch vụ của các ngành trong Bộ thay vì đi trực tiếp với các hãng phương Tây theo lời dặn của Schalk nay phải qua văn phòng của Schalk. Mỗi năm một lần đều có một cuộc họp với sự có mặt của Schalk, của người phụ tá, Manfred Seidel, của Werner Grossman và tôi để hoạch địch kế hoạch cho năm tới. Tôi có ngân quỹ vào khoảng một triệu Đức Mã trích từ quý đặc biệt của Koko – ít hơn 10% chi phí tiền mặt hàng năm của chúng tôi. Phấn còn lại là do ngân quỹ Nhà Nước.

Bộ Công An cũng dùng hàng chục hãng bình phong mà Schalk đã thiết lập để che đậy mọi việc buôn bán từ việc nhập cảng xe hơi cho đến việc chuyên chở lén lút những mỹ thuật của nhà nước bán cho những con buôn phương Tây để bù đắp ngân quỹ thâm thủng của chúng tôi. Ngân quỹ trung ương của bộ chúng tôi tài trợ cho những công tác kỹ thuật – làm giấy thông hành giả, điều hành những phòng thực nghiệm đặc biệt về phim ảnh và những vấn đề tương tự – trong khi đó những công ty này cung cấp cho chúng tôi những hàng hoá bị cấm vận chẳng hạn như những chất hoá học và những dụng cụ vi điện tử. Schalk có thể cung cấp xe hơi, đầu máy vidéo, vật dụng và những hàng xa xỉ khác.

Tôi không thân thiết với Schalk, nhưng chúng tôi chúng tôi có gặp nhau một lần ở bờ biển Hắc Hải, nơi đây cả hai chúng tôi đã ghi danh để nghỉ hè. Tôi ấn tượng với sự bén nhậy của ông và phong cách ông hoán chuyển từ một công chức trong ngành thương mại của Đông Đức để trở thành một nhân vật hoạt bát đứng lên trên những cãi cọ ý thức hệ. Ông xem sự xung đột giữa Đông và Tây như là một ngăn trở không đáng kể trong việc điều hành kinh doanh, một điều mà ông yêu thích. Nhưng ông biết dùng người, bất kể những thâm tín của họ. Ông là một người khôn ngoan và lạnh lùng.

Đến năm 1983, ảnh hưởng của Schalk quan trọng đến độ ông được Honecker và Mielke giao phó cho một trong những nhiệm vụ nhạy cảm nhất về tài chành : giúp cho nền tài chánh không bị phá sản. Ông thương lượng tiền vay một tỉ Đức Mã để nhà nước Đông Đức đặc biệt cho các nhà băng Tây Đức vay. Honecker, nhất quyết muốn mua chuộc lòng dân, đã cho nhập cảng một số lượng gia tăng thực phẩm và đã chi phi một số tiền lớn cho chương trình xây dựng nhà cửa và sổ sách kế toán không thể quân bình được. Nhờ trung gian của anh em März , người gốc Bavaria chuyên bán sỉ thịt bò xuất xứ từ Đông Đức (họ sản xuất những miếng thịt lườn rất khó kiếm ở nước chúng tôi, mặc dù mức sản xuất thịt bò cao), Franz-Jozef Strauss hỗ trợ số tiền vay này, bù lại những cải tiến trong việc du lịch của người Đức muốn thăm gia đình bên Đông Đức. Schalk và Strauss trở thành những người tín cậy về mặt chính trị và tạo nên những lời đồn đãi ở cấp cao, và Schalk báo cáo trở về cho Bộ Công An. Nhìn vào những số tiền vay đa phương, việc xuất khẩu thịt, những điều kiện để qua biên giới và việc công nhận thể chế có lợi nhiều hơn là có hại, tôi nghĩ là như vậy. Nhưng tôi cũng nghi ngờ có một số cá nhân làm giàu theo những phương pháp không phù hợp triệt để với luật lệ.

Sau khi nước Đức thống nhất, các toà án Đức đã phí công bỏ mất nhiều năm để xét xem những hoạt động này có hợp pháp không. Có vài người chỉ trích Strauss đã hỗ trợ cho việc vay tiền vì việc này chỉ giúp cho Đông Đức tiếp tục tồn tại. Nhưng cuối cùng kết số phá sản về mặt chính trị, kinh tế và nhân sự đã giết chết quốc gia này, chứ không phải là do những kẻ thù tài chánh.

Nhìn lại quá khứ, tôi thường tự hỏi có thể nào sự việc có thể khác đi được không. Tôi quyết đoán Đông Đức không thể nào tồn tại dưới hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa mãi sau năm 1961 nếu biên giới không khép kín. Áp lực kinh tế, cộng thêm với sự bất ổn nội tại vì chỉ còn là một phần nửa nước Đức (và theo truyền thống là một phần nửa nghèo nhất) xem ra quá sức chịu đựng. Nhưng mầm mống của sự thoái hoá của nước Đức chia đôi bắt đầu xuất hiện khi biên giới được củng cố và bức tường bê-tông được dựng lên dọc theo đường chia cắt. Cắt đứt sự tiếp cận với phần hấp dẫn của nước Đức bên kia là một giải pháp thô bạo và hữu hiệu, nhưng đó chỉ là một giải pháp ngắn hạn. Về dài hạn đó là một tai hoạ. Nay tôi thấy trong chiến dịch chống Đông Đức mỗi lúc một mạnh thêm và có tính thuyết phục vì biểu tượng sừng sững của Bức Tường, một trong những lý do quyết định kết quả của Chiến Tranh lạnh. Không có một chuyên gia nào bên phiá chúng tôi trong hoạch định, kể cả ngành ngoại giao hoặc những nghệ thuật đen tối của ngành điệp báo có thể phòng đoán được chuyện này.

(Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 12 (Markus Wolf)                      

“…Họ dọn nhà về chúng sống với nhau, nhưng vấn đề hôn nhân không thể có được vì bất cứ điệp viên của nào của chúng tôi cũng đều mang căn cước giả, thường là mượn từ những công dân đã chết hoặc di cư…”

Chương 8 (phần 1)

Làm Gián Điệp Vì Tình

Liên kết tình tự và điệp vụ không phải là một sáng chế của tôi. Từ thuở xa xưa, các cơ quan an ninh đã dùng trò chơi cặp lứa này để gần gũi với những nhân vật đáng chú ý. Nhưng nếu tên tuổi của tôi đi vào lich sử gián điệp, có thể là tôi làm hoàn hảo thêm việc dùng phái tính để thi hành điệp vụ. Những anh chàng Romeo điệp viên của tôi có danh tiếng khắp thế giới trong việc thu hút trái tim của phụ nữ để thu thập những bí mật quốc gia và chính trị mà những mục tiêu của họ có quyền tiếp cận. Khi mới bắt đầu, tôi không trông mong sẽ thu thập được thành quả. Về phần tôi, đó là một dụng cụ trong nhiều dụng cụ khác của một cơ quan tình báo thiếu tài chánh và thiếu kinh nghiệm. Tuy nhiên, những tiền lệ lịch sử xem ra rất đáng khích lệ.

Trong quyển thánh kinh thứ tư của Moi-sen, chúng ta được biết Thượng Đế ra lệnh cho Moi-sen phái người đi đến vùngCanaanvà thu thập tin tức về. Mười hai người được chọn, một người trong mỗi một bộ tộc, và một người mang tên giả – Joshua, tên thật là Hosea, con của Noon – hoàn toàn phù hợp với phương pháp làm việc của các cơ quan tình báo. Sau khi thu thập những tin tức về những người khổng lồ ở Canaan và chính sách nông nghiệp của xứ sở đầy sữa và mật này, họ đốn một gốc nho sai trái đến độ hai người trong nhóm điệp viên phải dùng đòn gánh để khiêng về. Khi Joshua kế vị Moi-sen, hai trong số những phái viên đi đếnJerichongủ đêm tại nhà của Rahab, một người đàn bà nhẹ nết. Do đó hai nghề xưa nhất trên thế giới lần đầu tiên gặp nhau. Các thuộc hạ phản gián của Vua của thànhJerichobáo cho ông biết là có hai kẻ lạ ngủ đêm tại nhà Rahab. Khi Rahab biết được các vệ binh đạo đức sắp đến nhà, cô giấu những anh gián điệp lên trên nóc nhà và nói với nhân viên điều tra là cô thực ra đã có tiếp hai người khách, nhưng họ đã đi rồi. Tôi mường tượng hình ảnh bà ra tay cứu mạng hai tay gián điệp cực kỳ hoảng sợ. Một trong những người thừa kế của Rahab trong nghiệp vụ tình ái và gián điệp là Mata Hari, một người đàn bà Hòa Lan đã thực hiện những nghiệp vụ hữu dụng cho nước Đức trong Đệ Nhất Thế Chiến, nhưng là một điệp viên kém cỏi và đã bị Pháp xử bắn năm 1917. Tôi chắc chắn không ghi cô nàng này vào sổ phát lương của tôi.

Mata Hari, tên thật Margaretha Geertruida Zelle

Vào thế kỷ thứ hai mươi, phụ nữ bắt đầu trở nên hữu dụng tại các cơ quan tình báo trong những vai trò khác ngoài vài trò bán chôn và quyến rũ nam phái. Họ nhận lãnh công việc trước đây của đàn ông, làm thư ký cho các ông tai to mặt lớn và nhờ phong trào giải phóng phụ nữ, họ trở thành những bộ trưởng, những cố vấn cho các chính trị gia, những giáo sư đại học và những người nắm giữ những bí mật quốc gia. Vì vậy không có gì là lạ khi đối tác nam phái của Mata Hari xuất hiện và trở thành gián điệp Romeo.

Anh chàng Romeo đầu tiên của tôi bắt đầu làm việc vào đầu thập niên 1950. Bí danh của đương sự là Felix và danh tính thật của đương sự vẫn được giữ kín cho đến ngày nay. Khi còn là sinh viên, anh đã gây sự chú ý của các sĩ quan cao cấp trong lúc họ trên đường rảo tìm tại các tỉnh lỵ những điệp viên tiềm năng. Những chuyến đi này giống hệt những sinh hoạt trinh sát cho đội thể thao Đông Đức – vào lúc đó nhóm này được một ban khác trong Bộ Công An điều khiển và họ đi lùng tài năng để tìm những vận động viên thể lực nhỏ bé và các lực sĩ khác tại các sân chơi trường học. Tôi lấy làm hãnh diện là cơ quan của tôi đã có những thành tích tương tự trên tầm vóc quốc tế về gián điệp Romeo.

Tiến trình tuyển lựa của chúng tôi rất khắt khe. Cứ trên một trăm thí sinh ban tuyển dụng chúng tôi tìm thấy trong Đảng, tại các đại học hoặc trong các tổ chức thanh niên, chúng tôi chỉ phỏng vấn mười người, sau khi chúng tôi đã nghiên cứu quá trình lý lịch và thành tích của họ. Mùa Xuân 1952, tôi du hành với một đồng nghiệp cao cấp đến một thành phố nhỏ ở ĐôngNamnước Đức, nơi đây Felix đang là sinh viên kỹ sư. Anh là một nghiên cứu sinh thông minh và sốt sắng, nhưng khi chúng tôi tiết lộ chúng tôi là ai và chúng tôi muốn gì, anh ngạc nhiên và không hồ hởi lắm bởi vì anh lo lắng phải bở dở học trình. Nhưng chúng tôi rất cần người làm việc ngụy trang ở Tây Đức và cố gắng thuyết phục anh là đời sống của một điệp viên không đến nỗi tệ. Chắc chắn anh sẽ được trả lương hậu hĩnh hơn là một một công việc nào đó trong guồng máy của nhà nước.

Giống như mọi tân binh, chúng tôi trao cho Felix một công tác để thi hành. Anh đếnHamburg. Chúng tôi báo cho anh biết đây là cơ hội thực tế để chúng tôi đánh giá khả năng phán đoán và hành dộng của anh trong lúc căng thẳng. Sau khi gặp gỡ sơ khởi với một giao liên tại nhà ga lớn, anh phải thu thập tài liệu trên sân ga. Chúng tôi đã dạy cho Felix những phương pháp để biết là mình có bị theo dõi không. Anh chăm chỉ học những sơ đồ chúng tôi vẽ để chỉ vẽ những góc độ nhìn từ đó dễ quan sát và làm sao tránh một vài vị thế trong đám đống. Lẽ cố nhiên, cho dù có nghiên cứu bao nhiêu sơ đồ đi nữa, không ai có thể quyết đoán được sự thể. Tôi đã biết có nhiều điệp viên có hàng chục năm kinh nghiệm bị thất bại vì họ đoan chắc họ không bị theo dõi khi họ đang trong tầm ngắm của địch. Nguyên tắc căn bản, ngay cả cho cả điệp viên kỳ cựu nhất, là không bao giờ cho rằng mình không bị theo dõi.

Nghiên cứu sinh của chúng tôi xuống toa xe hỏa và lập tức nhận biết có người theo dõi anh. Anh toát mồ hôi lạnh nhưng lại không tài nào vứt bỏ cái đuôi này, một người mặc áo khoác xám xuất hiện mỗi khi anh rảo bước. Khi anh bước tới gần chiếc cầu, anh đoan chắc là một đội binh khoác áo xám đi theo sau anh. Sự thật là những trang phục chẳng lấy gì hấp dẫn này đang là thời trang vào lúc đó nhưng không làm cho anh ngừng suy nghĩ là bất cứ một người mặc áo khoác xám nào anh thấy có thể là nhân viên phản gián ngụy trang của phía bên kia. Do đó anh ra tín hiệu cho người liên lạc đang chờ anh ở trên cầu một tín hiệu báo động đã thỏa thuận trước, bằng cách thay đổi vị trí của tờ nhật báo anh cặp dưới nách sang một góc độ đặc biệt để báo là công tác phải được hủy bỏ. Việc chuyển giao tài liệu đã không xảy ra.

Sau này, khi Felix đã trở thành một tay hoạt động lão luyện tạiBonn, chúng tôi cười đùa về buổi ban đầu hụt hẫng. Nhưng đây cũng là một bài học sinh tử cho tôi khi tôi phải giám định những buổi làm việc thử thách. Không phải điệp viên nào cũng điêu luyện như James Bond. Trong những trường hợp hiểm nghèo, chính điệp viên nào dày kinh nghiệm, cẩn thận và có phương pháp mới có nghị lực cần thiết để tỏ ra bình tĩnh và khôn ngoan cân nhắc lợi hại.

Felix lập nghiệp tại Tây Đức với những giấy tờ giả và làm đại diện thương mại cho một công ty có trụ sở ởColognebán dụng cụ làm tóc và mỹ phẩm. Chúng tôi muốn anh xâm nhập cơ quan phản gián của Tây Đức (Văn Phòng Liên Bang Bảo Vệ Hiến Pháp), có trụ sở tạiCologne. Những chuyến đi trình bán của đương sự tạiBonnchẳng bao lâu khiến chúng tôi chú ý đến Văn phòng Thủ Tướng, lúc đó do Hans Globke cầm đầu. Hans Globke là một cựu đảng viên Quốc Xã và tái sinh thành dân chủ và là một người thân tín của Thủ Tướng Adenauer và chống đối mãnh liệt chủ nghĩa cộng sản.

Adenauer và Hans Globke

Chúng tôi không hài lòng với phẩm chất thông tin mà chúng tôi lấy ra từ giới thân cận Adenauer. Chúng tôi không có đầu mối xác thực, cũng không có dụng cụ căn bản để tìm hiểu bất cứ định chế nào của chính phủ, thư mục số điện thoại nội bộ văn phòng – chưa kể đến những thông tin liên quan đến những người nằm trong danh sách nào. Chúng tôi chưa nghĩ ra được cách làm thế nào một anh chàng bán thuốc gội đầu có thể xâm nhập một nơi canh gác cẩn mật như vậy, nhưng vì muốn hiểu biết Adenauer và vì thiếu thông tin nội bộ và đầu mối liên lạc nên chúng tôi không có lựa chọn nào khác để Felix thử thời vận.

Chính Felix đưa ra sáng kiến đầu tiên. Anh nói anh sẽ trà trộn vào trong đám đông ở một trạm xe buýt gần công thự nhất vào cuối ngày làm việc và thử xem có làm quen được với ai không. Sau một vài lần hụt cẳng, cuối cùng anh gặp được một cô thư ký tóc xậm làm việc trong văn phòng của thủ tướng, và chúng tôi đặt bí danh cho cô là Norma. Họ trở thành bạn và không bao lâu họ tình tứ và anh tìm hiểu được chút ít công tác của văn phòng thủ tướng.

Khi anh đã chính thức trở thành người bạn trai của Norma, Felix được mời đến gặp gỡ các đồng nghiệp của cô để chơi lăn bóng gỗ hoặc tham dự những cuộc du ngoạn thuyền trên sôngRhinedo văn phòng tổ chức. Nhờ có được duyên dáng của người miền Nam, anh trở thành cột trụ và linh hồn của buổi liên hoan, kể chuyện hài hước, nhảy đầm với mấy bà và uống rượu vui vẻ với mấy ông. Norma vui sướng vì có được bạn trai. Cô không có nhan sắc và đối với chúng tôi cô là phương tiện để chúng tôi đạt mục đích. Nhưng bản chất con người khó tiên đoán. Felix thực tình yêu cô này.

Họ dọn nhà về chúng sống với nhau, nhưng vấn đề hôn nhân không thể có được vì bất cứ điệp của nào của chúng tôi cũng đều mang căn cước giả, thường là mượn từ những công dân đã chết hoặc di cư. Chính quyền Tây Đức kiểm soát ngày sinh và sổ rửa tội ky-tô giáo của những người muốn làm đám cưới và trong trường hợp của Norma, quy chế của cô tại phủ thủ thướng bắt buộc cô phải trải qua một cuộc điều tra an ninh về người chồng tương lai của cô. Vì vậy phần đông các điệp viên của chúng tôi phải nhấn mạnh họ không phải là loại để cưới hỏi, họ là những người đã có vợ hoặc bịa những chuyện tương tự như vậy.

Điệp vụ Romeo đầu tiên diễn tiến tốt đẹp trong nhiều năm. Felix không bao giờ nói công việc thực sự của anh vì có thể việc này sẽ làm chấm dứt mối liên hệ hoặc tệ hơn nữa. Một hôm chúng tôi được một điệp viên nằm vùng trong Văn Phòng Bảo Về Hiến Pháp là ban an ninh đang để ý đến người bạn của Norma và đang rà soát lý lịch về y. Chúng tôi phải triệu hồi Felix có tốc độ về Đông Đức. Một hôm cô trở về nhà sau công việc sở và thấy người tình biến mất không lời giải thích. Người phụ nữ xấu số chắc phải đau khổ vô cùng khi khám phá ra người tình đã ra đi, nhưng trong sự chọn lựa giữa việc cứu một nhân viên và một cuộc tình, tôi phải nhẫn tâm quyết định.

Đây không phải là lần cuối tôi phải đóng vai một ông chú đau khổ. Tội nghiệp cho Felix, anh ở trong tình trạng khốn khổ khi anh trở về Đông Bá Linh. Cả hai chúng tôi cạn hai chai vodka trong một đêm tại một trong những nhà an toàn trong khi anh giải bảy hết tâm sự của mình. Nhưng trong khi trái tim anh đau khổ, đầu óc của anh may thay vẫn làm việc. Anh mách cho chúng tôi đầu mối liên quan đến một phụ nữ mà anh nghĩ sẵn sàng chấp nhận liên hệ với chúng tôi, một phụ nữ trung niên, vui đời, làm thư ký văn phòng của Globke tại phủ Thủ Tướng.

Chúng tôi không thấy một lý do hiển nhiên nào để đoan chắc người đàn bà này sẽ làm việc với chúng tôi. Nhưng nhờ tiếp xúc trực tiếp nên Felix có cảm nghĩ một người đàn ông bảnh trai với một lý lịch ngụy trang tốt có thể gây ảnh hưởng đến cô này. Chúng tôi đang ở vào thập niên 1950, và cảnh trai thiếu thời hậu chiến được cảm nhận rõ ràng nơi các cô thư ký trung niên, cô đơn, mong mỏi tìm kiếm một tấm chồng, một thiếu sót trên thị trường mà chúng tôi giúp khỏa lấp với những anh chàng độc thân của chúng tôi.

Sau khi xem xét kỹ lưỡng một số các thí sinh, chúng tôi chọn Herbert Söhler, bí danh Astor. Anh là một phi công tài tử, đã từng nằm trong đội ngũ của Thống chế Kesselring thời chiến. Sau khi bị bắt làm tù binh của Xô Viết, ông đã chuyển hướng đi theo chủ nghĩa cộng sản. Vì ông là đảng viên của Đảng Quốc Xã và những mối liên hệ của với các sĩ quan khác đã làm việc cho Kesselring, con đường sự nghiệp của ông bị ngăn chặn ở nước CHDCĐ, do đó ông chấp nhận xâm nhập Tây Đức vì chúng tôi với lòng vui vẻ và tính chuẩn xác của quân đội.

Một vài người bạn của ông đã an cư ởBonnkhi Tây Đức bắt đầu tính đến việc tái vũ trang. Đây là lúc thuận lợi để cho các cựu quân nhân quyết định mình đứng phía bên nào cuộc chiến trên đất nước phân chia của họ. Chúng tôi không gặp khó khăn khi đưa ông về hướng này, đặc biệt là sau cuộc binh biến bất thành năm 1953 đã cho thấy mức độ kiểm soát của Xô Viết tại Đông Đức và đã đẩy một số người do dự chay sang Tây Đức.

Söhler di chuyển vềBonnvà tìm được việc làm trong ngành địa ốc. Ông gia nhập câu lạc bộ phi công tại Hangelar gần đó. Những thành viên ở đây bao gồm những nhân viên chính phủ đì tìm phiêu lưu cuối tuần. Không bao lâu ông bắt được liên lạc với Gudrun, bí danh chúng tôi đặt cho cô thư ký mà Felix đã nói đến. Lòng mong ước của chúng tôi mau chóng được toại nguyện. Cô bắt nhãn với Söhler, trong khi đó Söhler khám phá những sổ ghi chép những mối liên hệ của Adenauer với Reinhard Gehlen, giám đốc tình báo, đi ngang qua bàn làm việc của Gudrun . Sau một thời gian, ông đề nghị ông sẽ thử kết nạp cô trong vai trò của một sĩ quan tình báo Xô Viết. Việc này quả là lạ, nhưng chúng tôi nhận thấy ông có trực giác bén nhạy. Gudrun công nhận Liên Bang Xô Viết là một cường quốc có tầm vóc quốc tế trong khi đó cô không xem yêu sách của CHDC Đức muốn mình trở thành một quốc gia – nhà nước là một việc chính đáng. Söhler kể lại những kinh nghiệm thời chiến: Những tàn phá do quân đội Hitler

 gây ra và sĩ quan người Nga có văn hóa cao đã thuyết giảng cho ông nghe trong trại tù về mối quan hệ giữa nhân dân Nga và nhân dân Đức.

Chúng tôi quyết định chính thức kết nạp cô tại một địa điểm nghỉ hè hẻo lánh trên vùng núiAlpsở Thuy Sĩ để lo toán việc chúng tôi có thể rút lui mau chóng với Söhler nếu cô phản ứng không thuận lợi với đề nghị của chúng tôi. Chúng tôi luôn cố gắng tránh trực tiếp đề nghị kết nạp một người Tây Đức trên lãnh thổ của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, vì cơ quan phản gián Tây Đức dở trò xưa cũ theo dõi một kẻ tình nghi là kết nạp viên, gài mục tiêu của đương sự làm mồi nhử, và sau đó quay phim việc kết nạp để có tang chứng sinh hoạt gián điệp và bằng cớ để bắt tức khắc. Việc mời một đối tượng kết nạp đến gặp gỡ những sĩ quan cao cấp tại Đông Đức hoặc ở nơi nào khác cũng là một lối thử nghiệm cuối cùng để xem đối tượng kết nạp đã sẵn sàng chấp nhận mối liên hệ điệp viên chưa. Vào thời điểm này, người tăm tối đến mấy đi nữa cũng hiểu bản chất của lời mời mà không cần phải nói điều gì cả.

Trong trường hợp này, kế hoạch kỹ lưỡng của chúng tôi để o bế Gudrun, đưa cô đến một quán ăn đắt tiền Thuy Sĩ hóa ra thừa thãi. Söhler có lẽ là bậc thầy trong nghệ thuật thuyết phục, bởi vì việc kết nạp cô trở thành một thủ tục. Điều này chứng minh cho tôi thấy nhiều phụ nữ được người đàn ông họ thương yêu tuyển dụng thường cảm nhận người đối tác làm việc cho phía bên kia, mặc dù trong thâm tâm họ không chấp nhận sự kiện này trong một thời gian dài. Sau vụ này, chúng tôi không bao giờ đánh giá thấp sự kiện các cô thư ký có thể nghi ngờ người chúng tôi là gián điệp, mặc dù điều này không được tiết lộ. Điều này cũng có nghĩa là anh chàng Romeo phải có đường thoái lui nhanh chóng và an toàn về Đông Bá Linh nếu đối tượng Juliet dở chứng.

Không may Söhler bị chứng đau phổi trầm trọng nên kết thúc cộng tác với chúng tôi. Chúng tôi triệu hồi đương sự về Đông Đức và không bao lâu qua đời vì bệnh này. Tất cả mọi cố gắng để dẫn dụ Gudrun vào một cuộc tình điệp báo khác đều thất bại. Có một vài phụ nữ bám víu vào ngành điệp báo – lòng phấn chấn và thân mật cùng chia sẻ một bí mật – và họ có thể chuyển hướng sang một đối tác khác nếu người đầu tiên biệt tích vì lý do an ninh. Nhiều phụ nữ chỉ thích một người duy nhất, và chúng tôi không tài nào nài ép họ được. Gudrun là một trong những phụ nữ này. Nguy cơ họ trở về với Tây Đức, với lòng đầy ân hận và đem theo với họ những câu chuyện thích hợp cho tuyên truyền, quá lớn, và chính vì vậy chúng tôi chào tạm biệt cô Godrun.

Tuy nhiên, với những thông tin mà cô cung cấp, cuối cùng chúng tôi đã tung ra được chiến dịch đánh phá Globke. Việc này dẫn đến sự từ chức của y năm 1963, một thắng lọi lớn cho chúng tôi trong việc khử trù một địch thủ ngoan cố của Đông Đức đồng thời tạo được sự chú ý của phương Tây về mức độ xâm nhập của các cựu đảng viên Quốc Xã phục vụ trong chính quyền Tây Đức.

*

Mỗi lúc tôi thêm tin tưởng là các phụ nữ được những Romeo của chúng tôi kết nạp có thể cung cấp những thông tin chất lượng cao, nhưng càng dùng chiến thuật này càng nhiều thì nguy cơ bị khám phá càng cao. Sớm hay muộn gì quả bóng phải nổ, nhưng lạ lùng thay, nó chỉ xảy ra vào năm 1979. Ingrid Garbe, môt cô thư ký trong phái đoàn Tây Đức làm việc tại NATO ở Brussels, bị Tây Đức bắt vì tội làm gián điệp cho Đông Đức. Giới truyền thông ở đây trình bày sự việc như một trường hợp phản bội trầm trọng nhất trong lịch sử của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức. Sự thật là, về mặt tình báo, Garbe là một thành tố quan trọng nhưng không phải là thiết yếu. Chúng còn có những điệp viên khác. Nhưng bởi vì cô là phụ nữ nên đã đánh động những hồi ức xa mờ của Mata Hari. Hình ảnh cố hữu của “gián điệp vì tình” xuất hiện và báo chí không ngớt nói đến.

Tháng Ba, các hãng thông tấn báo tin Ursel Lorenzen, một nhân viên trong văn phòng Tổng Thư Ký NATO, đã đào thoát sang Đông Đức. Trước sự ngỡ ngàng của những đồng nghiệp của cô tại NATO, cô thình lình xuất hiện trên đài truyền hình Đông Đức, giải thích là cô đã chọn tiết lộ những hiểu biệt về nội bộ tổ chức này.

Ursel làm việc cho NATO được mười hai năm, gần đây nhất trong Cục Công Tác, tại đây cô tiếp cận với những tài liệu định hoạch và những chi tiết trong cách quản lý khủng hoảng tại bộ tư lệnh. Những điều đáng chú ý mà cô cung cấp cho chúng tôi là những thông tin liên quan đến những thủ tục tại văn phòng tư lệnh khẩn, nơi đây tất cả những báo cáo chính trị, quân sự và tình báo được tập trung và thẩm định và NATO soạn thảo những báo cáo quan trọng nhất, những hồ sơ Nghiên Cứu về Đông Tây.

Sau khi Ursel đào tẩu, Imelda Verrept, một cô thư ký Bỉ tại NATO, cũng xin tị nạn tại Đông Đức. Trong khi cấp lãnh đạo Đông Bá Linh lên mặt với những vụ đào thoát này, tôi hết sức phiền lòng vì những chuyện này. Những vụ xuất hiện đột ngột của những cô thư ký này ở Đông Bá Linh, mặc dù làm lợi cho đường lối tuyên truyền của cấp lãnh đạo, trên thực tế là một mất mát thông tin cho cơ quan chúng tôi. Thắng lợi vì có được những nhân viên của NATO xin tị nạn ở Đông Đức, cho dù sự thay đổi có thú vị và có khác với việc người Đông Đức xin tị nạn ở Tây Đức, xem ra thật mờ nhạt so với sự hữu ích có được họ trong lòng địch và cung cấp những bí mật tình báo có giá trị.

Vào mùa Xuân năm 1979, trong lúc tôi đi nghỉ trượt tuyết, một báo cáo khác lại đến cho biết một cô tên là Ursula Höfs, một cô thư ký làm trong bộ tham mưu của Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Lúc đầu tôi không đoán ra cô là ai, vị tại bộ tư lệnh chúng tôi chỉ dùng tên ngụy trang của các điệp viên và cất giấu tên thật của họ trên căn bản phân cách. Vì không muốn liều lĩnh điện thoại về Đông Bá Linh để xem cô là điệp viên nào của chúng tôi, tôi vội vã trở về, nghe báo cáo trên đài phát thanh Tây Đức và cố đoán xem người nào đã bị bại lộ.

Một tuần lễ sau khi Ursula Höfs mất tích, việc đào thoát của hai cô thư ký nữa ởBonnxuất trên trang nhất của báo chí. Inge Goliath đã làm việc cho Werner Marx, một đầu não của đảng CDU chuyên về chính sách ngoại giao, quốc phòng, Châu Âu, và liên Đức. Cô đã cung cấp những tài liệu chiến lược về quốc phòng và chính sách thời Chiến Tranh Lạnh trong mười năm nay, và trong bầu không khí căng thẳng này, chúng tôi nghĩ an toàn hơn hết là rút cô về. Ngày hôm sau, tờ Bild-Zeitung đăng trên trang nhất : BÂY GIỜ THƯ KÝ CỦA BIEDENKOPF’S CŨNG CHẠY LUÔN. Một bức hình của Kurt BiedenKopf, chủ tích nổi danh của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo và là dân biểu lãnh đạo của đảng, đang tươi cười chụp chung với người phụ tá, cô Christel Broszey. Christel đã hành xử một cách tuyệt vời khi nhận được lệnh phải rời bỏ nhiệm sở. Cô không để lộ sự sợ hãi, vui vẻ vẫy chào chủ nhân của mình với những lời sau : “Tôi đi tiệm uốn tóc. Hẹn gặp ông ngày mai.” để rồi không bao giờ trở lại.

Báo chí nói cô là “siêu thư ký”, vì cô thường đứng trong số năm người đầu trong những giải vô địch nghề nghiệp trong ngành đánh máy và tốc ký. Những đức tính này gây ấn tượng nơi ông Biedenkopf và hai người tiền nhiệm và hóa ra cũng cực kỳ hữu dụng cho chúng tôi. Bởi vì Christel đã làm việc cho ba vị chủ tịch của Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo trong một thời gian dài, cho nên chính quyền Tây Đức không thể hình dung ra được mức độ hiểu biết của cô và những tổn hại do cô gây ra một cách chính xác. Một tuần lễ sau Helga Rödiger, thư ký của ông Manfred Lahnstein, một công chức cao cấp trong Bộ Tài Chánh, cũng đã giã từ chủ nhân và chạy sang Đông Bá Linh. Rödiger là một nguồn tin giá trị, vì Lahnstein là một chuyên gia cố vấn cho Helmud Schmidt khi ông này rời chức Bộ trưởng Tài chánh để lên làm Thủ Tướng.

Con đường để cho những điệp viên chúng tôi đào thoát đã được chuẩn bị từ trước. Điệp viên được lệnh bay qua những quốc gia được xem là ít nguy hiểm, chẳng hạn như Bỉ, Hòa Lan hoặc Thụy Sĩ và đến một trạm kiểm soát biên giới Đông Đức với bià giấy thông hành Tây Đức không có ruột. Các viên chức tại biên giới biết dấu hiệu thỏa thuận này. Người lính biên phòng gọi cấp trên đến và cấp trên này vẫy gọi người kia bước qua biên giới, rồi đưa những điệp viên đào thoát sang một phòng bên cạnh và liên lạc với chúng tôi bằng đường dây điện thoại đặc biệt.

Tôi bàng hoàng và mất hẳn tinh thần. Phần lớn các cô thư ký chỉ giống nhau ở một điểm là chồng hoặc người đàn ông họ sống chung đều là những điệp viên mang tên giả ở Tây Đức. Có thể những người đàn ông này đã ghi danh ma và lấy tên của những người Tây Đức đã di cư nước ngoài. Có thể các cô Juliet nghĩ rằng ngụy trang của các cô đã bị lộ. Nhưng làm thế nào chính quyền lại có thể khám phá tên thật của các điệp viên của chúng tôi.

Tôi thấy rõ chính quyền Tây Đức đã khám phá những phương pháp xâm nhập của chúng tôi. Từ trước đến nay chúng tôi ngạo mạn cho rằng những phương pháp này an toàn, nhưng tôi nhanh chóng quyết định chúng tôi phải làm lại từ đầu. Chúng tôi đi đến một quyết định đau đớn nhưng cần thiết là triệu hồi một vài điệp viên nữ nữa về cùng với những chàng Romeo. Lệnh này đến quá trệ với Ursula Höfs và người chồng. Họ bị xét xử và kết án hai năm tù ở.

Những cuộc lùng bắt năm 1979 là do hậu quả của việc Bác Sĩ Richard Meier lên thay thế Günther Nollau nắm giữ vai trò lãnh đạo Văn Phòng Bảo Vệ Hiến Pháp (Cơ Quan Phản Gián Tây Đức). Ông nâng cơ quan lên một mức độ chuyên nghiệp cao – quá cao để tôi có thể vừa ý – và cho mọi người thấy rằng lòng trung thành với cơ quan quan trọng hơn những môi liên hệ với đảng hoặc hệ phái chính trị. Ông phát động cái gọi là Chiến Dịch Đăng Ký, một cuộc khảo sát tỉ mỉ lý lịch của tất cả những kẻ khả nghi.

Lúc đầu tôi không tài nào thấy được những thất bại của chúng tôi có điểm gì chung. Tôi ghi trong sổ nhật ký của tôi. :

Việc rà soát lại tường tận tất cả những cuộc tái định cư và thăm viếng từ hải ngoại về đã được cơ quan tình báoTây Đức khởi động, một điều cho đến nay chúng tôi nghĩ khó xảy ra hoặc không thể thực hiện được. Điều này làm cho ta điên đầu. Dù sao đi nữa, chúng ta phải chấp nhận một phần thất bại và kiềm chế bớt việc đưa người xâm nhập, hoặc, trong một vài trường hợp, chấp nhận rủi ro lớn. Đây là một cuộc đấu tranh sống chết thực sự và địch thù đang hà hơi lên trên gáy của chúng ta. Bên ngoài không ai thấy có gì bi thảm cả, nhưng sự việc này tạo nên sự căng thẳng và bất an trong nội bộ. Ta phải có tinh thần mạnh mẽ để sinh tồn, nhưng ta không nên quá chai lì.

Tôi không bao giờ quên đàng sau mỗi một trường hợp là một con người đã đặt tin tưởng nơi chúng tôi và đem tính mạng của mình ra chiến tuyến. Một giám đốc tình báo nhẫn tâm hy sinh điệp viên của mình để theo đuổi mục đích riêng chẳng bao lâu mất đi lòng kính trọng và lòng tin tưởng của những người xông pha trong mặt trận vô hình.

Tôi vẫn bối rối và tiếp tục nghi vấn về phương pháp điều tra của chính quyền Tây Đức trong lúc những tổn thất của chúng tôi gia tăng. Thường sau khi một điệp viên bị bắt ở Tây Đức, chúng tôi bắt đầu điều tra tại bộ tham mưu vì tình nghi có kẻ nằm vùng đang hoạt động trong lòng của ban ngành phụ trách làm giấy thông hành giả. Những nghi ngờ như vậy là một loại độc dược nguy hại nhất trong cơ quan tình báo, phá hoại sự tin tưởng mà tất cả công tác đặt lên trên đó và đôi khi làm nó khựng lại. Việc bắt giữ những nguồn tin giá trị do sự bại lộ và thẩm vấn của các cán bộ điều khiển mà chúng tôi đã cài vào Tây Đức đặc biệt gây nhiều thiệt hại. Chúng tôi phải triệu hồi nhiều điệp viên về Đông Đức, nhưng vẫn chưa đoán được làm cách nào Tây Đức khám phá ra được những bí mật của chúng tôi.

Trước tiên chúng tôi phải xem xét những đầu mối do một trong những nguồn tin cung cấp về một cuộc khảo sát tỉ mỉ của phản gián tại Cologne về tất cả những chuyến du lịch qua biên giới để vào Tây Đức. Chúng tôi được thông báo có một đội ngũ làm việc văn phòng, phần lớn là những người về hưu, đã lập bản doanh tại các văn phòng kiểm soát những khách viếng thăm ngoại quốc hoặc những người di chuyển từ vùng này sang vùng khác buộc phải ghi tên nơi trú ngụ mới. Đội ngũ các ông cụ này phối hợp cẩn thận các hồ sơ theo một số tiêu chuẩn. Chúng tôi không hình dung ra được họ tìm kiếm cái gì, mặc dù danh từ “thanh tra lý lịch” tiếp tục xuất hiện trên tất cả những báo cáo từ Tây Đức về. Tôi thành lập một nhóm làm việc trực tiếp báo cáo cho tôi, để tìm xem Tây Đức dùng tiêu chuẩn nào để loại bỏ những thành phần khả nghi.

Chúng tôi đã biết những du khách phái nam độc thân vào khoảng hai mươi lăm đến bốn mươi lăm đều có thể bị hỏi nếu họ mang một số ít hành trang hoặc nếu cách ăn mặc và kiểu cắt tóc không ăn khớp hoàn toàn với giấy căn cước của họ. Điều chúng tôi không biết, chỉ mãi sau này mới biết là tình báo Tây Đức để phát hiện một vài nét đặc thù của người Đông Đức. Vào lúc phong trào híp-pi lan rộng khắp Tay Âu nhưng lại bị ngan cấm tại Đông Âu, các chàng trai híp-pi, đặc biệt nếu phải đi đây đó, có khuynh hướng để tóc dài. Những tân binh của chúng tôi, thường là giáo viên, đầu tác cắt ngắn, và ngay kiểu tóc ngắn cũng khác biệt giữa hai nước Đức. Đối với các giáo viên Đông Đức, việc tập luyện có thể cải thiện họ nhiều, nhưng biến họ thành một anh chàng híp-pi chân chính gần như không thể thực hiện được.

Một khi được nhân viên bảo an xe lửa báo cho biết, những nhân viên ngụy trang     nằm tại các trạm xe lửa theo dõi hành tung của kẻ khả nghi sau khi y rời trạm. Ví dụ, rất ít người Đông Đức có thể tự kềm chế không đánh một vòng qua các cửa hành nằm bên cạnh trạm xe lửa để ngắm nhìn những sản phẩm không thông thường bày bán ở tủ kính, mà người Tây Đức chẳng mấy ai để ý. Nhũng điểm dị biệt nhỏ này được quan sát một cách kỹ lưỡng.

Mãi sau này chúng tôi mới khám phá ra những mưu mẹo này của Chiến Dịch Đăng Ký sau nhiều năm bối rối. Một cách oái oăm, chính Meier là người đã tiết lộ trò chơi này. Ông giới tự thiệu mình là người lãnh đạo mới của tổ chức phản gián một cách khoa trương và tuyên bố đã bắt được mười sáu điệp viên Đông Đức đã luồn lọt vào Tây Đức qua ngõ các nước thứ ba. Báo chí đề cập tổng số bốn mươi vụ điều tra tiếp theo. Những tin tức này chấm dứt những suy đoán của chúng tôi xét xem Tây Đức làm cách nào để sàn lọc con số chính xác người của chúng tôi đang trà trộn trong hàng trăm ngàn du khách. Meier do đó chính thức xác nhận phương pháp ông đang dùng để khám phá những điệp viên của chúng tôi. Mặc dù thất bại của chúng tôi đau đớn thật, nhưng chúng tôi đã triệu hồi được một số những điệp viên đang lâm nguy về và đình chỉ việc xâm nhập. Nếu ông giữ im lặng chiến thắng của ông, có thể ông buộc chúng tôi phải đoán mò trong một thời gian dài phương pháp của ông. Bằng cách khoanh vùng mục tiêu để bắt giữ cẩn thận hơn hoặc chờ đợi cho đến khi kẻ khả nghi móc nối với một loạt các nguồn tin xong rồi ông mới ụp tới, có lẽ ông gây thiệt hại cho chúng tôi nhiều hơn nữa. Tính khoa trương của cấp lãnh đạo cơ quan có chiều hướng tạo nên một hình ảnh mỹ miều nhưng có nguy cơ hy sinh những thành quả của mình.

Như thói thường trong những chiến dịch chiến tranh tâm lý, Bộ Nội VụTây Đức nhanh chóng yêu cầu các điệp viên của chúng tôi ra đầu thú trước khi bị bắt – một trò lừa bịp thông thường trong trò chơi gián điệp giữa hai nước Đức. Tuy nhiên, thủ đoạn này không có ảnh hưởng gì lớn. Việc cộng tác với chúng tôi là một phần lẽ sống của phần lớn các nguồn thông tin và các điệp viên ngụy trang, và nói chung họ miễn nhiễm với những lời mời như vậy. Đối với phần lớn các điệp viên của tôi, tính miễn nhiễm này là do sự pha trộn giữa thành ý chính trị, một sức đề kháng – do chúng tôi nuôi dưỡng – chống lại chiến tranh tâm lý,và ác cảm tự nhiên không muốn ra đầu thú. Tất cả mọi con người đều muốn sống với hy vọng là mình, dù là đàn ông hay đàn bà, sẽ không phải uống chén đắng. Và tình hình vẫn không thay đổi, ít ra cho phần lớn và nếu không được như vậy, làm gì đi nữa cũng đã quá muộn để rút lui.

Hansjoachim Tiedge, một viên chức cao cấp làm việc trong Văn Phòng Bảo Vệ Hiến Pháp, đã đào thoát sang phía chúng tôi năm 1985, nói cho chúng tôi biết làCologneđã khám phá ra không dưới hai trăm người tình nghi măng căn cước giả trong vòng mười năm. Giữa những năm 1972 và 1982, con số tổng kết, theo sự hiểu biết của tôi, lến đến khoảng ba mươi điệp viên của chúng tôi bị lộ, có nghĩa là bị bắt tại Tây Đức, và gấp ba con số điệp viên này đã được chúng tôi triệu hồi về Đông Đức kịp thời. Vì các điệp viên một khi được kéo về không thể nào được dùng lại trên lãnh thổ cũ một lần nữa, Chiến Dịch Đăng Ký đã làm cho chúng tôi phải mất khoảng một trăm điệp viên giá trị – một thiệt hại lớn.

Mặc dù ông thích làm nổi đình đám, tôi phải phục tài Meier đã biết khôn khéo điều khiển chiến dịch phá vỡ hệ thống điệp báo và các trung tâm điều khiền của chúng tôi tại Tây Đức. Kế tiếp đó ông quay sang đánh phá cá nhân tôi và tung tin đồn tôi “sắp bị cất chức”. Tờ International Herald Tribune in ở trang đầu cột tin “MISCHA ĐÃ MẤT TAY NGHỀ ?” Một tờ báo phương Tây khác nằm trên bàn tôi có ghi ở trang nhất WOLF LÀM VIỆC QUÁ ĐỘ.

Nhưng sự thật xem ra không lấy gì làm ngoạn mục lắm; công việc vẫn tiếp tục và trong khi chúng tôi tìm phương pháp để ứng phó với Chiến Dịch Đăng Ký, chúng tôi không ngừng cố gắng. Tôi xét đến trường hợp của Helga Rödiger, bí danh Hannelore. Người đàn ông đã kết nạp cô phải bị triệu hồi bởi vì anh lo cho sự an toàn của anh. Vì không muốn mất cô, chúng tôi tìm trong hồ sơ và kiếm ra được một thí sinh Romeo khác, một điêp viên trẻ có bí danh là Gert đã được gài xâu trên lãnh thổ Cộng Hòa Liên Bang Dức. Anh đã lấy căn cước của một công dân Tây Dức đã di cư sang Tân Tây Lan (New Zealand).

Tôi quyết định đích thân giám sát cặp này, một phần bởi vì tôi tò mò muốn gặp Helga, công việc cô làm cho chúng tôi thật là xuất sắc, và một phần vì cô cho chúng tôi biết cô đang lưỡng lự không biết chọn giữa việc thuyên chuyển cùng với cấp chỉ huy của cô sang Bộ Tài Chánh và việc ở lại văn phòng của thủ tướng. Cô gởi một lá thư mã hóa đến Đông Bá linh qua một giao liên hỏi chúng tôi cô phải làm thế nào : Một sự bối rối bất thường của kẻ có nhiều tài vật. Một mặt , một nguồn tin tại phủ Thủ Tướng đối với chúng tôi rất là quan trọng. Mặt khác cô đã tạo được một mối liên hệ làm việc mật thiết với cấp trên của cô; ông tin tưởng trao phó cho cô những thông tin mật liên quan đến tài khóa và chính sách nội bộ. Chúng tôi không nghĩ rằng cô có thể đạt được những thành quả như vậy ở tại phủ Thủ Tướng .

Thế vận hội mùa Đông tại Innsbruck, ở nước Áo, năm 1976 tạo một lý cơ tốt để gặp gỡ. Helga thuê một căn nhà nghỉ mát bun-ga-lô gần làng này. Ngay lần gặp gỡ đầu tiên, cô tuyên bố sẵn sàng chấp nhận một trong những điệp viên của chúng tôi làm người trung gian của cô ở Tây Đức. Chúng tôi nhanh chóng giới thiệu Gert. Chúng tôi quan sát họ vào buổi ăn tối, lòng đầy hy vọng, nhưng không thấy có chỉ dấu sớm họ thu hút nhau. Dù gì đi nữa, chúng tôi đi đến quyết định Bộ Tài Chánh là một lựa chọn an toàn hơn cho cô, và do đó cô thuyên chuyển và tiếp tục chuyển tài liệu mật cho chúng tôi.

Với thời gian, mối tình giữa Helga và Gert chớm nở. Và sau đó là một mối tình chân thật và lâu bên. Sau này, vào năm 1979 chúng tôi phải kéo cô về, Gert cũng được triều hồi về Đông Đức, nơi đây cuối cùng họ được tự do cưới hỏi. Lễ cưới được tổ chức tại thành phố đầy màu sắc Wernigerode ở trên núi và tôi trở thành thượng khách danh dự, vì tôi đứng ra làm ông mai.

*

Như mọi người có thể dự đoán, các điệp viên Romeo của tôi đã trở thành đề tài nghiên cứu loạn xạ của thế giới tình báo phương Tây. Họ cũng gây hình ảnh ấn tượng nơi quần chúng. Tờ Bild-Zeitung đã ghép hình của mười hai phụ nữ làm việc cho chúng tôi và đăng ở cột nhất hàng chữ NHỮNG CÔ THƯ KÝ LÀM GIÁN ĐIỆP VÌ TÌNH. Trang bìa của một tuần báo đăng hình một cái mông trần truồng có gắn huy chương Đông Đức. Tôi cảm nhận là các cơ quan tình báo phương Tây lo sợ về mức độ thành công của chúng tôi và rõ ràng đang bỏ thời giờ và tiền bạc để xây dựng cho mình hình ảnh của một nạn nhân trong giới truyền thông. Các cô thư ký lúc nào cũng được mô tả như những nạn nhân đáng thương, bị lợi dụng, tất cả đều đứng tuổi, độc thân và thèm khát tình yêu, tứ cố vô thân rơi vào vòng tay bất hạnh.

Để gia tăng áp lực ngăn chặn, công an Tây Đức luôn cho rằng các gián điệp Romeo lợi dụng lòng yêu thương của đối tượng chinh phục một cách lạnh lùng, sau đó biệt tích khi đánh hơi thấy nguy hiểm rập rình. Nhưng một bản báo cáo nội bộ do Herbert Hellenbroïch thảo, lúc đó là phó giám đốc cơ quan phản gián Tây Đức, huỵch toẹt thú nhận “Phần lớn những môi liên hệ chớm nở không hề có áp lực hay có tính hăm dọa. Tiền bạc cũng không đóng một vai trò quan trọng. Thông thường là một cuộc đối thoại về ý thức hệ hoặc chỉ là sự mến mộ đã thú hút những phụ nữ này.”

Sụ thực là chúng tôi hiếm khi chấm mục tiêu những Cô Gái Choàng Khăn Đỏ yếu duối và chỉ đặc biết nhắm họ khi – như trường hợp của Söhler – chúng tôi được một trong những nhân viên của chúng tôi mách nước. Phương thức làm việc thông thường diễn tiến như sau: Khi chúng tôi gởi một điệp viên nam sang Tây Đức với điệp vụ đặc biệt, chúng tôi nói với đương sự “Được rồi, anh sẽ có một cuộc sông riêng như mọi người, nhưng nếu anh rơi vào một cô thư ký, và cô thư ký này ở vị trí tốt đẹp, điều này càng có lợi cho chúng ta”. Những việc còn lại là do anh này quyết định. Lẽ cố nhiên không phải anh đàn ông nào cũng tự động để các cô thư ký thu hút, nhưng quý vị phải nhớ rằng những điệp viên của chúng tôi là những người tuyệt đối trung thành với lý tưởng, họ quen thuộc với những hy sinh và chấp nhận những gò bó cá nhân để thực hiện điều mà họ tin tưởng.

Trái với những lời đồn đãi, họ không được huấn luyện trong nghệ thuật yêu đương khi họ trở về Đông Bá Linh. Một vài người giỏi hơn người khác trong vấn đề này. Họ là những người hoạt động, ý thức được tình dục có thể làm nên nhiều chuyện. Điều này đúng trong kinh doanh và trong nghề điệp báo bởi vì nó mở những đường dây liên lạc nhanh hơn những lối tiếp cận khác.

*

Tuy nhiên tôi không diễn tả trung thực hình ảnh của họ nếu tôi không tiết lộ chi tiết những công tác kỳ lạ và ngoạn mục trong đó các nhân viên của tôi tham dự vào. Họ là những siêu Romeo, mỗi người một vẻ và ở những địa bàn hoạt động khác nhau. Người thứ nhất là Roland G., ông vua bi kịch.

Roland G. là giám đốc của nhà hát nhỏ nhưng nổi tiếng ở Đông Đức tại Annaberg trên dãy núi Erzgebirge, một nơi mà các nghệ sĩ có tài muốn đáp an toàn khi họ thấy làm việc tại các nhà hát lớn ở các thành phố quá nhiều rủi ro về mặt chính trị. Anh nổi tiếng nhờ kiệt tài diễn xuất về Faust trong vở kịch của Goethe nói về một người thèm khát trên hết mọi sự có được kinh nghiệm quyến rũ và ruồng bỏ một cô gái tên là Margarete. Là một người rất thông minh, nét mặt khôi ngô và có tài thay đổi hình dáng của một nghệ sĩ, anh đúng là một thí sĩ Romeo tuyệt hảo. Tôi có một văn phòng chi nhánh địa phương tại Karl-Marx-Stadt ( sau ngày thống nhất đổi tên là Chemnitz), nổi tiếng vì tài thiết kế những kế hoạch táo bạo và những dự án kỳ dị, và những sĩ quan tại đây nhận diện tài năng của Roland G. và lòng yêu sống của y. Năm 1961, anh được phái đi Bonn để tiếp cận một phụ nữ tên Margerete, một thông dịch viên tại Tham Mưu Tối Cao Lực Lượng Đồng Minh Âu Châu (SHAPE = Supreme Headquarters Allied Powers Europe), trung tâm chỉ huy của NATO, lúc đó đặt tại Fontainebleau gần Paris.

Vì muốn công tác có tầm vóc quốc tế, Roland G khoác căn cước của một người ngoại quốc. Không bao lâu anh thủ một cách hoàn hảo vai trò Kai Petersen, một ký giả Đan Mạch, nói tiếng Đức giỏi có pha giọng nói của người vùngScandinavia. – không có vấn đề đối với một kịch sĩ giỏi. Margerete, môt cô gái dễ thương, độc thân và rất mực tôn sùng Thiên Chúa Giáo, làm việc cần mẫn tại NATO và sống một cuộc đời bình thản. Ba trong số các điệp viên của chúng tôi đã thử thời vận nhưng không tài nào chinh phục được trái tim cô. Roland G. thuộc loại rắn rỏi. Anh tìm cách dàn xếp để đi du lịch với cô sang Vienna, chứng tỏ mình là một người đàn ông biết chăm sóc, giới thiệu cho cô gái nhút nhát này những hình ảnh khỏa thân khêu gợi của các danh họa Ý trưng bày tại Kunsthistorisches Museum (Viện Bảo Tàng Lịch Sử Nghệ Thuật), đưa cô đến Trường Huấn Luyện Ngựa Tây Ban Nha, và cuối cùng đến quán cà-phê đắt tiền Dehmel để ăn bánh hảo hạng và uống cà-phê Vienna – tất cả, lẽ cố nhiên, do sự đài thọ của cơ quan tình báo chúng tôi. Đôi khi số tiền chi tiêu của đương sự làm cho cán bộ điều khiển phải xửng sốt vì quá cao, ngay cả đối với một đối tượng như vậy, nhưng cán bộ này là một người khôn ngoan biết rằng ngành điệp vụ cung cấp cho Roland G. một tài khoản rộng rãi và kếch sù để y có thể hưởng những hàng thượng lưu mà y không có tại nước Đông Đức khắt khe.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 13 (Markus Wolf)                      

“…Chúng tôi dàn xếp để tạo nên một kiểu “hôn phối Potemkin” – trên bề mặt – biến một nhân viên của chúng tôi thành một linh mục tuyên úy. Người này được huấn luyện để đóng vai linh mục giải tội, nhưng giọng Đan Mạch của đương sự không có…”

Chương 8 (phần 2)

Làm Gián Điệp Vì Tình

Một đêm, sau một buổi dạ hội thành công tại Burgtheater, cô đền bù công lao chăm sóc của đương sự với một nụ hôn và những lời : “Tôi chưa bao giờ được hưởng những giây phút đẹp đẽ như thế này với bất cứ ai trước đây”. Họ qua đêm lần đầu tiền với nhau và sáng hôm sau anh thổ lộ hết tâm sự của mình cho cô – một vài điều thôi. Anh kể cho người tình mới biết anh là một sĩ quan trong ngành tình báo của quân đội Đan Mạch, và giải thích những nước như Đan Mạch thường bị cho ra rìa trong khối NATO và cần có những thông tin để dùng trong nội bộ.

 Margerite chấp nhận chuyện này và rất lấy làm sung sướng khi anh nói, trong lúc công tác, anh thường đi ngang quaParis và mong muốn gặp gỡ nàng ở đây. Cô chấp nhận cung cấp cho anh những tài liệu mật của NATO. Đôi lúc, anh gặp cô tại một khách sạn nhỏ và cô tiết lộ một số chi tiết trong công việc làm, đặc biệt là những chuẩn bị và ước tính về các vận động quân sự của liên minh. Điều này cho chúng tôi có một cái nhìn chính xác về cách tổ chức này tự xem xét sức lực và khuyết điểm của mình, một hiểu biết có tính cách sinh tồn cho kế hoạch của khối Hiệp ƯớcWarsaw. Cô cũng cung cấp cho chúng tôi những thông tin hữu dụng về hậu cần của hải quân và lực lượng bộ binh nơi cô đôi lúc đến làm thông dịch viên.

Chính quyền Xô Viết – chúng tôi đương nhiên chia sẻ những thông tin này cho họ – không hài lòng với kết quả này. Họ rất muốn chiếm đoạt giải tối thượng: Các kế hoạch dàn trải của NATO và điểm đích cùng với thời điểm chính xác của những vũ khí hạt nhân khi họ phát động đợt đầu tiên tấn công Tây Âu. Thống Tướng Koshevoi, tổng tư lệnh quân đội tại Đông Đức, đã có lúc vuốt ve lòng tự ái của tôi khi ông dỗ ngọt để tôi trao kế hoạch chiến tranh hạt nhân của NATO.

 “Các anh, người Đông Đức, rất giỏi. Có thể nào các anh lấy cho chúng tôi thêm tọa độ không?” ông vừa nói vừa ám chỉ địa đồ chính xác các căn cứ của NATO, mà người Xô Viết muốn triệt hạ trước tiên trong cuộc xung đột hạt nhân. Với giọng nói đầy thiện cảm nhưng hãi hùng ông nói : “Chúng tôi chẳng cần những giấy tờ của các ông. Chúng tôi chỉ cần những tọa độ đó, và chúng ta có thể thả một quả bom lên đầu chúng và xẻ đường đi vào Tây Âu.”

Tôi buồn phiền về chuyền này, vì tôi vẫn tự hào là cơ quan của tôi có khả năng cung cấp những thông tin phân tích có chiều sâu hơn những đường vạch chằng chịt trên sơ đồ. Tuy nhiên, lúc trong chúng tôi muốn giúp Moscow có được hầu hết những tọa độ này, chúng tôi không tài nào thiết lập được toàn bộ sơ đồ, có lẽ bởi vì Ngũ Giác Đài khôn ngoan không để cho đồng minh Tây Đức nắm giữ những dữ liệu quan trọng này, vì họ nghĩ rằng Tây Đức không ngăn ngừa được việc tiết lộ – và họ làm việc này không phải không có lý do chính đáng.

Trong khi đó, Margerete đau khổ vì lương tâm bị giằn vật giống như nhân vật cùng tên trong vở kịch của Goethe. Cô không còn bình tâm nữa, trái tim của cô bị cấu xé, như nhà bi kịch nổi tiếng người Đức đã biên soạn. Chúng tôi đã phải mất một thời gian dài để thuyết phục cô trao tài liệu chúng tôi cần ngay cả cho người cô yêu và cũng là người của cái gọi là cơ quan tình báo Đan Mạch vô hại kia. Và lòng sùng bái Thiên Chúa Giáo La Mã đã khiến cho cô bứt rứt không an tâm để tiếp tục một cuộc tình đi ra ngoài vòng tôn giáo.

Điểm các điệp viên của chúng tôi giống những anh hùng trong những quyển tiểu thuyết gián điệp là cái thú mến mộ những phụ nữ xinh đẹp và những địa điểm đài các, do đó cặp uyên ương này hủ hỉ với nhau nhân dịp lễ Giáng Sinh và Năm Mới 1962-1963 trong khách sạn Arosa, ở Thụy Sĩ. Nơi đây cô nói với anh ta là cô không muốn tiếp tục làm gián điệp và cuộc tình lãng mạng này nếu cô không gặp được một vị linh mục để được giải tội và có lời cầu hôn chính thức. Roland G , suy nghĩ thực tế, nói rằng việc hôn nhân không thể thực hiện được bởi vì công việc của y ởCopenhagenbuộc y phải đi xa bất cứ lúc nào trong một thời gian dài.

Để đáp ứng ước nguyện của Margarete được xưng tội, mặc dù Roland G. biết rõ luật lệ của Tòa Thánh La Mã về tính cách tuyệt đối cẩn mật của tòa giải tội, anh cũng biết rõ một điệp viên tốt không thể chấp nhận rủi ro. Vì vậy anh nói với Margarete đợi cho đến lúc anh kiếm ra được một vị linh mục Đan Mạch. Để làm điều nay lẽ cố nhiên anh không kiếm ở Đan Mạch nhưng tại một chi nhánh của bộ tư lệnh cơ quan tình báo của chúng tôi tại Karl-Marx-Stadt. Tại đây lời yêu cầu của anh đã hầu như gây náo động. Chúng tôi phải sắn tay áo, nhưng sản xuất theo yêu cầu những linh mục nói tiếng Đan Mạch không phải là công việc của họ. Nhưng vì Roland G. đã hứa nên cơ quan tình báo, như một trượng phu, luôn cố gắng giữ lời hứa cho một trong những nhân viên của mình.

Chúng tôi dàn xếp để tạo nên một kiểu “hôn phối Potemkin” – trên bề mặt – biến một nhân viên của chúng tôi thành một linh mục tuyên úy. Người này được huấn luyện để đóng vai linh mục giải tội, nhưng giọng Đan Mạch của đương sự không có, vì vậy chúng tôi phải gởi anh đi học một khóa cấp tốc để học một vài chữ chào hỏi và tiễn đưa cho phù hợp với sự thực và quan trong hơn nữa là thay giọng mũi phổ cập của người dân miền Saxony của Đức bằng một giọng người miền Bắc Âu thích hợp hơn. Chúng tôi tìm ra được một ngồi nhà thờ nhỏ và ít người đến trong một làng ở Jutlandvà chờ lúc vắng vẻ, người của chúng tôi   luồn vào trong tòa giải tội và cô Margerete được mời vào để phơi bày tâm hồn cho đương sự nghe. Không có gì đáng ngạc nhiên là ông linh mục này tỏ ra thông cảm hết mức và nói nàng cứ tiếp tục làm gián điệp với phúc lành của Thượng Đế.

Tôi lo sợ tất cả màn kịch này có thể kết thúc một cách lố bịch, nhưng tôi ngạc nhiên thấy nó thành công. Đôi lúc trong trò chơi gián điệp, những mưu chước quái gở lại thành công trong khi đó một chước tầm thường lại thất bại. Về mặt đạo đức, tôi thường được hỏi là tôi có cảm thấy có tội hoặc xấu hổ đã dàn dựng lên những trò ma giáo này. Xét cho cùng, câu trả lời lương thiện là không. Nhìn lại quá khứ, chúng tôi đã không kềm hạm được một số việc, nhưng vào lúc đó chúng tôi nghĩ rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện.

Mối liên hệ của chúng tôi với Margarete chấm dứt khi chúng tôi triệu hội Roland G ra khỏi Tây Đức vì chúng tôi lo ngại anh đang bị điều tra tại đây. Trong một thời gian ngắn cô tiếp tục làm việc với một Romeo kế tiếp, nhưng sự phối hợp này không đem lại kết quả mong muốn. Việc tham gia điệp vụ của cô chỉ là vì yêu Roland G.. Khi anh này đi, cô không còn động lực để tiếp tục.

Một Romeo cao thủ khác, không giống Roland G., là một người không ai nghĩ rằng anh có vóc dáng thích hợp với vai trò này. Tên của đương sự là Herber Schröter, một tên Đức không lấy gì làm lịch sự, tướng ta của anh là của một người đô vật: Vạm vỡ, mặt vuông vức, vai rộng và tiếng nói oang oang. Tôi vẫn không hiểu đương sự có điều gì để quyến rũ đàn bà đến như vậy, nhưng anh ta phải có một điểm gì đặc biệt, bởi vì trong suốt quá trình hoạt động của anh, anh đã xoay xở và thuyết phục hai cô thư ký ở vị trí cao và đầy tài năng làm gián điệp cho chúng tôi. Nhưng tiếc thay đương sự không đem may mắn đến cho những phụ nữ có liên hệ với y. Mặc dù không phải lỗi của đương sự, cả hai người này đều bị bắt, và mỗi lần như vậy anh lại thoát thân. Câu chuyện của anh cho thấy những điệp vụ Romeo là những trò may rủi ngẫu hợp. Đôi lúc chiến thuật này dẫn đến những mối tình thành thực và lâu bền, đôi lúc nó dẫn đến thảm cảnh.

Chúng tôi phái Herbert đến Alliance Française tạiParisvào đầu thập niên 1960. Cơ sở này là nơi tuyển dụng chúng tôi ưa chuộng, nổi tiếng là nơi tập trung các cô thư ký vì các công chức được gởi tới đây để học Pháp ngữ. Tại đây đương sự làm quen với một cô mười chín tuổi tên Gerda Osterrieder, một cô gái hoạt bát và mảnh khảnh. Họ thân mật với nhau và đúng thời điểm đương sự tiết lộ lý lịch thực sự của mình. Cô chấp nhận thuyên chuyển sang Văn Phòng Hải Ngoại và trở thành nguồn cung cấp tin tức cho chúng tôi, một công tác cô thực hiện một cách hoan hỉ và hiệu quả. Đầu năm 1966 cô làm việc tại Telco, trung tâm giải mã của Văn Phòng Ngoại Giao Bonn, nơi đây tất cả các điện tín từ các tòa đại sứ ở các nước khác gởi về để giải mã. Ngụy trang của Herbert tạiBonnlà nhân viên thương mại.

Phương pháp làm việc tại Telco, của đáng tội, thật là cẩu thả. Lúc đó, các báo cáo đều được gởi về bằng băng giấy của máy in điện báo. Gerda đã bỏ vào túi sách to của cô cả mấy cuộn băng và đem ra ngoài cơ quan mà không hề có một ai kiểm soát. Năm 1968, cô được gởi đi Washington ba tháng để xả hơi và cô làm việc giải mã tại tòa đại sứ Tây Đức, tại đây cô đã nỗ lực làm việc cho chúng tôi và chuyển những báo cáo về tình trạng liên hệ giữa Bonn và Washington cũng như những nhận xét của đại sứ về chính sách nội bộ và ngoại giao của Hoa Kỳ. Sau này cũng cùng năm đó, Gerda và Herbert tiếp tục nỗ lực làm việc cho chúng tôi tại Bonn. Năm năm sau, cô được thuyên chuyển sangWarsaw. Mối liên hệ với Herbert bị gián đoạn và cô đau khổ phải xa cách, và bắt đầu say sưa rượu chè, nhưng chúng tôi phải giữ Herbert ở lại Tây Đức, vì một cuộc di chuyển về hướng Ba Lan sẽ gây nên nghi ngờ.

Không may cho chúng tôi, cô tìm an ủi nơi một ký giả Tây Đức, và người này được tiết lộ là một nhân viên phản gián ngụy trang củaBonn. Cô tiết lộ cho người này là cô chuyển thông tin cho chúng tôi, và y thuyết phục cô nên đầu thù. Ít ra sự trung thành của cô đối với cá nhân Herbert vẫn còn nguyên vẹn nên cô đã điện thoại cho Herbert đúng lúc. Câu nói – “Hãy đến tìm gặp những bàn bẹ của chúng ta. Quan trọng lắm” – là một tín hiệu báo động đã hội ước trước để đương sự đào thoát sang Đông Bá Linh trước khi lưới bủa sập vào.

Những gì xảy ra sau đó là một loại thảm kịch thường xảy ra trong tiểu thuyết gián điệp giả tưởng nhưng ít khi xảy ra trong công tác tình báo thực sự. Herbert trở về với chúng tôi, thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc. Gerda bị giam giữ trong một ngôi biệt thự của đại sứ Tây Đức tạiWarsawđể không còn cơ hội tiếp xúc với các chủ nhân ông cũ. Chúng tôi nhận được tin là hai sĩ quan tình báo Tây Đức đến đây để thẩm vấn cô.

Đêm hôm đó những đường dây điện thoại khẩn cấp của tôi không ngừng reo bởi vì tôi vẫn hy vọng là Gerda sẽ thay đổi ý nghĩ và chạy về với chúng tôi. Tôi liên lạc với các đồng nghiệp ở bên tình báo hải ngoại Ba Lan và họ đồng ý với tôi là họ sẽ làm mọi cố gắng để ngăn trở sự ra đi của cô. Công tác này không đơn giản. Tôi luôn cảm thấy phiền phức khi một quốc gia xã hội chủ nghĩa khác bị lôi cuốn vào chuyện điệp báo của hai nước Đức, đặc biệt là Ba Lan, vì lòng tự ái quốc gia của họ không chấp nhận sự kiện chúng tôi giám sát mối liên hệ của họ với Tây Đức. Ngay cả trước khi công đoàn Đoàn Kết nổi dạy, mối quan hệ giữa Đông Bá Linh và Warsaw rất nhạy cảm, và tôi đoán không sai là nếu công tác chúng tôi thất bại, tôi sẽ nhận được một bài học lên lớp của đồng nghiệp Miroslav Milevski, một người quốc gia cực đoan và là giám đốc của cơ quan tình báo hải ngoại của Warsaw, sau này trở thành bộ trưởng nội vụ Ba Lan.

Chúng tôi thiết lập một “đường dây cứu cấp” cuối cùng. Trong lúc ông trưởng phái đoàn Tây Đức đưa nguồn tin của chúng tôi ra phi trường và đi qua trạm kiểm soát cuối cùng, một nhân viên tình báo Ba Lan ngụy trang bước ra và mời cô đi tị nạn. Trong một thoáng chốc Gerda do dữ và nhân viên ngoại giao khựng lại, lòng hoảng hốt vì sẽ đi vào lich sử ngoại giao như người đã đánh mất ngay tại đây trên phi đạo một điệp viên làm việc cho Cộng Sản, đã đầu thú. Tuy nhiên cuối cùng, Gerda lắc đầu và bước lên phi cơ của Lufthansa.

Trở về Düsseldorf, cô bị xử vị tội gián điệp “trong một trường hợp đặc biệt nghiêm trọng” và bị kết án ba năm tù, ngắn hơn thời hạn bình thường vì cô đã khai cho Tây Đức những chi tiết công việc cô đã làm trong quá khứ. Chúng tôi đã táo bạo thử cứu cô nhưng đã thất bại. Tôi phiền muộn vì tất cả những sự kiện này và nghĩ rằng chúng tôi đã để vuột mất cuộc tình giữa Gerda và Herbert vì chúng tôi quá ngạo mạn. Hơn thế nữa, chúng tôi bây giờ bị kẹt với Herbert, một kẻ lừa phỉnh và vụng về. Đương sự không bao giờ có thể thích hợp với công việc ở bộ tư lệnh và đã bại lộ tung tích gián điệp vì Gerda đã trở về Tây Đức. Để có thời giờ suy nghĩ, chúng tôi cho hắn đi nghỉ hẻ ở vùng biển Hắc Hải ởBulgaria.

Một vài tuần sau y trở về, trông có vẻ rất là tự mãn. “Tôi nghĩ là tôi đã tìm ra được một cô bạn gái hữu dụng khác”. Tôi ngạc nhiên vô cùng.

Trên bãi biển, y đã gặp được một cô gái tóc nâu cực kỳ hấp dẫn tên là Dagmar Kahlig-Scheffel. Y tự giới thiệu với một tên giả khác (y thay đổi tên quá nhiều lần trong nhiều năm, tôi tự hỏi không biết y có nhớ hết những tên đó không). Bây giờ y tên là Herbert Richter. Dagmar nói với y là cô đi nghỉ hè để lấy lại tinh thần sau khi đã phải đau khổ ly dị. Ông Richter nói rằng đương sự cũng là người đã từng ly dị và thông hiểu nỗi đau này. Sau đó hai người tình tứ nghỉ hè

[ Lời dịch giả :Margarete tên thật là Margarethe Lubig và Roland G. tên thật là Roland Pandt

 (http://archiviostorico.corriere.it/1997/marzo/30/spie_dell_Est_missione_speciale_co_0_97033013773.shtml)%5D

với nhau. Một buổi trưa tại phòng của cô, y lần dở một tạp chí trong tuần và   rầu rĩ nhìn thấy một bài phóng sự dài viết về vụ xử án của Gerda. Và trên đó có hình của đương sự đứng sát bên cạnh Gerda và đương sự xuất hiện rất rõ nét. Người yêu của cô được mô tả qua những chi tiết khủng khiếp như là một con quỷ hiện thân, phá hoại đời của các phụ nữ. Đương sự không còn lựa chọn nào khác là thú nhận đương sự là điệp viên Đông Đức Schröter với cô bạn gái mới này.

May thay, cô lại thán phục tính chất lương thiện của y và hai người vẫn tiếp tục tình tứ. Vì Herbert là người bất hảo tại Cộng Hòa Liên Bang Đức, chúng tôi phải mời cô sang Đông Bá Linh vào cuối tuần. Cô đang làm phụ tá cho một ký giá ởMunich, việc này đối với chúng tôi chẳng khai thác được gì. Thời gian trôi qua, cô muốn bày tỏ lòng biết ơn vì đã trải qua những cuối tuần êm ấm ở Đông Đức và cô không từ chối làm việc cho chúng tôi. Chúng tôi đề nghị cô nên học tiếng Pháp và tốc ký, trả lệ phí cho cô, và ngay cả đài thọ cho đứa bé gái của cô vào học trong một trường nội trú ở Thụy Sĩ.

Dagmar di chuyển vềBonntheo lời yêu cầu của chúng tôi, nhưng việc huấn luyện của cô vẫn chưa hoàn tất để cô kiếm được việc làm trong chính phủ. Nhưng chúng tôi không chịu thua – tôi nghĩ lòng kiên nhẫn của chúng tôi vượt xa tất cả những cơ quan tình báo khác. Cô nhận một chân phụ tá cho một giáo sư đại học. Nhờ sự gởi gắm nồng nhiệt của ông, sau một năm làm việc với ông, cô kiếm được việc làm tại văn phòng của Thủ Tướng Helmut Schmidt vào mùa thu năm 1975.

Những tuần lễ đầu trong một cuộc dàn trận như vậy luôn luôn căng thẳng đối với chúng tôi ở tại Đông Bá Linh. Vòng đai an ninh đã được xiết chặt và lúc đó thời hạn thử thách mười tuần được thực hiện, trong thời gian này lý lịch của nhân viên mới và những người quen biết được sưu tra kỹ lưỡng. Dagmar vượt qua thử thách này một cách tốt đẹp. Lẽ cố nhiên, chúng tôi phải ngưng những chuyến đi của cô sang Đông Bá Linh và thu xếp cho cô gặp Herbert tạiVienna,GenevavàInnsbruck.

Chúng tôi đạt bí danh cho cô là Inge và cô làm việc cho chúng tôi nhiều năm, chuyền cho chúng tôi những thông tin về những công việc nội bộ của nhóm ông Schmidt và tinh thần của cấp lãnh đạo tạiBonn. Chúng tôi đặc biệt chú ý đến những báo cáo của cô về không khí căng thẳng vào lần tiếp xúc đầu tiên của ông Schmidt với Tổng Thống Carter để bàn về an ninh của châu Âu. Cô là một thứ ký siêng năng, được các đồng nghiệp mến chuộng vì cô sẵn lòng giúp và ở lại trễ nếu công việc đòi hỏi và để thay thế vào giờ phủ chót hoặc đổi ngày nghỉ cho những đồng nghiệp bận bịu với gia đình. Trong những giờ yên tĩnh này, cô bận rộn làm việc tại phòng sao chụp, chuẩn bị những bản sao cho chúng tôi hoặc chụp vi phim những tài liệu quan trọng lúc không có ai dòm ngó.

Mối quan hệ của cô với Herbert rất là chặt chẽ, mặc dù họ xa cách nhau trên phương diện địa lý. Dagmar rất mong muốn làm đám cưới. Nhưng theo luật lệ thông thường của chúng tôi, chúng tôi muốn tránh việc này, nhưng e rằng cô sẽ rời bỏ tổ chức của chúng tôi, chúng tôi lại dàn dựng một đám cưới Potemkin khác. Chúng tôi làm căn cước Đông Đức cho cô với tên thời con gái của cô và đưa cô từBonnsangViennađể đến Đông Bá Linh, ở đây cô được đưa đến phòng hộ tịch ở quận Lichtenberg cách không xa bộ tư lệnh của bộ chúng tôi tại Normannenstrasse.

Tất cả mọi thủ tục đều được tiến hành. Viên chúc hộ tịch hỏi Dagmar và Herbert họ có tự do để làm đám cưới không và đọc một bài diễn văn về sự ràng buộc trong suốt cuộc đời và tính chất hệ trọng của đời sống vợ chồng. Họ trao đổi nhẫn cho nhau và nhạc khúc hôn phối trổi lên. Mặc dù hai người đều ký vào sổ hôn phối, cả hai đều không biết trang này đã bị lấy ra khỏi sổ và bị tiêu hủy sau khi họ rời cao ốc. Mãi sau này khi Dagmar khám phá, sau khi cô bị bắt, là hôn phối của cô, vì không được ghi rõ ràng vào sổ bạ nên không có giá trị, cô lấy làm phẫn nộ.

Sự nghiệp của cô chấm dứt vào năm 1977 mặc dù không phải do lỗi của cô. Người ta tình nghi Peter Goslar, cán bộ điều khiển của cô ở Tây Đức, được chúng tôi cài và cho định cư ở Düsseldorf với người vợ tên Gudrun với căn cước giả. Vợ chồngGoslarđược đưa vào Cộng Hòa Liên Bang Đức qua ngã Luân Đôn, ở đây họ được cấp căn cước Anh với tên vợ chồng Anthony Roge. Nhưng trong một cuộc sưu tra với máy vi tính về những vụ định cư bất bình thường từ ngoại quốc vào Tây Đức, cặp vợ chồng này đã bị phản gián Tây Đức để ý đến. Họ bị theo dõi một thời gian, và, khi căn phòng của họ bị lúc soát, các viên chức nhà nước tìm thấy tài liệu giấu trong giỏ trái cây và trong phòng tắm. Những tài liệu này gồm có những ghi chú của Schmidt về một cuộc đối thoại mật với Thủ Tướng Anh James Callaghan, và vị này đã than phiền Tòa Bạch Ốc không nắm vững tình thình ở Châu Âu và dùng danh từ “ngạo mạn” và “ngu xuẩn” để mô tả chính quyền Hoa Kỳ.

Đội điều tra không bao lâu khám phá những ghi chú này phát xuất từ đâu. Họ quay phim những cuộc gặp gỡ của vợ chồngGoslarvới Dagmar. Kế tiếp đó khi hai vợ chồng vắng mặt, họ lục lọi căn phòng lần nữa, tìm thấy những tài liệu tang chứng của văn phòng Thủ Tướng Schmidt về vị thế của Tây Đức tại hội nghị kinh tế thương đỉnh tại Luân Đôn năm 1978. Dagmar bị bắt, bị xử và bị kết án bốn năm và ba tháng tù ở. Trong lần xét xử chính bản thân tôi, tôi gặp một linh gác thâm niên tại Tòa Án Düsseldorf đã từng gặp một số cô thư ký gián điệp. Cô Dagmar nổi trội hơn những người trong ký ức của ông, và ông nói với tôi : “Cô ấy là một người đàn bà đẹp tuyệt vời từ trước tới nay tôi chưa từng thấy”. Về phần Schröter, những ngày vinh quang đã chấm dứt. Đương sự phải buộc trở về sống một cuộc sống bình lặng ở Đông Đức, không còn những ngày nghỉ thơ mộng nới xứ lạ nữa.

*

Cô Gabriele Gast là một nhân vật hiếm có trong môi trường phần đông là đàn ông và đã trở nên người phụ nữ có địa vị cao nhất trong Cơ Quan Tình Báo Liên Bang (BND), lên đến chức vụ chuyên viên phân tích cao cấp về Liên Bang Xô Viết và Đông Âu. Những báo cáo xâu sắc của cô về sự phát triển của khối Đông Âu thường nằm trên bàn làm việc của Thủ Tướng Helmut Kohl. Điều mà cả ông Thủ Tướng lẫn các cấp chi huy của cô trong sở BND đều không biết là chúng cũng nằm trên bàn làm việc của tôi.

Trường hợp của Gaby bắt đầu bằng một mối tình Romeo, tuy nhiên tôi miễn cưỡng mô tả cô là một Juliet vì cô là một người phụ nữ xuất sắc, đã hành động theo thâm tín và ý nghĩ của bản thân. Xuất thân từ một gia đình trung lưu bảo thủ, cô là thành viên của Phong Trào Thanh Niên Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, một tổ chức cực hữu, và năm 1968 sang thăm viếng Đông Đức để soạn một tiểu luận về vai trò chính trị của phụ nữ tại nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức.

Tại Karl-Marx-Stadt, cô gặp một công nhân cơ khí tên là Karl-Heinz Schmidt; phải mất hai mười năm cô mới biết tên thật của đương sự là Schneider. Việc gặp gỡ này không có gì là ngẫu nhiên. Schmidt/Schneider làm việc cho Bộ Công An tạiSaxonyvà sau này được thăng cấp thiếu tá. Là một con người mộc mạc dễ dãi, anh có nét duyên dáng của kẻ vô sản đặc biệt gây sự thu hút đối với các phụ nữ trung lưu được cưng chiều. Cô thấy tên công giáo cũ kỹ của anh quá cứng rắn và trìu mến gọi anh là Karlizcek. Anh tận tình ve vãn và đưa cô đi du ngoạn ở vùng quê, và hưởng thụ một mùa hè thơ mộng với nhau. Sau đó anh tiết lộ thân phận thực sự của anh và giới thiệu cô lên cấp trên của mình, một sĩ quan tình báo giàu kinh nghiệm tên là Gotthold Schramm.

Gaby choáng ngộp vì bất ngờ thấy được tận nguồn công tác nội bộ của Đông Đức. Khi những người mới quen biết này yêu cầu cô hợp tác với họ, cô do dự cho đến lúc họ nói cô sẽ không còn được gặp Karlizcek nếu cô từ chối. Sau đó cô chấp nhận và trở về Tây Đức để tiếp tục học vấn tạiAachennhưng cô sang Đông Đức mỗi ba tháng để được huấn luyện điệp báo và gặp người bạn trai.

Các cán bộ điều khiển của cô tại Đông Đức chưa có kế hoạch rõ rệt cho cô lúc ban đầu nhưng dự định hướng nghiệp cô vềBonn, có lẽ vào làm việc tại một bộ nào đó. Tuy nhiên, ở thời điểm này, chúng tôi phó thác cho số mạng. Chúng tôi không phải là những người duy nhất chú ý đến Gaby. Người đỡ đầu luận án của cô là một giáo sư nổi tiếng với những nghiên cứu về các quốc gia Đông Âu, ông Klaus Mehnert. Ông Mehnert có liên hệ với cơ quan tình báo BND và ai cũng nghĩ rằng ông là một trong những người kết nạp cho họ trong giới đại học. Gaby là một sinh viên sáng giá của ông và khi cô trình luận án năm 1973, cô được mời nhận một chức vụ ai cũng thèm muốn là chuyên viên phân tích chính trị tại học viện Pullach của BND gầnMunich, một học viên rất được ngưỡng mộ.

Chúng tôi lẽ cố nhiên sung sướng với chuyển biến này. Chúng tôi giữ lời hứa và cho phép cô tiếp tục thăm viếng Karlizcek. Không bao lâu họ tổ chức lễ đính hôn tại một nhà an toàn ở Đông Âu. Schramm nhận trách nhiệm khui rượu Champagne Nga và đem theo một băng ca-xét với những lời chúc mừng của giám đốc tình báo địa phương. Chúng tôi luôn luôn quan tâm đến khía cạnh thơ mộng của những mối liên hệ này.

Việc làm của Gaby không thể chê chỗ nào được. Cô cung cấp cho chúng tôi một bối cảnh chính xác về sự hiểu biết của phía Tây và những phán đoán của họ về toàn bộ khối Đông Âu. Điều này có tầm quan trọng sinh tử đối với chúng tôi để xử lý đà tiến của Công Đoàn Đoàn Kết tại Ba Lan vào đầu thập niên1980. Nhờ có óc quan sát tinh tế để nhận diện những tài liệu đáng chú ý, cô là một chuyên viên phân tích xuất sắc và không ngần ngại tìm tòi trong những núi tài liệu mật của Tây Đức nói về sự phát triển chính trị và kinh tế trong khối Đông Âu và Liên Bang Xô Viết, và tóm tắt lại những điểm mà cô nghĩ chúng tôi cần ở Đông Bá Linh.

Nếu chúng tôi muốn có bản chính, cô chụp vi phim và cất giấu chúng trong những chai khử mùi hôi nách giả.Chúng tôi lúc ban đầu dạy cho cô cách cất giấu trong những bồn nước trong nhà tiêu trên toa xe lửa di chuyển từ Munich qua biến giới để tới Đông Đức. Sau này chúng tôi xét thấy việc này quá mạo hiểu và bất tiện để theo kịp lượng thông tin cô cung cấp cho chúng tôi. Một người đàn bà làm giao liên sẽ đến gặp cô tại hổ tắm ởMunichvà hai người sẽ trao đổi thông tin cho nhau trong phòng thay quần áo. Những phòng này đã được ấn định qua những điện thư mã hóa được chuyển qua đài vô tuyến chúng tôi gởi đi từ Đông Bá Linh.

Trong nhiều năm cô cộng tác với chúng tôi, Gaby rất hài lòng với những gì cô làm trên phương diện nghề nghiệp. Cô vẫn tiếp tục gặp người tình Karliczek vào những lần nghỉ hè. Chúng tôi chăm sóc kỹ lượng cho đôi uyên ương này, cho họ đi nghỉ ở vùng núi Alp hoặc trên bờ biển Địa Trung Hải. Nhưng với thời gian mối liên hệ đã được cài đặt ban đầu không còn quan trọng đối với cô. Tôi nghĩ cô bám víu vào con người chẳng lấy gì làm đặc biệt của Karliczek bởi vì cô thích tiện nghi xuất phát từ mối liên hệ này và cô là một phụ nữ kiên quyết và độc lập, không thích có mối liên hệ thông thường tại quê nhà.

Cô cũng mang theo một gánh nặng tình cảm phụ trội. Chị dâu của cô nhận nuôi một đứa bé khuyết tật nặng, nhưng xem ra quá sức chịu đựng của họ. Vì không muốn gởi đứa bé vào một cơ quan từ thiện, Gaby chịu chăm sóc thằng bé mặc dù việc này đòi hỏi thời giờ và năng lực của cô. Cô cũng tỏ ra lo lắng không biết chuyện gì sẽ xảy ra cho đứa bé nếu cô bị phát hiện. Cô có những cơn sốt lo âu và đôi khi cô nói đến việc cắt đứt liên lạc với chúng tôi.

Tôi quyết định phải giữ cô lại và năm 1975 bất thường đích thân đến gặp cô tạiYugoslavia. Ban đầu bầu không khí xem ra căng thẳng, bởi vì chưa có một hình ảnh nào của tôi xuất hiện ở Tây phương và đối với cô, tôi là một cấp lãnh đạo không chân dung của tình báo Đông Đức. Nhưng không bao lâu cô lấy lại phong độ và thảo luận với rất nhiều nhiệt huyết về chính sách Ostpolitik và tình hình nội bộ của Đông Đức, một thực trạng mà cô không nuôi ảo tưởng. Tôi thăm hỏi tình trạng cá nhân và đời sống của cô tại sở làm – lẽ cố nhiên Karliczek cũng có mặt tại đó – và chúng toi cũng bàn thảo về phương cách để cô có thể tiến thân trong cơ quan BND. Tôi cam đoan với cô là tôi sẽ giữ tuyệt đối bí mật danh tính của trong cơ quan và hỗ trợ cho cô tối đa. Sau đó, chúng tôi gặp gỡ nhau ở những nơi khác chẳng hạn như tại một ngôi nhà sinh sắn ở Split trên bờ biển Dalmatia của Yugoslav, một địa điểm nghỉ mát không nghi ngại cho các điệp viên của chúng tôi ở Tây Đức và cũng không nguy hiểm cho tôi.

Những chiến dịch của báo giới Tây Đức nhằm đánh phá tôi và đe dọa phơi bày những những điệp viên của chúng tôi chỉ làm cho cô quyết tâm hơn nữa và sự dấn thân về ý thức hệ của cô mỗi lúc mạnh mẽ thêm với thời gian. Giống như nhiều thanh niên Tây Đức đã kinh qua những phong trào phản kháng năm 1968, cô quả quyết nghĩ rằng nước Cộng Hòa Liên Bang Đức đã không thực tâm giải quyết quá khứ Quốc xã. Cô có lần gởi cho tôi một quyển sách về tòa án Nuremberg, nơi các đảng viên Quốc Xã đã tổ chức những cuộc tập họp quy mô và cũng là nơi sau này phe Đồng Minh chiến thắng đã truy tố họ về tội ác của họ. Cô ghi trên quyển sách : “Đám cũ vẫn còn lấp ló đằng sau bề mặt của Canh Tân. Ba mươi năm sau vự xửNuremberg, cuốc đấu tranh cho Canh Tân vẫn tiếp tục”.

Tôi không dám bạo miệng nói rằng, sau lần đầu hổ hởi gặp gỡ Karliczek, Gaby có thực sự yêu y không. Nhưng tôi biết chắc chắn là cô đã khai triển một loại mối tình với cơ quan của chúng tôi. Cô tỏ ra lãng mạng trong mối quan hệ với chúng tôi và cô cảm thấy hài lòng về mặt tình cảm cũng như trên mặt nghề nghiệp, tính chất lãng mạng này cô không tìm thấy trong quan hệ với những người đàn ông. Sự so sánh này có vẻ kỳ lạ, nhưng những xa xỉ cung cấp cho một gián điệp giỏi, những chăm sóc tận tình cho phúc lợi của các điệp viên có thể thay thế cho những mối liên hệ cá nhân. Trong trường hợp của Gaby, yếu tố con người đặc biệt quan trọng và chúng tôi quan tâm tới việc trọng thưởng công việc tốt của cô bằng cách đưa cô sang Đông Đức hội họp. Những việc này đã nâng đỡ mặt tình cảm của cô và do đó tạo nên nhiều thú vị cho cô.

Cô rất mến mộ hai sĩ quan cao cấp đã coi cô như con. Khi một trong hai người chết, cô thu xếp để gởi hoa đặt lên mộ của người này ở vùng quê Đông Đức. Cảm tình của cô đối với tôi xem ra khó phân biện hơn. Cô muốn cảm nhận tôi cần cô và tôi đích thân quan tâm đến cô. Tôi thực sự thích cô và sự khôn ngoan và sự nhạy cảm của cô thu hút cá nhân tôi. Đây là mối liên hệ chặt chẽ nhất tôi chưa từng có với một điệp viên.

Đôi lúc những thư tín của cô hàm chứa giọng điệu đau buồn của một tình nhân được xem như của trời cho. Nhưng những lần viếng thăm Đông Bá Linh tạo cho cảm giác liên thuộc một điều mà cô không tìm thấy ở chính đất nước mình. Cô đến gặp Karliczek ở Vogtland, một vùng đẹp đẽ không xa biên giớiBavaria. Đây là cảnh thơ mộng đồng quê pha với một ít lãng mạng của thế kỷ thứ mười chín đang phát triển mau chóng tại những vùng hẻo lánh của Đông Đức.Cô được bà chủ nhà tên Linda chăm sóc tận tình và cô thích món bánh bao mịn mượt vùng Vogtland và giọng địa phương khó hiểu của bà chủ nhà. Tại đây cô được nghe chính ngôn ngữ của cô như chưa bao giờ cô được nghe và cô được nếm món ăn Đức như chưa bao giờ cô được nếm. Những kinh nghiệm này thường quyến rũ những người Tây Đức được chúng tôi đưa sang Đông Đức. Chúng tôi phải cân nhắc kỹ lưỡng để tổ chức những chuyến đi này vì nó cung cấp hỗ lực tình cảm nhưng mỗi lúc càng trở nên nguy hiểm hơn. Mỗi chuyến đi Đông Đức thật là nguy hiểm đối với nhân viên điệp báo không được phép đến đó do vị thế nhạy cảm của họ ở Tây Đức, đặc biệt là trong những tổ chức như BND. Lần hồi chúng tôi rút ngắn những viếng thăm này bởi vì có nguy cơ về mặt an ninh, và điều này làm cho cô đau khổ.

Đã có lần Gaby viết cho tôi để bày tỏ những lo ngại về những mối nguy cô có thể gặp đương khi cô được thăng tiến trong sự nghiệp tại cơ quan tình báo Tây Đức. Tôi cảm nhận cô đang cầu cứu để chúng tôi hỗ trợ cho cô được vững dạ hơn nữa và tôi mời cô sang thăm viếng Đông Đức thêm một lần nữa. Cô trả lời : “Một lần gặp gỡ và trò chuyện với ông ở một nơi ẩn náu đượm không khí gia đình thúc đẩy và sẽ luôn luôn thúc đẩy tôi để tôi đặc biệt hoàn tất công tác, cho dù hoàn cảnh có khó khăn đến mấy đi nữa”. Tôi phải đương đầu với một sự kiện là, với tất cả những đức tính của cô, cô không phải là một điệp viên dễ tính. Chúng tôi gặp nhau bảy lần trong suốt thời gian cô làm việc.

Tôi thường để ý thấy cảm giác liên thuộc với một cộng đồng đặc biệt, một nhóm ưu tú và một câu lạc bộ bí mật đấu tranh cho một lý tưởng cao đẹp có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người Tây phương thuộc giới thượng trung lưu có cá tính mạnh mẽ và phức tạp. Có lẽ điều này phần nào trả lời câu hỏi thiên hạ không ngùng đặt cho tôi về lý do tại sao những người như vậy kéo nhau vào làm việc cho chúng tôi. Những gì chúng tôi cúng hiến cho họ là cơ hội để họ hòa lẫn lý tưởng với sự dấn thân của cá nhân, một điều mà phần lớn những xã hội tân tiến không có.

Vào thập niên 1980, Gaby dồn hết nỗ lực trong việc phân tích và nghiên cứu Đông Tây của NATO và những hệ quả của chính sách chống cộng gây hấn của Ronald Reagan. Cô chia sẻ mối lo âu của tôi về sự trì trệ sâu đậm của khối Xô Viết sau khi Andropov chết năm 1984. Vào lúc này A Phú Hãn đã trở thành gánh nặng choMoscow. Cả hai chúng tôi đều thấy rõ những sai lầm trầm trọng trong chính sách của Xô Viết và hậu quả của nó trên toàn thể cộng đồng xã hội chủ nghĩa.

Tôi ngạc nhiên khi bắt đầu cuối thập niên 1970 cô nói đến viễn tượng các phong trào cải tiến tự trị lan rộng ra ngoài Ba Lan và lây sang các quốc gia chư hầu khác. Đây là một quan điểm gây chấn động nơi tôi nhiều hơn hết bởi nó phản ánh những nhận thức mới chớm nở trong trí óc của tôi, và tôi chưa sẵn sàng hoặc có khả năng đẻ bày tỏ mạch lạc. Thực tế mỗi lúc một xa rời với những lời tuyên bố của chính quyền và đi trái ngược hoàn toàn với lý thuyết Mác Xít. Một cảm giác khó chịu đang xâm chiếm lòng tôi nhưng tôi vẫn tiếp tục đè nén nó.

Sự nghiệp của Gaby tiến triền nhảy vọt. Lòng tin cậy cô tạo được có thể đo lường qua sự kiện năm 1986 cô nhận trọng trách thảo một báo cáo rất nhạy cảm cho Thủ Tướng về việc các công ty Tây Đức dường như dính líu trong việc xây cất một xưởng chế tạo vũ khí hóa học tại Lybia. Một năm sau cô được phong phó giám đốc ban nghiên cứu chính trị Xô Viết của cơ quan BND, một vị thế cao choáng voáng đối với một phụ nữ. Chúng tôi để cho cô tự ý quyết định những gì cô gởi cho chúng tôi. Giống như các đồng nghiệp của cô ở Tây Đức, chúng tôi tin tưởng hoàn toàn nơi chuyên viên của chúng tôi.

Một câu hỏi được đặt ra trong thế giới gương phản chiếu: Cô là chuyên viên phân tích của ai đây? Tôi có thể nói là cô cung cấp cho chúng tôi và cơ quan BND những phân tích hoàn toàn khách quan. Cô biết những điều chúng tôi quan tâm và tóm tắt những thông tin chúng tôi cần vào những câu ngắn gọn trong những báo cáo dài bốn hoặc năm trang. Cô lẽ cô đền bù sự thiếu vắng tình cảm bằng cách đem hết trí tuệ và năng lực vào công việc trước mắt của cô cho dù là cho chúng tôi hay cho kẻ thù của chúng tôi. Điều quan trọng nhất đối với chúng tôi là những gì chúng tôi tìm hiểu qua cô cơ quan BND nghĩ gì về khối Đông Âu và về chúng tôi, nhờ đó chúng tôi có thể thấy giới qua con mắt của họ. Gaby làm việc cho chúng tôi vì lòng thâm tín ở một lý tưởng, nhưng – cũng như những trường hợp của các nguồn tin giá trị khác – công việc hoàn bị cho phía bên kia là điều kiện cần có để có thể tiếp cận những thông tin chúng tôi muốn có.

Qua những báo cáo, chúng tôi cũng bắt được đầu mối tìm ra những điệp viên có thể do BND gài ở Đông Đức, mặc dù đây chỉ là chuyện thứ yếu. Điều quan trọng hơn là chúng tôi có một tầm nhìn thế giới rộng rãi hơn nhờ cái mà BND gọi là thông tin “băng vàng”, mà cho đến nay ít ai biết đến. Đây là kết quả của việc cơ quan BND dòm ngó chính những đồng minh của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, phần lớn phát xuất từ đài nghe mang bí danh là “Eismeer” (biển băng giá) gần Conil và Cadiz trên bờ biển Đại Tây Dương. Sự có mặt của đài nghe là do mối liên hệ mật thiết giữa nước Đức Quốc Xã và nước Tây Ban Nha của Franco vào những thập niên 1930; chiến dịch có bí danh là “Delikatesse” (điều tinh tế), giám sát những đường giây liên lạc từ châu Âu sang Tây Phi Châu và Bắc và Nam Mỹ được các Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và các trạm của CIA xử dụng. Tất cả những bản chuyển mã của BDN liên quan đến những đồng minh của Tây Đức đều được đánh dấu bằng một vạch vàng để không chuyển lộn cho người khác, tiết lộ cho đồng minh biết những gì Tây Đức đã nghe lóm. Tây Đức, với những sĩ quan điệp báo và cảnh sát đã được huấn luyện kỹ thuật, trên lý thuyết có thể giải mã những tín hiệu của mười bốn nước đồng minh. Họ có mối liên hệ chặt chẽ với tình báo Turkey, và trong cuộc chiến Falklands năm 1982 là cơ quan duy nhất giải mã được lượng thông tin vô tuyến của Argentina cho chính quyền Anh. Tay nghề của Tây Đức và khả năng của chúng tôi cài đặt vào đây nhờ tay của Gaby và các nguồn tin khác đã cho phép chúng tôi giảm thiểu những cố gắng thu thập tin tình báo. Tây Đức dở trò bẩn thỉu dòm ngó đồng minh Hoa Kỳ và chúng tôi ăn cáp những thông tin này.

Mãi sau này, sau khi nước Cộng Hòa Dân Chủ xụp đổ và Gaby bị lộ, tôi thường mong ước cô ấy sớm rời chúng tôi để chúng tôi – và cô ấy – có thể tẩy xóa vết tích của cô một cách hoàn hảo hơn. Cho đến giờ phút chót cô không phạm một sai lầm nào. Đầu năm 1990, khi chúng tôi nhận biết việc thống nhất không thể tránh được, người thừa kế của tôi mời cô đến họp tại Salzburg để nói với cô là chúng tôi chấm dứt công tác và tất cả những tài liệu ghi chép những cộng tác của cô đã bị tiêu hủy.

Nhưng trên đường đi đến thống nhất, một số nhân viên cũ trong cơ quan của chúng tôi tìm cách để được miễn truy tố bằng cách bán rẻ người khác. Sự phản bội tệ hại nhất là do một trong những sĩ quan cao cấp của chúng tôi, Đại Tá Karl- Christoph Grossmann ( không nên lẫn lộn với người kế vị tôi làm giám đốc tình báo hải ngoại Werner Grossman). Mặc dù đương sự không biết trực tiếp danh tính của Gaby hoặc sinh hoạt của cô, đương sự đã nghe lỏm được trong một cuộc đối thoại là cơ quan chúng tôi cài được một người đàn bà rất giỏi có chức vị cao trong cơ quan tình báo Tây Đức và cô này có một đứa con khuyết tật.

Bấy nhiêu cũng đủ để tố cáo đích danh cô, và sau này cô bị bắt vào năm 1990 khi cô đi qua biên giới Đức Áo để gặp lần cuối cùng các cán bộ điều khiển. Tôi nghĩ rằng họ chuẩn bị trao cho cô một phần thưởng danh dự vì công cộng tác lâu năm. Cho đến giờ phút chót, những dấu hiệu biết ơn có nhiều ý nghĩa đối với cô.

Đã có nhiều bình luận và có nhiều sách báo phân tích tại sao những phụ nữ này đã hành xử như họ đã hành xử. Tất cả đều là những công dân của Tây Đức làm việc cho cơ quan của nhà nước trước khi họ nhận làm việc cho chúng tôi. Một vài người chấp nhận lý tưởng xã hội chủ nghĩa vì lòng thâm tín. Nhưng phần đông thực sự yêu đương và gắn liền với chúng tôi vì đã gắn liền với một người đàn ông. Họ biết họ phải hy sinh mối liên hệ gia đình và mức sống cao sang ở Tây Đức để được sống an toàn tại Đông Đức, một quốc gia ít người biết đến và hình ảnh của quốc gia này đối với quần chúng không lấy gì làm đẹp. Nhiều người đã lập cuộc đời mời ở đây sau khi đã chấm dứt công tác gián điệp.

Ursel Höfs đã phải thi hành toàn bộ án lệnh của Cộng Hòa Liên Bang Đức bởi vì cô đã từ chối thu hồi đơn xin sang Đông Đức của cô sau khi cô được trả tự do. Christel Broszey và chồng sang định cư ở vùngThuringiaở Đông Dức và nuôi một đứa con nuôi. Sau này cô sung sướng vì hai vợ chồng cũng sanh được một đứa con ruột. Inge Goliath cuối cùng đã về sống bình thản với người chồng ở vùng quê ngoại ô Bá Linh. Helga Rödiger đã di chuyển cùng với chồng đến ở Bá Linh và ở lại đây sau khi chồng chết. Tôi chỉ gặp cô có một lần tại một buổi liên hoan sinh nhật mùa hè năm 1996.

Cuộc chuyển đổi sang một hệ thống xã hội khác phải công nhận là khó đối với các phụ nữ này. Phương sách của chúng tôi là giúp họ sống một cách thoải mái nhưng lại bình lặng tối đa. Sau những năm phấn khởi phục vụ cho một cơ quan tình báo, điều này xem ra là một phần cảm hứng trong cuộc đời của họ. Cô Christel Broszey là một trong những người từ chối cuộc sống bình lặng. Cô nài ép giới lãnh đạo đảng ở địa phương để họ tìm cho cô một công việc đầy thách đố trong ban thiết kế của một xưởng dệt. Tại đây cô chỉ trích dữ dội lề lối vô hiệu quả của lối quan trị xã hội chủ nghĩa và cải tiến phương thức làm việc trong xưởng theo kinh nghiệm của cô ở Tây Đức.

Tôi không nghĩ là phương thức để đạt thành công của cơ quan chúng tôi khác với phương thức làm việc của các cơ quan tình báo hải ngoại Tây Đức. Chúng tôi không độc quyền về việc xử dụng gián điệp Romeo. Chính quyền Tây Đức cài một điệp viên ở Hoa Kỳ mang tên là Karl Heinz Stohlze. Năm 1990 đương sự tiếp xúc một cô thư ký kỳ cựu làm việc cho một công ty quốc phòng ở Boston, quyến rũ cô và có ý định kết nạp cô để hy vọng lấy thông tin cho Bonn về kỹ thuật phân cách di tố của Hoa Kỳ. Đương sư lén thu băng những mẩu đối thoại trong đó cô nói rằng cô sẵn sàng làm gián điệp kỹ nghệ cho Tây Đức. Khi cô mất bình tĩnh, đương sự hăm dọa sẽ phanh phui chuyện này với những cuộn băng thâu lén. Sự việc kết thúc một cách hỗn loạn vì cô này dự tính tự tử.

Một chàng Romeo của cơ quan BND được phái đến Paris năm 1984 và được lệnh quyến rũ một vị phu nhân của một viên chức Đông Đức tại UNESCO và hăm dọa để buộc bà phải chuyển thông tin về chinh sách của Đông Bá Linh và ý định đầu phiếu của họ tại Liên Hiệp Quốc. Những viên chức an ninh ở tòa Đại Sứ chúng tôi biết được chuyện này, và cả hai vợ chồng đều được triệu hồi trước khi xảy ra chuyện không lành cho chúng tôi. Một trường hợp đặc biệt khác xảy ra tạiOslocũng vào thời điểm này. Cơ quan phản gián Na Uy khám phá qua đường dây nghe lén điện thoại bà vợ của một đại sứ Đông Đức dính líu trong một mối liên hệ đồng tính luyến ái với một phụ nữ Na Uy. Qua những nguồn tin khác chúng tôi khám phá ra Tây Đức đã có kế hoạch hăm dọa tố giác bà vợ của ông đại sứ. Cặp vợ chồng này được hối hả triệu hồi về nước.

Những chàng Romeo tôi đã mô tả trong chương này không phải là những tay Don Juan có kinh nghiệm, cũng không hẳn là những Adonis (* lời dịch giả = Adonis là một vị thần trong huyền thoại Hy Lạp, rất đẹp trai, được hai nữ thần Aphrodite và Perséphone mến mộ giành giựt lẫn nhau. Vị chúa tể các thần là Zeus, để giải quyết mối tranh chấp này đã quyết định để cho Adonis một phần ba tháng ở với Aphrodite, một phần ba ở với Perséphone và phần còn lại ở với người mà ông thích). Họ là những người tầm thường có thể đi trên đường phố mà chẳng ai ngoái nhìn lại. Khi tôi ngẫm nghĩ về những đóng góp của họ cho công trình của chúng tôi và một vài hệ quả liên lụy đến họ, tôi phải thú nhận là trong nhiều trường hợp, giá phải trả về thương tổn nhân lực quả là cao vì có những cuộc đời bị phân ly, những trái tim tan nát và những sự nghiệp bị tiêu hủy. Tôi cũng hối hận vì đã để mối liên hệ giữa Roland G và cô Margarete của anh trở nên quá sâu đậm và kéo dài quá lâu. Cứu cánh không phải lúc nào cũng biện minh được cho những phương tiện mà chúng tôi đã dùng. Nhưng tôi phiền lòng là người Tây Đức lại có giọng điệu chát chúa dạy đời với tôi trong vấn đề này. Bao lâu còn gián điệp, bấy lâu sẽ còn những Romeo quyến rũ bất kể những cô Juliet nào tiếp cận với những điều bí mật. Dù sao đi nữa, tôi điều khiển một cơ quan tình báo chứ không phải một câu lạc bộ của những trái tim cô đơn.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 14 (Markus Wolf)                      

 “…vụ của Guillaume không phải là nguyên nhân mà chỉ là cớ để hạ bệ ông Brandt vào ngày 4 tháng 5 năm 1974, không bao lâu sau khi Guillaume bị bắt. Trong hồi ký, ông Brandt cho rằng việc khám phá một gián điệp trong vòng thân cận không thể nào là lý do để buộc ông phải từ chức…”

Chương 9

Hình bóng của Thủ Tướng

Thủ Tướng Willy Brandt là một người nhiệt huyết, thông minh, có tinh thần đạo đức cao, một nhân vật nổi bật trong lịch sử hậu chiến nước Đức. Ông có những phong thái thích hợp – ông nghiêng mình quỳ gối để tưởng nhớ đến các người Do Thái bị sát hại khi ông đến thăm vùng ghetto ở Warsaw – và thành tâm cúng hiến sức mình để khoả lấp hố ngăn cách giữa Đông và Tây Đức, và giữa hai thế giới Cộng Sản và Tư Bản. Chúng tôi biết ông từ khi ông là một trong những lãnh tụ chống Cộng ở Bá Linh vào thời chiến tranh lạnh. Khi ông trở thành lãnh đạo của chính phủ ở Bonn và thực thi chính sách hoà giải với Đông Âu – lẫn Đông Đức và tất cả các nước trong khối Đông Âu – được biết là Ostpolitik, chúng tôi có tất cả những lý do để xem xét kỹ lưỡng rằng ông thực sự muốn trở thành đối tác của chúng tôi và không còn là kẻ thù của chúng tôi.

Việc khám phá một nhân viên điệp báo của tôi đã xâm nhập văn phòng của Thủ Tướng Brandt đã thình lình kết thúc sự nghiệp lãnh đạo nước Đức của ông Brandt. Đây là phần trách nhiệm của tôi và tôi vẫn cảm thấy bồi hồi sau khi ông đã qua đời. Câu hỏi tại sao tôi làm điều này, kèm theo những lời trách móc « trong số những chính khách, lại nhằm ông Brandt », là một câu hỏi tôi luôn phải đối đầu. Lẽ công bằng duy nhất mà tôi có thể trả lại cho người quá cố Willy Brandt là giải thích từng chi tiết trong vụ việc gián điệp xấu xa vào thời nước Đức hậu chiến đã xảy ra như thế nào và lý do tại sao.

Ngày 21 tháng 10 năm 1969 Willy Brandt, khi còn là một thị trưởng trẻ của Bá Linh đã buồn phiền nhìn Bức Tường dựng lên trước mắt ông tám năm về trước, được bầu làm Thủ Tướng Tây Đức. Ba tuần lễ sau, một người tên là Günter Guillaume trình diện tại văn phòng của ông Brandt ; ông được lãnh tụ công đoàn Georg Leber gởi gắm để đảm nhiệm chức vụ phụ tá cấp thấp cho Thủ Tướng với trọng trách liên lạc với các thương đoàn vá các tổ chức chính trị khác, và anh nhận công việc này. Chỉ đơn giản có thế, chúng tôi cài đặt một gián điệp bên cạnh một vị lãnh tụ của một quốc gia nằm trong mục tiêu hàng đầu của chúng tôi.

Chúng tôi không bao giờ từ bỏ hy vọng xâm nhập đầu não củaBonn, nhưng không một ai có thể ngờ lại có thể gần gũi đến như vậy. Tôi cũng không trông mong Guillaume, với mật danh là Hansen, sẽ là người hoàn tất sứ mạng gián điệp lịch sử. Giống như hàng chục thanh niên trẻ khác, Günter, đã làm việc trong ngành ấn hành tại Bá-Linh, một chi nhánh của Bộ Công An, và người vợ Christel, đã được phái sang Tây Đức theo chỉ thị của chúng tôi vào giữa thập niên 1950, hoà nhập vào làn sóng di dân. Bà Erna Boom, mẹ của Christel, một công dân Hoà Lan, đã định cư tại Frankfurt-am-Main và mở một quán bán thuốc lá. Tôi hồi tưởng Christel là một cô thư ký toàn hảo – vững chắc, tự tin, tầm thường. Günter, trái lại, là một người vạm vỡ, vui tính và thích hợp với đám đông

Nhờ gia thế của gia đình Christel và sự hiện diện của bà mẹ cô tại Frankfurt, cặp vợ chồng này may mắn không phải vào những trại giành cho người Đông Đức và thoát khỏi hàng rào hành chánh do chính quyền dựng lên để giúp cơ quan phản gián giám sát những người mới đến. Chúng tôi quyết định để cặp vợ chồng phải cố gắng tìm cách gây dựng sự nghiệp trong đảng SPD để làm bình phong. Cả hai vợ chồng nhanh chóng thăng tiến trong vai trò đảng viên Dân Chủ Xã Hội. Mục đích của họ không phải là lên đến cấp lãnh đạo đảng ; họ được dùng để chỉ huy những nguồn cung cấp tin tức trong đảng SPD. Nhưng họ đã tỏ ra năng động và cần mẫn hơn mong ước của chúng tôi.

Vợ chồng Guillaume sống trong một căn phòng ấm cúng tại Frankfurt, tại đây họ mở một quán sao in và có một đứa con trai tênPierre. Cả hai đều làm việc cật lực, Günter kiếm thêm tiền với nghề ký giả chụp ảnh độc lập. Trong môi trường thiên tả của Đảng Dân Chủ Xã Hội, chẳng bao lâu các thành viên hữu khuynh chú ý đến anh chàng Guillaume rất ư là bảo thủ. Christel làm bước nhảy vọt đầu tiên và được cử vào chức vụ chánh văn phòng của Willy Birkelbach đầu thập niên 1960. Birkelbach một trong những người xốc vác mà mỗi đảng đều có để điều động các vùng. Ông là thành viên trong uỷ ban điều hành của Đảng, là chủ tịch của Nhóm Xã Hội trong Quốc Hội Châu Âu và là thứ trưởng trong vùng sinh quán của ông tại Hessen. Ông tiếp cận những hồ sơ chiến lược của NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương) ví dụ như tập nghiên cứu « Diện Mạo của Chiến Tranh » và những kế hoạch phản ứng khẩn cấp về hạt nhân.

Günter chuyển những thông tin này qua vi phim, cất giấu trong một ống xì-gà rỗng trao cho một người giao liên giả làm khách đến tiệm của bà mẹ vợ. Chúng tôi giữ liên lạc vô tuyến điện với họ – có phần quá đáng vào lúc ban đầu – vào những thời điểm và ngày nhất định trong tháng, dùng một chuỗi những con số mã hoá. Sau này chúng tôi ngắn gọn thủ tục, giảm bớt sô lượng thông điệp và thay đổi tần số để rồi Günter tuy càu nhàu nhưng hãnh diện tìm cách giải mã những thông tin gởi đến đương sự.

Khi đảng Dân Chủ Xã Hội chuẩn phê một chương trình làm việc không theo Marx tại hội nghị Bad Godesberg năm 1959, chúng tôi bắt đầu chú ý đến đảng này. Việc chuyển hướng chủ trương đã thăng tiến đảng SPD về mặt chính trị và họ có cơ hội rõ rệt để tham gia chính phủ. Chúng tôi khuyến khích Günter tập trung vào sự nghiệp chính trị của mình, và khoảng năm 1964 anh trở thành quản trị viên điều hành thường vụ của đảng tại Frankfurt. Chúng tôi nhận biết sự nghiệp của đương sự tiến rất nhanh nên chúng tôi phải cẩn thận hơn nữa trong công tác điều hành đương sự. Điểm yếu trong quá trình lý lịch của đương sự là đương sự là người tị nạn và đào tẩu khỏi Đông Đức, đương sự được xem không còn mối liên hệ nào với Đông Bá-Linh. Có một lần, trên đường lái xe đến một địa điểm gặp gỡ tại một căn phòng an toàn dùng cho việc này tại Đông Bá Linh, đương sự ngừng tại một ngã tư và bắt gặp một người bạn thân đã làm việc trong quá khứ tại nhà in lái xe ngược chiều. Người này sẽ nghĩ gì nếu y ngước nhìn và thấy anh bạn Günter Guillaume nghe nói đã đào thoát, trốn đi ?Pierrecũng tạo nên những vấn đề của tất cả mọi đứa bé vì lời nói thẳng. Trường hợp ở đây còn khó khăn hơn vì nó vô tình tố giác cha nó. Trong một lần Günter ghé thăm Đông Đức, đưa bé được một sĩ quan có giọng đặc biệt của vùngSaxonyđưa đi dạo vườn bách thú. Khi trở về Tây Đức,Pierrebắt chước giọng địa phương của miền Đông và hỏi Günter tại sao người này nói kiểu này. Bố của nó cảm nhận ngay sự căng thẳng mà mọi điệp viên phải kinh qua: Nhận biết rằng đời sống hai mặt đã tước đi quyền tự do mà mọi công dân cho là đương nhiên. Đương sự đồng ý phải chấm dứt những cuộc viếng thăm bí mật tại bộ tham mưu của chúng tôi.

Nhưng tinh thần kỷ luật và lòng trung kiên của đương sự không hề suy giảm. Đương sự trở nên thành viên của hội đồng thành phốFrankfurtvà đứng đầu nhóm SPD. Do khả năng tổ chức của Guillaume, cùng với tư thế bảo thủ cứng rắn vào thời buổi thay đổi lớn về ý thức hệ trong lòng đảng SPD, Georg Leber đã chú ý đến Guillaume. Georg là người lãnh đạo công đoàn công nhân xây cất và sau này là bộ trưởng giao thông trong đại liên minh năm 1966 – 1969 giữa đảng SPD và đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Ông cần một người cổ động để giúp ông đoạt chức đại diện quốc hội trong hàng ngũ cử tri của mình đối địch với một ứng viên thiên tả trẻ Karsten Voigt. Mặc dù ông là một khuôn mặt nặng ký và đáng kính nể ở chức vụ lãnh đạo đảng, Leber phải khó khăn tranh đấu để được đề cử. Cánh Tả, được cao trào thiên tả cực đoan năm 1968 hỗ trợ, nhất quyết chống lại liên minh chính phủ của chính đảng họ với đối thủ ý thức hệ đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo.

Với sự trợ giúp hành chánh không mệt mỏi của Guillaume, Leber đắc thắng trong cuộc bầu cử tháng 9 năm 1969. Đảng Dân Chủ Xã Hội lần đầu tiên xuất hiện là một đảng lãnh đạo sau đệ nhị thế chiến, và tình thế rất thuận lợi cho Guillaume, người đã có công đóng góp trong kết quả của một trong những cuộc bầu cử gay go nhất của nước Đức. Leber lập tức hứa sẽ đưa Guillaume đi Bonn. Chúng tôi quan sát từ Đông Bá Linh và cảm thấy thích thú và ngạc nhiên nhưng cũng có phần lo ngại. Gốc tích làm việc trong ngành in ấn của anh ở Đông Bá Linh không còn là một bí mật nữa, nhưng trong mọi trường hợp chúng tôi biết việc đặt để anh vào một chức vụ trong chính phủ trung ương sẽ dẫn đến một cuộc điều tra lý lịch tỉ mỉ hơn là lúc anh chỉ là một con ong thợ làm việc trong tổ của một đảng tại Frankfurt.

Chúng tôi ra lệnh cho Günter và Christel phải chơi trò nấn na và không nên tiến thân vào cơ quan hành chánh mới này. Họ phải an vị đợi chờ. Như chúng tôi đã dự đoán, bánh xe an ninh nghiền nát rất nhuần nhuyễn. Heribert Hellenbroich, sau này là giám đốc Tình Báo Hải Ngoại của Tây Đức (Bundesnachtrichtendienst), xác nhận rằng Guillaume đã được điều tra kỹ lưỡng hơn hết mọi người – nhưng không phát hiện điều gì đáng khả nghi cả. Tuy nhiên đã có hai lời mách mơ hồ của các chuyên viên thẩm định trong ngành phản gián của Tây Đức (Nha Bảo vệ Hiến Pháp, Bundesamt für Verfassungsschutz – BfV) và Horst Ehmke, đổng lý văn phòng của Brandt và vì vậy chịu trách nhiệm về nhân sự tại đây, quyết định đối chất trực tiếp với Guillaume để làm sáng tỏ những mối nghi ngờ này.

Phản ứng và phong cách của Guillaume trong lúc giải thích việc làm của mình tại nhà phát hành Volt und Velt xem ra quá tự nhiên, sau này Ehmke ngạc nhiên nhận xét, đến độ mọi sự nghi ngờ đều được bỏ qua. Có một người vẫn tiếp tục không tin tưởng Guilaume, đó là Egon Bahr, cố vấn thân tín nhất của Brandt và là kiến trúc sư của chính sách Ostpolitik. Bahr nói với Ehmke là ông phiền lòng đưa Guillaume đến gấn Brandt và nói «  Có thể tôi làm khó với y nhưng quá khứ của y nguy hiểm quá .»

Những đắn đo của các cơ quan an ninh đều bị dẹp sang một bên với lời giải thích rằng việc tố giác các người Đông Đức trốn chạy sang Tây Đức rất là thông thường. Có nhiều người di dân cảm nhận họ phải vấy bẩn lên các người đồng hương để chứng minh thành tích chống Cộng của họ với chính quyền Tây Đức. Dù sao đi nữa, có nhiều viên chức cao cấp trong chính phủ Tây Đức xuất phát từ Đông Đức, trong đó có Hans Dietrich Gencher, bộ trưởng nội vụ của Brandt và là đảng viên Đảng Dân Chủ Tự Do. Mặc dù gốc gác của ông, ông phụ trách về đường hướng chính trị của cơ quan BfV.

 Các đảng viên Dân Chủ Xã Hội đơn thuần không ưa phong cách lấy lòng của Guillaume và thói quen lẩn quẩn hậu trường trong những cuộc thảo luận không liên quan gì đến anh. Xét cho cùng, điều anh làm không có gì khó hiểu cả! Nhưng ban chấp hành mới này quyết định dứt khoát đoạn tuyệt với quá khứ. Lòng dấn thân, năng lực và động lực quan trọng hơn con đường xây dựng sự nghiệp truyền thống thư lại. Quan điểm mới này có lợi cho những người như Guillaume, không có trình độ học vấn cao hoặc có liên hệ gia đình hỗ trợ đàng sau sự nghiệp chính trị. Lẽ cố nhiện việc đỡ đầu cũng cần thiết, và anh có một Leber tương đắc và có thế lực bên cạnh anh. Do đó vào ngày 28 tháng Giêng năm 1970, anh nhậm chức và chúng tôi không phải cố gắng nhiều, chúng tôi có người của chúng tôi trong văn phòng của Thủ Tướng .

Guillaume xem ra là một lựa chọn tế nhị. Leber và các đoàn viên nghiệp đoàn muốn có một người đáng tin cậy nằm trong văn phòng Thủ Tướng để thúc đẩy chương trình cải cách xã hội và chính trị, và sau này, ông Brandt muốn có đường dây liên lạc với các công đoàn. Một năm sau khi được bổ nhiệm, Guillaume được tiến chức vào chức vụ mới tạo lập là trưởng văn phòng phụ trách liên lạc với quốc hội, các cơ quan của chính phủ và các chức sắc tôn giáo. Một năm sau, anh được thăng chức vào ngạch công chức cao cấp và trực tiếp chịu trách nhiệm với đổng lý văn phòng của Thủ Tướng, ông Horst Ehmke. Ehmke không nghi ngờ khả năng của Guillaume, nhưng không bao giờ quên hẳn sự bực dọc của ông trong việc đề cử Guillaume.

*

Người ta vẫn thường hỏi tôi Guillaume có giúp cho cơ quan của chúng tôi đánh giá đúng đắn ý nghĩa của chính sách Ostpolitik của ông Brandt không. Nói cách khác, nguy cơ gây tổn hại cho chính sách của Brandt có tương xứng với những thành quả tình báo không? Điều mà chúng tôi mong đợi trên hết mọi sự từ nguồn tin phát xuất tại văn phòng Thủ Tướng là những cảnh báo đúng lúc về những khủng hoảng quốc tế có thể xảy ra. Ưu tiên của Guillaume là cảnh tỉnh. Trước khi anh điBonn, tôi có nói với anh và những nhân viên đặc tình khác là chúng tôi không trông chờ chính phủ mới của ông Brandt chệch hướng ra khỏi chính sách của NATO hoặc từ bỏ việc gia tăng vũ khí. Nhưng tôi nghĩ điều này có thể tiến theo chiều hướng làm giảm bớt căng thẳng tại Châu Âu, một triển vọng chúng tôi cần phải để ý.

Công việc của Guillaume thuần túy là chính trị và chúng tôi dùng anh để giám sát tình hình của chính phủ Brandt, ngay từ ban đầu đã có những dằng co nội bộ và bất đồng về những ý định trong đường hướng ngoại giao, đặc biệt là đối với Cộng Hòa Dân Chủ Đức (GDR) và Moscow. Gần đến buổi họp giữa ông Brandt và Thủ Tướng GDR Willi Stoph vào tháng Ba năm 1970, Guillaume tiếp cận một vài kế hoạch của Tây Đức, nhờ vậy, phối hợp với những thông tin từ các nguồn khác, chúng tôi thấy rõ những ý định và lo âu của ông Brandt.

Günter đã trở thành một giá trị vững vàng hơn đối với chúng tôi. Để chuẩn bị cho đại hội của đảng SPD tại Saarbrücken vào trung tuần tháng 5 năm1970, một văn phòng chính phủ phải được thành lập để giải quyết những công việc thường nhật của đất nước. Guillaume đảm trách văn phòng này và ngẫu nhiên biến anh là người liên lạc giữa văn phòng và cơ quan tình báo hải ngoại Tây Đức! Anh thành công dễ dàng trong cuộc trắc nghiệm này – mọi người đều khen tính hiệu dụng và khả năng làm việc mạnh mẽ của anh – và do đó anh hoàn toàn thông qua an ninh.

Tuy nhiên, tầm quan trọng của anh đối với chúng tôi là bản năng chính trị của anh. Nhờ sự phán đoán của Guillaume, chúng tôi có thể kết luận sớm hơn thường lệ là chính sách Ostpolitik của Brandt, mặc dù có những mâu thuẫn, đánh dấu một cuộc thay đổi thực sự trong chính sách ngoại giao của Tây Đức. Dưới khía cạnh này, công việc của anh giúp làm bớt căng thẳng giữa Đông và Tây, tạo cho chúng tôi lòng tin để tiếp tục tin tưởng về ý định của ông Brandt và đồng minh.

Ngôi sao của Guillaume tiếp tự bay cao. Peter Reuschenbach, giám đốc vận động tranh cử của đảng SPD, đang tìm một ghế tại quốc hội và đề nghị anh thay thế chỗ của đương sự để chuẩn bị bầu cử cho năm 1972. Brandt vừa mới nhậm chức vào năm 1969, vì vậy nhiệm kỳ của ông còn lâu mới chấm dứt, nhưng việc đầu phiếu tín nhiệm tại Quốc Hội (Bundestag) về Hiệp Ước Căn Bản với Cộng Hòa Dân Chủ Đức hầu như thất bại. Chúng tôi giúp ông Brandt thoát hiểm bằng cách mua chuộc Julius Steiner, một đảng viên của Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, năm chục ngàn Đức mã để mua phiếu của y, nhưng số phiếu quá ít đã khiến cho vị Thủ Tướng phải sớm tổ chức một cuộc bầu cử vào ngày 27 tháng Tư năm 1972. Anh nhân viên nhanh trí, làm việc không biết mệt của chúng tôi luôn ở bên cạnh ông trong thời gian đảng Dân Chủ Xã Hội Tây Đức đi vận động tranh cử trên chiếc xe lửa đặc biệt.

Trong suốt thời gian này anh mỗi lúc gần gũi hơn với Brandt và có cơ hội để quan sát những yếu điểm cá nhân của ông. Không phải là một bí mật gì vì ai cũng biết Willy Brandt là một người thích gái gẩm và chuyện tình của ông với nữ ký giả Wiebke Bruns vẫn tiếp tục trong thời gian vận động tranh cử. Trừ khi bà vợ Na-Uy, tên Rut, của Brandt có mặt trên xe lửa (trong trường hợp này bà ở ngay phòng bên cạnh), căn phòng của Guillaume và của ông Brandt được ngăn cách vỏn vẹn bằng một bức tường mỏng. Guillaume khám phá ông Brandt rất thường xuyên ngoại tình và thay đổi đối tượng. Vào giờ phút này, người của chúng tôi là một thành viên tín cẩn của nhóm này, và mối lo lắng duy nhất của chúng tôi là những cơ hội anh phải cụng ly với những đồng nghiệp chính trị có thể làm anh mất đi sự tập trung.

Liên minh hai đảng Dân Chủ Xã Hội và Dân Chủ Tự Do đắc thắng bất ngờ trong cuộc tổng tuyển cử năm 1972. Lần đầu tiên trong lịch sử Tây Đức, một chính phủ không có đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giao chiếm đa số trong quốc hội, điều này có nghĩa là chính sách Ostpolitik sẽ được tiến hành. Trong lúc đài truyền hình trình chiếu lễ hội ăn mừng của đảng SPD sau ngày bầu cử, chúng tôi thấy Günter vui mừng cụng ly với ông tân Thủ Tướng Brandt cùng với tất cả đội ngũ của ông.

*

Mùa hè năm đó, Willy Gronau một điệp viên khác của chúng tôi, bí danh Felix, bị bắt tại Tây Bá-Linh. Đương sự là giám đốc của cái gọi là Văn Phòng Đông của Hiệp Hội Thương Đoàn Tây Đức và là một trong những đặc tình lâu năm của chúng tôi. Anh ta bị bắt trong lúc gặp gỡ với sĩ quan chủ nhiệm đến từ Đông Đức. Chúng tôi không rõ anh hay là sĩ quan chủ nhiệm đã bị cơ quan phản gián BND chú ý.

Guillaume và Gronau có những mối liên lạc nghề nghiệp, nhưng cả hai đều không biết người kia là đặc tình của Đông Đức. Chúng tôi không hề nghĩ những điệp viên làm việc hiện trường có thể biết nhau, càng không thể gặp gỡ nhau. Nhưng có lẽ có một định luật chưa được khoa học chứng minh ghi rằng những người lý ra không thể gặp gỡ nhau lại luôn luôn tìm gặp nhau. Gronau lúc đó đến gặp chúng tôi và báo cho chúng tôi biết Guillaume là một đối tượng kết nạp tốt và chúng tôi nên kết nạp anh ta! Điều này gây nên một trận cười nhưng cũng báo động tại bộ tham mưu của chúng tôi. Chúng tôi đang tìm cách tách hai người này ra và định mệnh đã can thiệp dưới hình dáng của phản gián Tây Đức, và tội nghiệp cho Gronau, sự nghiệp coi như kết liễu.

Vì họ quen biết nhau và cùng đứng trong mặt trận chính trị, tôi không lấy làm là chính quyền điều tra Gronau tới hỏi Guillaume về việc này. Nhưng tư cách cố vấn thân cận Thủ Tướng là một đảm bảo gạt bỏ những nghi ngờ khi anh mới được tuyển dụng.

Lúc này Guillaume tham dự tất cả những cuộc họp của đảng và các cấp lãnh đạo của đảng SPD trong quốc hội. Anh học hỏi được nhiều vì anh là người kín đáo và im lặng chịu nghe ngóng trong những lần đối thoại của Brandt trong một nhóm nhỏ. Chúng tôi gia tăng những biện pháp an ninh để bảo vệ Guillaume hơn nữa. Mối liên lạc của chúng tôi với anh giảm thiểu đến mức tối thiếu. Chúng tôi không gởi những thiệp chúc mừng sinh nhật nữa; chỉ có những tin tức đặc biệt quan trọng được gởi đi, và được chuyển qua bằng lời.

Tháng Bảy năm 1973, đợt thương thuyết đầu tiên để thành lập Hội Đồng An Ninh và Hợp Tác Châu Âu (CSCE) bắt đầu. Henry Kissinger, lúc đó là cố vấn an ninh cho Tổng Thống Nixon, tuyên bố một chuyển hướng chiến lược gọi là Tuyên Bố Đại Tây Dương, theo đó những thành viên châu Âu của Liên Minh Bắc Đại Tây Dướng (NATO) chấp nhận vai trò đại cường quốc của Hoa Kỳ trong chiến lước quốc phòng bảo vệ lục địa châu Âu. KhiWashingtontiếp tục đàm phán riêng biệt với Luân Đôn vàBonnsau lưng các đối tác đồng minh khác nhằm đẩy mạnh tiến trình này, sự bất bình gia tăng trong nội bộ đồng minh. Đặc biệt là nước Pháp, họ phản đối điều mà họ xem là một nỗ lực cô lập họ.

Chúng tôi không lấy làm ngạc nhiên là phần lớn các thông tin vị Thủ Tướng nhận được về chính sách ngoại giao trong thời gian ông nghỉ mát tại Na-Uy tập trung vào những cuộc đàm phán trong nội bộ NATO về tương lai của Tuyên Bố Bắc Đại Tây Dương, lúc đó đã đạt đến cao điểm. Guillaume phụ trách xem xét những telex và chuẩn bị các công văn của Brandt nhận cùng lúc với thời báo mới ra. Một đội truyền hình đến để quay một phim tài liệu tại nơi nghỉ mát và tĩnh tâm của Thủ Tướng gần Hamar. Người cầm máy quay phim ghi hình ảnh Guillaume ngồi cạnh máy giải mã đang đọc nhũng công văn telex gởi đến và không hề biết đương sự đang quay một tay trùm gián điệp đang làm việc. Tổng kết lại, Guillaume đã bỏ công chép được ba thông tin tối quan trọng.

Thứ nhất, vào ngày 3 tháng 7 năm 1973, là nội dung của một lá thơ bằng tiếng Anh do Richard Nixon gởi đến trong đó ông tìm sự trợ giúp của Brandt để áp lực Pháp phải ký lời tuyên bố này. Lá thơ được ghi « mật » và có chữ ký của Nixon. Thứ hai là một báo cáo chi tiết của Đại Sứ Tây Đức tại Washington nói về những đàm phán mật giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Tây Đức Walter Scheel và Kissinger và Nixon cho biết là bản tuyên bố là một áp lực có tính toán do Nixon tạo ra để củng cố sức mạnh của Hoa Kỳ trước khi có đàm phán tại Hội Đồng An Ninh và Hợp Tác Châu Âu, và ông không thấy có lý do nào để người châu Âu phải đương nhiên chấp nhận đường hướng này. Kissinger và Nixon cũng bày tỏ nỗi lo âu Liên Bang Xô Viết đã có những tiến triển về chiến lược hạt nhân đến mức độ Hoa Kỳ không thể nào báo đảm một cuộc tấn công tiên trước về hạt nhân chống lại những tiến công trên bộ của Xô Viết nếu NATO không củng cố về mặt kỹ thuật. Tài liệu thứ ba Guillaume lấy từ máy Telex của Thủ Tướng trong đó có ghi câu trả lời lãnh đạm của cố vấn trên toàn bộ vấn đề, yêu cầu Brandt tảng lờ áp lực của Hoa Kỳ và tiếp tục mối bang giao tốt với Pháp.

Có những phát biểu tố giác Hoa Kỳ của các đồng minh châu Âu xuất phát từ máy và rơi trực tiếp vào bàn tay hăm hở của Günter Guillaume. Anh đọc qua những lời phản bác của người Anh đối với chiến lược của Hoa kỳ.Parisnặng lời hơn nữa ; Bộ Trưởng Ngoại Giao Pháp Michel Jobert tố cáo Hoa Kỳ hành động như những tay lính cứu hỏa nổi lửa đốt để có thể chạy vào cứu.

Đã đến lúc Brandt phải viết một lá thư cho bộ trưởng ngoại giao của mình để bày tỏ thái độ. Nhưng ông Thủ Tướng không hài lòng với bản thảo của anh cố vấn, đã được gởi đi Bonn, và bỏ cả giờ để sửa chữa lại và dùng đầu bút nỉ xanh. Brandt trao cho Guillaume bản đã được sửa chữa để gửi vềBonnqua máy telex. Guillaume, viện cớ bản chính không được gọn ghẽ để chuyển vào phòng telex với dạng bừa bãi như vậy, đã đánh lại một bản sạch sẽ. Không ai hỏi bản chính của Brandt đã ra sao.

Sau này, khi Guillaume ra tước tòa, chánh án biện lý nhấn mạnh sự kiện chuyển giao cho Liên Bang Xô Viết những thông tin về sự chia rẽ trong nội bộ NATO

Có thể làm suy giảm tiềm năng ngăn chặn của NATO đối với Liên Bang Xô Viết, một tiềm năng xác định trên quyết tâm khả tín của các quốc gia thành viên để thành lập một nền quốc phòng chung, một sự liên đới thực thụ giữa các đồng minh và một sự quân bình chiến lược của các lực lượng quân sự. Điều này có thể khiến Liên Bang Xô Viết trong những chọn lựa chính trị và chiến lược dùng những biện pháp nhằm phá vỡ liên minh Tây phương và sau này biến chúng thành những biện pháp cưỡng ép chính trị.

 Trong hồi ký của mình, viết ra một phần để tạo thêm bối rối cho Bonn trong vụ việc này (sau khi được cơ quan của tôi cho nhào nặng và thiết kế để phổ biến phản tin – để bảo vệ những nguồn tin khác của chúng tôi – và là một hình thức quảng cáo tốt cho công việc của chúng tôi và sự cần thiết của chúng, Guillaume nhấn mạnh việc chuyển giao những tài liệu của Brandt cho chúng tôi là một thành quả lớn của khối tình báo Xô Viết. Anh kết luận về ngày nghỉ mát của ông Thủ Tướng tại Na-uy :

Thánh địa trên hết các thánh địa củaBonnbây giờ nằm ở thánh địa trên hết các thánh địa tại Bá Linh.

Qua câu nói này, anh muốn nói là sau khi đã chụp những tài liệu và bỏ chúng vào một cái cặp để chuyển sang Đông Bá Linh. Lời khoe khoang này, được xem từ đó là một dữ kiện, mấy năm về sau này đã trở thành một câu định mệnh đối với tôi.

Sự thất đáng tiếc, chưa bao giờ được tiết lộ, là chúng tôi không nhận được những mẩu đối thoại thú vị này phơi bày sự rạn nứt giữaWashingtonvà các đối tác Châu Âu trong những chi tiết bất cẩn như thế. Đây là lý do tại sao : Những lo lắng của chúng tôi về vợ chồng Guillaume bắt đầu từ mùa hè 1973. Ngay sau thời gian ở lại Na Uy, Christel bắt đầu lo sợ mình đã bị theo dõi. Lúc đầu chúng tôi nghi ngờ mối lo âu này. Việc thường xảy đến cho những điệp viên nằm vùng, ngay cả đối với những tay điêu luyện, là họ bắt đầu thấy những con chuột trắng. Trong những trạng huống hoàn toàn bình thường họ bắt đầu tưởng tượng họ bị theo dõi hoặc tất cả hành tung của họ đều bị ghi nhận.

Nhưng sự thật mỗi lúc rõ ràng. Christel nhận biết một trường hợp bị theo dõi trong vườn của một quán ăn Casselruhe tạiBonn, nơi đây cô đôi lúc gặp gỡ người giao liên. Có hai người đàn ông ngồi sát bên cạnh bàn của cô. Một người mở cái cặp sách quay về phía cô và cô thoáng thấy một ống kính quay phim bên trong. Hôm đó chính là ngày Christel gặp giao liên Anita và trao những tài liệu vi phim phát xuất từ Na Uy, may mắn thay việc trao đổi đã hoàn tất trước khi hai người đàn ông đến. Hai người phụ nữ hành động một cách điêu luyện, thản nhiên uống hết ly nước của họ và rời bàn. Khi người giao liên rảo đi trong thành phố với vi phim giấu trong bóp, cô đoan quyết có một người đàn ông đang theo dõi. Cô lấy chuyến xe lửa nội địa đi Cologne, tại đây cô đổi xe tram nhiều lần, lẩn và len lỏi vào đám đông, đúng phương cách một điệp viên đã được đào luyện.

 Nhưng cô không làm sao dứt được cái đuôi. Khi cô ta tìm cách vượt xa người đàn ông và rẽ vào một góc để đến gần bờ sông, cô chọn lựa an toàn và vứt cái gói xuống sông. Heinrich Böll đã đề tặng quyển tiểu thuyết mới nhất của ông , « Những Phụ Nữ trong Phong Cảnh Sông Ngòi» cho dòng sôngRhine và tất cả những bí mất nó chuyên chở. Tôi có thể giúp ông với ví dụ điển hình này.

Khi Guillaume bị xử, chánh án biện lý cho rằng những tài liệu Na Uy đã đến tay chúng tôi. Chúng tôi ra lệnh anh không được nói điều gì, những chúng tôi không muốn cho chính quyền Tây Đức bẽ cái lầm là chúng tôi đã gây tác hại tối đa. Đây cũng là vấn đề thể diện của Guillaume. Anh cũng đã chán ngán những lời kết án dài lê thê, nhưng có một điều anh lấy làm an ủi –xem ra anh cũng là một người có tính tự đắc– anh biết anh nổi tiếng thế giới là siêu gián điệp Đức. Với sự đồng ý của chúng tôi, anh tạo dựng nên huyền thoại trong quyển sách của anh là việc trao những tài liệu từ Na Uy là một thành công tuyệt hảo của anh.

Một trong những nhược điểm của chức vụ giám đốc tình báo là không ai tin mình khi mình có nói thật. Nhưng ở đây tôi có thể nói là mọi tìm kiếm về những tài liệu Na Uy của ông Brandt sẽ vô bổ, không phải vì chúng đã bị thiêu hủy năm 1989. Những tài liệu này quá cũ không nằm trong ưu tiên để xé vụn trong lúc hoảng hốt ngày sau khi Bức Tường xụp đổ. Chúng không có ở đó bởi vì ngay cả tôi cũng như bất cứ nhân viên nào của tôi chưa hề đọc qua. Tin tức duy nhất chúng tôi biết được là do những tiết lộ tình cờ của phía Tây Đức trong lúc xét xử Guillaume. Và chúng tương đối ít so với số lượng hồ sơ liên quan nguyên bản.

Phản gián Tây Đức có đủ chứng tích để nghi ngờ những hoạt động của Guillaume vào mùa hè năm 1973. Một nhân viên phản gián đã chú ý đến cái tên Guillaume trong khi anh theo dõi một công tác khác. Anh đã quen thuộc với hình ảnh của Guillaume là bạn với Willy Gronau. Không có sợi giây nào liên kết hai người này với nhau, nhưng cái tên Pháp nổi bật này lúc nào cũng xuất hiện. Đặc biệt nguy hại là sự kiện sĩ quan điều khiển tại bộ tư lệnh của chúng tôi, đã bị bắt cùng lúc với Gronau ở Tây Bá Linh đã không tuân thủ quy tắc sơ đẳng trong công tác tình báo: Y đã cất giữ trong người một miếng giấy nhỏ trong đó y ghi một vài chữ quan trọng để nhớ. Một trong những chữ đó là Guillaume. Y viết chữ này vì y được lệnh yêu cầu Gronau không được tiếp tục liên lạc với Günter, vì chúng tôi thấy hai người quá thân mật.

Tên bất thường của Guillaume đóng một vai trò định mệnh. Nếu anh tên là Meyer hoặc Schultz, tai họa đã sớm xảy đến. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên quyết định số phần của anh. Nhân viên phản gián Tây Đức đã ghi nhận sự trùng lập của cái tên Gullaume một hôm ngồi cùng bàn tại nhà ăn của sở với một bạn đồng nghiệp đang theo dõi những tín hiệu vô tuyến không rõ gốc tích. Hai nhân viên này nói về công tác của mình và tình cờ đã phá hỏng sự nghiệp của Guillaume.

Trong thập niên 1950, cơ quan của tôi đã dùng hệ thống giải mã của Xô Viết thời Đệ Nhị Thế Chiến để giữ liên lạc với những điệp viên ở hải ngoại. Mỗi một điện thư bắt đầu bằng một con số để chỉ định một cá nhân riêng biệt đàn ông hay đàn bà. Hệ thống này đã bị các cơ quan Tây phương chọc thủng từ lâu nhờ máy vi tính. Một khi đã biết rõ một con số ám chỉ một người đàn ông hay một người đàn bà đang sinh hoạt, mỗi lần điện đều được ghi lại và đem ra đối chiếu. Những bức điện tín này được ghi chú và cuối cùng giải mã. Mỗi một điệp viên nhận điện tín đều có một hồ sơ riêng. Công việc còn lại của phía bên kia là đặt tên lên những con số của người nhận.

Ngay khi chúng tôi biết được sự việc này, chúng tôi lẽ cố nhiên đổi mã số và phương cách liên lạc. Chúng tôi đặt quy tắc chung là không bao giờ nói đến tên người, địa điểm hoặc các cuộc hội họp trên điện đài vô tuyến. Sau khi chúng tôi đã cho kiếm soát tất cả những điên thư vô tuyến phát đi của chúng tôi, chúng tôi đoan chắc là những điện thư gởi cho Guillaume không để tiết lộ những chỉ dấu về tên tuổi của họ. Than ôi, chúng đã quên phứt đi thông lệ gởi điện chúc mừng sinh nhật, Năm Mới, hoặc những sự kiện trong gia đình. Người Đức rất chi ly đối với những vấn đề này, và đối với các điệp viên điều này nhấn mạnh họ là một phần thân thuộc của gia đình rộng lớn của chúng tôi. Nếu chúng tôi bớt chi ly, có lẽ Guillaume sẽ không bị lộ.

Nhiều điện thư đã được gởi đi năm 1957 cho một điệp viên có tên là G. Một điện thư để chúc mừng G, cái thứ hai cho vợ của G. Điện thư thứ hai ghi « Chúc mừng cho Người Thứ Hai ». Mười sáu năm sau, trong căng-tin tại Cologne, nhân viên điều tra, vẫn chăm chỉ theo dõi những trường hợp chưa được giải quyết về những điện thư đã được chặn bắt và anh suy nghĩ về những lời của anh bạn đồng nghiệp, nhớ lại trường hợp chưa giải quyết của một điệp viên tên G. Điệp viên này hoạt động từ cuối thấp niên 1950, có liên hệ với SPD và có tầm quan trọng để nhận những lời chúc mừng của những chủ nhân ông.

Nhân viên theo dõi điện thư lấy hồ sơ ra và thấy bức điện thư trêu ngươi này. Bức điện mơ hồ nói đến người thứ hai xem ra lạ nhất. Thực ra chúng tôi gởi nó đi vào ngày sinh nhật củaPierre, người con trai đầu tiên và duy nhất của Günter và Christel. Hai nhân viên phản gián suy nghĩ về việc này một thời gian cho đến khi một trong hai người nói rằng điện thư này nói đến ngày sinh của một đứa bé trai. Họ luc lọi trong hồ sơ của các đảng viên SPD trong đó xuất hiện tên tuổi những người đã nằm trong những cuộc điều tra khác. Ở đây, do vụ của Gronau, tên của Guillaume xuất hiện. Tuy vậy, chúng tôi vẫn còn cơ may thoát hiểm. Sau này tôi được biết nhờ Kuron, điêp viên cao cấp nằm vùng trong cơ quan phản gián Tây Đức, là lời đề nghị đầu tiên cho rằng người này là Guillaume bị đội điều nghiên gạt bỏ sang một bên vì Guillaume chỉ cho một con và điện thư cho biết đứa trẻ mới sanh là đứa thư hai. Phải có đầu óc bén nhạy hoặc là một gia trưởng theo lề lối xưa mới biết giải thích người cha theo truyền thống là người đàn ông thứ nhất trong gia đình và đứa con trai đầu lòng là người đàn ông thứ hai.

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 15 (phần 1) (Markus Wolf)                   

“…Nhưng có một hạng phản bội khiến cho người ta kinh hoàng nhưng đồng thời cuốn hút con người một cách vô cùng mãnh liệt và cần được đặc biệt phân tích: kẻ phản bội nằm trong một cơ quan tình báo…”

Chương 10

Nọc Độc của Sự Phản Bội

Việc phản bội không hẳn hạn hiếm như chúng ta tưởng. Trong đời sống thường ngày bạn bè và người thân bỏ rơi chúng ta, và trong công việc làm, các cộng sự viên gần gũi với chúng ta quay lưng lại chúng ta hoặc âm mưu đáng gục chúng ta để đi lên. Điều này đáng ghét nhưng đó là một phần có thể tiên liệu được trong cuộc sống của chúng ta. Tuy nhiên phản bội đất nước của mình được số đông xem là một vị phạm trầm trọng của người công dân, bất luận quan điểm chính trị về hệ thống trong đó mình đang sống. Tôi biết rất nhiều thành phần phản bội và họ hành động do những động cơ cao cả và thấp hèn, và trong đó có những người đàn ông và đàn bà tôi đã đề cập đến, sẵn sàng tiết lộ bí mật cho một thế lực ngoại bang vì ý thức hệ, vì tiền bạc, vì chính trị, hoặc vì những lý do hoàn toàn cá nhân.

Nhưng có một hạng phản bội khiến cho người ta kinh hoàng nhưng đồng thời cuốn hút con người một cách vô cùng mãnh liệt và cần được đặc biệt phân tích: kẻ phản bội nằm trong một cơ quan tình báo tự bán mình và bán hiểu biết bí mật của mình cho kẻ khác. Một vài người nghĩ rằng ý muốn phản trác các đồng nghiệp có thể khiến cho những ai làm việc trong môi trường điệp báo được miễn nhiễm không bị ngỡ ngàng khi việc phản bội xảy ra ngay trong hàng ngũ của mình. Điều này sai. Phản bội là một độc tố của tất cả mọi cơ quan tình báo, thuốc ngừa chủng mà chúng tôi có chỉ có hiệu quả giới hạn.

Văn hóa tâm lý của cơ quan tình báo giống như văn hóa của một nhóm hoặc của một bộ tộc, trong đó cá nhân gắn bó với nhau vì một lý tưởng cao đẹp và chia sẻ với nhau cùng một bản sắc, cùng một tư tưởng hoặc một điều gì đó. Khi hệ thống này bị mở toang, nọc độc bất tín sẽ xâm nhập hệ thống. Các điệp viên trên chiến trận, ngay cả khi việc làm của họ không dính líu gì đến khu vực bị phản bội, cảm thấy lạnh gáy và dễ bị thương tổn khi họ đến gần hộp thư chết lần sau (một nơi bí mật mà điệp viên nhận và gởi một lá thư, một thông điệp, vi phim và vân vân) hoặc bắt đài để nhận lệnh đã được mã hóa từ bộ tham mưu. Ai cũng đều biết là thu nạp những điệp viên mới sau một lần đào thoát ngoạn mục rất là khó khăn.

Đối với cán bộ điều khiển điều này cũng gây nên những hậu quả khôn lường. Một cơ quan tình báo đột nhiên trở thành đối tượng được các chính trị gia chú ý đến khi lòi ra có điều gì không ổn đã xảy ra. Thí dụ, quý vị thử nhìn xem cơn động đất đã làm cho CIA hầu như tê liệt sau khi họ khám phá sự phản bội của Aldrich Ames. Kẻ phản bội nằm trong lòng của cơ quan tình báo phản bội bội phần các con số những điệp viên nam nữ mà y đã tiết lộ. Y phản bội sự toàn vẹn của cơ quan mình.

Lẽ cố nhiện có phương thức để giảm thiểu những rủi ro này. Một là tạo nên một cảm tình đoàn kết mãnh liệt, tinh thần đồng đội trong đó mỗi một người chăm sóc cho sự an nguy và an sinh của người khác trên phương diện cá nhân và nghề nghiệp. Một cách khác là xây dựng trên những cơ cấu trung thành đã có sẵn – ý thức hệ, chính trị và địa lý – bắt đầu từ thưở thơ ấu, bảo đảm mỗi một sĩ quan có ý nghĩ muốn trở thành kẻ phản bội có cảm nhận là mình làm như vậy mình phản bội chính bản thân của mình. Sự thống ngự của nhóm WASP (ldg : White Anglo-Saxon Protestants = Người Da Trắng Anglô Saxon theo đạo Tin Lành), nhóm East Coast (Người Mỹ vùng Biển Tây) trong CIA, mạng lưới Oxford và Cambridge trong nội bộ cơ quan tình báo Anh, và những triều đại dòng tộc trong nội bộ tình báo Xô Viết tất cả là những cơ chế bảo về phòng chống phản bội.

Việc bội phản có những hậu quả quá đỗi trầm trọng cho nên ngay cả một mối nghi ngờ nhỏ cũng phải được xem trọng. Tôi không bao giờ làm việc với ảo tưởng là các sĩ quan của tôi không bị cám dỗ, mặc dù tôi biết trong các cơ quan khác của khối Đông Âu, các giám đốc tình báo khó mà chấp nhận việc chứa chấp một nhân viên đặc tình phá hoại trong hàng ngũ của họ.

Trong tất cả các mối liên hệ giữa các cơ quan tình báo Đông Âu, liên hệ của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức với người Ba Lan là đáng sợ nhất. Cho dù đảng viên Cộng Sản có trung thành đến mấy với Moscow và đồng minh, lịch sử Châu Âu đã ghi dấu ấn những hiềm khích về quyền lực của cả hai nước Đức và nước Nga đã để lại những vết thương. Những công tác phối hợp của chúng tôi đòi hỏi rất nhiều khéo léo trong vấn đề ngoại giao cũng như tình báo.

Một lần tôi nhận được thông tin của một điệp viên nằm vùng trong cơ quan tình báo Tây Đức báo cho biết có một nhân viên cao cấp của Bộ Nội Vụ Ba Lan sẵn sàng làm gián điệp cho Tây Đức qua trung gian một viên chức làm việc trong ban giải mã của Tòa Đại Sứ Bonn tại Warsaw. Tôi quyết định đến Ba Lan một cách âm thầm để cảnh báo cho các đồng nghiệp của tôi và nhận lời mời đã có từ lâu của ông Thứ Trưởng Công An BaLan, Franciszek Szlachcic để đi săn cuối tuần tròng vùng săn bắn dành riêng cho Bộ tại vùng Thượng Silesia. Trong lúc chúng tôi lùng heo rừng trong các lùm cây rậm rạp, tôi báo cho ông biết việc trên. Chúng tôi đồng ý phương thức tốt nhất là gặp gỡ riêng với giám đốc phản gián của ông và lập kế hoạch để gài bắt. Kế hoạch là bắt kẻ tình nghi tại trận bằng cách vời y về để thi hành một công tác ma trong đó một vài sĩ quan của tôi sẽ giả dạng là người Tây Đức.

Trong buổi họp mặt riêng với giám đốc cơ quan phản gián, tôi ngã ngửa thấy Szlachcic, vì muốn chứng tỏ với tôi là ông quan tâm nhiều đến vấn đề này, mời một số sĩ quan cao cấp để giúp hoàn thiện kế hoạch. Quá nhiều thầy thợ nên nồi cơm hỏng . Chúng tôi dàn dựng bẫy và vô công chờ mãi không thấy người này đến điểm hẹn tại quán hoa. Một lần hẹn khác cũng không thấy gì. Tôi thấy rõ là đã có thất thoát trong nội bộ Bộ Công An Ba Lan từ một người trong số những người biết chuyện. Điều cuối cùng tôi nghe là kẻ chực phản bội Ba Lan đã tiếp xúc với phía bên Anh. Tôi không còn hứng thú để bố trí lại toàn bộ cộng tác và để mặc cho người Ba Lan giải quyết.

Tôi chưa bao giờ quả quyết cơ quan của tôi không có những phần tử xấu. Bài học đau đớn trước đây của những vụ đào thoát không cho phép tôi tin vào tinh thần đạo đức cao của nhân viên tôi, mặc dù tôi nghĩ rằng sự gắn bó ý thức hệ đã thắt chặt chúng tôi lại với nhau là một gắn bó chặt chẽ. Thách đố của hai cơ quan tình báo của hai nước Đức sau cuộc thế chiến là xây dựng một cảm nhận căn cơ đồng nhất và nhập thuộc mạnh mẽ để giảm thiểu nguy cơ bị phản bội từ bên trong. Chúng tôi làm việc này hiệu quả hơn người Tây Đức, vì họ luôn xem những hoạt động tình báo là một sinh hoạt phụ thuộc vào sinh hoạt xã hội dân sự thay vì cố gắng thúc đẩy, như chúng tôi đã làm, tinh thần huynh đệ chi binh, tình đồng chí để ứng phó với những hiểm nguy vốn sẵn có trong ngành điệp báo.

*

Mỗi một cuộc đào thoát đều có tiến trình riêng và mỗi lần đều có bài học để rút tiả. Cuộc đào thoát gây chấn thương mạnh nhất đối với tôi xảy ra năm 1979, lúc Chiến Tranh Lạnh đặt đến độ căng thẳng nhất tại Châu Âu. Nó liên quan đến một sĩ quan nằm trong một trong những ban bí mất và hiệu quả nhất của tôi, Ban B, thuộc Ngành Khoa Học và Kỹ Thuật, được biết theo chữ tắt tiếng Đức là SWT (SektorWissenschaft und Technik).

Ngày 19 tháng Giêng năm 1979, ngày sinh nhật của tôi, tôi đang ngồi trong một buổi họp với các giám đốc tình báo trong vùng Karl-Marx-Stadt. Buổi họp chưa kịp bắt đầu thì có điện thoại gọi tôi. Một trong những phụ tá của tôi ở đầu giây và tôi cảm nhận sự căng thẳng trong tiếng nói. Anh đi thẳng vào vấn đề : « Tại SWT, có người đã bỏ đi rồi!». Phản ứng tức khắc của tôi, tôi nghĩ cũng được các giám đốc tình báo thế giới chia sẻ, là lên tiếng chửi rủa thậm tệ. « Nhưng, thưa Xếp, chưa hết chuyện tai hại », giọng nói đầu giây tiếp tục : «Tủ an toàn bị mở, có vài giấy tờ bị mất và, tổ sư nó, căn cước thông hành để qua biên giới cũng đi luôn». Đây là thông hành – mỗi ban chỉ có một cái – để cho nhân viên của ban này có kinh doanh dùng để di qua cửa ngõ chính biên giới Bá Linh, trạm kiểm soát Friedrichstrasse. Các vệ binh canh gác biên giới Đông Bá Linh cho phép người này đi qua phía Tây Bá Linh.

Hai ngày trước đó, tại một buổi họp cán bộ cao cấp của tôi trong khuôn khổ Đảng, tôi ngỏ lời chúc mừng Năm Mới theo truyền thống. Tôi nói : « Các đồng chí, đừng bao giờ quên, điều tệ hại nhất có thể đến với chúng ta là kẻ thù tìm cách len lỏi xâm nhập vào hàng ngũ của chúng ta». Đó là một huấn thị đạo đức, nhưng bây giờ việc này xảy ra và tôi đâm ra bàng hoàng. Đặc biệt đau đớn cho tôi khi tôi được biết việc đào thoát xuất phát từ SWT, một ban mà tôi đặc biệt chú ý vì tôi tin tưởng là điệp báo giỏi nhất thế giới cũng vô dụng nếu chúng tôi không bắt kịp với đà tiến triển khoa học và kỹ thuật của Tây Phương.

Trong cuộc điều tra, vệ binh tại biên giới cho biết là thông hành đã được sử dụng vào lúc 9g 30 chiều hôm qua, như vậy kẻ đào thoát đã đi được 12 tiếng đồng hồ rồi mới bị phát giác. Y đã cẩn thận chọn lựa thời điểm, vào mùa nghỉ mùa Đông. Tại bộ Tham Mưu của Tình Báo Hải Ngoại HVA ở Đông Bá linh, một kiến trúc to lớn và kiên cố được bảo vệ chặt chẽ tại đường Normannenstrasse, họ vẫn đang tiếp tục nghiên cứu những thu xếp ngày nghỉ của nhân viên và điện thoại về nhà họ, với mục đích tìm kiếm sĩ quan đang vui thú hưởng thụ ngày nghỉ mùa Đông và xem ai là kẻ phản bội.

Họ thiết lập danh sách các người tình nghi. Và khi tôi đến Đông Bá Linh ba giờ sau, chúng tôi phát hiện người chúng tôi tìm là Đại Úy Werner Stiller, một sĩ quan Phó Ban 1, chuyên về vật lý hạt nhân, hóa học và vi khuẩn học. Là một trong những sĩ quan xuất sắc trong Ban, anh lả một người dễ thương, có nhiều tự tin và vừa mới được chọn làm đệ nhất bí thư Đảng trong Ban của mình, một chức vụ trao cho một người được xem là đặc biệt cứng cỏi và đáng tin cậy. Stiller chắc chắn là một biến cố đào thoát tệ hại nhất xảy ra trong mười năm nay. (Năm 1959 Đại Tá Max Heim, một khuôn mặt trụ cột trong công tác đánh phá đảng Dân Chủ Xã Hội đã đào thoát, dẫn đến việc bắt giữ hành chục điệp viên của chúng tôi. Năm 1961, Walter Glasse, một sĩ quan có trách nhiệm công tác đánh phá các tổ chức Hoa Kỳ tại Tây Đức, đào thoát và làm nguy hại đến một số công tác của chúng tôi. Cả hai người sinh sống tại Bá Linh và hợp tác với tình báo Tây Đức mỗi khi họ cần đến.

Tất cả những báo động cấp bách đều vận chuyển. Những điện thư được gởi đến các điệp viên và mật báo viên do Stiller điều khiển ở Tây Đức, báo cho họ biết phải án binh bất động và hủy bỏ tất cả những hồ sơ liên lụy, trong khi đó các chuyên viên nghiên cứu của chúng tôi xem xét danh sách các hồ sơ, cố gắng tìm những vật liệu Stiller đã đánh cắp. Chúng tôi phải chạy đua gấp báo những người dễ bị tổn thương trước khi tình báo Tây Đức khai thác những vật liệu do Stiller cung cấp để đánh vào những điểm này.

Họ nhận ra Stiller đã đánh cắp những hồ sơ danh sách các mật báo viên. Trong hồ sơ có những danh sách gọi là ban đồng hành thông tin của cả Ban Khoa Học và Kỹ Thuật, những bản tóm tắt những báo cáo gần đây của các điệp viên và nguồn tin và bí danh của những người đã soạn thảo. Chúng không tiết lộ danh tính và nơi ở của các điệp viên và nguồn tin, nhưng phản gián tại Cologne có thể dùng chúng để xác định những nghi ngờ họ có trước đó. Tôi phải thú nhận là Stiller bạo gan và chuẩn bị chu đáo việc đào tẩu của y. Lấy cắp những hồ sơ của mật báo viên có nghĩa là đương sự có món quà cụ thể để biếu cho phiá bên kia khi anh sang đến Tây Bá Linh. Đương sự nhất quyết đào thoát để sẵn sàng chấp nhận án tử hình nếu bị bắt trên tay với những vật liệu này. Điều này có nghĩa là kẻ thụ đã mua chuộc anh hoặc anh có ý định nhận sự mua chuộc.

Đúng vào lúc tôi nghĩ không còn gì tệ hại hơn nữa thì sự việc xảy đến. Giọng nói hốt hoảng của Mielke ở đầu bên kia đường giây điện thoại khẩn cấp báo cho tôi là một loạt những hồ sơ không còn trong tủ sắt kín nữa: những hộp đựng những diễn văn và lệnh của ông. Vì những lời tuyên bố thường lúc ngoắt nghéo và trùng lập của Mielke, việc này khiến cho tôi không biết ăn nói làm sao và xem ra đây là một vấn đề trầm trọng nhất trong ngày. Nhưng ông bộ trưởng không nhìn dưới khía cạnh này. Tôi không dứt ông ra được khỏi đầu giây.  « Đ. mẹ, lộn xộn quá! Mời mẹ kẻ thù nó đến họp với chúng ta và cấu kết với chúng cho rồi! Tao chán bọn bay quá rồi».

Tôi bậm môi để kìm hãm cơn giận, mặc dù tôi vẫn muốn quát lại. Nhưng tôi đã kinh qua những cơn giận trẻ con của ông và để cho ông xả hơi. Sau đó tôi làm bản sao những tài liệu của ông từ một văn khố khác và gởi đi với ghi chú như sau: « Đính kèm đây là bản sao những tài liệu có chữ ký của ông, hiện nay nằm trong tay kẻ địch». Điều này cho ông thời gian để tiếp thu chấn động trước khi những tài liệu này được các kẻ thù trong tình báo Tây Đức vui vẻ giao cho báo giới và theo đó được phát hành để cho mọi người đọc.

Để hiểu sức công phá ghê gớm do việc đào thóat của Stiller gây nên, quý vị phải hiểu tầm mức quan trọng của ngành điệp báo khoa học và kỹ thuật vào lúc đó tại các nước xã hội chủ nghĩa. SWT được tổ chức vào thập niên 1950 dưới hình thức một tiểu ban nhỏ giúp chúng tôi bắt kịp đà phát triển của Tây phương về kỹ thuật làm vũ khí hạt nhân. Nhiều chuyên viên cao cấp về vật lý học và sinh vật học của Tây Phương, lo sợ viễn tượng Tây Đức tái trang bị vũ khí, bắt đầu báo cáo cho chúng tôi là việc xây cất các lò nguyên tử tại Tây Đức được tổ chức sao cho những công trình biến hóa những nhiên liệu và phân cách chất đồng vị có thể chuyển biến nhanh để dùng cho mục đích quân sự.

Đây là vào lúc chiến tranh tuyên truyền không ngừng nghỉ. Quần chúng phản ứng một cách lo ngại đối với tất cả những ý kiến cho rằng tái trang bị quân sự có thể dùng cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân.Chúng tôi bận rộn theo dõi Tây Đức trong quá nhiều hoạt động kín ; những tiến bộ kỹ thuật trong việc chiết xuất plutonium tiến nhanh, một thế hệ doanh nhân mới thời hậu chiến đầu tư vào các nước Thế Giới Thứ Ba có tham vọng được kỹ thuật hạt nhân, chẳng hạn như Brazil, Argentina, Libya, Pakistan và Nam Phi.

Nhưng vấn đề hạt nhân cũng rất nhạy cảm tại Đông Đức. Nước chúng tôi không có chương trình khai thác tách biệt với Liên Bang Xô Viết. Moscow đã kiểm soát những hoạt động khai thác quặng mỏ uranium của Đông Đức và tiếp tục kiểm soát chặt chẽ cho đến khi Đông Đức sụp đổ và nước Đức thống nhất năm 1990. Hãng Wismut AG, có trụ sở chính tại miền Nam CHDCĐ, ngoài mặt là do liên hợp Đức – Xô Viết quản lý nhưng trên thực tế là một nước trong một nước do quân đội Nga điều khiển các quản trị viên, kỹ sư và khoa học gia người Đức.

(Em trai của tôi, Koni, đã phát hành một trong những phim hay nhất về Wismut, Sonnensucher – Đi tìm mặt trời – trong đó Koni mô tả thực tế của thế giới hầm mỏ uranium trong những năm đầu, một loại Miền Đông Hoang Dã đầy những kẻ vô công rỗi nghề, tội phạm và quân nhân giải giới tìm cách kiếm tiền nhanh chóng dưới sự giám sát chặt chẽ của những mật báo viên và của quân đội. Koni dự định trình chiếu phim này để trình bày lần đầu tiên một cách tương đối lương thiện về sự hiện diện của Xô Viết tại Đông Đức và vết chấn thương tồn tại giữa hai quốc tịch trước đây là kẻ thù đáng ghét nay cố gắng tìm cách hòa thuận với nhau. Bích chương của phim được gắn khắp cùng Bá Linh vào năm 1956, và chúng tôi đang chuẩn bị trình chiếu lần đầu thì Walter Ulbricht hoảng hốt vì ông được biết Đại Sứ Xô Viết, Pyotr Abrassimov, không muốn đề cập đến những công trình hạt nhân. Các vệ binh của sư đoàn Felix Dzerzhinsky, các binh lính của Bộ Công An được phái đi về đêm để gỡ bỏ những bích chương và cuộn phim được cất vào kho chờ 10 năm nữa.)

Việc kiểm soát liên tục của Nga vẫn còn sau khi tất cả những hợp tác khác đã được giao lại cho chúng tôi, đồng thời với việc Xô Viết chuyển tải những tài nguyên giá trị của Đông Đức cho nhu cầu của quân đội họ, đã khiến cho dự án về uranium là một dự án nhạy cảm nhất về chính trị trong nước.

Tình thế bấp bênh về năng lượng và những vấn đề cán cân chi phó của nước chúng tôi đưa đến những lời kêu gọi chúng tôi phải thiết lập chương trình năng lượng hạt nhân cho chính nước chính tôi. Điều này đã được khoa học gia Klaus Fuchs ủng hộ. Klaus Fuchs đã định cư tại Dresden sau khi ông ra khỏi nhà tù Anh Quốc vì tội chuyển giao những bí mật của phưong Tây về bom hạt nhân cho Moscow. Fuchs cũng đoan quyết Liên Bang Xô Viết đã đánh lừa nước CHDCĐ khi trả giá uranium quá thấp.

Tôi nghĩ là ông nói đúng và cơ quan của tôi nằm ngay trong thế kẹt. Một mặt chúng tôi trao cho Xô Viết phần lớn những thông tin khoa học và kỹ thuật chúng tôi thu thập được. Mặt khác, các khoa học gia trong nước biện luận chúng tôi chỉ có thể cạnh tranh với phương Tây bằng phương cách phát triển chính kỹ thuật của mình. Cấp lãnh đạo càng lúc càng chú ý đến việc lượng định các loại máy phát điện và áp lực đè nặng lên Ban Khao Học và Kỹ Thuật của tôi ép chúng tôi phải cung cấp những thông tin nhưng không cho người Xô Viết biết chúng tôi đang tính đến chuyện này.

Tôi đến gặp Heinrich Weinberg, đầu óc già dặn khôn ngoan của SWT, để hỏi ý kiến về đường hướng tình báo chúng tôi phải đi. Ông là một học giả hàn lâm và giống như một loại quái nhân không phù hợp với nhóm thủ cựu Cộng Sản ẩn nấp thời tiền chiến và nay chiếm giữ phần lớn những chức vụ quan trọng trong bộ máy Công An Nhà Nước. Thực ra, kinh nghiệm chính trị duy nhất ông có là gia nhập Phong Trào Thể Thao Đỏ và ông là tay đua xe đạp say mê. Ông không hề có lối suy nghi đẳng cấp, một lối suy nghĩ phổ biến trong văn hóa văn phòng của chúng tôi, khinh khi những lợi thế của chức vụ mình và nhất quyết đi làm trên chiếc xe đạp. Điều này biến ông thành đối tượng chế diễu của các nhân viên trung cấp và cao cấp vốn thích khoe khoang có được những chiếc xe ngoại nhập Golf VW hoặc Citroën và Ford dành riêng cho những viên chức thượng cấp.

Weiberg muốn soi sáng cho tôi tất cả những chi tiết về máy phát điện, cho dù tôi có hiểu hay không hiểu những gì ông nói. Tôi quen thuộc với những câu trả lời ngắn gọn của các giám đốc ban, nhưng ông không biết cách chuyển đạt nào khác là thuyết trình dài dòng, vì vậy tôi nhã nhặn xin đị học lớp tốt nghiệp về vật lý học. Weiberg tin tưởng mãnh liệt vào các lò phản ứng hạt nhân trung tử nhanh nhạy đang được xây cất tại Tây Đức. Chúng tôi bị kẹt với lò mẫu Xô Viết và Weiberg xét thấy có nhiều rủi ro. « Chúng ta phải tiến lên, đồng chí Wolf. Anh có thể nói cho họ (Bộ Chính Trị) biết đây là đầu mối của tương lai ».

May mắn cho chúng tôi quyết định khởi sự chương trình hạt nhân của chúng tôi không bao giờ được thực hiện, phần lớn vì chi phí nhưng cũng vì cấp lãnh đạo lo ngài những hệ lụy với Moscow. Một vài năm sau, sau giai đoạn này, Tây Đức bỏ rơi kỹ thuật trung tử nhanh vì không giải quyết được vấn đề làm nguội sodium. Lợi ích duy nhất của khóa cấp tốc về vật lý hạt nhân đem lại cho tôi là tiếng tăm không lấy gì làm thích đáng tại Moscow tôi là một loại người thời Phục Sinh có thể bắt nắm khoa học cũng như những lãnh vực chuyên môn khác của tôi. Tôi học hỏi khá nhiều những luận điểm của Weiberg để có thể hỏi những câu hỏi chính xác khi tôi đến tham quan một trung tâm nghiên cứu nguyên tử lực gần quê quán Ulyanovsk của Lênin trên sông Volga. Họ gởi báo cáo về cho các đồng nghiệp Moscow khen ngợi sự ám tường vấn đề của tôi.

*

Vào giữa thập nhiên 1960, tôi thấy rõ Đông Đức lê lết trong cuộc chay đua về cải tiến kỹ thuật. Hàng triệu bạc đã được đổ vào nghiên cứu và phát triển tại Tây Đức, trong khi giới lãnh đạo của chúng tôi, ngăn chặn những cơ hội bộc phát phấn khởi trong một vài dự án trong lúc ngẫu hứng, không cung cấp phương tiện cho các khoa học gia và phung phí tiền tiết kiệm thay vì thỏa mãn nhu cầu của người tiêu thụ và nhờ đó ngăn ngừa quân chúng dấy động. Sau một cuộc đối thoại với những khoa học gia nản chí mà tôi có quan hệ, tôi chợt tìm ra phương thức để thoát khỏi cảnh khốn khổ này. Nếu các điệp viên của chúng tôi có thể xâm nhập giới ưu việt chính trị ở Bonn và những bộ tham mư của NATO tại châu Âu, không có lý do gì để họ không tiếp cận những bí mật kỹ thuật. Mặc dù kỹ năng và trọng tâm chính của tôi nằm trong tình báo chính trị, càng lúc tôi càng lưu tâm tới tiềm năng của ban SWT. Gia đình tôi nói đùa với tôi đây là phần đền bù chậm trễ cho giấc mộng không thành lúc thiếu thời học làm kỹ sư hàng không tại Moscow ; tôi vẫn ghi danh mua dài hạn những tập san hàng không tôi có dưới tay từ Đông sang Tây.

Nhưng tôi cũng thấy trong ngành hóa học, vi động cơ, động cơ học và quang học, chúng tôi có những khoa học gia tài ba, vì phương Tây cấm vận xuất khẩu kỹ thuật sang khối Đông Âu và chính quyền Đông Đức giới hạn những cơ hội di chuyển của họ, đang tìm cách phát minh những kỹ thuật cao tương đương trong nỗ lực sáng chế lại bánh xe. Tôi lý luận một chút tiếp cận không chính thức với ngành nghiên cứu cao đẳng của phương Tây có thể giúp chúng tôi tiến xa và mặt khác, lòng ngưỡng mộ của cấp lãnh đạo đối với cơ quan tình báo sẽ gia tăng nếu chúng tôi giúp họ làm cân bằng cán cân kỹ nghệ.

Chúng tôi cần những chuyên gia nhiều hơn con số hiện nay. Tôi thảo luận vấn đề với các sĩ quan cao cấp của tôi và chúng tôi đồng ý việc khởi đầu là kết nạp đầu tàu trong số các sinh viên ngành khoa học. Một trong những người đầu tiên được kết nạp là Werner Stiller.

Một trong những người lùng kiếm tài năng địa phương tìm ra Stiller, một sinh viên khoa học có khả năng tại Đại Học Karl Mã tại Leipzig. Khi chính quyển sở tại biết chắc đương sự là một viễn tượng đáng tin cậy, họ gởi đương sự đến chúng tôi tại Bá-Linh, nơi đây đương sự ký một tài liệu tuyên thệ « với lương tâm và tất cả sưc lực » phục vụ cho nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức trong Bộ Công An. Để ghi nhớ những chuyện phiêu lưu Cộng Sản thời niên thiếu, đương sự dùng bí danh Stahlmann – « người thép » -, trùng với tên của ông xếp cũ của tôi. Vừa ký xong, y và hai sĩ quan trách nhiệm rủ nhau cụng ly cognac.

Stiller là môt thanh niên đẹp trai, vạm vỡ, có vóc dáng cởi mở và thông minh. Tôi không đích thân đến gặp anh ta vì anh ta thuộc lại tép riêu, mặc dù sau này anh khoác lác anh đã gặp tôi. Do tính tình, tôi xếp anh vào loại người tính toán và cứng cỏi hơn là loại chuyên cần ý thức hệ. Stiller được phái đến Tiểu ban 1. Tiểu ban này có mục tiêu là bắt kịp những nghiên cứu hạt nhân của Tây Đức và giám sát sự triển khai tất cả những hệ thống vũ khí mới tại đây.

Vào thời điểm y đào thoát, Stiller phụ trách khoảng một chục nguồn tin không chính thức tại CHDCĐ và bảy điệp viên Tây Đức anh đã kết nàp, trong đó có Rolf Dobbertin, một nhà vật lý học chuyên về hạt nhân ở tại Paris (Sau năm năm ở tù Pháp, trong một phiên tòa tái thẩm, Dobbertin được trắng án tội gián điệp. Dobbertin không bao giờ phủ nhận đã trao thông tin, nhưng ông gọi đó là « giúp đỡ phát triển khoa học cho các đồng nghiệp CHDCĐ); Reiner Fülle, một chuyên viên nghiên cứu lão thành tại Trung Tâm Nghiên Cứu Hạt Nhân tại Karlsruhe; một doanh nhân làm việc cho Siemens và một người khác trong kỹ nghệ hạt nhân tại Hanover. Stiller đem theo với y những thông tin giúp cho Tây Đức khám phá giáo sư Karl Hauffe, giám đốc chương trình nghiên cứu hạt nhân tại Đại Học Göttingen, làm việc hco KGB, mặc dù chúng tôi điều khiển ông từ Bá Linh.

Ngoài những sinh hoạt đặt trọng tâm vào lãnh vực phát triển hạt nhân, ban này cũng khuếch trương điệp báo trong kỹ nghệ, thăm dò kỹ nghệ rộ phát của phương Tây về kỹ nghệ vi tính và tìm những mối liên lạc để gỡ thế cấm vận của phương Tây. Một trong những điệp viên giỏi nhất của chúng tôi trong lãnh vực này là Gerhard Arnold, bí danh Storm, một thanh niên đã được gởi sang Tây Đức để « nằm vùng ». Tứ đó anh leo cấp bậc trong Hãng IBM Đức và chuyển những tài liệu nội bộ về khai triển hệ thống mới và nhu liệu. Arnold là một trường hợp quái lạ vì anh ta từ lâu không gần gũi chính trị với chúng tôi và từ chối nhận tiền của chúng tôi nhưng vẫn tiếp tục chuyển thông tin cho chúng tôi bởi vì anh cảm thấy vẫn còn tình cảm quyến luyến với Đông Đức.

Nghiên cứu vi tính đặc biệt có giá trị đối với Đông Đức vì nó nhằm thúc đẩy hãng đứng đầu về vi điện tử Robotron. Nhưng nghiên cứu của chúng tôi thua xa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Phương cách duy nhất để Robotron bắt kịp họ là thu thập những hiểu biết và nhu liệu của phương Tây bị cấm vận ngăn chặn. Rập theo mô hình IBM, Robotron tùy thuộc khá nhiều vào những tiến bộ kỹ thuật của IBM mà chúng tôi lén lút lấy được vì vậy, trên thực chất, nó là một loại công ty chi nhánh bất hợp pháp.

Nhờ gạt hái được nhiều thành quả, Stiller sớm được quân hàm trung úy. Y đang trên con đường thăng tiến khi y quyết định đào tẩu vì , theo sự hiểu biết của tôi, lý do hoàn toàn dựa trên ước vọng sống một cuộc đời thoải mái hơn tại Tây Đức. Hôn nhân của y bấp bênh và y có một tình nhân, một cô chiêu đãi tên Helga có người anh ở Tây Đức. Qua người anh này, Stiller tiếp xúc với tình báo Tây Đức, có lẽ vào giữa thập niên 1960. Đương sự thương lượng thông báo cho Tây Đức về những công tác trong ban của anh với một số tiền lớn và sau cùng là một chuyến đi sang Tây Đức sống cuộc sống an toàn. Đây là một dàn xếp thường thấy nơi các kẻ chuẩn bị đào tẩu. Tuy nhiên,vấn đề là sau khi kẻ địch đã bám chặt một cá nhân, họ thấy lợi ích lưu giữ ở nơi cũ kẻ mới kết nạp – để cung cấp những thông tin giá trị ngay trong lòng địch – hơn là tiếp nhận họ vào lãnh thổ của mình. Lẽ cố nhiên kẻ phản bội không suy nghĩ như vậy, đặc biệt khi ngày tháng trôi qua và nguy cơ bị lộ mỗi lúc một gia tăng. Hậu quả thường là một cuộc đấu tranh ý muốn trong đó cả hai bên trong cuộc thương lượng đều tìm cách áp lực nhau.

Cơ may của Stiller mỗi lúc giảm nhanh. Năm 1978, cơ quan phản gián của chúng tôi, với nhiệm vụ ngăn chặn điệp báo tại nước CHDCĐ, bắt được một lá thơ mã hóa do y gởi cho một địa chỉ ở Tây Đức mà chúng tôi biết là bình phong của tình báo hải ngoại của Tây Đức (BND). Giám đốc cơ quan phản gián của chúng tôi không tìm ra được cách giải mã hoặc tìm ra kẻ gởi đi, nhưng ông ra lệnh tất cả các thư từ gởi sang Tây Đức trong cùng một vùng bưu điện mà họ đã chặn bắt lá thơ phải được rà soát. Quả nhiên, họ chận bắt một điện tín bưu điện vài tháng sau. Lần này cơ quan phản gián tìm ra được mật mã. Điện tín viết : “Tôi không thể đáp ứng lời yêu cầu của quý vị”. Các chuyên viên nghiên cứu nét viết cho biết đây là chữ viết của một người đàn bà; đó là Helga chuyển lời của Stiller cho các cán bộ điều khiển Tây Đức thông báo là y không thể chuyển giao gói vi phim.

Chúng tôi không có lý do chính xác nào để nghi ngờ Stiller ngoại trừ cơ quan phản gián tình cờ khám phá một cuộc gặp gỡ với một người vào một thời điểm và nơi trốn không ăn khớp với những báo cáo của chính y với các nguồn tin của y. Chúng tôi chưa vội vã kết luận, nhưng năm 1976, khi tôi ra lệnh đình chỉ tất cả những hoạt động ngoại trừ những công tác thiết yếu tại Tây Đức bởi vì có một cuộc săn lùng điệp viên tại Bá Linh, chúng tôi bắt đầu theo dõi những chuyến đi của y sang Tây Bá Linh. Tuy nhiên đượng sự vẫn được phép di chuyển sang Zagreb tại Tiệp Khắc để gặp một trong những nguồn tin Tây Đức của đương sự. Nơi đây, đương sự cũng cảnh báo cho BND biết là chúng tôi đã phối hợp những phân tích của máy vi tính với những quan sát trực tiếp để bắt một số những điệp viện của họ đã xâm nhập vào hàng ngũ quân đội Đông Đức.

Vào cuối năm 1978, Stiller bắt đầu lo bởi vì y sợ sắp bị bại lộ – y lo ngại rất đúng và sau này tôi mới biết nhưng đã quá trễ. Đương sự hối thúc cơ quan BND và cơ quan này hứa sẽ chăm sóc cho y ở Tây Đức và chấp nhận y đào tẩu. Không hiểu là họ cố ý hay là bất cẩn (cả giới tình báo của chúng tôi cũng như của đồng nghiệp CIA Hoa Kỳ ai cũng biết cơ quan tình báo Tây Đức nổi tiếng là như vậy), họ đưa cho y những giấy căn cước giả mạo quá thô sơ nên không dùng được. Stiller đành quyết định tự tìm kế thoát thân khỏi Đông Đức với giấy thông hành của ban mình.

 Giấy thông hành dùng một lần duy nhất trong mỗi ban đều được trưởng ban cất khóa kỹ và phải có chữ ký mỗi khi có người dùng đến để đi kinh doanh tại trạm Friedrichstrasse. Giao điểm chính ở Bá Linh giữa Đông và Tây là một ổ hoạt động tình báo, với một dãy hộp khóa ( tiện lợi để làm hộp thơ chết) trong những hành lang ngoằn ngoèo. Trạm xe hỏa này, về mặt thuần túy kỹ thuật, nằm trên phần đất của Đông Bá Linh, nhưng trên thực tế được chia cắt mỗi bên Đông và Tây một nửa, biến giới kiểm soát nằm ở giữa. Bất cứ một người Đông Đức nào bước lên xe lửa ở phía Tây cũng vẫn có thể bị chính quyền Đông Đức bắt và lôi cổ về.

Những nhân viên trong Ban Khoa Học và Kỹ Thuật than phiền việc phải ký giấy thông hành mỗi khi đến trạm xe hỏa là một dấu hiệu bất tín và sỉ nhục. Tôi nghĩ điều này tệ thật nhưng không có phương thức nào khác. Để đơn giản hóa thủ tục, giám đốc ban đề cử cô thư ký của mình là người giữ giấy thông hành kỳ diệu này. Cô lưu giữ hồ sơ những lần đi và về và được kiểm soát hàng ngày; nhưng nếu có một sĩ quan cô quen biết và tin tưởng đến hỏi thông hành, cô vui vẻ cấp giấy tờ này như thể đưa chia khóa vào phòng tắm rửa.

Trong mọi trạng huống, sự khéo léo và bản năng tự vệ cực cao của Stiller giúp anh ta thoát hiểm. Thay vì liều lĩnh dùng những giấy tờ kém chuẩn bị, đương sự cậy tủ an toàn của ban mình để lấy thông hành và lựa chọn những hồ sơ có giá trị nhất trong ban để làm hộ thân bên Tây Đức. Y giả mạo giấy công tác ban chỉ thị cho y đi qua địa phận Tây của trạm xe hỏa Friedrichstrasse và đặt một va-ly vào một trong những ngăn khóa ở đây. Đối với người kiếm soát việc qua lại đang thi hành nhiệm vụ đêm đó tại trạm, việc này hoàn toàn thông thường. Đây là chuyến đi Stiller vẫn bình thường làm hàng chúc lần trước đây trong khi thi hành nhiệm vụ.

      Stiller lấy búa cậy tủ sắt

Hình ảnh tang chứng trong hồ sơ của Stasi

Hồ sơ về đêm định mạng hôm đó cho thấy hai người đã trao đổi vui vẻ về thời tiết tồi dở và Stiller, cố ý đánh lạc hướng viên sĩ quan không để cho người này xem xét kỹ lưỡng giấy tờ của mình, nói đùa “Có thể tôi sẽ xin thuyên chuyển về Ban của anh. Anh chỉ ngồi suốt ngày trong góc vuông ấm áp này. Tôi có lẽ cũng thích hợp việc này”. Anh bảo vệ lần giở những trang tài liệu: có một sự vụ lệnh đóng dấu “tối mật”, giấy phép nơi làm việc, giấy phép đặc biệt qua biên giới, và giấy thông hành. Khi thấy Stiller nhanh nhẹn trình toàn bộ những giấy tờ cùng một lúc, anh bảo vệ không xem xét xa hơn nữa. Kẻ phản bội đi qua hai lần cửa sắt để bước sang phần đất Tây Đức. Hai cửa này bật mở cách nhau tám giây, đủ thời giờ để viên sĩ quan bảo vệ bấm nút khóa nếu anh bất thình lình thay đổi ý kiến và quyết định kiểm soát xem tất cả những con dấu trên những tài liệu đều ăn khớp với nhau không. Anh không có ý nghĩ này.

Stiller nói chuyện với sĩ quan bảo vệ

Bấm nút mở cửa

Bước lên sân ga, Stiller chậm rãi bước qua các cửa sát và một cách chính thức và không thể vãn hồi bước sang phần đất Tây Đức của nhà ga. Biết rõ các sĩ quan phản gián Đông Đức luôn hoạt động tại đây, y vờ loanh quanh tại các hộp khóa. Rồi, khi nghe tiếng rầm rì của toa xe sắp đến, y chạy nốt đoạn đường cuối và nhảy lên toa cùng lúc đèn đỏ nhấp nháy và lơì phát âm tự động : “Mọi người lên xe! Cửa đóng lại”. Mười phút cuối cùng của chuyến đi này trên chuyến xe hỏa lọc cọc trên lãnh thổ Đông Đức và đương sự vẫn còn nằm trong vòng tầm nã của chúng tôi, chắc đã gây căng thẳng cho Stiller không ít. Khi xe hỏa cập bến Lehrter, trạm ngưng đầu tiên bên phía Tây Đức, y biết là y đã được tự do.

Stiller bước lên toa xe lửa định mệnh

Cuối cùng Stiller đi xa hơn nữa trên tuyến đường, đổi xe hỏa và trực chỉ trạm cảnh sát gần nhất, nằm trong khu vực ảm đạm ngoại ô Reinickendorf của giới trung lưu thấp kém. Viên sĩ quan trực ca trễ, chỉ trông chờ nhìn thấy diễn hành thường lệ các tài xế say rượu, những kẻ lắm mồm và những bọn trực ăn cắp xe, có lẽ ngạc nhiên cực độ khi một người đàn ông ăn mặc tươm tất bước vào và lịch sự chào hỏi: “Chào ông, tôi là sĩ quan Bộ Công An của nước CHDCĐ vừa mới đào thoát khỏi Đông Bá Linh. Xin ông làm ơn thông báo cho [Cơ Quan Tình Báo Tây Đức] Pullach”.

Ngay đêm hôm đó anh đến Pullach. Tôi muốn biến thành con ruồi để xem y mở chiếc cặp da chứa đầy những tài liệu đánh cắp trong tủ an toàn. An ủi duy nhất của tôi là Stiller, mặc dù không thể chối cãi tài năng của y, chỉ là một sĩ quan trung cấp. Nhờ vào hệ thống an ninh tôi đã cẩn thận thiết kế, tôi đoan quyết là y không biết danh tính của các điệp viên khác ngoài bảy người do y điều khiển. Nhưng những tài liệu y đánh cắp trong tủ sắt có những ám chỉ có thể giúp phản gián Cologne tìm ra hai mươi đến hơn hai mươi lăm người nữa và chúng tôi phải xóa dấu vết của những người này.

Bổn phận của chúng tôi là cảnh báo cho các giao liên và điệp viên của y. Chuyên viên lò hạt nhân Johannes Koppe và người vợ đã kịp trốn nhờ nhanh trí. Khi cảnh sát gõ cửa nhà họ tại Hamburg và hỏi ông có phải là Herr Koppe không, ông trả lời không và nói người này ở trên lầu hai. Koppe và bà vợ rời bỏ ngay căn phòng của họ vỏn vẹn với bộ quần áo trên người và đi thẳng đến Bonn và tìm trú ẩn nơi Tòa Đại Sứ Xô Viết, và Tòa Đại Sứ đưa họ trốn khỏi nước Đức. Cơ quan phản gián của chúng tôi phải đương đầu với một công việc khó nhọc: Koppe là một người đam mê thích chơi xe hỏa, ông sưu tầm những thời khóa biểu của hơn một chục quốc gia và tệ hơn nữa, một bộ xe hỏa tiểu ly chạy ngoằn ngoèo trong căn phòng của ông. Nhân viên Tây Đức khổ sở khám xét và tháo gỡ toàn bộ sưu tầm này để tìm tang chứng gián điệp nhưng không thấy gì cả. Cuối cùng, để tưởng thưởng cho một điệp viên bị bại lộ, tôi thu xếp để mua những chiếc xe hỏa này khi họ đem bán đấu giá tại Tây Đức (Mielke không bằng lòng chuyện này vì ông không thấy cần thiết chúng tôi tỏ vẻ quá nhiệt thành) và gởi chúng về cho Koppe để rồi Koppe dựng lên lại trong căn phòng nhỏ bé hơn ở Đông Bá Linh, nơi đây ông sống chật chội nhưng vui sướng hơn.

Một nguồn tin khác của Stiller, Reiner Füller thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Hạt Nhân tạiKarlsruhe, cũng đào thoát trong đường tơ kẽ tóc. Ông nhận điện thoại báo trong khi các sĩ quan đến bắt ông đã vào tận căn phòng của ông để bắt ông. Trên đường từ xe đến trạm cảnh sát, một trong những người dẫn độ ông trượt ngã trên nền đất đông giá và đập đầu xuống đất. Füller vụt chạy bỏ rơi các sĩ quan đuổi bắt và chạy trốn vào phái đòan quân sự Xô Viết tại Wiesbaden và từ đó ông được giao lại cho chúng tôi tại Đông Bá Linh (Vài năm sau này, trong thời gian tôi bị đưa ra tòa tại Karlsruhe, tôi cũng được chính anh nhân viên đã để cho Füller tẩu thoát đêm tháng Giêng đó. “Ông đừng dở trò này với chúng tôi nhé Herr Wolf ”, anh cười đùa. Ở tuổi tôi, tôi không thể nào có cơ may thoát). Füller không thích hợp với đời sống tại Đông Đức và thu xếp, hai năm sau, để liên lạc với cơ quan phản gián Tây Đức giúp anh trở qua lại Tây Đức. Thông thường trong những trường hợp như vậy, chúng tôi biết những vấn đề của một điệp viên đã ngừng sinh hoạt và nghi ngờ anh ta sẽ nhảy qua biên giới để sang Tây Đức. Trong trường hợp của Füller, chúng tôi quyết định để cho anh đi, nghĩ rằng anh chẳng còn gì để báo cho chính quyền bên kia sau thời gian ngắn anh sống dưới sự bảo trợ và kiểm soát của chúng tôi. Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng dung thứ trong những trường hợp như vậy. Một điệp viên khác của Stiller, Arnulf Raufeisen, là một địa vật lý học gia tại trung tâm nghiên cứuHannover, đã bỏ trốn sang Đông Bá Linh sau khi được chúng tôi báo động và cũng có ý đồ trở về lại Tây Đức năm 1981. Anh bị bắt tại biên giớiHungarytrên đường trốn sang nước Áo. Lần này, lệnh từ trên muốn đem anh ra làm gương; mặc dù anh là một điệp viên cũ của Đông Đức, anh bị kết án là điệp viên tại Đông Đức và bị xử tù chung thân.

Tôi bị dằn vặt về chuyện của Raufeisen. Anh đã làm việc cho cơ quan của tôi hai mươi năm và tôi muốn dàn xếp một cuộc trao đổi hoặc ân xá. Nhưng tôi đã thất bại và anh chết trong tù năm 1987, một nạn nhân của sự phản bội của Stiller và công lý tùy hứng của CHDCĐ. Vào lúc Stiller đào thoát, chúng tôi mang một mối hận rất sâu đậm; tôi nghĩ Raufeisen đã nhận lãnh án mà chúng tôi muốn Stiller phải đau khổ đón nhận.

(xem tiếp phần 2)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 15 (phần 2) (Markus Wolf)                   

“…Biết rõ mặt mũi của người lãnh đạo cơ quan tình báo cũng chẳng đem lại một lợi ích thiết thực gì cho kẻ địch, nhưng trong trường hợp của tôi, đối với Tây Đức việc này có lợi vì nó phá vỡ hình ảnh thần bí bao bọc cơ quan tôi và bản thân tôi…”

Chương 10 (tiếp)

Nọc Độc của Sự Phản Bội

Stiller trao cho cho địch thủ trong cơ quan tình báo Tây Đức một điều không sờ mó được nhưng lại rất quan trọng khi y đào tẩu, đó là việc xác nhận chân tướng của bản thân tôi. Mặc dù tôi lãnh đạo tình báo hải ngoại Đông Đức đã hai mươi năm khi y đào tẩu, không một ai bên phía Tây kiếm ra một bức hình của tôi, vì vậy tôi có biệt danh khen ngợi “người không chân dung”. Thực ra, cơ quanTình Báo Liên Bang đã có hình của tôi nhưng họ không biết là ai. Tôi bị lén chụp mà tôi không biết trong một chuyến đi Thụy Sĩ để gặp Bác Sĩ Friedrich Cremer, một đầu mối đầy hứa hẹn trong đảng Dân Chủ Xã Hội Tây Đức. Tôi sang đây vào mùa hè 1978 để gặp gỡ ông trên một lãnh thổ trung lập; chúng tôi thường dùng Thụy Điển, Phần Lan và Áo vào mục đích này. Mặc dù chuyến đi là một phần lấy cớ để đi ra khỏi văn phòng, đi du ngoạn với vợ – và bao lâu tôi vẫn còn ở Thụy Điển – gặp gỡ Cremer, tôi còn có một lý do khác để hiện diện. Lý do chính của chuyến đi là để gặp gỡ một nguồn tin quan trọng ở trong NATO.

Có lẽ vì chúng tôi quá cẩn thận về vấn đề an ninh quanh công tác quan trọng này, nên chúng tôi bất cẩn thả lòng khi công tác này đã hoàn tất, đúng vào lúc tôi gặp Cremer, với những hậu quả không đẹp cho ông. Các nướcScandinaviarõ rệt trung lập mang một bầu không khí yên tĩnh và chậm rãi và cơ quan phản gián của họ cũng không quá siêng năng, mặc dù tôi biết họ ngả về phía Tây Âu. Tôi gặp những điệp viên của tôi ở vùng phụ cận tòa Lâu Đài lộng lẫy Gripsholm, phía Tây Stockholm, nơi đây chúng tôi hy vọng không ai để ý đến chúng tôi trong đám người xem phong cảnh. Sau này, tôi nhớ lại có thấy một cặp vợ chồng đứng tuổi ngồi trong xe hơi nơi bãi đậu. Chiếc xe có bảng số Đức, nhưng không có dấu hiệu gì đáng nghi cả nên tôi tiếp tục cuộc tiếp xúc trên sân của lâu đài. Các bạn đồng nghiệp của tôi thông báo cho biết họ đã thu xếp để tôi đến gặp Cremer tạiStockholm.

Lâu đài Grispholm

Chiều hôm đó, khi tôi đi lang thang trong trung tâm Stockholm, để giết thời giờ trong khi chờ đợi gặp Cremer, một cặp vợ chồng xôn xao, có lẽ là người Hungary, hối hả đến gặp tôi và báo cho tôi biết tôi đã bị chụp lén. Điều nay khiến cho tôi khó chịu, mặc dù tôi không thấy mối tương quan hợp lý nào với cặp vợ chồng trong xe. Tôi tiếp tục công việc dự định trong ngày, gặp gỡ Cremer tại một căn phòng thường được Tòa Đại Sứ CHDCĐ dành cho các viên chức đi du lịch

Sai lầm của chúng tôi là lựa chọn cảng Kappelskar nằm phía cùng Bắc làm nơi nhập cảnh đến từ Phần Lan, theo nguyên tắc cẩn thận điệp viên tránh di chuyển thẳng từ nơi mình ở đến lãnh thổ mà minh dự định gặp gỡ mối giao liên. Như thương lệ đi từ Phần Lan qua Thụy Điển, chúng tôi đi qua biên giới không ai hỏi thông hành chúng tôi, vì vậy sự hiện diện của chúng tôi không ghi vào hồ sơ. Nhưng tại hải cảng, sĩ quan tình báo lưu trú tại Tòa Đại Sứ ở Thụy Điển đến rước chúng tôi. Phản gián của Thụy Điển dầu sao cũng làm việc miệt mài. Họ ghi số xe thuê của chúng tôi vào trong máy vi tính và bắt đầu giám sát chúng tôi khi chúng tôi đi vàoStockholm.

Việc chuẩn bị bất bình thường cho một vị khách đặc biệt đã làm tình báo Thụy Điển chú ý đến chuyến đến bí mật từ Đông Đức và họ thông báo cho đồng nghiệp tình báo Tây Đức, với kết quả là tôi bị hai mạng lưới theo dõi chặt chẽ khi tôi đặt chân lên lãnh thổ của Thuy Điển. Tình báo Tây Đức trở về nhà với hình ảnh của tôi chụp tạiStockholm, nhưng không ai đoán biết người Đông Đức bí mật kia là ai cả.

Tấm hình được cất vào tủ sắt kín cùng với những tấm hình mờ do phản gián Tây Đức chụp những khuôn mặt đáng nghi nhưng không nhận dạng được đích thực là ai. Khi Stiller sang Tây Đức, tất cả những tấm hình này được trải trước mặt y để y nhận dạng theo thông lệ. Đương sự tức khắc nhận ra tôi và từ ngày đó trở đi, tâm hình đích thực của tôi xuất hiện trên các bài phóng sự của báo chí.

Biết rõ mặt mũi của người lãnh đạo cơ quan tình báo cũng chẳng đem lại một lợi ích thiết thực gì cho kẻ địch, nhưng trong trường hợp của tôi, đối với Tây Đức việc này có lợi vì nó phá vỡ hình ảnh thần bí bao bọc cơ quan tôi và bản thân tôi. Tôi không còn là trùm giàn điệp không chân dung mà chỉ là một con người bình thường. Vì Cremer bị bắt và hình của tôi bị lộ, chúng tôi tiếc là phải cắt đứt liên lạc với nguồn tin của NATO, lý do chính của chuyến đi sang Thuy Điển. Việc cắt đứt liên lạc này cuối cùng là một tổn thất lớn nhất do Stiller gây ra.

Sau khi Stiller đào thoát, các chủ nhân Tây Đức của Stiller giao y cho CIA ở Hoa Kỳ một vài năm. Y được cấp căn cước giả và ẩn nấp, theo sự hiểu biết của tôi, tạiChicago, nơi đây y học kháo cấp tốc tiếng Anh và lấy chứng chỉ quản lý ngân hàng. Đương sự không phải là một loại người kết thúc cuộc đời trong sự nghèo khó dưới bất cứ chế độ nào. Khi y trở về Đức và bắt đầu làm việc cho một ngân hàng tạiFrankfurtvới một tên giả, chúng tôi biết được tin nay nhờ hành lang tình báo. Một trong những nhân viên của chúng tôi đem cả địa chỉ của y về và xin được hậu đãi lớn nếu đưa được Stiller ra đến tận biên giới. Mielke tức tốc gọi tôi vào văn phòng và nói với giọng điệu thô bạo cố hữu của ông : “Thằng chó đẻ Stiller, chúng ta bắt nó về được không?”. Tôi biết ngay ông muốn nói gì: Ông nhắc đến những vụ bắt cóc điệp viên trong thập nhiên 1950. Nhưng nay là thập niên 1980. Chính sách Ostpolitik và tinh thần hòa hoãn không cho phép có những lối hành động khiên giáo loại này. Trước sự bực bội của ông Bộ Trưởng, Stiller vẫn nhởn nhơ tự do và trở nên giàu có, điều khiến công ty của mình tạiFrankfurt. Tôi xem Stiller là người thắng cuộc duy nhất trong những hành trình dài đáng buồn của sự nghiệp của tôi.

*

May thay nghề nghiệp của tôi không chỉ có tin buồn mà thôi. Một buổi sáng đầu mùa thu năm 1981, một phong bì lớn xuất hiện trong hộp thư của Tòa Đại Sứ Đông Đức tạiBonn. Đó là một lá thư gởi cho giám đóc Cục 9 của HVA, Cơ quan Tình Báo Hải Ngoại. Cục 9, phụ trách xâm nhập các cơ chế tình báo của Tây Đức, là cục lớn thứ nhì trong cơ quan sau Cục Khoa Học và Kỹ Thuật và là một trong những cục bận rộn nhất. Đây là cục tôi gắn bó nhất. Khác với hầu hết những người tình nguyện gia nhập – một danh từ để chỉ những người tự nguyện góp sức cho hàng ngũ địch – tác giả ẩn danh của lá thư này ghi địa chỉ chính xác, chứng tỏ đương sự biết rõ cơ cấu tổ chức của tình báo Đông Đức.

Trong phong bì là một tờ giấy bạc hai mươi Đức Mã, con số thứ tự in trên giấy bạc để dùng làm mật mã trong những liên lạc tương lai. Người gởi tự giới thiệu là một chuyên viên cao cấp trong ngành tình báo sẵn sáng cung cấp thông tin với giá là 150.000 Đức Mã mỗi lần trao đổi và một lệ phí hàng tháng gấp đôi tiền lương của tình báo Tây Đức. Lá thư của đương sự viết với những hàng chữ in lớn. Để gợi sự thèm khát của chúng tôi, đương sự thông báo một tin mật Tây Đức đang có kế hoạch kết nạp Christian Streubel, cấp chỉ huy của Stiller trong SWT.

Chúng tôi không rõ danh tính của người gởi. Máy ghi hình an ninh nằm ngoài Tòa Đại Sứ Đông Đức tạiBonnchỉ thâu được hình ảnh của vóc dáng một người che mặt đang bỏ thơ. Mặc dù là mùa hè, đương sự đội nón khuất mặt và y có một vết thẹo trên mặt. Những nét chữ in tự tín và vuông vắn là tất cả những gì chúng tôi biết.

Do một sự tình cờ chúng tôi khám phá được nét chữ này của ai. Đã lâu, cơ quan của tôi và chính quyến Tây Đức đọ sức với nhau trong một trò chơi lâu dài và phức tạp xoay quanh một trong những nhân viên của tôi có với bí danh Wieland. Tên thật của y là Joachim Moitzheim.

Là một sinh viên của các cha dòng Tên, Moitzheim, đã từng bị giam tại Liên Bang Xô Viết thời chiến, làm việc cho chúng tôi từ năm 1979 tại vùng Cologne và đã thử kết nạp một nguồn tin trong cơ quan phản gián Tây Đức (BfV) tại đây. Người này tên là Carolus, phụ trách máy điện toán phản gián (tên là Nadis) tập trung danh sách những người đã được điều tra và xem là an toàn và những người vẫn còn phải sưu tra và hồ sơ của họ. Moitzheim tặng cho Carolus một ngàn Đức Mã nếu Carolus rà soát một tên tuổi làm việc cho Hoa Kỳ. Carolus đánh hơi đây là một cái bẫy bởi vì y biết CIA đã xâm nhập vào được Nadis và y báo cáo việc này cho cấp trên.

Có hai người trong phản gián Tây Đức biết thủ đoạn này, một là sĩ quan cao cấp tài giỏi Klaus Kuron và hai là Hansjoachim Tiedge, giám đốc của Siêu Tra An Ninh của BfV. Công việc của họ là bảo vệ không để Đông Đức xâm nhập cơ quan của họ. Tiedge và Kuron mời Moitzheim đến một khách sạn, tại đây họ chận họng y nói rằng đã biết hắn muốn mua chuộc Carolus. Họ đe dọa kết án tù dài hạn Moitzheim và ép y phải làm gián điệp nhị trùng cho họ. Tây Đức lo ngại chúng tôi khám phá trò chơi này, nên họ không muốn dùng Moitzhem làm người cung cấp tin sai đầu tiên cho chúng tôi. Trái lại, họ cung cấp cho y một mạch tin mật trong đó có tên tuổi của hơn một trăm thí sinh khả dĩ kết nạp cho phản gián Tây Đức và những người làm việc trong nhiều dự án quốc phòng mật. Đây là một sai lầm lớn và nhờ đó chúng tôi thu hoạch được nhiều ich lợi.

Trong khi tiếp tục nhận lương hàng tháng 2.000 Đức Mã của Tây Đức, Moitzheim vẫn còn lưu luyến với ý thức hệ Đông Đức. Y báo cáo cho chúng tôi biết là Kuron và Tiedge đã thử mua chuộc y và y chấp nhận trở thành gián điệp tam trùng, làm việc cho chúng tôi. Nhờ ở vị thế này mà Moitzheim nhận diện được những chữ in trên phong bì là của Klaus Kuron, người được xem là cấp chỉ huy của y trong vai trò gián điệp nhị trùng.

Khi xảo thuật đạt đến trình độ này, chúng tôi phải cẩn thận tối đa. Các cán bộ điều khiển phải luôn luôn đặc biệt chú ý gián điệp nhị trùng (và ngay cả tam trùng). Một khi một người đã trở mặt một lần, người ta có thể dè chừng y sẽ trở mặt lần nữa. Cái trò đặc biệt này diễn ra một cách tốt đẹp trong một thời gian, trong đó Wieland/Moitzheim báo cáo cho cấp chỉ huy tại Cologne những cuộc gặp gỡ láo với những thành viên của bộ tham mưu của tôi tại Đông Đức – và thông báo cho chúng toi là y đã báo cáo cho họ. Đồng thời chúng tôi yêu câu anh gián điệp tam trùng của chúng tôi cung cấp những tin thật từ trung tâm phản gián Tây Đức. Chúng tôi yêu cầu đương sự kiểm soát tên những doanh nhân mà chúng tôi tình nghi có dính líu đến các cơ quan an ninh, và chính quyền Tây Đức nghi họ làm việc cho chúng tôi. Vì chúng tôi được coi như không biết là phản gián Tây Đức tại Cologne cảnh giác về mối liên hệ tam trùng của Moitzheim, nên họ phải gởi những thông tin trung thực để bảo đảm tính khả tín của Moitzheim. Bằng không họ sợ chúng tôi sẽ bắt đầu nghi ngờ y là gián điệp nhị trùng. Nhưng chúng tôi khó lòng biết chắc chắn những tin tức họ lấy từ máy vi tính ởColognecó bao nhiêu phần là thật, có bao nhiêu phần là giả. Giáo dục của các cha dòng Tên là một nền tảng thuận lợi trong một thế giới gương phản chiếu.

Colognevề phần mình cố lượng định tầm mức hiểu biết của chúng tôi qua những câu hỏi chúng tôi đặt cho Moitzheim. Bây giờ chúng tôi phải đương đầu với một trò trở cờ thứ tư trong màn khiêu vũ phức tạp của làng tình báo. Kuron, vị sĩ quan đã từng điều khiển Moitzheim, nay cũng muốn làm việc cho Đông Đức! Điều này quá đặc biệt, ngay cả đối với những mối giây chằng chịt của thế giới gián điệp.

Kuron là một mẻ bắt lớn không có tiếng xấu lại nằm ngay trong trung tâm của phản gián, một điều mà tất cả các cơ quan tình báo đều mơ ước. Nếu chúng tôi được sự công tác của đương sự, chúng tôi có thể đánh giá được mức độ hiểu biết của Tây Đức về những công tác của chúng tôi và chúng tôi có thể ứng biến cách phòng thủ của chúng tôi. Điều này giống như phá hủy hệ thống đề kháng của trung tâm phản gián Tây Đức, phần thưởng lớn nhất trong những phần thưởng. Nhưng trong một thế gián điệp nhị trùng và tam trùng , chúng tôi muốn biết chắc là hành động của Kuron có phải là một cái bẫy không.

Đúng vào thời điểm đã định, Kuron liên lạc qua số điện thoại mã hóa. Chúng tôi thu xếp gặp gỡ và chúng tôi quay phim từ trên nóc nhà để có tang chứng đương sự chủ động tiếp cận chúng tôi nếu không may điều này là một dàn cảnh đánh lừa chúng tôi của phản gián Tây Đức. Nhưng Kuron, tự xưng mình là Kluge (tiếng Đức có nghĩa là “kẻ khôn ngoan”) khi đương sự thương lượng với Moitzheim, quả nhiên danh bất hư truyền.

Đương sự gởi thư tiếp, nói rằng y thích chậm rãi tiếp cận vấn đề, vì vậy không có diễn biến gì mới. Vào năm 1982, khi chúng tôi thuyết phục đương sự đến gặp chúng tôi tạiVienna. Tất cả những liên lạc được xử dụng qua những biến thái của con số mật mã trên giấy bạc nhà băng y đã gởi cho chúng tôi. Bởi vì tính chất cao cấp của y trong làng tình báo Tây Đức, chúng tôi giảm thiểu mối nguy kiểm chứng chồng tréo. Mỗi lần y muốn nói chuyện với chúng tôi, y dùng một trong nhiều số chúng tôi cung cấp. Rồi y rà soát bằng cách nghe một loạt những con số mật mã trên radio làn sóng điện ngắn và rút trừ những con số ghi trên từ giấy bạc. Hầu như không có ai có thể giải mã những liên lạc của chúng tôi.

Mặc dù vậy, tôi phải mòn mỏi trông tin cuối tuần từVienna. Cho đến giai đoạn cuối cùng đi đến sự hợp tác với Kuron, chúng tôi không hề loại trừ lời đề nghị của Kuron là một cái bẫy. Karl-Christoph Grossmann, giám đốc cục 9 (công tác của cục bao gồm việc điều nghiên những hoạt động của phản gián Tây Đức, di chuyển sang Áo với một đồng nghiệp trẻ. Günther Neels, phó giám đốc cục 9, cũng được đặc cách gởi sang Áo để quan sát cuộc thương thảo, cùng với một sĩ quan trẻ dùng làm liên lạc viên. Những chuẩn bị công phu này giống như tuồng hátVienna, Người Thứ Ba, có nhiều uẩn khúc.

Nơi gặp gỡ đánh dấu thành tích đáng kể nhất của cơ quan tôi đối với tổ chức tình báo của địch là cổng vào của Công Viên Schönbrunn, một nơi nằm trong truyền thống mưu đồ và lãng mạn vào thời Hapsburg. Các sĩ quan lần lượt tới, mỗi người cẩn thận xem xét có bị theo dõi hay không. Grossmann định vị trong một quán cà-phê phía đối diện với công viên.

 Đúng vào giờ đã định, dáng vóc mạnh mẽ và thẳng đứng của Kuron xuất hiện. Cùng lúc đó, Neels tiến gần đến cổng. Nếu có người lạ đứng xem, họ sẽ thấy hai người đàn ông, xa lạ và xuất phát từ hai cơ chế đối địch, chào hỏi nhau như những bạn bè lầu đời. Và họ tiến bước qua các vườn tược của công viên. Khi thấy con mồi của mình đến đầu bên kia an toàn, Grossmann leo lên taxi và sau đó Kuron và người giao liên lên xe theo. Cả ba đến một tiệm ăn. Tọa vị một cách thoải mái, Kuron tỏ vẻ thư thái.

 Đương sự không băn khoăn về việc phản phé này và mô tả nỗi ấm ức trong nghề nghiệp. Đương sự là hình ảnh của những tham vọng không thành, làm cho y day dứt trong suốt cuộc đời công tác dân sự . Sinh trưởng trong một gia đình đơn sơ, ông tiến thân trong ngành tình báo, mặc dù ông không có bằng cấp đại học. Những thành tựu của ông đều được tất cả những cộng sự viên công nhận, nhưng vì ông không tốt nghiệp theo tiêu chuẩn ấn định ông không được thăng chức. Tiền lương 48.000 Đức Mã (vào lúc đó là 25.000 Mỹ Kim) tương xứng với cuộc sống thoải mái nếu không muốn nói là sang trọng, nhưng ông biết ở nơi này ông không còn cách gì thăng tiến cao hơn được nữa.

 “Tôi đã vật lộn nhiều” ông nói. “Mọi người đều biết tôi có tài, nhưng tôi không thể tiến xa hơn nữa”. Giọng của ông có vẻ chua chát và điềm đạm, “Ở Tây Đức, họ nói là có tự do và cơ may đồng đều cho mọi người để phát triển tài năng của mình. Tôi không cảm nhận được điều này. Tôi có thể làm việc cho đến khi ngã quị và người ta vẫn xem tôi là con rối. Rồi bọn họ đưa một tên quan lại ngốc ngếch được bố trả tiền cho đi học và có con đường sáng lạn trước mắt cho dù nó làm gì đi nữa. Tôi không chịu đựng được cảnh này nữa”.

Mối ưu tư lớn nhất của Kuron là bốn đứa con của mình phải có phương tiện để lên đại học, vì đương sự không đủ tài chánh để đắp thêm vào số tiền tài trợ của chính phủ. Khi mọi người biết đến chuyện của ông sau khi nước Đức thống nhất, báo chí Tây Đức bôi nhọ Kuron, cho ông là một tên gián điệp lạnh lùng và tham lợi. Nhưng tôi nhận định khác động cơ thúc đẩy ông. Tôi xem quyết định của ông làm việc cho chúng tôi là hành động của một người đã nhập tâm thông điệp thôi thúc của xã hội tư bản và vứt bỏ tất cả những điều khác và hành động theo đó không một chút cắn rứt. Khi nhìn thấy những người thành công và được trọng vọng xung quanh anh đã mua phương tiện để tiến thân, ông bán tài nghệ của ông cho thị trường duy nhất mà ông biết.

Có một vài kẻ phản bội, ít nhất là trong đầu óc của họ, không ảo tưởng là mình phục vụ cho hai chủ nhân khi họ nhận tiền của kẻ địch nhưng vẫn làm việc cho đất nước của mình. Vào lúc Kuron liên lạc với chúng tôi, ông đã đánh mất hết tinh thần nhập thuộc với cơ quan của mình. Sau này khi ông đứng trước tòa án để làm nhân chứng trong phiên tòa xét xử cá nhân tôi, ông cho biết ông không có cảm tính nào khác ngoài sự hận thù đối với cơ quan ông làm việc. Việc chuyển đổi lòng trung thành của một điệp viên nằm vùng chấp nhận ở lại nhiệm sở là một giấc mơ toại nguyện của ông trùm tình báo. Điều này hiếm khi xảy ra, nhưng một khi đã đến, nó xứng đáng với lượng chi phí cao. Phần đông những người tiếp cận địch thủ và đề nghị làm người nằm vùng mong muốn làm được như vậy trong một thời gian ngắn và sau đó, như Stiller, mua đường tẩu thoát sang một nước thứ ba.

Tôi liên tưởng trường hợp duy nhất tương tự với Kuron là Aldrich Ames, người đã hào phóng cộng tác với KGB. Trong một khía cạnh quan trọng,Amescó cùng một vóc dáng tâm lý. Giống như Kuron, đương sự cảm thấy bị đánh giá thấp, không được CIA tưởng thưởng xứng đáng, đoan quyết là mình sáng giá hơn nhiều những gì họ trả cho y. Cả hai đều thích tiền và một cuộc sống xa hoa. Cả hai đều nhận thấy công việc lương thiện của họ không được tưởng thưởng tương xứng. Cả hai đều am hiểu thấu đáo cơ quan của mình và họ biết nếu họ khéo léo thương lượng, họ sẽ được phía địch mà họ phục vụ bảo vệ chặt chẽ.

Nhờ Kuron, chúng tôi có một điệp viên nằm vùng siêu đẳng. Đương sự là người tuyển mộ các điệp viên Đông Đức và Xô Viết và dùng họ làm điệp viên cho Tây Đức. Bây giờ ông chuẩn bị cung cấp cho chúng tôi thông tin này. Giá phải trả cho ông cao thật và ông muốn số tiền này được bỏ vào một chương mục danh số tại một nước thứ ba, nhưng tiềm năng khai thác thật là to lớn. Là một điệp viên chuyên nghiệp cao, ông yêu cầu một số những “điều khoản miễn hành”, giống như minh tinh Hollywood thương lượng cho một cuộn phim, nhưng một lần nữa chúng tôi vẫn muốn đánh liều. Ông cũng muốn bảo đảm những gián điệp nhị trùng mà ông tiết lộ danh tính cho chúng tôi, chúng tôi không được bắt. Đây không phải là chỉ dấu của một nét đạo đức nào hết. Những gì Kuron tiên đoán là một loạt những vụ bắt chắc chắn sẽ dồn nghi ngờ về phía cơ quan phản gián tạiCologne. Tôi đồng ý

Chúng tôi quá vui mừng chớp được manh mối này và đặt cho đương sự mật danh là Ngôi Sao. Danh tính của đương sự được xem là tối mật và tên thật của đương sự tuyệt đối không được nói ra, ngay cả trong vòng nội bộ kín đáo của tôi mặc dù được xem là không có máy ghi âm. Những cuộc gặp gỡ khác tiếp diễn theo sau tại Áo, Tây BanNha, Ý, Tunisia và Kuron tiết lộ tên tuổi của những điệp viên Đông Đức mà cơ quan của ông đã tuyển mộ.

Cả hai người chúng tôi đều rất cẩn thận về nơi gặp gỡ, và chúng tôi chọn những nơi thích hợp cho nghỉ mát.

*

Việc dàn xếp những yêu cầu của ông thật là xuất sắc. Kuron yêu cầu cá nhân tôi xác nhận những điều khoản này. Trước khi tôi xin Mielke chấp thuận trả tiền nhiều hơn bất cứ một nguồn tin nào tại Tây Đức, tôi muốn đích thân gặp Kuron. Với giấy thông hành ngoại giao CHDCĐ, ông đến Vienna thông quá Bratislava trong một chuyến bay đặc biệt đi Dresden, tại đây con rể của tôi, Bern, đến rước ông và dẫn ông đến một nhà an toàn ở vùng quê. Kuron là một trong những loại người thích hợp nhanh chóng với bất cứ ngoại cảnh nào, ngay cả trong một nhà an toàn tại một nước thù địch. Chúng tôi thương lượng tài chánh với phong cách đặc biệt của người Đức. Ông cũng sẽ nhận tiền hưu bổng trong công việc tráo trở này. Lương của ông tương đương với lương của một đại tá tình báo Đông Đức. Ngày hôm đó, ông tiết lộ hai nhân viên của chúng tôi, Horst Garau và người vợ Gerlinde, giao liên làm việc cho cơ quan của tôi chuyển giao những thư từ của các điệp viên chúng tôi ở Tây Đức, nằm trong danh sách trả lương của Tây Đức.

Garau báo cho phản gián Tây Đức danh tính của những gián điệp y biết. Không có vụ bắt bớ nào tiếp sau đó, vẫn theo giả thuyết là việc này sẽ bại lộ tung tích nhị trùng của Grau. Nhưng những thông tin như vậy cho phép Tây Đức theo dõi hành tung của điệp viên và biết họ gặp gỡ những ai. Nhưng qua Kuron bây giờ chúng tôi biết tất cả hành động của họ.

Khi thương lượng xong xuôi, chúng tôi dùng cơm tối và uống rượu do đội đặc biệt tuyển chọn của Bộ Công An phục vụ. Kuron kể chuyện tếu và tôi cho ông xem những phim nghỉ mát của Đông Đức, nơi đây tôi nói tôi hy vọng thấy ông xuất hiện nhiều. Ông cũng đề cập đến tên của cấp trên của ông, Hansjoachim Tiedge. “Một khối óc khôn ngoan” ông nói. “Y tiêu sai hàng trăm Đức Mã như không và có tật uống rượu”. Tôi ghi hồ sơ chi tiết này để dùng trong tương lai, nhưng không bao giờ ngờ ông Tiedge hào phóng lại có thể gặp tôi mà chúng tôi không hề mất công sức tìm đến ông.

Điều gì đã xảy ra cho những điệp viên hay người nằm vùng bị Kuron tố giác? Theo sự hiếu biết của tôi, cả hai cơ quan bên Đông và Tây Đức không hề tìm cách giết họ, cho dù để trả thù hoặc ngăn ngừa họ phát tán thông tin. Nhưng cả hai không thể phủ nhận họ đã khai thác và mua chuộc. Ví dụ, để buộc Moitzheim trở cờ, Tây Đức một cách thô bạo cho anh lựa chọn giữa án tù dài hạn và hợp tác. Chúng tôi có lẽ cũng làm như vậy.

Các điệp viên, khác vói sĩ quan điều khiển trong cơ quan tình báo, không bị kết án tử hình sau thập nhiên 1950. Việc giam giữ những gián điệp Tây Đức tầm vóc có giá trị hơn nhiều vì họ có thể trao đổi với người của chúng tôi vào lúc thuận lợi. Kết án nặng nề nhất dành cho các sĩ quan phản bội đất nước mình, như Werner Teske, một sĩ quan trong Cục Khoa Học và Kỹ Thuật bị bắt quả tang năm 1981cất giấu hồ sơ của cục trong máy giặt ở nhà. Y có ý định đào thoát sang Tây Đức và đem những tài liệu này làm quà tặng cho tình báo Tây Đức để đổi lấy một cuộc sống tốt đẹp ở phía bên kia.

Teske là người bị xử tử cuối cùng tại Đông Đức năm 1981, một ghi chú thảm thương trong lịch sử. Lý do quyết định hành quyết Teske vẫn còn là một bí mật đối với tôi. Tôi thường bị trách, trong trách vụ lãnh đạo cơ quan tình báo hải ngoại, đã để cho y bị giết hoặc ít ra không ngăn ngừa việc này. Tôi cảm nhận có trách nhiệm về cái chết của y không ? Để trả lời một cách lương thiện, tôi phải phân biệt nhiều loại trách nhiệm.

Khi Cục Phản Gián phát hiện Teske phản bội, họ cùng với Tổng Cục Tra Vấn đã bắt đương sự, cả hai Cục này đều nằm dưới quyền điều khiển của Mielke và sau đó giao cho, như tất cả những vụ án gián điệp tại Đông Đức, toàn án quân sự kín. Vào thời điểm này, cơ quan chúng tôi không còn quyền lực gì nữa. Tuy nhiên, vào đầu thập nhiên 1980, bản án tử hình vì tôi phản bội thường được chuyển sang án tù chung thân. Mặc dù tôi biết tương lại của Teske mờ tối, tôi không nghĩ đương sự sẽ bị giết. Án tử hình mặc dù là kỳ quặc đã được thi hành vào tháng 6 năm 1981 tại nhà giam Leipzig, không kèn trống, theo khuôn mẫu của Xô Viết một phát súng đàng sau gáy. Án lệnh nghiệt ngã này không phải dùng để răn đe vì ngay cả các sĩ quan của tôi cùng không hay biết chuyện này. Điều này chứng tỏ cho tôi thấy não trạng lúng túng của một quốc gia đang vào thời kỳ suy sụp.

Năm trước đó, năm 1981, Winifried Zarkrzovski, bí danh Manfred Baumann, một đại úy thủy quân trong mạng lưới tình báo, đã tiết lộ tên tuổi của các điệp viên Đông Đức làm việc tại Tây Đức. Mielke rất phẫn nộ. Trong cuộc họp với các sĩ quan cao cấp năm 1982 ông kêu gọi triệt hạ những kẻ phản bội. “Những sai lầm như vậy khổng thể xảy ra vào năm thứ 32 [xây dựng đất nước Đông Đức]… Chúng ta đồng tâm nhất trí về vấn đề này. Chúng ta không tránh được sự hiện diện của kẻ khốn nạn trong hàng ngũ của chúng ta. Nếu tôi biết hắn là ai, tôi sẽ ra tay một lần cho tất cả”.

Sự bực tức này chứng tỏ Mielke không bằng lòng với sự khoan hồng của luật pháp đối với tội phản bội. Mặc dù tòa án trên danh nghĩa độc lập trong những lãnh vực này, cấp lãnh đạo vẫn có thể áp lực trong những trường hợp đặc biệt. Số mạng của Teske là kết quả của những áp lực này. Theo luật pháp Đông Đức, đương sự có thể bị hành quyết dựa trên bằng chứng là việc phản bội đã xảy ra. Trước đây đã có tiền lề trong trường hợp của một sĩ quan tên Walter Thräne đang chuẩn bị đào thoát thì bị bắt. Tòa án từ chối yêu câu tử hình hoặc ngay cả tù chung thân của biện lý cục, trên căn bản là ý định phản bội đã rõ ràng nhưng hành vi phạm tội chưa xảy ra. Vì vậy dựa trên căn bản của chính luật pháp khắt khe của chúng tôi, việc hành quyết Teske là bất hợp pháp.

Tôi không đồng ý với những lời phê bình cho rằng tôi trực tiếp trách nhiệm về cái chết của Teske. Nhưng tôi phải thú nhận là tôi đã không sớm mạnh mẽ lên tiếng phản đối để tiến trình của hệ thống luật pháp không quá gần gũi với nhà nước và có thể bị khiến dẫn theo quyền lợi của họ. Tất cả những sĩ quan Đông Đức biết là án tử hình là kết quả rành mạch của sự phản bội. Họ đã tuyên thệ khi họ nhận chức vụ đầu tiên của mình: “ Nếu tôi phản bội lời thề long trọng này, tôi có thể bị nghiem khắc trừng trị theo luật pháp của Cộng Hòa với sự khinh thường của nhân dân lao động”. Án tử hình vẫn được duy trì tại Đông Đức cho đến năm 1987.

Nhưng người ta không thể biện minh cho án tử hình khi làm gián điệp thời bình. Nhìn lại những trường hợp phản bội mà tôi được biết ở cả hai phía, tôi giám quả quyết cái chết không hẳn là biện pháp để ngăn chặn. Những động cơ thúc đẩy quyết định làm việc cho phía bên kia rất là phức tạp và thường đi đôi với mức độ tự tin và hãnh tiến khiến cho kẻ phản bội cảm thấy hiểm nguy không thể đụng chạm đến họ.

Còn về những “công tác mò tôm”, hoặc là những vụ thủ tiêu bất hợp pháp trong điệp báo vẫn còn tiếp diễn ra. Tôi không dám bạo gan liệt kê tất cả những vụ mất tích bí mật do CIA làm, vì tôi lại phải làm ngơ xóa bỏ những vụ vi phạm luật pháp của cơ quan tình báo Xô Viết. Vào thập nhiên 1950, chính quyềnBulgariavà Ba Lan nổi tiếng là những cơ quan sẵn tay nhất. Cơ quan phản gián Đông Đức cũng không vô tội, mặc dù tôi lại nhấn mạnh một lần nữa tất cả những chuyện nổi tiếng và thường được thêm thắt về những vụ bắt cóc và giết những kẻ phản bội là kết quả của việc xử dụng liều lượng quá độ thuốc ngủ trong lúc bắt cóc chứ không phải là có ý thủ tiêu.

Trên thực tế, giết kẻ phản bội là một chỉ dấu của sự yếu kém, không phải là sức mạnh, và tôi loại bỏ hành vi này ra khỏi tiêu chuẩn nghề nghiệp cũng như đạo đức của chúng tôi. Việc thủ tiêu ngoạn mục trong tiểu thuyết gián điệp là một giải pháp sơ đẳng và bất lợi so sánh vơi phương pháp chúng tôi dùng và khai thác những nguồn tin như Moitzheim làm gián điệp nhị trùng và sau đó tam trùng để có mối lợi tốt nhất. Mặc cảm tội lỗi chúng tôi có nằm trong việc khai thác các cá nhân, nhược điểm và lòng tham. Và những hoạt động này không chỉ giới hạn trong giới điệp báo Đông Đức.

*

Kuron lấy làm hãnh diện trên phương diện nghề nghiệp khi cộng tác với chúng tôi, ông thường giúp chúng tôi trong những dự án nằm ngoài những khế ước ký kết. Vì ông quá lợi ích cho chúng tôi, nên tôi thu xếp cho ông có được một số điện thoại đặc biệt túc trực đêm ngày để những thông tin khẩn cấp được chuyển ngay sang Đông Đức. Là một thành viên của Cơ quan phản gián Tây Đức tại Cologne, ông tiếp cận những công tác kết nạp cao cấp. Thông thường, ông để những diễn tiến công tác tiếp tục bình thường và thông báo cho chúng tôi, vì ông và chúng tôi cả hai đều không có lợi gây sự nghi ngờ bằng cách phá vỡ những cố gắng kết nạp của Tây Đức.

Tuy nhiên, cũng có một biệt lệ. Mười năm nay chúng tôi có tạiBonnmột điệp viên trong đảng Đoàn kết Dân chủ Thiên Chúa Giáo (CDU), đảng của Helmut Kohl. Đương sự là một bạn lâu đời của Kohl từ những bước chính trị chập chững của vị thủ tướng ở Rheinland và đã hoàn tất nhiều công việc cho công ty khổng lồ Flick, đại diện quyền lợi của công ty trong đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo kể từ năm 1981 trở đi. Ông biết tất cả những uẩn khúc của những thương lượng giữa chính trị và kỹ nghệ tại Tây Đức và là một nguồn tin đáng tin cậy trong thông tin nội bộ chính trường Tây Đức cho chúng tôi.

Một đêm, Kuron, trong lúc làm việc trong văn phòng phản gián tại Cologne, nhận được tin qua một đồng nghiệp có một người tình nghi là gián điệp Đông Đức đã bị theo dõi đi đến họp mặt với một điệp viên chính trị nằm vùng của chúng tôi tại Bonn. Cả hai đều vào một căn phòng và bị phản gián Tây Đức theo sát. Họ chuẩn bị ập vào để bắt hai người. Kuron nhận định tức thì nếu hai người này bị bắt cùng một lượt, tôi sẽ mất đi một điềm chỉ viên chính trị quý giá tại Tây Đức. Do đó ông vội vàng báo qua số điện thoại khẩn cấp mã hóa “Người của ông bị theo dõi tại Andernachstrasse”. Chúng tôi vô cùng liều lĩnh điện thoại trực tiếp đến căn phòng và dùng mật hiệu báo động cho điệp viên tẩu thoát, bằng cách dùng một thổ ngữ báo đây là số điện thoại sai.

Chúng tôi mường tượng họ sẽ đổi ca canh gác về đêm vì đội canh gác đã được đổi một lần rồi. Nếu họ ra tay bắt, chỉ có thể vào lúc sáng sớm. Vì vậy hai người tắt đèn, vờ như đi ngủ và vừa quá 12 giờ đêm, điệp viên của chúng tôi chuồn đi qua ngã hầm đậu xe và lập tức trở về Đông Đức qua ngả Thụy Sĩ. Ngày hôm sau, người nằm vùng của chúng tôi rời căn phòng và cơ quan phản gián Tây Đức chạy ùa vào cao ốc nhưng người khách bí mật đã biệt tích và không thấy một tang chứng nào về hoạt động điệp báo của người khách này.

Người nằm vùng ở Tây Đức sau này bị lộ và bị kết án tù nhẹ. Xét cách đối xử nghiêm khắc với các điệp viên nằm vùng khác, tôi đinh ninh đâu đó trong hệ thống liên lạc chính trị nội bộ củaBonn, ông có người cầu bầu sự khoan dung nhân danh cá nhân ông.

Trong vòng sáu năm, Kuron đã làm những việc giá trị cho chúng tôi. Với sự trợ giúp vô tình của đứa con trai vị thành niên của ông, ông đã tìm ra phương cách thu những tín hiệu của máy vi tính lên trên cuộn băng ghi âm của máy điện thoại hồi âm với tốc độ cực nhanh. Đây là một cải tiến trong hệ thống cũ của chúng tôi, theo đó những tiếng bíp và xoáy của những chữ mã hóa có thể bị máy của phản gián Tây Đức rất dễ nhận chân. Với hệ thống của Kuron, âm thành được phóng nhanh, vì vậy những gì tai có thể nghe được chỉ là một biến thái nhanh chóng hoặc một tiếng bíp ngắn giống như đường giây có trở ngại kỹ thuật. Ở đầu dây bên kia, thông tin được tự động chuyển vào máy vi tính để thu lên băng ghi âm và có thể giải mã khi cuộn băng được quay lại nhanh hơn vận tốc gởi đi. Kuron đi xa hơn bằng cách chuyển thông tin trực tiếp vào đĩa của máy vi tính. Chuyên viên điều nghiên chỉ cần bỏ đĩa vào máy vi tính để kiểm soát an toàn cao độ và đọc tài liệu trên màn ảnh. Việc này rút ngắn nhiều thời gian đáng kể tiến trình giải mã.

Những thành quả của chúng tôi cho đến năm 1989 cho thấy sự vượt trội kỹ thuật cũng chỉ có hữu dụng giới hạn nếu những cơ cấu cơ bản của của cơ quan không được sử dụng đúng mức. Loại kỹ thuật chuyên môn này có thể mua được, nhưng tổ chức giỏi, kỷ luật chặt chẽ và bản năng bén nhạy không thể mua được trên thị trường. Ví dụ, lý ra các đồng nghiệp của Kuron phải thấy đương sự sống cao hơn mức lợi tức của mình, càng lúc càng nhiều hơn khi năm tháng trôi qua. Khác với Aldrich Ames, Kuron rất thận trọng trong việc tiêu dùng và bịa những câu chuyện ngụy trang. Ông rất chuyên nghiệp trong phong cách ông giữ liên lạc với chúng tôi và sống một cuộc sống kỷ luật. Hơn nữa, người phụ trách về thông quá an ninh trong cơ quan BfV (Nha Bảo Vệ Hiến Pháp) tại Cologne, ông Hansjoachim Tiedge, một người nghiện rượu có rất nhiều vấn đề gia đình và nợ bài bạc, không ở tư thế để chú ý.

*

 Tôi chuẩn bị hành trang để lên đường nghỉ mát tại Hung Gia Lợi mùa hè 1985 thì chuông điện thoại reo. Cú điện thoại phát xuất từ vùngMagdeburg trên biên giới với Tây Đức. Một người tự nhận mình là Tabbert bất ngờ đến và yêu cầu được nói chuyện với một đại diện của cục tình báo hải ngoại. Qua Kuron chúng tôi được biết Tabbert chính là mã danh của Tiedge, nên tôi ra lệnh đưa y qua Bá Linh sớm chừng nào tốt chừng ấy và không hỏi gì thêm. Chợt nhớ vệ binh biên giới có chiều hướng không tiếp đón niềm nở những du khách sang Đông Đức, tôi nói tiếp là phải cho y bia và thức ăn. Karl-Christoph Grossmann, người đã thành công tiếp đón Kuron lần đầu tiên và Cục 9 của đương sự đã xâm nhập phản gián Tây Đức, được lệnh đón y tại ngã tư xa lộ trên đường đến Bá Linh để bảo đảm an ninh chặt chẽ khi đi qua thủ đô.

 Ngay từ ban đầu tôi biết đây là một mẻ lớn và Tây Đức rất muốn thu hồi viên chức an ninh then chốt này về, vì có lẽ đương sự đào tẩu trong một lúc ngẫu hứng. Đương sự được đưa vào nhà an toan tại Prenden, ở vùng quê ngoài Đông Bá Linh. Nơi trú ngụ của tôi ở vùng quê cũng nằm ở đây, và chỉ cách đó vài trăm thước là hầm boong-ke do bộ chính trị xây cất để không chết cháy nếu chẳng may Hoa Kỳ thả bom nguyên tử. Vùng này vì vậy được canh gác rất cẩn mật. Nguy cơ anh bạn mới của chúng tôi bị phía bên kia bắt cóc trở về xem ra rất khó xảy ra.

Tiedge muốn gặp tôi trực tiếp, nhưng tôi từ chối. Tôi đã chuẩn bị về hưu và , vì biết đây là một trường hợp đặc biệt có nhiều hệ lụy, tôi nghĩ tốt hơn hết là giao lại cho người kế nghiệp tôi, Werner Grossmann. Tôi lý luận Tiedge cần tín nhiệm tuyệt đối với những người y gặp đầu tiên tại Đông Đức; như vậy chúng tôi tránh thay đổi cán bộ điều khiển giữa đường.

 Người này ở trong tình trạng thảm não khi anh được thẩm vấn. Vì vóc dáng bê tha và cặp mắt đỏ ngầu của y không ai nghi rằng y là một thành viên cao cấp của cơ quan an ninh của Tây Đức. Để cho chắc ăn, chúng tôi yêu cầu y trình giấy phép an ninh, chứng nhận y là một nhân viên của Văn Phòng Bảo Vệ Hiến Pháp (BfV) tại Cologne. Đương sự tự xưng là Hansjoachim Tiedge và, với giọng cao và mệt mỏi giải thích : “Tôi tới và ở lại đây. Quý vị là cơ hội cuối cùng của tôi.” Tôi điện thoại cho Mielke báo tin vui. Ngay cả với việc đào thoát có giá trị cao này, Mielke thông thường chỉ nghĩ đến chức vị của mình và than phiền là trưởng ban an ninh tại Magdeburg đã không thông báo ngay cho đương sự và gằn giọng nói người Bá Linh “tất cả những món hàng mất và tìm lại được phải giao cho tôi trước tiên”.

Tiedge xác nhân những gì chúng tôi biết qua Kuron về đời tư thảm não của y. Y là một tay say mê cờ bạc và rượu chè. Vợ của ý chết trong một tại nạn xảy ra trong nhà sau khi hai người say rượu đánh nhau. Người ta điều tra xem có án mạng không, nhưng rồi toà tuyên phán đây là một cái chết vì tai nạn. Y có những đứa con bất kham không bao giờ tha thứ đương sự vì cái chết của mẹ chúng và y gặp khó khăn trong công việc, vì đời sống cá nhân xô bồ của y đã khiến y bị kỷ luật. Bây giờ y biết lý do duy nhất y còn ở lại cơ quan phản gián là để giữ kín những hiểu biết của y và cấp trên có thể kiểm soát y. Tất cả nhân cách của y, y nói, đã bị phá hủy. “Nếu một trường hợp như tôi được đệ trình để nghiên cứu,” đương sự suy nghĩ với một sự lương thiện đáng nể, “tôi sẽ phê đuổi y ra khỏi cơ quan tức khắc.”

Tôi trạnh nghĩ, sau này khi đọc bản báo cao, cấp lãnh đạo của một quan điều tra an ninh Tây Đức, một chức vụ đòi hỏi một cuộc sống thanh đạm, lại có một lối sống thích hợp với một nhân vật ủy mị trong tuồng kịch. Chúng tôi thấy một người đã tụt xuống hỏa ngục tâm lý đến độ chỉ còn hai lối thoát, tự vẫn hoặc đào tẩu. “Tôi không có can đảm để tự vẫn,” y nói với cán bộ thẩm vấn.

Một câu hỏi nhiều người thắc mắc Tiedge có phải là điệp viên của chúng tôi trước khi đào tẩu. Lần đầu tiên, tôi có thể khẳng định ông không phải là người của chúng tôi. Việc Tiedge chạy sang Đông Đức làm cho tôi và tất cả mọi người đều ngạc nhiên. Tôi nghi ngờ là đương sự trôi dạt về phía chúng tôi vì tình hình càng lúc càng tệ hại đối với y tại Cologne, nhưng chúng tôi không tìm cách liên lạc với y. Y tìm đến chúng tôi vào một đêm y nhảy lên xe hỏa và sang Đông Đức. Đương sự là kẻ đào thoát ngay thẳng một cách bất bình thường. Trên thực tế y là người duy nhất. Tôi chưa bao giờ gặp một ai tự mô tả mình là kẻ đào tẩu một cách thẳng thắn như vậy. Đương sự không tìm cách biện minh quyết định của mình qua những câu chuyện thay đổi ý thức hệ. Đương sự nói: “Tình hình của tôi ở nước Đức thứ hai khá hơn nước thứ nhất”.

Quả nhiên là đúng. Chúng tôi bỏ thời giờ, tiền bạc và công sức để xây dựng lại con người này từ một anh say rượu khố rách lúc anh nhảy qua biên giới. Với đôi mắt lợt lạt thất thần và quầng đen, đương sự trông giống như một con gấu panda khi y đến nhà an toàn. Chúng tôi cung cấp cho y một y tá, một bác sĩ và một huấn luyện viện thể lực. Họ giúp đương sự ngừng uống rượu và mất đi 30 cân trong một tháng. Thiếu rượu và phải triệt để kiêng mỡ, Tiedge cần được bảo bọc ở một khía cạnh nào đó và chúng tôi phát hiện y rất ham muốn nhục dục. Chúng tôi có đàn bà sẵn cho y, họ là nhưng đảng viên làm việc trong ngành an ninh trong vùng Postdam; họ được mời làm bạn với một kẻ đào tẩu và bắt đầu đi lại với y. Vì bị căng thẳng tinh thần trong lúc thẩm vấn, phần lớn đàn ông chín muồi để tỉm an nủi nơi người đàn bà. Chúng tôi lựa chọn những phụ nữ sẵn sàng chấp nhận ăn nằm với những người này.

Họ không phải là gái mãi dâm, nhưng là những phụ nữ rất thực tế, đảng viên và trung thành với đất nước, sẵn sàng làm việc này để đổi lấy cái chúng tôi gọi là lòng biết ơn của nhà nước, có nghĩa là một căn phòng tươm tất hoặc là đứng đầu danh sách chờ đợi nhà nước cung cấp xe hơi. Dù sao đi nữa, thí sinh đầu tiên của chúng tôi không chịu đựng được Tiedge. Chúng tôi kiếm một thí sinh khác, một cô giáo, và cô đã hoàn thành sứ mạng của mình, và làm cho chúng tôi nhẹ nhõm. Tiedge là một loại đàn ông đặc biệt chẳng có gì hấp dẫn và tôi suy nghĩ cô phải là một người rất yêu nước. Nhưng ngay cả những chuyện đồi bại nhất cũng có kết quả đáng khích lệ hơn chúng tôi mong đợi. Sau này hai người cưới nhau và đương lúc tôi đang viết họ vẫn còn ở với nhau.

Tiedge có trí nhớ như máy vi tính về tên tuổi và các mối liên lạc, nhờ đó điền vào chỗ trống trong hồ sơ của chúng tôi, mặc dù không nhiều như y nghĩ, bởi vì y không biết Kuron làm việc cho chúng tôi.

Việc báo giới tiết lộ sự bất hợp của Tiedge đối với cơ quan phản gián, dẫn đến sự đào thoát của y phản ánh hình ảnh xấu xa của cơ quan này. Thêm vào đó, người vừa được bổ nhiệm chức vụ giám đốc Tình Báo Liên Bang, Heribert Hellenbroich, một người bạn cũ và cấp trên của Tiedge trong cơ quan phản gián, bị buộc phải từ chức vì thiếu khả năng. Chúng vui mừng nhìn sự xáo trộn này, mặc dù sau này tôi biết Hellenboich là một trong những cấp lãnh đạo lương thiện và đáng kinh của cơ quan tình báo Tây Đức.

Tôi có phần nào thiện cảm với tình thế khó xử của ông vì không những ông có một mà hai tay nằm vùng đào hầm phá sập sự nghiệp của ông.

Sụ hiện diện của Tiedge ở Đông Đức tạo cớ cho chúng tôi để bắt Horst và Gerlinde Garau, những người Kuron đã thông báo cho chúng tôi nhưng chúng tôi chưa dám bắt vì làm như vậy chúng tôi sẽ tiết lộ chúng tôi có người nằm vùng bên đó. Theo sự hiểu biết của phản gián Tây Đức, họ đã bị Tiedge phản bội. Horst và Gerda Garau bị bắt và người đàn ông bị kết án tù chung thân vào tháng Chạp 1986. Garau được thả ra sau bốn tháng và cảnh cáo không được nói về trường hợp bắt giam của mình. Chồng của bà ta chết vào giữa năm 1988 tại trại tùBautzen. Gerlinde vẫn cho rằng tôi đã hạ lệnh giết ông chồng.

Thực ra không phải như vậy. Horst Garau là một người nhạy cảm và nhiều danh dự đặc biệt không thích hợp với những điều kiện khắc nghiệt của trại tù. Tôi chắc chắn y đã tự tử trong tù sau khi y biết rõ y không nằm trong danh sách các thí sinh gián điệp được trao đổi. Mặc dù y bị xúc động mạnh vì trường hợp của mình – y bị phản bội hai lần bởi những người y tín nhiệm trong tình báo Tây Đức – theo tôi y là một gián điệp lợi hại. Y không đáng chết, nhưng tội y phải vào tù.

Ngày 5 tháng Mười năm 1990, hai ngày sau khi nước Đức thống nhất, Kuron chay qua Đông Bá Linh để bàn thảo về tương lai của đương sự với các sĩ quan cao cấp của tôi. Lòng phản trác xuất hiện vô số kể khi thiên hạ đổ sô tìm cách cứu mạng. Một trong những sĩ quan ưu tú của tôi đã sa ngã trước lời mời mọc giúp Tây Đức truy lùng những điệp viên của chúng tôi. Đương sự là Đại Tá Karl Christoph Grossmann, chính sĩ quan này đã giúp kết nạp Kuron và tiếp đón Tiedge. Cái vòng tố giác đã hết chu kỳ của nó. Cũng người này đã được tín nhiệm để bảo vệ hai thành viện cao cấp chúng tôi kết nạp từ phản gián Tây Đức đã chính mình trở thành kẻ phản bội. Tôi nhìn những sự cố diễn ra với chút cay đắng trước sự oái oăm này.

Grossmann phản bội có nghĩa là sự nghiệp của Kuron cũng như của rất nhiều nhân viên của chúng tôi coi như chấm dứt. Kuron cũng biết điều này. Không nói một lời, y lấy lần cuối cùng sổ tiền mười ngàn Đức Mã từ một sĩ quan cao cấp và chấp nhận lời mời duy nhất mà cơ quan tình báo hải ngoại Đông Đức có thể đề nghị để bảo vệ những điệp viên của mình đang bị đe dọa, lời giới thiệu đến cơ quan tình báo KGB và cơ hội để đào thoát sang Moscow với sự trợ giúp của tình báo Xô Viết.

Vì phải lo cải thiện mối liên hệ với chính quyền Tây Đức, Liên Bang Xô Viết giúp chúng tôi rất ít. Sau khi Werner Grossmann, người kế thừa chức vụ giám đốc tình báo hải ngoại của tôi, năn nỉ dông dài và áp lực trực tiếp, cơ quan KGB chấp thuận cho tất cả các nhân viên điệp báo ưu tú của chúng tôi nếu họ muốn được tị nạn bên họ. Ban đầu Kuron chấp nhận nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến, vì y sợ rằng y sẽ không bao giờ ra khỏi được Liên Bang Xô Viết một khi anh đã vào.

Với lý lẽ trở vềCologneđể bàn thảo với vợ về lời đề nghị này, Kuron điện thoại cho ban kiểm tra an ninh của cơ quan phản gián Tây Đức và giải thích y cần bàn một chuyện mà y tế nhị cho đó là một vấn đề. Y định chơi ván bài cuối cùng. Y nói với cấp chỉ huy là y đã được tình báo KGB tiếp xúc và y chấp nhận làm gián điệp nhị trùng cho Tây Đức. Y đề nghị kể lại cho phản gián Tây Đức những gì cơ quan Xô Viết tìm cách khám phá – giống như việc y vẫn thường làm cho phía bên kia từ bao lâu nay. Một kẻ đào phản, bị áp lực như Kuron đang phải gánh chịu và phải có thay đổi tâm lý lớn để nhảy sang phía bên kia, thường có khả năng trở cở thêm lần nữa. Đây là một thủ đoạn xảo quyệt vì bị áp lực, nhưng cơ may của Kuron đã chấm dứt.

Ngay lúc y bước vào văn phòng tạiCologne, nơi y đã xây dựng sự nghiệp, y bị bắt tức khắc và bị thẩm vấn. Đêm hôm đó, tên gián điệp khôn ngoan nhất Đông và Tây Đức giơ tay đầu hàng và thú nhận, và sau này y cũng nhận tội tại tòa án, y thực sự chỉ phục vụ cho một bên, cho cơ quan Tình Báo Hải Ngoại Đông Đức. Mặc dù có những chứng liệu của Karl-Christoph Grossmann từ trong nội bộ của cơ quan chúng tôi, chính quyền Tây Đức phải mất một năm rưỡi để gom góp những tang chứng kết tội Kuron, vì sinh hoạt điệp báo của y quá rộng rãi. Cuối cùng năm 1992 y bị kết án 12 năm tù giam tại Rauschied. Y tỏ ra bất khuất cho đến cùng. Y bình luận về số phần của y: “ So với cuộc đợi đáng thương của một số người luôn phải nhìn văn phòng ảm đạm của mình suốt ngày, tôi đã sống được năm cuộc đời”.

Tiedge chạy trốn sang Liên Bang Xô Viết không bao lâu sau ngày thống nhất và sống trong một tiện nghi đơn sơ, do KGB đỡ đầu trước tiên và sau đó nhiều cơ quan có tên khác nhưng căn bản vẫn là cơ quan kế nghiệp tương tự. Có lời đồn y vẫn tiếp tục làm việc cho họ để đánh phá Tây phương, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Sau bao nhiêu chuyển đổi bất ngờ trong những năm gần đây của lịch sử gián điệp tại Đức, tôi biết nhờ thông tin với bạn bè trong các cơ quan cũ và mới của Moscow tình báo Nga có cái nhìn nghi ngại về cơ quan tình báo của cả hai nước Đức. Khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc, họ đi đến kết luận, mà cho đến này họ vẫn giữ, là không thể nào đoan quyết biết được một điệp viên Đức làm việc cho phía bên nào.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 16 (phần 1) (Markus Wolf)                   

“…Chúng tôi không bao giờ dùng danh từ “gián điệp” cho phía chúng tôi nhưng dành nó để chỉ định kẻ thù của chúng tôi. Tất cả là tấm lý ngôn ngữ cơ bản, đã thành công trong việc tạo bầu không khí trong đó các sĩ quan xem mình là người đáng kính và kẻ địch là người xảo trá…”

Chương 11

Tình Báo và Phản Gián

Nay Chiến Tranh Lạnh đã đi vào lịch sử, người ta dễ dàng kết luận Liên Bang Xô Viết là một sinh vật ghẻ lở, thiếu phối hợp, thua kém trong nhiều lãnh vực so với địch thủ muôn đời Hoa Kỳ và chắc chắn thất bại ngay từ lúc phôi thai. Nhưng trong thời gian 40 năm, xung đột giữa các cường quốc đã chi phối sinh hoạt thế giới, tình thế không đơn giản như vậy. Trái lại, Tây phương lo ngạiMoscowsẽ thực hiện được lời hứa của Nikita Khrushchev là bắt kịp và vượt trội các quốc gia tư bản. Chính mối lo ngại này là động cơ thúc đẩy sinh hoạt điệp báo và tuyên truyền ở một mức độ chưa từng thấy trong lịch sử. Hơn thế nữa, suy diễn chính trị của Tây Phương bị những thành tích hào nhoáng của điệp báo Xô Viết ảnh hưởng sâu đậm. Điệp báo và phản gián của khối Đông Âu hoạt động do động cơ lo sợ chính sách đè bẹp của Tây phương và mối đe dọa chiến tranh tinh tú của Reagan. Mỗi bên đều lo sợ phía bên kia chiếm thế thượng phong về mặt chiến lược.

 Với tư cách của một cựu giám đốc của một cơ quan được công nhận là hữu hiệu và năng lực nhất trong tình báo Cộng sản, tôi ở vị trí then chốt để đánh giá những thành quả và những thất bại của ngành điệp báo chúng tôi.

 Trong giới tình báo Đông và Tây, tôi mang tiếng là người củaMoscow trong khối Đông Âu. Điều này vừa Đúng vừa Sai. Nếu người ta nghĩ rằng mỗi sang thứ hai tôi gọi cho Điện Cẩm Linh hoặc cho KGB để thảo luận về những công tác trong tuần, người ta lầm to. Nhưng nếu họ có ngụ ý cho rằng tôi có được một mối liên hệ tín nhiệm và tương kính hỗ tương với một vài khuôn mặt ảnh hưởng nhất của Liên Bang Xô Viết từ những ngày hậu Stalin cho đến sự sụp đổ của khối Đông Âu, họ có lý. Nhờ tôi thông thạo tiếng Nga và những cội rễ tôi có tại đây trước đó và trong thời Thế Chiến Thứ 2, tôi ở một vị trí độc đáo để nhìn với cặp mắt của người bên trong và bên ngoài những tư duy của Liên Bang Xô Viết và những hoạt động của các cơ quan tình báo của họ trong suốt thời gian chiến tranh lạnh.

 Cơ quan tình báo Xô Viết đã đạt được những thành tích vẻ vang nhất tại Châu Mỹ và Châu Âu trước và sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong thời gian họ trông cậy vào Đảng Cộng Sản và giới trí thức của nhiều quốc gia, đặc biệt tại Đức và Anh quốc, và cả Hoa Kỳ. Liên Bang Xô Viết là đỉnh cao thu hút những người mến mộ vào sinh hoạt tình báo vì lòng thâm tín. Những điệp viện  được kết nạp vào lúc đó là những thành phần giỏi nhất, cung cấp cho Liên Bang Xô Viết cơ hội để bắt kịp cuộc chạy đua về vũ khí hạt nhân, và nhiều người vẫn không bị phát giác, ngay cả sau thời kỳ McCarthy và việc đào thoát của Igor Gousenko sang Canada năm 1945.

Ngay từ lúc bắt đầu, chúng tôi ở Đông Đức xem nghề tình báo là một nghề đáng kính trọng. Chúng tôi có khả năng gầy dựng trên kinh nghiêm và những huyền thoại do các điệp viên nổi tiếng đã làm việc chống Quốc Xã – Richard Sorge và các trợ tá Ruth Werner, bí danh Sonya, đã từng làm việc tại Trung Hoa, Danzig, Thụy Sĩ và Anh cho Xô Viết trong thời kỳ chiến tranh, và Max Christansen – Klausen, chuyên viên phát tuyến của Sorge; Ilse Stöbe, làm điệp báo ngay trong lòng của Bộ Ngoại Giao Hitler; và Haro Schulze-Boysen, một sĩ quan trong ngành không quân của Goering và là chỉ huy trưởng của đội Rote Kapelle (Dàn Hòa Tấu Đỏ), trông đó có Arvid và Mildred Harnack, Adam và Margarethe Kuckhoff. Chính cơ quan của chúng tôi cũng có nhiều đoàn viên kỳ cựu của phòng trào Cộng Sản thời Third Reich, chẳng hạn như các cấp lãnh đạo đầu tiên của tôi Wilhelm Zaisser, Richar Stahlmann, Robert Korb và Ernst Wollweber. Cá nhân tôi say mê những chuyện về họ và thấy cần phải giới thiệu họ cho các thí sinh mới vào, xem họ là gương mẫu trong vai trò của một nghệ sĩ điệp viên dưới chế độ vững chắc của xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi có một danh từ khá kiêu hãnh cho tất cả việc này: Traditionspflege, hay là bảo tồn truyền thống. Một phần trong sự khác biệt giữa quan điểm Đông và Tây để điều khiển một cơ quan tình báo thể hiện rõ, theo tôi nghĩ, trong ngôn ngữ chúng tôi dùng để tự mô tả. Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIA và cơ quan tương xứng Tây Đức BND, ấn định cấp bậc trên sinh hoạt dân sự, trong khi đó chúng tôi theo truyền thống của Xô Viết đặt phẩm trật dựa theo quân đội; Bộ Trưởng Bộ An Ninh có cấp bậc Tướng bốn sao và từ đó đi xuống. Chúng tôi có cả bài hát chiến trận và đoàn ca của bộ xướng lên lời thề trung thành với Lý Tưởng. Tôi dịch một trong những bài hát từ tiếng Nga tặng cho những điệp viên làm việc trên lãnh thổ ngoại quốc. Nó khởi sự bằng những câu:

Cơ Quan của chúng ta là ánh sáng

 Tên phải giữ bí mật

 Thành quả của chúng ta kín đáo,

 Luôn luôn trong tầm ngắm của địch.

Có một bài hợp xướng nâng cao khí thế các chiến sĩ trong mặt trận vô hình, một câu gây xúc động trích từ lời của các Chekist, nhân viên mật thám đầu tiên của Lênin. Chúng tôi không bao giờ tự gắn cho chúng tôi cái tên gián điệp nhưng là Kundschafter, một người tốt, một danh từ của người Đức theo Luther có nghĩa là người cung cấp tin tức. Chúng tôi không bao giờ dùng danh từ “gián điệp” cho phía chúng tôi nhưng dành nó để chỉ định kẻ thù của chúng tôi. Tất cả đây là tấm lý ngôn ngữ cơ bản, nhưng đã thành công trong việc tạo bầu không khí trong đó các sĩ quan một cách tự nhiên xem mình là người đáng kính và kẻ địch là người xảo trá.

 Tôi phải lưu ý khiá cạnh quân đội chỉ là thứ yếu so với khiá cạnh ý thức hệ, nhưng Tây Âu không đi sâu vào việc xây dựng những huyền thoại. Theo như tôi biết những cơ quan tình báo như CIA, MI6 của Anh và phần lớn các cơ quan khác của Tây Âu đều có chung một nhãn quan ảm đạm về nghề nghiệp và cá nhân mình. Tôi không muốn nói là họ không chuyên nghiệp – còn lâu tôi mới có ý như vậy – nhưng họ được khuyến khích để họ không tự hào là hấp dẫn hoặc có gì đăc biệt mà họ chỉ là những con ong thợ, thu thập tin tức để cho những đầu óc cao kiến khác quyết định. Có lẽ chúng tôi đã đi quá xa trong chiều hướng đối nghịch bằng cách đưa cơ cấu quân đội và mức độ nghiêm chỉnh cao về tác phong cá nhân và tình thần đạo đức vào tổ chức. Nhưng nó tạo một nên tinh thần gắn bó mãnh liệt, căn bản hỗ trợ cho lòng trung thành; nếu không có lòng trung thành không có một cơ quan tình báo nào có thể vận hành được.

 Tôi tin chắc ít ai trở thành một kẻ phản bội chỉ vì tiền mà thôi. Cơ quan CIA luôn có khuynh hướng dùng tiền để kết nạp đối tượng, và KGB cũng không ngần gại làm việc tương tự. Đặc biệt tại Hoa Kỳ, KGB không thể nào kết nạp đủ điệp viên có lòng thâm tín và họ phải dùng đến tiền. Trong những năm cuối, những thành quả lớn nhất của họ, cao điểm là vụ Aldrich Ames, là những người gia nhập vì tiền, không phải là những điệp viên kết nạp qua một kế hoạch xâm nhập một định chế, một phương thức cơ quan chúng tôi thường dùng lúc đầu trong thời đối tượng điệp viên tiềm năng còn là sinh viên.

 Đối với những điệp viên như Klaus Kuron trong cơ quan phản gián Tây Đức, lẽ cố nhiên chúng tôi chi tiền đầy đủ, nhưng đây là điều ngoại lệ chứ không phải là nguyên tắc thông thường. Các cán bộ kết nạp Xô Viết khôn ngoan hơn nhận biết trong lúc tìm những điệp viên tiềm năng ở phương Tây, họ phải ghi nhớ là luôn có những yếu tố khác đan chen vào. Một trong những yếu tố này là điều mà tôi gọi là sự hấp dẫn tình dục của Đông Âu. Ở đây tôi không ám chỉ các cô gái mãi dâm và các phim video mát mẻ đôi khi được cung cấp để giúp các vị khách giải trí qua giờ, nhưng là lòng hăm hở của các vị khách cảm thấy được đón tiếp và ăn mừng ở phiá bên kia Bức Màn Sắt. Lâu lâu chúng tôi tổ chức những cuộc thăm viếng vô tích sự nước Đông Đức hoặc ngay cả Liên Bang Xô Viết cho những người chúng tôi chọn kết nạp, bởi vì những cảnh tượng không quen thuộc (lẽ cố nhiện chúng tôi đã chọn lựa kỹ), có khuynh hướng làm mủi lòng những người Tây Âu dễ ám thị.

 Tôi có lần dùng đến phương pháp này để kết nạp một đảng viên cao cấp của Đảng Dân Chủ Xã Hội Tây Đức có mã danh là Julius. Đương sự là chủ nhiệm của một tờ báo địa phương và là một người có địa vị tương đối cao, có nhiều mối liên lạc, trong số đó có Willy Brandt và những khuôn mặt lãnh đạo khác của đảng ông. Đương lúc tôi nghỉ hè trên một chiếc tàu đi câu cá trên sông Volga, đồng thời lúc đó đương sự được mời đi một vòng thăm viếng trạm máy phát điện Xô Viết và tham quan Stalingrad, nằm trên sông Volga. Biết được tính đương sự thích phiêu lưu, tôi mời Julius lên một chiếc thuyền đi sông, và chúng tôi xuống thuyền và thăm viếng một ngôi nhà nhỏ của công nhân và ăn cháo cá. Bầu không khí lúc đó chan hòa trong tình hữu nghĩ và lòng hiếu khách. Tôi làm thông dịch viên trong khi đó Julius hỏi về đời sông, gia đình và trận chiến Stalingrad – người này là một trong những người chiến đấu bảo vệ Stalingrad – và nói về tình hình chính trị và kinh tế. Anh công nhân chỉ trích chính quyềnMoscow và chúng tôi thảo luận về những thất bại của chế độ xã hội chủ nghĩa. Tính cách thẳng thắn này gây ấn tượng nơi Julius. Ngày hôm sau, chúng tôi đi thăm một biệt thư đăng được chuẩn bị để đón tiếp Tổng Thống Eisenhower, nhưng ông không bao giờ đến. Tôi ký tên trong sổ lưu niệm với toàn bộ danh vị của tôi Trung Tướng Markus Wolf, điều này khiến cho Julius cảm thấy bất an vì tên của ông ta nằm cạnh tên tôi.

 Nhưng một chuyến nghỉ hè nhỏ sâu trong lòng đất địch đã giúp đương sự vứt bỏ mối lo sợ vì đã giúp Liên Bang Xô Viết gìn giữ hòa bình thế giới, như chúng tôi kêu gọi. Nó cũng gây cho đương sự những cảm giác khoái trá vượt qua cấm kị. Đương sự trở thành nguồn tin chính trị trong đảng của y, và do đó chúng tôi tài trợ để giúp văn phòng riêng của ông, một loại quỹ đen không lạ gì với các nền dân chủ phương Tây.

 Tôi thường nói với các đồng nghiệp Nga: “Các anh không dùng vũ khí tối hảo của các anh. Các anh cho họ xem nhà máy phát điện, nhưng không cho xem người. Những người này có thể sinh sống trong những căn nhà nghèo nàn, nhưng nó đánh động người ngoại quốc hơn bất cứ điều gì khác”.

 Chúng tôi rập theo kiểu mẫu tình báo Xô Viết và trong những ngày đầu họ là thầy dạy chúng tôi về tình báo hải ngoại. Khởi sự vào thập niên 1950 chúng tôi qua Moscow để gặp các giám đốc tình báo hải ngoại trong Tổng Cục 1 và để được giám đốc KGB chỉ dẫn chi tiết. Khi trở về nước chúng tôi không còn hoài nghi gì về những vị chủ nhân, họ xem chúng tôi như những con chốt nằm ngoài biên cương của một đế quốc hãnh tiến.

 Việc học tập của chúng tôi diễn ra trong căn phòng khách tại Kolpachny Pereulok, trước đây thuộc về Viktor Abakumov, kẻ hung ác đứng đầu hệ thống khủng bố SMERSH tác giả những vụ thủ tiêu các kẻ thù giả và thật của Stalin thời Đệ Nhị Thế Chiến. Abakumov bị bắn sau khi Lavrenti Beria chết năm 1953.

 Được xây cất theo kiểu hùng vĩ tiền Cách Mạng, tòa nhà ba tầng có nhiều phòng, một cầu thang máy, lò sưởi ấm, và một phòng tắm lớn lót gạch cẩm thạch và một bồn tắm cũ lớn.Tủ đựng bát đĩa trong phòng ăn chứa đầy bộ xứ và ly pha lê, và có một bàn ăn hình trái xoan trên đó có đèn treo thấp; chúng tôi ngồi ở đó để bàn về chính sự thế giới với các chủ nhân. Cửa sổ có treo những tấm màn dày. Nhà này có một tủ sách quý giá gồm những tác phẩm cổ điển Nga (ít khi dùng đến), một phòng bi-da, một phòng chiếu phim; tòa nhà được xem như một vật kỳ diệu ngay cả đối với các viên chức cao cấp của KGB vì họ yêu thích sự pha trộn sở thích trưởng giả cổ với xa xỉ tầm thường của kẻ mới giàu. Người ta được biết Abakumov đã đích thân tra tấn các tù nhân và bắt chước thói của Beria bắt cóc những cô gái xin đẹp ở ngoài đường phố, đem họ về nhà rồi hiếp. Bao nhiêu cảnh kinh hoàng đã xảy ra trong những căn phòng này, nơi mà chúng tôi đương giải trí hoang toàng? Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, phòng thông tin của Cơ Quan Tình Báo Nga được đặt tại đây.

 Viktor Semyonovivh Abakumov

Mielke thích được các bạn Xô Viết chiều chuộng trong khung cảng hùng vĩ trong khi đó tôi thích du ngoạn thành phố hơn là vào ở các ngôi dacha ấm cúng tận rừng sâu, khiến tôi nhớ lại thời thơ ấu. Mielke chưa hề thoát khỏi nỗi bất an của kẻ mang gốc gác thợ thuyền. Y muốn tôi ngủ cùng phòng với y vì y cảm thấy cô đơn – hoặc có thể y sợ cảnh giới xung quanh. Về đêm, ông bạn đồng hành của tôi ngáy to như sấm, báo hiệu cho một tuần lệ không lấy gì làm thoải mái.

 Sau năm 1953, mối quan hệ với KGB bị tắc nghẹn do những xáo trộn trong nội bộ cấp lãnh đạo Xô Viết sau cái chết của Stalin và việc hành quyết tên đao phủ thủ của ông, Lavrenti Beria.

Sergei  Kruglov, kế vị Beria, được Ivan Serov thay thế và Serov có nhiệm vụ thiết lập cơ cấu tình báo Xô Viết tại Đông Đức:  Văn phòng đồ sộ KGB tại Bá Linh, việc cài đặt tất cả những đại diện của KGB trên tất cả các quận của Cộng Hòa Liên Bang Đức, và thiết lập Cục Quân Báo to lớn tại Postdam. Serov chủ trương để cho CHDCĐ tự quản lý độc lập tình báo và phản gián của mình. Tôi gặp ông lần đầu trong một hội nghị của các đại diện cơ quan tình báo khối Đông Âu vào tháng Ba năm 1955. Ông luôn mặc quân phục, ngay cả ở bề ngoài và trong tư tưởng và diễn văn của ông, ông luôn yêu cầu tất cả mọi người dồn mọi nỗ lực để đánh kẻ thù chung là Hoa Kỳ. Người anh đỡ đầu Xô Viết của tôi là Alexander Panyushkin, cựu đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn và sau này là người trách nhiệm liên lạc các viên chức ngoại quốc của Trung Ương Đảng.

 Có một lần tôi đi một vòng xe ngựa qua khu rừng săn bắn dành riêng cho Bộ Công An tại Wolletz, cách Bá Linh 40 dặm, cùng với Serov và sĩ quan thường trú KGB tại Bá Linh, Aleksandr Korotkov. Korotkov đã hoạt động trước thời chiến với bí danh « Erdmann », người điều khiển Dàn Hòa Tấu Đỏ tại Bá Linh. Họ trò chuyện với nhau hồi tưởng lại thời đồng chí chiến đấu dẹp tan cuộc nổi loạn tại Hungary. Nghe họ nói chuyện, tôi có cảm tưởng rất nhiều cấp tướng của KGB đã tham dự vào cuộc đàn áp này.

 Serov được Aleksandr Shelepin thay thế và Shelepin chỉ tại vị được ba năm cực nhọc (vào thời gian này, đương sự đã tán đồng việc ám sát lãnh tụ khuynh hướng quốc gia Ukraine Stepan Bandera tại Munich và đích thân gắn huy chương cho điệp viên đã thi hành việc này). Là một con người cao ngạo và nhiều tham vọng, Shelepin đã bị khai trừ vì đã ủng hộ một cuộc đảo chánh bất thành nhằm lật đổ Khrushchev năm 1961 và được Vladimir Semichastny thay thế. Đương sự là một người dễ mến và thân thiện, đức tính trông mong của một người đã từng lãnh đạo Komsomol, cánh thanh niên của Đảng.

Mặc dù hiền từ, Semichastny có đầu óc bén nhạy, một người lý tưởng cộng sản cao đã bước nhanh chóng lên những cấp bậc của cơ quan KGB và khôn khéo uốn theo chiều gió khi Krushchev bị hạ bệ năm 1964 và Leonid Brejnev lên thay thế. Semichastny luôn bị ám ảnh lo sợ hệ thống tư tưởng cộng sản bị ô nhiễm ngay trong nội bộ các văn nghệ sĩ của Xô Viết; ông là người đã tổ chức việc tố khổ Boris Pasternak với tiểu thuyết Dr. Zhivago. Ông không chú ý đến tình báo hải ngoại, ông giao việc này cho Aleksandr Sakharovsky và Sakharovsky được nhiều người trong đội ngũ kính trọng cũng như bản thân tôi kính trọng ông. Sakharovsky đối xử với tôi như một người con, chiếu theo tuổi tác.

 Tôi cố gắng tách rời cơ quan tình báo hải ngoại của chúng tôi với những “thái quá công tác” của các cơ quan điệp báo ở Đông Âu; họ cũng trông theo KGB để được hướng dẫn. Mặc dù những hình ảnh rập khuôn vẫn được các phim ảnh và tiểu thuyết gián điệp đề cập đến, bạo lực thân xác là một ngoại lệ chứ không phải là một quy luật. Tôi không nghĩ hai bên có ý định ám sát đối thủ và phần lớn những người bị giết là vì tai nạn sau khi đã nhận được một liều thuốc gây mê quá mạnh, thường xảy ra trong những vụ bắt cóc. Những vụ chết như vậy đã được phương Tây khai thác để trơ trẽn tuyên truyền, những trang thời sự trắng đen của thập niên 1950; quả thật như vậy, chúng tôi thường thấy những cái chết đó trên báo chí phương Tây vì họ không có những loại sự cố như vậy để huyênh hoang tự phụ.

 Điều này không có nghĩa là chúng tôi đôi lúc không mạnh bạo trong phương pháp của chúng tôi. Cơ quan tình báo hải ngoại, vì được hòa nhập vào Bộ Công An vào giữa thấp niên 50 và chiếu theo kiểu mẫu Xô Viết, dính liền với phản gián qua nhiều đường dây. Ví dụ, nếu Cục 20 của Bộ Công An, trách nhiệm về văn hóa, chú ý đến một “phần từ phản động – tiêu cực” – dùng theo ngôn ngữ phản gián – và nếu chúng tôi thấy tên của người láng giêng người này nằm trong hồ sơ của tình báo hải ngoại HVA, anh ta hoặc cô ta được dùng để thông tin và báo cáo về người này, bao lâu điều kiện an ninh cho phép. Cụm từ mập mờ “phản động – tiêu cực” được áp đặt lên bất cứ cá nhân chống đối, bất đồng, hoặc bất đồng phần nào với chính sách của cấp lãnh đạo. Đây là một trong những dụng cụ tồi tàn nhất của Stasi để bắt bớ. Nếu cơ quan tình báo hải ngoại HVA nhận được thông tin về những sinh hoạt và đường dây liên lạc của các văn sĩ Đông Đức sống ở ngoại quốc, thông tin này được cung cấp cho cơ quan phản gián. Về phần chúng tôi, chúng tôi nhận được từ cơ quan phản gián những thông tin về những mối liên lạc của công dân Đông Đức với Tây Đức.

 Những trao đổi thông tin như vậy là thủ tục thông thường trong khối Đông Âu, cũng như Tây Âu. Có một vài người cho rằng việc cơ quan tình báo hải ngoại cộng tác với cục phản gián của Bộ Công An biến tôi thành công cụ giám sát và đàn áp công dân Đông Đức của Bộ. Tôi không dám nói là không liên quan gì đến những vụ đàn áp, nhưng sự phân cách tương đối nghiêm ngặt trong Bộ có nghĩa là cơ quan của tôi rõ rệt không dính líu gì đến những sinh hoạt phản gián nội bộ. Cơ quan HVA luôn luôn là cơ quan tình báo hải ngoại, và mặc dù chúng tôi hợp tác trên phương diện hành chánh với cơ quan phản gián, bản thân chúng tôi chưa hề tổ chức những vụ bắt bớ hoặc kết án nào cả. Tuy nhiên, chúng tôi biết rõ những gì đang xảy ra và những phương pháp hung bạo của phản gián. Vào những thời gián cuối trong sự hợp tác giữa cơ quan HVA và cục phản gián của Bộ Công An, việc dùng bạo lực là một ngoại lệ chứ không phải nguyên tắc, không có sĩ quan nào ra lệnh hoặc tán thành việc này. Tuy nhiên đã có những biện pháp đem ra áp dụng để phá vỡ và ham dọa những nhóm đối lập và hậu quả tâm lý có lẽ cuối cùng gây thiệt hại hơn bất cứ một cuộc tra tấn thể xác nào.

 Những phương pháp như vậy, khó hình dung về chiều sâu và có tính chất tinh vi bỉ ổi, được dùng để đánh phá khoa học gia Robert Havemann. Là một đảng viên Cộng Sản kiên cường đã bị kết án tử hình thời Hitler và được quân đội Xô Viết giải thoát từ cùng một tù với Erich Honecker, Havemann, vào cuối thập niên 1960, chỉ trích công khai đường lối lãnh đạo của Cộng Hòa Dân Chủ Đức và yêu cầu cải cách dân chủ hệ thống chính trị trì trệ của chúng tôi. Ngôi nhà nhỏ của ông tại Grünheide, gần Bá Linh, bị bủa vây và phong tỏa giống như căn cứ địa của kẻ thù. Tất cả thân nhân trong gia đình, mọi vị khách đến thăm đều bị giám sát bởi các điềm chỉ viên, những người này bao bủa mọi sinh hoạt của họ, và những lời vu cáo được tung ra để bôi nhọ các bà vợ, kể cả những câu chuyện bịa đặt về những mối tình vụng trộm. Một cựu nhân viên trong cơ quan của tôi tên là Knut Wallenberger được cài vào nhóm đòi hỏi dân chủ của Havemann để gây áp lực và khuynh đảo họ.

 Robert Havemann, 1960

Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng một cách có hệ thống cho thi sĩ và ca sĩ Wolf  Biermann, một người bạn của Havemann và cũng là thành viên của nhóm dân chủ của ông. Sau khi đi trình diễn một vòng Tây Đức, ông không được phép trở về CHDCĐ và bị tước một cách bất hợp pháp quyền công dân của mình.

Karl Winkler, một thi sĩ trẻ và cũng là một ca sĩ mến mộ Havermann và Biermann, bị bắt với những tội danh giả tạo “công khai gièm pha” năm 1979 và bị đày sang Tây Đức sau một phiên tòa kết tội anh. Anh cho phát hành một quyển sách mô tả cách tra tấn tâm lý trong lý ở tù; chúng tôi làm quen với nhau – có lẽ làm bạn với nhau – sau năm 1989, khi tôi xuất hiện trong một cuộc tụ tập tại Alexanderplatz để đòi hỏi cải cách. Anh đến ủng hộ tôi trong thời gian tôi ra tòa vào hè năm 1993. Năm sau, Winkler bị chết đuối ở biển Địa Trung Hải và cho tới nay không ai biết rõ trong trường hợp nào.

Tất cả mọi nhà tù phá hủy nhân cách con người, nhưng một phần lớn tùy thuộc người điểu tra sơ khởi và bản chất của cai ngục sau khi phiên tòa kết thúc. Tôi được các nhân viên của tôi cho biết về cách tra tấn tâm lý dùng biệt giam, những ai đã phải chịu cách hành hạ này trong các nhà tù phương Tây. Tôi chưa bao giờ thấy nhà tù Đông Đức, nhưng tình trạng tại đây thông thường chắc chắn là tồi tệ. Những lời tường thuật của Winkler về 13 tháng tra vấn và giam giữ của bản thân anh trước khi bị tống xuất là một minh chứng ngột ngạt về việc coi thường nhân cách của tù binh, một kinh nghiêm mà tất cả các tù binh đều chia sẻ. Sau này anh tổ chức những chương trình viếng thăm Bộ Công An và nhà tù của bộ, và hai chúng tôi hiểu nhau và quý mên những ưu tư của nhau.

 Nghe được những trải nghiệm của Winkler, một lần nữa tôi cảm thấy xấu hổ vì mặt trái đen tối của cái Bộ mà tôi đã từng giữ chức vụ cao cấp bấy lâu nay. Tôi cũng không có cảm giác khác khi tôi gặp Walter Janka, một đảng viên Cộng Sản kỳ cựu và là bạn đồng hành của cha tôi. Ông kể cho tôi nghe việc ông bị truy tố và giam giữ sau biến cổ nổi dậy năm 1956, sau đó ông bị giam vào nhà tù nổi tiếng Bautzen. Tháng 12 năm 1989, Janka và tôi chủ tọa Đại Hội Đảng và cố gắng muốn biến Đảng Đoàn Kết Xã Hội thành một đảng dân chủ xã hội. Tôi giúp soạn thảo một bản tường trình về những tội ác của chủ thuyết Stalin và quá khứ của chúng tôi, ngỏ lời xin lỗi với nhân dân CHDCĐ. Những năm sau đó, tôi và người kế vị Werner Grossmann luôn nhắc nhở cơ quan chúng tôi không thể trốn trách nhiệm và những vụ đàn áp nội bộ, và chúng tôi xin được thứ lỗi.

 Việc cơ quan công an nhà nước dùng võ lực để đối phó với các công dân bất đồng chính kiến, hoặc những ai tìm cách rời bỏ quê hương mà mình không còn mến yêu không khác gì việc chà đạp lên lý tưởng của các vị sáng lập nên chủ nghiã cộng sản. Do đó, cơ hội để cải cách đã bị bỏ lỡ, và trách nhiệm và tội lỗi của chúng tôi do khiếm khuyết vẫn còn là một gánh nặng ray rứt cho đến ngày nay.

 Tôi tuyệt đối chống những hành vi bạo lực khủng bố tinh thần và xâm hại đến tâm lý, nhưng điều này lại không được áp dụng cho những cơ quan “bạn”. Một hôm, tôi nhận một cú điện thoại của giám đốc trưởng phòng tình báo Bulgari tại Bá Linh yêu cầu chúng tôi phái đến một bác sĩ đáng tin cậy để giữ bí mật để giúp họ trong một  “vụ khó khăn”. Khi được gạn hỏi y chỉ trả lời “Chúng tôi đang chuyên chở hàng hóa nhưng e rằng nó hư hỏng rồi”.

 Không bao lâu tôi được biết là nhóm Bulgari đã đánh thuốc một người mà họ đã “bắt cóc” và không cân nhắc liều thuốc. Một bác sĩ đáng tin cậy có mối dây liên lạc với cơ quan tình báo có nghĩa là đương sự không dễ gì bị chấn động. Vào khoảng một giờ sau đến tòa Đại Sứ Bulgari, anh ấy điện thoại cho tôi. “Quá muộn”, “Bọn điên này cho anh kia một liều mạnh có thể giết một con ngựa. Họ trói và đem nhốt người này trong thùng xe. Không có không khí, lại chích cho y một liều thuốc cực mạnh. Một hỗn hợp với kết quả dễ tiên đoán”.

 Anh nhân viên tình báo Bulgari điện thoại trở lại, lần này giọng nói run rẩy. Vì đã vô ý giết một kẻ đào tẩu, có thể là họ đã bắt cóc người này ở Tây Đức để đem về Sofia để tra khảo, đầu của anh Bulgari hiện nay bị đặt trên thớt.

 “Có thể nào chúng tôi để lại món hàng cho quý vị được không?”, anh ta nan nỉ. Tôi trả lời “Chắc chắn là không được “.

 Chúng tôi đôi co một lúc và cuối cùng trình việc này lên Mielke. Mielke quyết định thi thể này thuộc thẩm quyền của Bulgari. Chúng tôi sua đuổi chiếc tàu chở hàng buồn bã này lên đường trước khi cái xác kia khô cứng lại.

 Hình như tôi khó lòng thuyết phục người khác là tôi không dùng những phương pháp này. Tuy nhiên, những giải thích và phương pháp làm việc của chúng tôi trong những trường hợp đã được trình bày trong quyển sách này cho những người tin hoặc chỉ muốn tin rằng James Bond là con người thật thấy rằng chúng tôi không cần chơi trò “bẩn thỉu” và thuốc ngủ để điều khiển một cơ quan tình báo hữu hiệu.

 Nhưng tôi vẫn biết, ngay cả sau khi Stalin đã chết, các ông Xô Viết vẫn còn một ban tiếp tục khai triển phương pháp thủ tiêu kẻ thù của mình một cách quái gở. Ngay trong nội bộ KGB sự hiện hữu của ban này là một bí mật được giữ thật kín. Ngoài việc ám sát Bandera với viên đạn tẩm độc, KGB còn ám sát người đào tẩu Truchnovich, người đứng đầu tổ chức xuất ngoại Nga trong Liên Đoàn Công Nhân, tại Bá Linh, khi họ tìm cách bắt cóc ông. Một nhân viên KGB được phái đi khắp khối Đông Âu tìm khách mua những loại hàng như độc tố thần kinh bất khả phát hiện và thuốc độc ngoại da để đổ lên núm cửa. Món hàng duy nhất tôi nhận của hắn là một túi “thuốc sự thật”, mà y khoe là “vô địch” với lòng hón hở của một anh chào hàng tư gia. Mấy năm nay nó vẫn nằm trong tủ kín của tôi. Một hôm vì tò mò, tôi nhờ một bác sĩ đã được cẩn thận chọn lọc đem chất này đi phân tích. Ông ta trở lại lắc đầu kinh hãi: “Dùng những thứ này mà không có y sĩ theo dõi có nhiều cơ may là người ông muốn khai thác sự thật sẽ lăn đùng ra chết trong khoảnh khắc”. Chúng tôi không bao giờ dùng “thuốc sự thật”.

 Nhưng cái chết luôn luôn là một rủi ro bất kể quý vị ở phía bên nào. Giá phải trả của một người bị phát hiện phản trác lúc mới bắt đầu Chiến Tranh lạnh thường là hành quyết sau khi bị xét xử. Nạn nhân đầu tiên tôi nghe nói đến là một phụ nữ tên Elli Barczatis, thư ký của Thủ Tướng Đông Đức Otto Grotewohl.

Grotewohl đã từng là đảng viên Dân Chủ Xã Hội trước khi đảng SPD và nhóm Cộng Sản xuất hiện ở Đông Đức năm 1948, và các đồng nghiệp SPD cũ ở Tây Đức vẫn hy vọng ông rời bỏ nhóm Xô Viết và tách rời ra khỏi đảng lãnh đạo Đông Đức. Tây Đức bám sát ông rất kỹ, nhưng vì ông tỏ ra lãnh đạm, họ chuyển sang cô thư ký của ông. Cô Barczatis bị một nhân viên tình báo Tây Đức dẫn dụ và, sau này được biệt trong lúc thẩm vấn, được biết cô có bí danh là “Daisy”. Theo sự hiểu biết của tôi, đây là lần đầu tiên sau Đệ Nhị Thế Chiến phương pháp Romeo được cả các cơ quan tình báo của cả hai phía dùng để dẫn dụ một người thân cận với một khuôn mặt chính trị hợp tác với kẻ thù.

 Số phận của Barczatis trở nên hẩm hiu vì trường hợp của cô xuất hiện trước công chúng ngay sau khi Julius và Ethel Rosenberg bị xử tử vì tội gián điệp, tiết lộ tài liệu nguyên tử của Hoa Kỳ. Trò chơi trong nghề gián điệp, cũng như trong nhiều phương diện khác của Chiến Tranh Lạnh, là sòng phẳng. Cô bị kết án tử hình và bị chém đầu tại Frankfurt-an-der-Oder ở biên giới Ba-Lan.

 5/4/1951, vợ chồng Julius và Ethel Rosenberg

Trong bầu không khí chính trị này, tôi không thể nào không biết ngay từ lúc đầu chò trơi này đã trở nên gay go. Tôi không dám nói là tôi không biết những hung bạo của cuộc sống trong nước chúng tôi; những vụ bắt bớ tùy tiện và những mối lo sợ xâm chiếm các cấp chỉ huy Cộng Sản trong thập niên 1950 cảnh báo cho tôi biết không ai có thể tránh những tội quy phản bội.

 Tình hình thay đổi hoàn toàn và có chiều hướng tốt hơn khi Andropov làm giám đốc KGB năm 1967. Cuối cùng đây là khuôn mặt tôi ngưỡng mộ, không kiểu cách và không can dự vào những mưu chước nhỏ nhen mà các vị tiền nhiệm mắc phải. Ông không có thái độ hống hách của phần đông các viên chức Xô Viết vì họ thường tự cho mình là một đế quốc lớn bất khả xâm phạm. Khôn ngoan hơn tất cả mọi nhân vật lãnh đạo ởMoscow, ông nhận biết việc can thiệp quân sự vào Hungari năm 1956 và sau này vào Czechosloavkia năm 1968 là một chỉ dấu yếu kém hơn là sức mạnh. Ông không muốn những biến cố như vậy tái diễn lại. Andropov nổi bật hơn các bậc tiền nhiệm và các người kế nhiệm nhờ những đức tính chính trị và nhân bản của mình. Viễn kiến của ông vượt xa những người này. Ông hiểu những khía cạnh chính trong chính sách nội bộ và ngoại giao, những vấn đề ý thức hệ và lý thuyết, nhu cầu phải thay đổi và cải cách cơ bản, nhưng ông cũng nhận biết những rủi ro và những hệ lụy.

 Lần đầu tiên tôi gặp gỡ Yuri Andropov và nói chuyện sâu sát với ông là vào năm 1968, không bao lâu sau khi quân đội Nga dẹp tan mùa Xuân Praha. Ông đã thu xếp để viếng thăm Đông Đức mùa hè năm đó, nhưng cuộc viếng thăm đã được dời lại vì những biến chuyển ở Prague. Trời đã sang Thu khi ông đến gặp chúng tôi và chúng tôi vẫn còn bàng hoàng vì những gì đã xảy ra và do dự không biết phải nói năng như thế nào cho thích hợp. Trong tất cả những buổi tiếp tân của nhà nước tôi đã tham dự, buổi tiếp tân này để lại ấn tượng trong lòng tôi. Chúng tôi ăn tại một trong những tòa nhà của Bộ ở phía Bắc quận Pankow vùng Đông Bá Linh. ( Trong những năm đầu, cấp lãnh đạo Đông Đức tất cả sống tại đây trong một phạm vi chật hẹp, san sắt bên nhau, sau đó vì vấn đề an ninh họ phải di chuyển ra khỏi thành phố để đến ở khu dinh thự Wandlitz vào thập niên 1950.)

 Nhà tiếp khách ở Pankow là một biệt thự, đã được lựa chọn với con mắt ngoại giao, trang bị đầy đủ và sang trọng vừa đủ để bày tỏ sự kính trọng đối với các vị quan khách mà không quá lộng lẫy vượt lên trên những trình diễn trong phầm ẩm thực mà các bạn Xô Viết dành cho chúng tôi. Những vị khách phía bên Đức là Erich Mielke, mười một sĩ quan cao cấp của Bộ Công An và tôi. Không khí buổi tiếp tân đêm đó thật là thoải mái, một cách để tỏ lòng tôn kính đối với Andropov trong những thay đổi ông đã đem lại cho tổ chức. Nỗi lo sợ canh cánh – hiện diện trong thập niên 1950, mười năm đã qua mặc dù Khrushchev đã giảm thiểu sự căng thẳng nhưng vẫn còn dấu ấn của Stalin – đã tan biến. Andropov giữ phong cách và, không như nhiều người đồng hương của ông, vẫn còn văn minh sau một vài chung. Quý vị có thể thấy mọi người đều thở phào nhẹ nhóm. Đây là một cuộc họp mặt chỉ toàn là đàn ông. Ngay cả những người chiêu đãi cũng là đàn ông được lựa chọn từ danh sách đặc biệt những người chiêu đãi đáng tin cậy nhất trong Bộ.

 Câu chuyện xoay qua tình hình củaCzechoslovakia, mà tôi tiên đoán thể nào cũng được nói đến. Mielke suốt đời luôn bị ám ảnh vì nhóm Dân Chủ Xã Hội Đức mà ông trách cứ là “chệch hướng ý thức hệ” trong phong trào chủ nghĩa xã hội. Ông thấy buổi cơm tối này là một cơ hội để xả xú-báp và gây ấn tượng với vị khách của chúng tôi, bày tỏ tinh thần đoàn kết với Liên Bang Xô Viết trong quyết tâm dập tan phong trào cải cách tại Prague. Ông đứng dạy và nói về nhu cầu ngăn chặn “đà suy thoái” do ảnh hưởng của nhóm dân chủ xã hội, lúc đó đang ngự trị trong giới cải cách tại Prague.

 Mọi người gật gù tán thành. Sau đó Andropov nói: “Đây chưa phải là toàn bộ vấn đề”, ông nói, một cách thiện cảm nhưng cứng rắn. “Chúng ta có hai lựa chọn: can thiệp quân sự, việc này sẽ làm hoen ố thanh danh chúng ta, hoặc là để Czechoslovakia tự chọn con đường của mình, với tất cả những hậu quả sau này cho Đông Âu. Đây là một lựa chọn không có gì lý thú”.

 Andropov cầm ly lên và uống một ngụm nước lạnh, cả bàn đều im lặng, tất cả mọi người đều chú ý nhìn ông.

 “Chúng ta phải nhìn vào tình thế của mỗi một nước và xem xét những căng thẳng và nguyên do của những giằng co từ đâu ra. Chính quyền (Cộng Sản) mới sẽ gặp rất nhiều khó khăn tại Czechoslovakia. Còn về phần các nhóm Dân Chủ Xã Hội, tôi nghĩ chúng ta phải cẩn thận xem xét mối liên hệ của chúng ta đối với họ và ở các nơi khác họ có một tầm vóc nào không”.

 Những điều cấm kỵ vừa mới được vứt bỏ làm cho mọi người nín thơ. Để khởi đầu, ông gạt sang một bên những phân tích có tính cách giáo điều ý thích hệ về việc can thiệp thay thế vào đó việc xét nghiệm những vấn đề nội bộ của một nước. Lời bình luận của Andropov còn có ngụ ý là các đảng viên Cộng SảnCzechoslovakia đã chậm chạp không nhận ra quy mô rộng lớn của sự phản đối và công việc cần phải làm để cải thiện tình hình. Ưu tư của Andropov về số phần của giới lãnh đạo mới trực tiếp đi ngược lại với đường hướng chính thức, vẫn cho rằng đám đông quần chúng tuân thủ luật pháp cảm thấy sung sướng thấy trật tự đã trở lại và đảng Cộng Sản đã nắm vững trở lại quyền hành. Và những lời bàn sau đó của ông, cổ võ những mối liên hệ với tất cả khối Dân Chủ Xã Hội, chỉ trích thoáng nhẹ mối hận thù thâm căn giữa cấp lãnh đạo Đông Đức và cánh đảng tả lớn mạnh nhất của Tây Đức. Người ta cũng tiên đoán điều này, vì năm kế tiếp đó, nhóm Dân Chủ Xã Hội Tây Đức phát động phong trào Ostpolitik để tìm hiểu Đông Đức rõ hơn. Ông Andropov gây ấn tượng nơi tôi vì ông đã mạnh dạn xác định được vai trò chúng tôi đang mong đợi nơi ông và qua lối nói chuyện thẳng thắn tại một diễn đàn thông thường chỉ là lời nịnh bợ và giáo điều. Hứng khởi vì thái độ của ông, chúng tôi rót thêm rượu vào ly.

 Dịp này cũng không ngăn cấm Mielke tiếp tục tuyên bố những lời lẽ thái quá. Cho đến mãi thập niên 1970, ông vẫn tiếp tục ăn mừng Stalin và yêu cầu “tung hô ba lần người gương mẫu và nguồn cảm hứng của chúng ta” với một cử tọa càng lúc càng chán ngấy. Ông cũng ám chỉ một cách lộ liễu là Liên Xô đã phạm một sai lầm lớn khi muốn tránh xa những thành quả của Stalin. Nhưng lẽ cố nhiên ông chỉ nói trong nội bộ. Khi người Xô Viết có mặt, đó lại là một chuyện khác.

 Không như các vị tiền nhiệm, Andropov chú trọng đến chính sách ngoại giao và tình báo hải ngoại. Ông cũng thay đổi cơ cấu quản lý của KGB và lập ra một hệ thống có nhiều trách nhiệm hơn. Trong những công tác hải ngoại, ông mau chóng nhận biết cách làm việc từ xưa tới nay đem cài đặt các điệp viên vào các tòa đại sứ, các phái bộ ngoại thương và những các phái đoàn khác đại diện cho Liên Bang Xô Viết không phải là một phương thức tốt để hoạt động. Tôi biết, do chính những cố gắng bất thành của tôi nhằm điều khiển các điệp viên từ Tòa Đại Sứ của chúng tôi tại Washington, rất khó rời khỏi tòa đại sứ mà không có một nhân viên FBI bám đuôi, mặc dù những năm sau này tôi gặp Ivan Gromakov, trước đây là nhân viên thường trú của KGB tại Washington, và ông vẫn cho rằng sự canh chừng của FBI dễ phát hiện và chưa bao giờ là một trở ngại cho công việc ông tiếp xúc với các nguồn tin của ông. Một bất lợi khác trong công tác núp dưới bóng ngoại giao là nguy cơ bị trả đũa trục xuất ngoại giao, có nghĩa là tất cả những nhân viên tình báo thường trú tại Tòa Đại Sứ hoặc có chức vụ tương tự có xác xuất cao bị tống xuất ra ngoài trong những đợt trục xuất quanh năm. Các tòa đại sứ Liên Bang Xô Viết đày tràn những loại điệp viên này nên có một năm Anh Quốc đã trục xuất tất cả là 105 người tình nghi là điệp viên nằm trong Tòa Đại Sứ Liên Bang Xô Viết tại Luân Đôn. Lề lối của Andropov chuyển sang dùng các nhân sự bất hợp pháp (đưa một điệp viên xâm nhập lãnh thổ địch với căn cước giả, giấy giả và một lý cơ bao biện cho sự hiện diện của mình tại đây), góp phần cải tiến ngành điệp báo, xem ra không được các cán bộ tán thành, vì họ muốn được sự hỗ trợ của cơ chế.

 Việc chuyển đổi dùng các nhân viên bất hợp pháp là một thực tế mà chúng tôi phải ép buộc tuân theo vì nhu cầu. Bởi vì nước CHDCĐ không được các nước phương Tây thừa nhận trên mặt ngoại giao cho đến khi Hiệp Ước Cơ Bản được ký kết với Tây Đức, chúng tôi trong mọi trường hợp không thể nào có được hào phóng để dùng các Tòa Đài Sứ như những căn cứ gián điệp và chúng tôi dùng « đường dây bất hợp pháp » (chúng tôi dùng cả cú pháp của đội Bolshevik xưa). Andropov xem xét kỹ lưỡng phương pháp của chúng tôi và đi đến kết luận có ít điệp viên được hưởng tiện nghi của một cuộc sống có định chế và nên gởi các điệp viên bất hợp pháp ra ngoài nhiều hơn để họ tự xoay sở.

 Ông nghiên cứu kỹ lưỡng sự phát triển của tình báo Đông Đức và yêu cầu tôi cung cấp những ví dụ cụ thể về phương thức điều khiển điệp viên. Tôi cảm thấy hãnh diện được ông hỏi và tôi vui vẻ làm việc này.

 Chúng tôi không bao giờ cung cấp cho nhau tên của các điệp viên. Quy tắc thứ nhất của truyền thống điệp báo có từ thời khởi đầu đường hướng của đảng Cộng Sản cách mạng, và đó là một người chỉ được tiếp cận những gì người đó cần biết. Cách ngăn cấm tế nhị này phòng hờ sự khiển trách lẫn nhau trong trường hợp có kẻ phản bội, phòng hờ cơ quan nọ khiển trách cơ quan kia.

 Việc Andropov tiếp nhận những thông tin nằm ngoài KGB cũng cho thấy ông cảm nhận được mối tương quan thực sự giữa các nhân viên ngoại giao và các sĩ quan tình báo trú ngụ tại Tòa Đài Sứ để kiểm chứng những báo cáo chính thức. Phong cách đôi lúc hống hách của KGB khiến cho những lúc làm việc giữa các vị đại sứ và ủy viên thường trực của KGB rất cằn thẳng trong nhiều tòa đại sứ. Điều này càng rõ nét hơn nữa vì tài lực của KGB dồi dào hơn ; họ luôn được tài trợ đầy đủ, và các nhân viên sắm sửa được xe cộ cho bản thân, trong khi đó chỉ có các nhà ngoại giao cao cấp của Xô Viết mới có xe riêng mà thôi ; các nhân viên ngoại giao khác bắt buộc phải tùy thuộc vào đội ngũ xe của tòa đại sứ. Những oái ăm nay không những là nguồn gốc tạo nên lòng bất mãn, nó cũng giúp cho các cơ quan phản gián ngoại quốc phát hiện những điệp viên của KGB làm việc ẩn núp dưới danh nghĩa ngoại giao.

 Về ảnh hưởng chính trị rộng lớn của Andropov, tôi được biết ông là người khởi xướng nhiều ý kiến cải cách mà sau này Gorbachev nhận là của ông. Ông nhìn nhận một trong những nguyên nhân kinh tế của Xô Viết tụt hậu quá xa so với phương Tây là vì chỉ huy tập trung và sự tách biệt hoàn toàn giữa khu vực quân sự và dân sự. Những đầu tư to lớn của chính quyền trong những tập hợp công nghệ quân sự tại Hoa Kỳ và các nước tư bản tiên tiến có thể nhờ các công ty tư nhân biến cải thành những tiến bộ dân sự lợi ích trong ngành kỹ thuật cao chẳng hạn như ngành hàng không phản lực và máy vi tính. Nhưng tại Liên Bang Xô Viết, việc tôn sùng bí mật đã tạo nên một sức cản không thể dứt ra được, như các bộ trưởng của CHDCĐ có thể chứng nhận do kinh nghiệm bản thân với các bộ liên quan đến quân đội của Xô Viết. Khi tôi đề cập những vấn đề này với Andropov, ông nói với tôi ông đang cố gắng đem đường hướng suy nghĩ này ra áp dụng trong các ủy ban ông đã thành lập với các chuyên viên dân sự và quân đội có nhiệm vụ phải học hỏi từ những so sánh giữa hai hệ thống kinh tế đang tranh đua. Andropov công nhận tình báo là một dụng cụ quan trọng để học hỏi phía bên kia để cải tiến hệ thống xã hội chủ nghĩa và tâm trí sẵn sàng xem xét những đường hướng khác của ông tương phản với sự trì trệ xung quanh ông. Ông suy tưởng đến khả năng “con đường thứ ba” dân chủ xã hôi do Hungari đề xướng và một vài nhóm tại CHDCĐ, và ngay cả trong thời kỳ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, mà ông có phần trách nhiệm trong đó, ông ta kín đáo bàn thảo về những kinh nghiệm của Hungari trong bối cảnh đa nguyên chính trị cũng như bối cảnh tự do kinh tế.

 Tôi vẫn thường tự hỏi ông Andropov có thể làm được những gì nếu ông sống được mười năm tại chức thay vì một vài năm sống đau yếu. Chắc chắn ông sẽ không làm những gì Gorbachev làm. Ông tỏ ý hy vọng có thể chuyền hóa sở hữu xã hội chủ nghĩa sang thị trường tự do cũng như cởi mở chính trị, và chắc chắn những bước tiến đi đến cải cách sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng.

 Yuri Vladimirovitch Andropov

Khi làm việc với các nước xã hội chủ nghĩa khác, Andropov không bao giờ ra vẻ kẻ bề trên theo kiểu cách của Brezhnev, người tiền nhiệm, hoặc Chernenko, người kế nhiệm. Vyacheslav Kochemassov nhớ lại khi ông được bổ nhiệm làm đại sứ Xô Viết tại Bá Linh, Andropov nói với ông: “Chúng ta cần một vị đại sứ mới ở nước CHDCĐ, chứ không phải một ông thống đốc thuộc địa”. Chấm dứt lề thói phong liêu đế quốc cũ của Nga có thể nào đưa đến việc cải cách thành công xã hội chủ nghĩa đó vẫn còn là một vấn đề tranh cãi.

(xem tiếp phần 2)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 16 (phần 2) (Markus Wolf)                 

“…Nếu chúng ta mở tất cả các van khóa ngay lập tức, và quần chúng bắt đầu bày tỏ những nỗi bất bình, mọi việc sẽ đổ dồn vào và chúng ta không có phương tiện để ngăn chặn sự việc này…”

Có lẽ những hồi ức này giúp soi sáng những mâu thuẫn mà Andropov cho phương Tây thấy. Người ta quảng cáo ông là một tự do trong phòng, ngay cả là một người mến chuộng jazz – nhưng những nhà nghiên cứu thấy điều này khó dung hợp với việc đối xử tàn bạo với các người bất đồng chính kiến. Nhưng họ lầm. Tôi có thể làm chứng là ông chắc chắn mong muốn cải cách, nhưng nó sẽ không đến theo kiểu dân chủ của phương Tây, mà ông cho là hỗn loạn. Những cải cách của Andropov được áp đặt từ trên xuống, với tất cả những giới hạn đi theo. Nhưng tôi tin rằng những cải cách như vậy theo một đường hướng chừng mực hơn và có cơ thành công hơn.

 Sự kiện tôi ái mộ ông Andropov không có nghĩa là tôi luôn luôn theo đường hướng của ông, nhất là khi tôi tìm cách dàn xếp trao đổi gián điệp với Günter Guillaume năm 1978. Tôi nghĩ rằng chính quyền Bonn sẽ chỉ đổi Guillaume với một nhân vật tầm cỡ của phiá bên Xô Viết. Điều này sẽ làm họ rạng danh vì họ sành điệu trong trò chơi ngoại giao, và một số các điệp viên Tây Đức được thêm vào danh sách để chuyện đổi trác có phần nhẹ nhàng cho tiêu thụ nội bộ. Trong lúc tôi nguệch ngoặc những tên tuổi khả dĩ đem trao đổi trên một phong bì, tôi thấy mấu chốt – và là vấn đề  –  chính là Anatoly Sharansky. Hay đúng hơn, nỗi ám ảnh của điện Cẩm Linh đối với ông.

 Anatoly Sharansky

Giống như nhà đạo đức và tác giả tố cáo Gulag (tù) Alexandr Solzhenitsyn và nhà khoa học và bất đông chính kiến Andrei Sakharov, cha đẻ của bom hạt nhân và sau này trở thành người tranh đấu cho nhân quyền, ông Sharansky, trong vòng năm năm nhờ phát động phong trào nhân quyền cho người Do Thái đã trở thành một đối tượng tôn kính trong giới bất đồng chính kiến. Đây là một vấn đề uy danh cũng như may mắn trong việc gặp gỡ đúng nơi đúng lúc các ký giả có cảm tình – có hăng trăm người bất đồng chính kiến khác cũng dấn thân như vậy nhưng không ai để ý đến tại Liên Bang Xô Viết. Vì đã thành công nên ông viện sĩ nhút nhát này đã trở thành đối tượng thù ghét cá nhân cao độ trong KGB lẫn cả Đảng. Tôi biết theo kinh nghiệm của tôi trong việc đối phó của Moscow đối với các kẻ nội thù, việc này thường xuất phát từ một quyết định muốn tống khứ cá nhân khuấy nhiễu này; Solzhenitsyn bị đem lên máy bay để đưa sang Đức ; Sakharov đã bị (do chính tay Andropov) đi đày nội xứ tại Gorky. Tại sao lại không tống khứ luôn Sharansky? Nhưng Andropov không theo lối lý luận này.

 Ông nói “Đồng chí Wolf có biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tung ra tín hiệu này không? Người này là một tên gián điệp [Andropov nghĩ rằng Sharansky dính líu với CIA], nhưng quan trọng hơn nữa, y là người Do Thái, và y lên tiếng cho người Do Thái. Có quá nhiều nhóm đã bị đàn áp trong nước chúng ta. Nếu chúng ta chấp thuận bước đầu căn bản này cho người Do Thái, người nào sẽ là kẻ kế tiếp? Người Đức ở vùng Volga? Người Tartar ở vùng Crimea? Hoặc có thể là nhóm Kalmuck hay Chechen?”.

 Ông đề cập đến những nhóm sắc tộc do Stalin lưu đày xa xứ trong một chiến dịch nhằm nhổ tận gốc những mầm mống chống đối dứt họ khỏi cội rễ địa lý. Cơ quan KGB có một danh từ hành chánh mà tôi chưa bao giờ nghe nói đến để gọi các nhóm này : kontingentirovannye. Kontingent ám chỉ “những thành phần”, hoặc nhưng hạng, quần chúng không đáng tin cậy. Những “thành phần” này được xem như những kẻ thù tiềm tàng bất mãn, và Andropov đưa ra một con số tổng kết kinh hãi là tám triệu năm trăm ngàn người.

 “Chúng ta không thể bất cẩn tìm cách giải quyết tất cả những vần đề này trong lúc thời buổi khó khăn này”, ông nói tiếp “Nếu chúng ta mở tất cả các van khóa ngay lập tức, và quần chúng bắt đầu bày tỏ những nỗi bất bình, mọi việc sẽ đổ dồn vào và chúng ta không có phương tiện để ngăn chặn sự việc này”.

 Đây là con người thẳng thắn của Andropov mà tôi được biết, đoạn tuyệt với những lối giải thích ôn hòa và sai trái của giới lãnh đạo cũ, ông nói huỵch toẹt lý do tại sao Liên Bang Xô Viết kiến quyết trong vấn đề nhân quyền: lo sợ – sợ tiềm năng xung đột do di sản của Stalin để lại, di sản những kẻ thù tiềm tàng ngay trong nước. Sharansky có thể trở thành ngọn cờ đầu không những cho nhóm Do Thái tại Liên Bang Xô Viết, nhưng cho hàng hà sa số các kontingentirovannye.

 Ngày nay không có bằng chứng cho thấy Sharansky có liên hệ với CIA, nhưng Andropov nhất quyết cho rằng đương sụ dính líu. Ông không có lý do gì để nói láo sự việc này, nhất là đối với tôi. Nhưng vượt lên trên những mối liên hệ điệp báo, mối ưu tư chính của Andropov nằm ở nơi khác, và tôi rất kinh ngạc ông đã công khai đề cập đến những vấn đề sắc tộc tiềm tàng. Andropov tiếp tục nói : “Đương sự sẽ cầm cờ cho tất cả dân Do Thái. Những chống phá thái quá nhắm vào người Do Thái của Stalin đã khiến cho những người này rất hận chính quyền Xô Viết và họ có những bạn bè thế lực ở ngoại quốc. Chúng ta không cho phép việc này xảy ra trong lúc này”. Ông cũng rất thẳng thắn về đà suy thoái của Liên Bang Xô Viết, khởi đầu vào lúc ông, nhắc đến cuộc gặp gỡ của chúng tôi cách đây mười bốn năm, xác định cuộc xâm lấn Czechslovakia năm 1968.

 Tôi cố gắng nhiều lần thuyết phục Andropov chấp nhận trao đổi Sharansky nhưng lần nào tôi cũng thất bại. Andropov bực bội mỗi lần nghe đến tên người này, và ông trở nên nóng nảy và la hét: “Hắn là một tên gián điệp, có vậy thôi”. Và cuộc đối thoại chấm dứt tại đây.

 Cuối cùng bệnh tình của Guillaume (giống như Andropov, anh bị bệnh suy nhược thận) đã cho phép ông rời tù nhanh hơn. Chính quyền Tây Đức phải chấp nhận tính toán, cho dù họ không muốn tỏ ra khoan hồng, họ không được lời gì nhiều trong cuộc trao đổi với một xác chết. Thêm vào đó, Erich Honecker, sau khi kế nghiệp Ulbricht, bắt đầu chú ý đến vấn đề này và ra tín hiệu cho Helmut Schmidt biết phải có một động thái nào đó nếu không ông sẽ giới hạn việc trao đổi tù binh và đoàn tụ những gia đình phân ly vì đất nước chia đôi.

 Tôi gặp lại Andropov năm 1980 khi tôi bay sang Moscow với Mielke để trao huy chương cho các sĩ quan lãnh đạo KGB nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập bộ của chúng tôi. Cả hai bên đều rất trân trọng những nghi thức này, KGB và các cơ quan tình báo trong khối Đông Âu, và đạt tới mức độ tiên đoán hỗ tương: họ trao tặng huy chương cho chúng tôi nhân dịp những ngày kỷ niệm của họ, chúng tôi đáp lễ tương tự trong những dịp lễ của chúng tôi. Điều này được lập lại khắp khối Đông Âu và không ai có thể nhớ hết con số huy chương các cấp lãnh đạo KGB nhận lãnh. Một người thợ may đặc biệt làm việc tại tổng tham mưu KGB để đảm bảo các sĩ quan đeo huy chương đúng theo quy cách trong mỗi một dịp. Dịp này Andropov nhận một huy chương vàng đánh dấu ba mươi năm hợp tác hữu nghị với bộ của chúng tôi. Ông đang ở bệnh viện nhưng ông nhận huy chương tại đây. (*)

 (*)Lần cuối tôi gặp Andropov, năm 1982, thiểu não hơn nhiều. Tôi bay sangMoscow để tham dự một cuộc họp các cấp lãnh đạo tình báo hải ngoại của khối Đông Âu.Tuy nhiên khi tôi đến nơi, tôi được thông báo bệnh trạng cấp tính không cho phép Andropov đến tham dự cuộc họp. Tôi là người đầu tiên biết thực trạng sức khỏe yếu kém của ông. Tôi được đưa đến gặp ông tại Bệnh viện Cẩm linh đặc biệt tại Kunzevo, một khoảnh thành phố canh gác cẩn mật, nơi Stalin trước đây dùng để nghỉ hè. Vị trí phòng vệ của bệnh viên không cho phép người ngoài nhìn vào bên trong. Trong đó, Andropov có cả một căn phòng dành riêng cho ông, có phòng ngủ và phòng chữa trị ngăn cách bởi một hành lang dài chan hòa ánh sáng, có trang bị máy ghi hình an ninh. Phiá đối diện là phòng làm việc và phòng tiếp khách. Ông trông vẻ xanh xao và mệt mỏi. Tôi đứng chờ ở ngoài với người phụ tá của Andropov, Vladimir Kryuchkov, trong khi đó Andropov đích thân nói chuyện riêng với Mielke. Không ai nói rõ căn bệnh của ông, và cũng không ai nói mức độ trầm trọng của căn bệnh. Tất cả những gợi ý về bệnh tình sắp chết của ông tổng thứ ký là điều cấm kỵ. Sau một vài phút im lặng, Kryuchkov hỏi tôi có giới thiệu được một bác sĩ chuyên khoa tiết niệu giỏi nào không, và vội vã nói thêm bệnh tình của cấp trên lẽ cố nhiên là một bí mật tuyệt đối.

 Năm 1980 là một năm khó khăn trong mối bang giao Xô Viết – Hoa Kỳ. Viện cớ việc Xô Viết trải dàn các tên lửa di động SS-20 tại phía Tây nước Nga và Đông Đức cần phải có biện pháp đề phòng, NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương) đã quyết định vào cuối năm 1979 dàn trải các phi tiễn hạt nhân trên bốn nước Châu Âu, trong đó có Tây Đức, nếu việc tháo gỡ các tên lửa không được thương lượng trong vòng 2 năm tới, vào tháng 12 năm 1981. Việc này sẽ đưa những tên lửa có tiềm năng đánh phá phần lớn các thành phố lớn Châu Âu nằm sát ở hai biên giới Chiến Tranh Lạnh. Bây giờ hạn kỳ đã chấm dứt và tình hình giữa hai nước Tây và Đông Đức xem ra đen tối. Một vài nhà bình luận đem so sánh tình hình này với những thời gian trước khi xảy ra Đệ Nhất Thế Chiến năm 1914, khi chiến tranh đang đe dọa và chỉ một bước sai lầm là chiến tranh bùng nổ. Nhóm bảo thủ cho đây là một trò hù dọa của nhóm tả phái, nhưng tôi biết Helmut Schmidt cũng có những so sánh lịch sử tương tự như vậy với một phái viên của Honecker.

 Lúc đó nỗi lo sợ xung đột hạt nhân thấm nhập xâu đậm vào tâm trí mọi người. Trong lúc đối thoại riêng với Günter Mittag, cố vấn kinh tế của Honecker và là người trung gian thường xuyên qua lại giải quyết công vụ giữa hai nước Đức, Schmidt than phiền áp lực của Washington lên Tây Đức và nói thêm: “Mọi sự đều thoát khỏi tầm tay. Chúng ta phải thường xuyên giữ liên lạc”. Ông nói lòng hoảng hốt có thể gia tăng mau chóng, nhưng Honecker có thể tin rằng nước Cộng Hòa Liên Bang Đức đáng tín nhiệm. “Chuyện điên rồ không thể xảy ra bên phía Tây Đức”, ông kết luận. Nói cách khác, trong khi các cường quốc chơi trò chiến tranh của họ, chúng ta người Đức cần phải thương lượng với nhau và giữ thái độ khiêm tốn.

 Andropov nghĩ rằng Hoa Kỳ đang có nỗ lực để đánh đổ sức mạnh lấn áp hạt nhân của Xô Viết. “Đây không phải là lúc chúng ta tỏ ra yếu kém”, ông nói, viện dẫn lời của Tổng Thống Carter, của cố vấn Zbigniew Brzezinski và của Ngũ Giác Đài là trong một vài trường hợp Hoa Kỳ có thể biện minh việc sử dụng vũ khí hạt nhân để ra tay tấn công trước Liên Bang Xô Viết. Andropov cũng băn khoăn về những thất bại gia tăng của quân đội Xô Viết trong việc đương đầu với phiến quân Hồi giáo toàn nguyên tại A-phu-hãn, và tôi thử hỏi suy nghĩ của ông về tương lai của chiến dịch này. Ông chỉ nói: “Bây giờ, chúng ta không thể lùi được nữa”.

 Những lời bỉ báng nhất ông dành cho Thủ Tướng Schmidt, vì ông Schmidt đã chấp thuận chiến lược thương lượng song hành của NATO đồng thời lập kế hoạch dàn trải các tên lửa hạt nhân di động tại Tây Đức. “Con người này hai mặt” ông than phiền. “Nhưng y thực sự ngả theo Hoa Kỳ. Chúng ta không nên có những tiếp xúc cấp cao với loại người như vậy”. Tôi đoán chừng điều này liên tưởng đến lần đối thoại riêng trước đây với Mielke về những mối liên hệ giữa Erich Nonecker và Schmidt, nhiều khi Xô Viết không được biết đến, một nguyên do quanh năm gây phiền lòng cho họ.Moscow về cơ bản không tin tưởng những cởi mở giữa Đông và Tây Đức mà chính sách Ostpolitik chủ trương và họ muốn kiểm soát mọi cố gắng sáp lại gần nhau. Andropov và Bộ Trưởng Ngoại Giao Andrei Gromyko đặc biệt không muốn Honecker thăm viếngBonn. Tình hình quốc tế càng căng thẳng bao nhiêu, Honecker và Schmidt cả hai càng cố gắng cải thiện mối liện hệ cá nhân bấy nhiêu. Họ liên lạc với nhau trên một đường giây điện thoại đặc biệt, trong khi đó Tây Đức mua tự do cho một loạt không ngừng các tù binh Đông Đức, gương phản ánh tình trạng của mối liên hệ. Do những nguồn tin tình báo của chúng tôi tại Bonn, chúng tôi biết lòng trung thành của Tây Đức đối với NATO bị thử thách hết sức vào lúc đó. Schmidt đã tự đưa mình vào một vị thế khó khăn bởi vì ông là người đầu tiên khơi mào vấn đề quốc phòng của Châu Âu sau khi Moscow và Washington đã thương lượng với nhau để hạn chế các lực lượng tên lửa hạt nhân trên đầu các quốc gia Châu Âu. Bây giờ lời kêu gọi của Carter tẩy chay Thế Vận Hội Moscow là giọt nước làm tràn bờ ly. Điều này gây phân cách trong chính phủ vốn đã chia năm sẻ bảy, và chúng tôi được một nguồn tin trong SPD thông báo là ông có thể thắng bằng cách đe dọa từ chức nếu việc tẩy chay không được thông qua. Qua những nguồn tin từ các văn phòng chính yếu tại thủ đô Tây Đức, chúng tôi thu thập mức độ bực mình của họ dưới áp lực của Hao Kỳ. Chính sách cứng rắn của Hoa Kỳ đối với Moscow ép buộc ông phải hủy bỏ một cuộc viếng thăm Đông Bá Linh đã hoạch định trước. Mặc dù vậy ông tiếp tục suy nghĩ về việc duy trì mối liên hệ giữa hai nước Đức hơn là theo trò chơi của các siêu cường. Ông nhất quyết thẳng thừng hủy bỏ chuyến viếng thăm Đông Bá Linh, chứ ông không tìm cách gài Honecker vào một tình thế ép Đông Đức phải thu hồi lời mời.

 Cơ quan của tôi có trách nhiệm thông báo cho Moscow vị trí đề nghị và những chi tiết kỹ thuật của các phi tiễn Pershing II và Cruise của Hoa Kỳ đã được cài đặt năm 1982 nếu các cuộc thương thuyết thất bại. Thực ra, tôi biết nhiều về chiến lược hạt nhân của Hoa Kỳ hơn là việc dàn trải tên lửa của Xô Viết tại Đông Âu, phần lớn là do nguồn tin chính của chúng tôi tại NATO, ông Rainer Rupp. Vị trí của các phi tiễn di động SS-20 được cẩn thận giữ bí mật ngay cả đối với chúng tôi, mặc dù chúng tôi là đông minh gấn gũi nhất của Moscow – và phần lớn những phi tiễn tuyến đầu, dù gì đi nữa , cũng nằm trên lạnh thổ của chúng tôi. Sự hống hách của Xô Viết làm cho rất nhiều người Đông Đức trung kiên cảm thấy bực bội và muốn xa cách. Các nhân viên trong cơ quan của tôi được mời gọi chỉ để tham dự những tập trận đặc biệt để chuẩn bị ứng phó bài bản bức thiết nhất là NATO ra tay tấn công trước.

 Dàn phóng tên lửa Pershing di động

Vì chương trình tái trang bị vũ khí của Hoa Kỳ và nhóm hiếu chiến của ông Reagan thắng thế, các bạn Xô Viết của chúng tôi bị ám ảnh bởi nguy cơ Hoa Kỳ tấn công bằng phi tiễn hạt nhân, mà họ đặt cho một tên tắt là RYAN, từ câu Nga Raketto yadenoye napadeniye. Cơ quan tình báo hải ngoại HVA được lệnh truy cứu và phát hiện tất cả những kế hoạch của Tây Âu nhằm tấn công bất thình lình, và chúng tôi thành lập một đội và một trung tâm xem xét tình hình đặc biệt cũng như những trung tâm tham mưu khẩn cấp, để làm việc này. Đội ngũ này phải trải qua huấn luyện quân sự và tham dự những tập trận báo động. Như phần đông trong giới tình báo, tôi thấy những trò chơi chiến tranh này là một lãng phí thời giờ nặng nề, nhưng những lệnh này không thể bàn cãi được cũng như những lệnh khác từ trên đưa xuống. Tôi không tin có thể xảy ra chiến tranh nguyên tử ở Châu Âu, mặc dù tôi nghĩ sự xung đột giữa hai hệ thống đối địch sẽ gia tăng trên bình diện chính trị, kinh tế và các bình diện khác. Đông thời, tôi càng thêm nghi ngờ các vị lãnh đạo chính trị ở cả hai bên có thể hiểu và hành động theo những biến chuyển đang diễn ra trên thế giới. Tôi bắt đầu tìm phương cách chấm dứt sự nghiệp tình báo của tôi và quay sang nghề viết, nhưng những áp lực mỗi lúc gia tăng trong công việc của tôi trong một bầu không khí đương đầu mãnh liệt khiến tôi cứ phải dời quyết định này.

*

Mặc dù Moscow rầm rộ tuyên truyền, tôi vẫn biết Liên Bang Xô Viết trước đường hướng mạnh bạo của Hoa Kỳ yếu thế hơn nhiều so với những gì họ rêu rao. Các cuộc thương lượng SALT II (ldg : Strategic Arms Limitation Treaty = Hiệp Ước Giới Hạn Vũ Khí Chiến Lược) về việc giải giới giữa Brezhnev và Nixon đã cho tôi thấy rõ. Tuy nhiên, chúng tôi không phòng bị việc Jimmy Carter đắc cử tồng thống ; những hồ sơ tiên khởi về ông chỉ có một ít thông tin về ông ngoài việc mô tả ông là một nhà nông sản xuất đậu phộng không tiếng tăm. Tôi lấy làm an ủi là các nguồn tin tình báo từ Bonn báo cáo là Tây Đức cũng không biểu lộ một điều gì đối với vị tổng tham mưu trưởng mới này. Nhưng khi Carter tuyên bố ngân sách quốc phòng $157 tỷ Mĩ Kim để trang bị các tên lửa MX và Trident, tên lửa Cruise, các tiểm thủy đỉnh nguyên tử nhiều hơn và một lực lượng dự bị mười một ngàn người, phản ứng của Moscow là hoảng hốt khá rõ. “Chúng ta không thể đánh lại bọn họ với số tài khoản này”, một chuyên gia cao cấp về chiến lược nguyên tử Xô Viết tâm sự với tôi. “Nhờ Trời chúng ta giỏi trong các lãnh vực khác”.

 Vào lúc này, những dị biệt trong chính sách giữa Đông và Tây Đức không còn nữa, độc lập với các bậc thầy Moscow và Washington. Herbert Wehner, người quản lý hậu trường quốc hội và có ảnh hưởng lớn trong đảng cầm quyền Dân Chủ Xã Hội tại Bonn, bị hụt hẫng vì chính sách hạt nhân của Hoa Kỳ nên đã cố gắng giữ liên lạc không để đứt đoạn giữa Bonn và Đông Đức. Nhờ tay của phụ tá của Wehner, Karl Wienand, chúng tôi có được một tài liệu mật do chính Wehner viết cho thấy mức độ bất tín của ông đối với những ý đồ của Washington. Wehner không dè dặt chút nào trong lời chỉ trích: “Cơ quan CIA đã tán phát con vi khuẩn gây chiến tranh giữa hai nước Đức. Đây không phải là chuyện bịa đặt. Bom trung hòa tử đã được nhắm sẵn vào Ruhr và Bá Linh. Tôi chia sẻ những hoài nghi của Schmidt về Carter. Không phải vì ông này có những ý đồ đen tối, những vì ông có khả năng thử nghiệm mọi biến thể. Phương pháp này có thể đưa đến sai lầm rất dễ dàng”.

 Như đã đề cập trước đây, tôi nghĩ Wehner biết mối liên hệ của người phụ tá với Đông Bá Linh. Sự vỡ mộng của ông đối với chủ nghĩa cộng sản ngăn cản không cho phép ông trở thành nguồn cung cấp tin tức trực tiếp cho chúng tôi, nhưng ông vui vẻ cho chúng tôi biết điều này, bất chấp những rủi ro chính trị cho bản thân ông, ông sẽ thông báo cho Đông Đức nguy cơ hạt nhân dù nhỏ đến đâu đi nữa để bảo toàn quyền lợi của nước Đức.Wehner sau này phát triển liên hệ với nước Công Hòa Dân Chủ Đức qua trung gian của luật sư trao đổi gián điệp Wolfgang Vogel. Cuối cùng, tôi nghĩ Wehner tin tưởng Honecker hơn là những cấp lãnh đạo của chính đảng của ông. Chúng tôi được các đường dây liên lạc bên Tây Đức mách bảo Wehner đã để lại chỉ thị đem những tài liệu cá nhân của ông cất giữ bên Đông Đức sau khi ông chết.

 Cùng vào lúc đó, cũng như chúng tôi bị dao động vì những thay đổi khó hiểu trong chính sách của Hoa Kỳ, bản chất thay đổi của chính sách ngoại giao Xô Viết trong suốt thời kỳ này đã gây nên một số vấn đề cho chúng tôi. Honecker chưa kịp thích nghi với chính sách Ostpolitik mới và chuyển sang hướng suy diễn phóng khoáng hơn về nền dân chủ xã hội của Tây Đức, thìMoscow báo hiệu cho chúng tôi phải ngưng. Những câu hỏi của sĩ quan liên lạc Xô Viết thân thiết với tôi, Vladimir Budakhin, đặt ra cho tôi cho tôi thấy, mặc dù có những lần cụng ly và những lời nói ấm áp, mối liên hệ giữa Moscow và Đông Bá Linh phải chịu số phận bi đát hiểu lầm nhau. Trong việc xây dựng một xa lộ giữa Hamburg và Bá Linh trên lãnh thổ của chúng tôi, việc khai thông kinh đào giữa Đông và Tây Đức, hoặc là những thương lượng mậu dịch với các công nghiệp to lớn Krupp hoặc Hoechst của Tây Đức, người Xô Viết luôn luôn đặt câu hỏi và lên tiếng phản kháng. Thông thường kết quả là dời ngày thêm một lần nữa cuộc gặp gỡ mong ước bấy lâu nay giữa Honecker và Schmidt.

 Lòng vẫn ôm ấp kiểu cách tôn sùng cá nhân theo khuôn mẫu của điện Cẩm Linh, Honecker mang ảo tưởng ông có thể giải quyết những vấn đề như vậy một mình. Khi ông biết qua Wehner những mối liên lạc mật giữa Xô Viết và Bonn mà Đông Bá Linh không hề được thông báo, ông chỉ vỏn vẹn nói: “Họ không thể quyết định được gì nếu không có chúng ta”. Lịch sử chứng minh đây là sai lầm lớn nhất của ông.

 Tôi cũng phạm phải một lỗi lầm to lớn vì đã coi nhẹ những hệ quả sự lệ thuộc toàn diện của chúng tôi vào Liên Bang Xô Viết. Mối liên hệ lâu bền vớiMoscow và tình hữu nghị tôi thụ lãnh với tình báo Xô Viết khiến tôi – một cách sai lầm – nghĩ rằng KGB làm việc với HVA trong tinh thần bình đẳng. Tôi biết chúng tôi đã gởi một số lượng tin tức như thác đổ cho Moscow: tin tình báo chính trị và quân sự của kẻ địch ở tuyến đầu, sách kỹ thuật về tình báo điện tử của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (NSA), tên tuổi và phương pháp làm việc các nhân viên CIA, và những lượng thông tin khoa học và kỹ thuật mà sĩ quan liên lạc Nga cần phải có thêm một phụ tá để xử lý. Chỉ có một chút ít đáp ứng từ phiá bên kia. Nhưng những vị đối tác tình báo kỳ cựu của tôi công nhận điều này và tìm cách sửa sai trên mức độ cá nhân, và tính chất chậm chạp của những thay đổi khiến tối nghĩ rằng chúng tôi luôn nằm trong những ưu tiên hàng đầu trong mối bang giao quốc ngoại của điện Cẩm Linh. Đây chắc chắn là tình cảnh đã có dưới thời Stalin, Khruschev, Andropov và Chernenko. Vì vậy quyết định không thể hiểu được của Gorbachev trong việc bỏ mặc số phận chúng tôi vào tay của NATO năm 1989 là một đột biến thô bạo.

 Nói vậy chứ chúng tôi quá quen thuộc với phong cách của người Xô Viết, ít nhất về mặt quân sự, giống như một thế lực xâm lăng không hề màng đến tâm tư tình cảm của chúng tôi. Honecker luôn bày tỏ với Moscow mối ưu tư về sự tập trung vũ khí, binh lính, và bây giờ thiết bị hạt nhân trên lãnh thổ của chúng tôi. Tôi vẫn cảm thấy lo lắng vì biết sự cách biệt giữa thế lực thực sự của ông và những gì ông cảm nhận là thế lực của ông. Trên thực tế sự cách biệt này khá xâu, nhưng phương cách dối lòng này là một phần lối sống của chúng tôi trên tiền đồn tuyến đầu của đế quốc Xô Viết. Trong lúc việc giằng co về tên lửa giữa Moscow và Washington sôi nổi năm 1979 và Moscow dọa dàn trải thêm vũ khí trên lãnh thổ Đông Đức, một hôm Mielke nói với tôi: “Không có phương cách nào để bỏ ra hàng tỷ cho kẻ khác và đốn cây để kiếm chỗ đồn trú cho xe tăng và dàn phóng tên lửa. Anh sẽ thấy chẳng có gì xảy ra đâu. Chỉ có thương thuyết thêm nữa thôi”.

 Dàn phóng tên lửa SS-20 lưu động

Lẽ cố nhiên, khi các tên lửa khổng lồ SS-20 của Xô Viết tiến vào phần đất của Đông Đức vào lúc đêm khuya, cải trang thành việc chuyển giao củi, các khu rừng bị đốn trụi mà không ai được phép bản thảo thêm nữa.

*

Có lẽ tôi khen ngợi ông Andropov quá đáng. Ông chắc chắn phải bị phê phán, ngay cả người mến mộ ông vì cách đối xứ của ông đối với những người bất đồng chính kiến thật là thô bạo. Quyết định ( ất cả là những việc ông làm đều có chủ đich) tước bỏ quyền công dân của Solzhenitsyn và đày Sakharov đi Gorky là vì ông vẫn còn mang một não trạng không chịu buông tha giống như trường hợp của Sharansky. Ông theo đuổi sự ổn định của Liên Bang Xô Viết trên hết mọi tính toán. Mối quan tâm của ông đến những hình thức đa nguyên chính trị chỉ giới hạn trong việc quan sát kinh nghiệm cộng sản “goulash” của Hungari (danh từ nửa khôi hài, nửa miệt thị chúng tôi dùng để chỉ chế độ Hungari) trong khi đó ông thực hiện một chủ thuyết cứng rắn hơn ở trong nước. Nhưng ông cẩn thận hơn Gorbachev trong việc thay đổi Ủy Ban Trung Ương và phát động chiến dịch chống tham nhũng ở một mức độ mạnh mẽ hơn các người kế vị của ông.

 Quyết định của Andropov thăng chức Vladimir Kryuchkov lên làm Tổng Giám Đốc của KGB là một quyết định lô-gíc nhưng không khôn ngoan. Kryuchkov là một phụ tá thân cận của Andropov kể từ biến cố Budapest năm 1956. Ông biết Kryuchkov hiểu rõ chính sách ngoại giao và nghĩ rằng giao công việc tình báo hải ngoại cho một người đã được đào tạo theo hình ảnh của mình sẽ tránh việc phạm lại những rạn nứt nội bộ và lối nhìn thiển cận.

 Vị thế của Kryuchkov trong KGB được củng cố vào thời kỳ can thiệp vào A-phú-hãn, nơi đây ông được giao trách nhiệm tổ chức những công tác đặc biệt  sau khi xâm chiếm. Nhưng ông không có tầm nhìn sâu rộng của Andropov và thiếu phong cách của một người lãnh đạo. Không có thầy dìu dắt, người số hai đầy khả năng và thông minh này cảm thấy hụt hẫng. Tôi tình cờ nhìn thấy lòng sùng bái của Kryuchkov đối với Andropov khi tôi đến viếng thăm ông năm 1982 để chúc mừng ông thăng chức giám đốc KGB. Sau đó, sau bữa ăn tối, ông đọc cho tôi nghe một vài bài thơ của Andropov. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến những vấn thơ này và chúng đặc biệt hay, có phần sầu muộn và lãng mạng, mô phỏng theo Pushkin và Lermontov, tâm sự về tình yêu đã mất và những nuối tiếc của tuổi già. Điều này gia tăng sự kính phục của tôi đối với Andropov nhưng tôi thấy khôi hài là người kế vị ông ta trong chức giám đốc của KGB lại bận tâm học thuộc lòng những bài thơ tình của ông tổng bí thư mới của Đảng Cộng Sản Liên Bang Xô Viết.

 Vladimir Kryuchkov

Khi tôi đến Moscow, Kryuchkov luôn luôn mời tôi vào một phòng riêng đàng sau văn phòng chính của ông, rót cho tôi một ly Scotch lớn và nói: “Anh kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra”. Khi Mielke ở bên cạnh, sự việc không trực tiếp như vậy, cả hai bên đều khua chiêng múa trống, không ngừng nâng rượu ăn mừng vinh quang Cách Mạng và thành quả của chủ nghĩa cộng sản, một điều khá kỳ lạ vì hơn hết mọi người hai ông giám đốc cơ quan an ninh là những người biết rõ tình hình không được tốt đẹp trong nước họ.

 Kryuchkov không bao giờ bỏ lỡ cơ hội ghé thăm nhà hát mỗi khi ông đến viếng thăm -. Ông hay đi xem và lấy làm hãnh diện đã xem hết tất cả những màn diễn xuất lớn ở Moscow và sưu tầm những chương trình, mà ông cất giữ trong văn phòng của ông. Điều này tạo nên danh tiếng ông là người có học thức. Thực ra, lòng quyến luyến với sân khấu là do ông thích sưu tầm những món vật trên hết mọi sự. Tôi khám phá điều này trong một lần viếng thăm của ông tại Đông Đức trong thập niên 1980. Vở kịch Faust đang được trình diễn tại Nhà Hát Quốc Gia Weimar. Kryuchkov không mấy thông thạo tiếng Đức, tuy nhiên ông nài ép để đi vì ông biết rõ vở này là một trong những nghệ thuật chủ yếu trong kinh điển của văn chương thế giới. Tám tiếng đồng hồ theo dõi vở Faust  đòi hỏi một sự tập trung mà ngay cả tôi cũng phải cố gắng với tiếng mẹ đẻ của tôi, những tôi hài lòng vì đã thu xếp việc này cho tình hữu nghị Đức-Xô Viết. Một tiếng hoặc khoảng đó sau khi vở kịch bắt đầu, tôi liếc nhanh sang vị khách và thấy ông ta nhắm mắt. Rõ ràng, Goethe xem ra cũng khó nuốt đối với ông. Vào cuối phần một, tôi thấy rõ ông không hiểu những gì đang diễn trên sân khấu. “Tôi nghĩ là tôi đã hiểu hết rồi”, ông nói, “chúng ta bỏ phần còn lại”. Ông hãnh diện rời nhà hát, tay nắm chặt tờ chương trình để bỏ thêm phần mới nhất vào bộ sưu tầm của ông.

 Mặc dù tôi không kính trọng ông bằng Andropov, tôi có mối liên hệ tốt với ông. Tôi rất bàng hoàng về sau này khi được tin vào tháng 8 năm1991, trong thời gian tôi ở Moscow, ông thất bại trong âm mưu tai tử lật đổ Gorbachev. Những nhóm chủ yếu trong ngành an ninh và bộ máy đảng rất bất mãn cách chuyên quyền của Gorbachev trong việc nhượng bộ các cộng hòa Xô Viết, vì vậy tôi không bàng hoàng về âm mưu này mà chỉ sững sờ vì phương cách phường chèo của âm mưu lật độ này. Các bạn đồng nghiệp KGB cũ than phiền với tôi họ chẳng được thông tin gì về sự việc xảy ra. Khi họ thấy bản chất vô tổ chức của cuộc lật đổ và tính chất bất dự liệu của những người tham gia, lẽ cố nhiên là họ từ chối công khai ủng hộ.

*

Cảm giác đặc biệt nhập thuộc vào một gia đình gắn bó với KGB và những cơ quan phụ thuộc là một trong những nguyên do tạo nên ưu thế của KGB Xô Viết. Nhưng KGB cũng có những nhược điểm, chính yếu là bộ máy quan liêu đảng nặng nề và nền tảng bất tín nhiệm ngay trong nội bộ tổ chức. Lòng bất tín này phản ánh sự vô năng của họ, mặc dù Andropov và Kruychkov đã có nhiều nỗ lực tìm cách vứt bỏ hình bóng của Stalin và Beria.

 Hơn thế nữa, trong một thời gian dài, bên cạnh cảm tính được khéo léo nuôi dưỡng nhập thuộc nhóm quý phái KGB là sự thiếu hụt toàn diện lòng biết ơn đối với các điệp viên đã hy sinh tính mạng cho tổ chức – họ thường bị bỏ rơi hoặc bị ruồng bỏ khi họ không còn sử dụng được nữa. Đông Đức, được xem là nơi đáng tin cậy nhất trong khối Đông Âu theo ngôn từ tình báo, là đất phế thải cho một số điệp viện bị bại lộ màMoscow muốn đem giấu. Đây là một gánh nặng về tài chánh cũng như về tổ chức cho Đông Đức, vì kế toán nội bộ của khối Đông Âu luôn thuận về phía Liên Bang Xô Viết. Khi một điệp viên về hưu đến với chúng tôi, đương sự có nguồn tài chánh eo hẹp không đủ để cung cấp cho đương sự một căn phòng tiện nghi và một việc làm thích hợp.

 Cả hai cơ quan KGB và GRU (Tổng Cục Tình Báo của Tham Mưu Trưởng Xô Viết, Quân Báo của Xô Viết) tuyển người Đông Đức. Mặc dù có những liên hệ chặt chẽ giữa hai nước và hai cơ quan tình báo, họ muốn đích thân điều khiển người của họ và họ không thông báo danh tính những người này cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ được biết họ dùng người Đông Đức để làm gián điệp, thường là ở Tây Đức hoặc NATO, sau khi họ bị bắt. Sau khi một nhân viên điệp báo đã hết thời hoặc được trao đổi với một điệp viên của Tây Âu, người Xô Viết muốn chúng tôi phải chăm sóc đặc biệt cá nhân này về mặt tài chánh. Đây là một trò xảo trá. Khi một điệp viên đã bị lộ ở Tây Âu chúng tôi không thể dùng họ ở nơi này nữa. Tôi cũng không thích những người này làm việc trong Bộ An Ninh, nơi đây họ có thể tiếp cận những bí mật hoặc nghe trộm những thông tin nhạy cảm.

 Tệ hơn nữa, họ thường mắc chúng bệnh sa sút thần kinh hoặc bệnh trạng tâm lý khác, vì người Xô Viết không hỗ trợ nhiều hoặc tưởng thưởng xứng đáng cho họ trong công việc và sự hy sinh của họ. Lối xua đuổi lạnh lùng này khiến cho nhiều người cảm thấy chủ nhân Xô Viết khiển trách họ vì họ đã bị bắt, mặc dù phần lớn nguyên do thất bại nằm ở nơi khác, thông thường là kế hoạch hoặc thi hành bất cẩn trong lúc gặp gỡ các cán bộ điều khiển Xô Viết (“giao liên” theo Tây Âu) hoặc là sự phản bội của một ai đó tại Moscow. Tôi nản lòng vì người Xô Viết không cố gắng để tưởng thưởng những điệp viên bị cháy, không có đến cả một huy chương cho những khổ nạn của họ.

 Một trong những điệp viên như vậy của Xô Viết mà tôi rất kính trọng là gián điệp bí mật hạt nhân Klaus Fuchs. Ông đã đóng một vai trò quan trọng trong chương trình hạt nhân của Xô Viết bằng cách cung cho Beria, người giám sát chiến lược hạt nhân, những chi tiết tiến hành của Hoa Kỳ và Anh quốc về bom plutonium và uranium -235. Do đó ông đã góp công to lớn nhất choMoscow có được khả năng chế tạo bom nguyên tử. Ông di tản sang Anh quốc trước khi xảy ra chiến tranh để trốn Quốc Xã, ông làm việc trong chương trình hạt nhân tại Phòng Nghiên Cứu Harwell (Harwell Research Station) tại Anh quốc. Fuchs cũng nằm trong khuông thước của những người như Sorge và Philby, và giống như họ, người đàn ông giỏi dang này đã tự nguyện đem sự hiểu biết của mình đề phục vụ cho Liên Bang Xô Viết. Họ đều tin tưởng là chỉ có Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô Viết (USSR) mới co thể đánh bại Hitler. Biết được tin các khoa học gia của Đức Quốc Xã đang thực hiện bom hạt nhân đã thúc đẩy Fuchs chuyển những bí mật của mình cho Moscow.

 Lòng kiên định với chủ nghĩa cộng sản của Fuchs sâu đạm hơn vì ông đã nghiệm qua chế độ Đức Quốc Xã. Ông hiện diện khi quả bom nguyên tử đầu tiên do Hoa Kỳ thử nghiệm nổ tại Alamogordo, New Mexico, ngày 16 tháng 7 năm 1945 và báo tin nhanh chóng cho Moscow đến độ Stalin không có vẻ gì là ngạc nhiên khi Tổng Thống Truman gợi ý về một vũ khí mãnh liệt mới chỉ tám ngày sau tại hội nghị các nước chiến thắng tại Postdam.

 Theo chỉ thị của quân báo Xô Viết, Fuchs giữ im lặng trong vòng ba mươi năm sau khi ông bị bắt tại Anh Quốc năm 1950, ông cũng không hề viết hồi ký, cũng không ra mắt báo chí phỏng vấn, ngay cả cho các nhà xuất bản của Xô Viết hoặc Đông Đức. Sau khi ông được Anh Quốc trả tự do năm 1959, ông sống tại Dresden, nhưng trong một thời gian dài ngay cả chúng tôi cũng không được phép tiếp cận ông. Thập niên 1970, ông cuối cùng chấp nhận cộng tác với Ban Khoa Học và Kỹ Thuật để cho một vài ý kiến về chính sách năng lực. Tôi hiểu rõ là chúng tôi không được bàn thảo về những thành tích gián điệp của Fuchs.

 Ý nghĩ con người đã có công đóng góp lớn nhất trong điệp báo nguyên tử đang sống trên đất nước của chúng tôi, trả lời định kỳ cho những thắc mắc về những hệ thống làm lạnh và những điểm phức tạp của vật lý hạt nhân cho các đồng nghiệp của tôi nhưng lại không được nói chuyện về ngón nghề tình báo tuyệt hảo của ông khiên cho tôi bồn chồn. Tôi đã bỏ rất nhiều công sức để xây dựng ý nghĩa truyền thống và tinh thần nhập thuộc trong nội bộ cơ quan bằng cách ghi lại trên phim ảnh và trên sách vở cuộc sống và thành tích của những điệp viên tên tuổi ở phia chúng tôi. Tôi biết Klaus Fuchs sẽ là một đề tài lý tưởng để nghiên cứu. Lẽ cố nhiên, không thể nào có chuyện tôi tiếp cận ông mà không có sự đồng ý chính trị của cấp trên. Tôi nhiều lần cố gắng thuyết phục Erich Honecker hỗ trợ cho tôi để cố gắng nài nỉ Fuchs kể lại chuyện của ông. Sau một thời gian chờ đợi, tôi cuối cùng được phép viếng thăm ông cùng với một sĩ quan cao cấp đồng nghiệp có chút hiểu biết về vật lý nguyên tử. Chúng tôi là những người duy nhất không phải là người của KGB hay GRU được phép phỏng vấn về quá khứ của ông, sáu khi ông định cư tại Đông Đức. Cuộc gặp gỡ ông năm 1983 được diễn ra với sự thỏa thuận của chúng tôi là nội dung chỉ để sử dụng trong nội bộ cơ quan của tôi. Chúng tôi xin phép Fuchs để quay vào phim video và cuộn băng này là cuộn băng duy nhất về ông tại Công Hòa Dân Chủ Đức.

 Tôi gặp ông tại nhà khách ở Ba Linh, ông ở lại đây trong lúc họp Đảng. Ông là thành viên của Ủy Ban Trung Ương. Tôi thấy vóc dáng của một người không thích hợp với vai trò của một siêu gián điệp. Ông là hình ảnh hi họa của một khoa học gia tài giỏi, trán cao và đeo kính không vành với đôi mắt trầm ngâm chăm chú nhìn khi tôi dồn dập đặt câu hỏi. Ánh mắt này khiến mọi người có ấn tượng khi gặp ông, kể cả giáo sư Max Born, thầy đỡ đầu của Fuchs và cũng là cộng tác viên trước đây trong nghiên cứu hạt nhân tại Edingburrgh. Ông Born ghi nhớ hình ảnh một cậu bé dễ thương với đôi mắt to và buồn trong thời gian Fuchs còn là sinh viên. Đôi mắt này trở nên linh động khi Fuchs bắt đầu nới về vật lý học lý thuyết. Ông vẫn còn sự hăng say của tuổi trẻ trong vấn đề này và có thể thao thao bất tuyệt về lý thuyết quantum và về công trình nghiên cứu xuất sắc của ông trong việc chế tạo bom nguyên tử: việc khám phá phép tính biến thiên trong lúc quả bom plutonium nội phát. Ông vẫn đích thị là một nhà nghiên cứu.

 “Tôi chưa bao giờ tự xem mình là một gián điệp”, Fuchs nói với tôi. “Tôi không hiểu phương Tây có lợi gì nếu không chia sẻ sự hiều biết về quả bom nguyên tử với Moscow. Điều gì đó trong tiềm năng công phá không thể tưởng tượng được của trái bom phải đương nhiên được chia sẻ đồng đều cho các cường quốc. Tôi không tài nào chịu đựng nổi một bên có khả năng đe dọa kẻ khác với một sức mạnh ghê gớm như vậy. Tôi không bao giờ nghĩ tôi làm một điều trái với lương tâm khi tôi chuyển giao những bí mật cho Moscow. Đối với tôi không làm điều này là một sơ xuất độc hại”.

 Ursula Beurton với Don Chapman năm 1981

Năm 1941, Fuchs liên lạc với quân báo Liên Xô (cơ quan GRU) qua người bạn kinh tế gia Jürgen Kuczinsky. GRU giao phó trách nhiệm cho ông một loạt các đầu dây giao liên thường xuyên thay đổi. Người ông thường tiếp xúc là em gái của Kuczynski, Ursula Beurton, tức Ruth Werner, mật danh là Sonya. Bà Werner đầy tài năng này sống, theo biểu hiện bề ngoài, như một bà mẹ trầm lặng với hai đứa con tạiOxford. Thực ra, bà là một trong những gián điệp thượng thặng của Liên Bang Xô Viết tại Anh Quốc và sau này bà được ban khen cấp bậc danh dự hiếm có Đại Tá trong Hồng Quân – người đàn bà duy nhất nhận được cấp bậc này. Bà Werner đi xe đạp cùng với Fuchs để vào một khu rừng cạnh ngôi nhà gia đình Churchill tại Blenheim. Lúc đó ông chuyển giao tài liệu mật và bà đem cất giấu dưới yên xe. Fuchs không được huấn luyện về tình báo và từ chối học mật mã vô tuyến hoặc chụp vi phim. Ông đơn thuần sao chép những tin tức ông muốn hoặc đang nghiên cứu, và sau đó viết lại nhờ trí óc nhiếp ảnh ghi nhớ phi thương. Hệ thống chuyển giao rất đơn sơ, có phần ngây ngô là đàng khác theo nhãn quan tình báo. Không có hộp thơ chết. Các tài liệu mật được trao tận tay, điểm này là một món quà cho phản giản nếu họ theo dõi. May thay, lúc đó người Anh chưa nghi ngờ Fuchs. Ông không thấy ấn tượng nào với các giao liên Xô Viết. “Không như Ruth, họ tỏ ra sợ sệt khi tôi hiện diện”, ông nói. “Có một người đặc biệt lúc nào cũng dòm quanh để xem chừng tôi có bị theo dõi không. Tôi không phải là tay chuyên nghiệp trong vấn đề này, nhưng phong cách này gây chú ý đến chúng tôi hơn là cách chúng tôi hành xử tự nhiên”.

 Ruth Werner, một cách tài tình đã tìm cách trốn ra khỏi nước Anh sau khi Fuchs bị bắt, trở thành một người bạn thân thiết với tôi khi bà trở lại Đông Đức. Có một lần bà thú nhận với tôi bà đã lén nhìn các tài liệu mật nhưng không hiểu một chữ nào cả – “Chúng như một chuỗi những cổ tự hy lạp và công thức viết nhỏ tí tí trông giống như những đường nguệch ngoạc “.

 Những đường nguệch ngoạc này đã làm thay đổi cán cân quyền lực thế giới bằng cách phá vỡ độc quyền vũ khí hạt nhân sơm hơn dự liệu. Fuchs dè dặt với chúng tôi về vai trò của ông trong việc phát triển bom nguyên tử của Xô Viết, và thực ra Moscow chỉ báo cho ông biết giá trị của những thông tin này hai năm trước khi ông chết. Đây là một nỗ lực đánh lừa phương Tây để họ lầm tưởng người Xô Viết còn có những gián điệp nguyên tử khác chưa bị lộ. Trò gạt gẫm này chỉ chấm dứt khi điện Cẩm Linh cho phép xuất bản hồi ký của Giáo Sư Igor Kurchatov. Kurchatov xác nhận những thông tin của Fuchs đã giúp cho ông tiết kiệm được nhiều năm nghiên cứu nhờ ông mô phỏng theo những gì ông đã học được trong phương cách tiếp cận thành công của Hoa Kỳ để chế tạo trái bom nguyên tử đầu tiên ở Los Alamos.

 Khi tôi thận trọng đề cập đến việc ông bị bắt năm 1950, tôi thấy rõ ràng là tôi đã khơi động lại vết thương ba mươi năm vẫn chưa lành. Fuchs nhất định không mủi lòng trước mặt chúng tôi, nhưng cố gắng tự kiềm chế hiện lên trên nét mặt căng thẳng và co giật của ông. Ông kể cho chúng tôi nghe lỗi lầm lớn nhất của ông với lòng hối hận và xúc động sâu đậm, xem chừng như ông lập lại lời thú tội lần thứ hai.

 Tôi chắc chắn ông đau khổ nhiều vì sự kiện, từ khi ông ra khỏi tù năm 1959, ông không có cơ hội đề nói trực tiếp về những khám phá của ông với cán bộ điều khiển Xô Viết. Tôi không hiểu tại sao, trong vòng hơn hai mươi năm,Moscow không chủ động làm việc này. Không một lời biết ơn, không một lời đền đáp công việc của ông, cũng không hề có những câu hỏi tại sao thất bại. Sự im lặng của một quốc gia ông đã phục vụ hoàn toàn vì lương tâm và phải trả giá rất đắt cho tự do và sự nghiệp của ông đã đè nặng lên ông hàng ngày.

 Fuchs không có ý kiến gì về những sơ sót. Nhưng tôi nghĩ lý do của sự im lặng ác độc này là vì Xô Viết tình nghi ông đã tiết lộ tên tuổi của các giao liên hoặc của những điệp viên khác trong thời gian ông bị MI 5 tra khảo. Tuy nhiên tôi tin tưởng không có bằng chứng nào về lỗi lầm của Fuchs.

 Fuchs kể cho tôi nghe khi ông biết người Anh tình nghi ông, ông tự tin có thể đánh lạc hướng mối nghi ngờ này. Ông bị tra vấn sau khi khoa học gia người Anh Allan Nunn May bị bắt năm 1946 vì tội gián điệp, nhưng ông có cảm tưởng phản gián Anh kiểm tra tất cả các khoa học gia đã gặp gỡ Nunn May và cảm thấy ông đã may mắn thoát nạn. “Áp lực gia tăng vào năm 1950, khi tôi dược mời lên làm việc nhiều lần với các viên chức thẩm quyền tại Harwell và các sĩ quan phản gián Anh cũng có mặt tại chỗ”, ông kể lại. “Tôi vẫn còn tự tin. Nhưng rõ ràng họ điều tra tôi, bởi vì họ biết cha tôi đã đi sinh sống ở Đông Đức và họ cũng hỏi tôi về vấn đề này. Cuối cùng họ nói về những tin tức từ Nữu-Ước (New York) và lúc đó tôi biết là CIA đã thông báo về tôi”.

 Tình thế khó chịu này tiếp tục một thời gian. Khó mà biết được lý do tại sao Xô Viết không tìm cách bốc Fuchs ra khỏi nước Anh, xét mức độ chú ý của thẩm quyền tại Harwell. Có thể phỏng đoán họ không làm như vậy vì lý do đơn giản họ muốn khai thác dữ liệu của Harwell càng nhiều càng tốt, và an nguy của Fuchs chỉ là thứ yếu đối với công tác này. Điều này cũng có thể giải thích nỗi sầu muộn của Fuchs nhiều năm sau khi Fuchs bị bắt.

 Cuối cùng chỉ một sảo thuật tâm lý chứ không phải vì những tang chứng rõ rệt đã khiến cho Fuchs rơi vào bẫy. Ông phó giám đốc Harwell, một người bạn thân của Fuchs, thẳng thắn nói với ông họ tình nghi ông là một gián điệp. Ông này chỉ hỏi Fuchs chuyện này có thật hay không. Nếu Fuchs nói không, người bạn nhấn mạnh, tất cả Harwell sẽ kết hợp lại để ủng hộ và bênh vực ông.

 Klaus Fuchs

Tôi mường tượng đây là một chiến thuật đã được phản gián Anh khốn khéo hoạch định, họ đã sử dụng hệ thống định hình tâm lý một cách tuyệt hảo. Họ nhận thấy Fuchs biết khôn khéo trả lời thẩm vấn; ông sẽ không thú nhận với những phương cách tương tự, vì vậy họ thử một phương thức hoàn toàn khác biệt. Khi quan sát ông làm việc tại Harwell, họ đi đến kết luận Fuchs rất coi trọng tình bạn. Họ đã mớm những lời nói vào miệng của ông phó giám đốc, và biết rằng đối với Fuchs ý nghĩ nói dối ngay trước mặt người bạn là một điều đau đớn vô kể. Người Anh đã thành công.

 Fuchs, vì không biết nói dối, lắp bắp và sau đó im lặng trước câu hỏi của người bạn. “Kể từ giờ phút đó, Fuchs kể cho tôi, “tôi thất thần. Tôi che dấu nỗi sợ hãi bằng cách làm việc nhiều hơn và xua đuổi ý nghĩ đó ra khỏi trí óc của tôi. Cũng có những chỉ dấu đáng khích lệ. Không một viên chức an ninh nào tại Harwell nghĩ rằng tôi là kẻ phản bội, và họ từ chối không muốn thẩm vấn nữa. Khi họ đến bắt tôi, tôi chợt nghĩ “Đến đây là chấm dứt”.

 Tôi ngạc nhiên thấy Fuchs quá ngây ngô trong vấn đề điệp báo vì ông không hề nghĩ đến án lệnh ông sẽ phải gánh chịu “Tôi bước lên những bậc thang để vào chỗ ngồi của bị cáo trong tòa án như thể trong một giấc mộng” ông nói: “Họ hỏi tôi. Nếu họ phán quyết ông có tội, ông có biết án lệnh chờ đợi ông là gì không?”. Và tôi nói, “Tôi nghĩ là tội tử hình”, bởi vì tôi đã đọc đâu đó điều này xảy ra cho những gián điệp. Họ nói: “Không, mười bốn năm”, và tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Vào lúc đó tôi mới nghĩ tôi sẽ sống và vẫn còn tương lại”.

 Chín năm sau ông được trả tự do và được đưa sang Đông Đức theo lệnh của Xô Viết. Có lẽ ông trông chờ ít ra họ sẽ gặp gỡ ông tại đây. Nhưng từ giây phút ông bước chân ra khỏi tù, ông được chuyển giao cho ngoại giao Đông Đức như một kiện hàng. Chỉ sau khi tôi liên lạc với ông năm 1983, các cán bộ điều khiển cũ của ông tại Moscow, Vladimir Barkovsky và Alexander Feklisov, được phép gặp ông trở lại và ghi nhận lòng biết ơn muộn màng của Liên Bang Xô Viết đối với việc làm của ông.

 Fuchs là một con người nhạy cảm và yếu mềm. Ông không có tư chất để làm điệp báo và tính quý trọng bạn bè đến độ không có khả năng nói dối với họ, chứng tỏ bản chất nhân bản của ông, lại là một nhược điểm của một điệp viên. Đúng như lời của một văn hào Anh E.M. Forster, ông thà phản bội đất nước mình hơn là phản bội bạn.

(còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 17 (Markus Wolf)                      

 “…Khi chiến dịch các tướng đạt nhiều thành quả, các Cục ở Đông Đức vội vã nhận vơ công lao thuộc về họ. Phiền lòng cho chúng tối nhất chính là em rể của Erich Honecker, Manfred Feist, một anh công chức vô năng, nói với lãnh tụ của Đông Đức tất cả việc này là do sáng kiến của anh ta…”

Chương 12

« Những biện pháp tích cực »

Trong một vở kịch nghiêm trang về lề lối của chủ nghĩa cộng sản, The Measure Taken (Biện pháp phải dùng), Bertolt Brecht phân tích những hoạt động cực đoan được áp dụng để củng cố Cách Mạng như sau:

Không có hành động đê tiện nào mà nhà ngươi không dám làm,

 Loại bỏ hành động đê tiện ư?

 Nếu ngươi có khả năng thay đổi thế giới,

 Việc gì ngươi lại không làm?

 Chìm đắm trong vũng bùn

 Hãy ôm chầm lấy tên đồ tể nhưng

 Hãy thay đổi thế giới.

 Thế giới cần đến nó.

Mặc dù không một ai trong đội ngũ của tôi biết đến đoản văn này, tất cả anh em chúng tôi đã ghi tâm tư duy này để theo đuổi một thế giới xã hội chủ nghĩa tốt đẹp hơn. Chúng tôi cảm nhận chúng tôi có thể làm hầu hết tất cả mọi sự miễn làm sao nó phục vụ cho Lý Tưởng là được.

 Trong trường hợp của tôi, điều này có nghĩa là chỉ huy một nhóm nhỏ nhưng hiệu quả có tên là Biện Pháp Tích Cực (Aktive Massnahmen). Mục đích về chính trị của chúng tôi là làm suy yếu vị thế quốc tế của Bonn, làm suy yếu Chủ thuyết Hallstein, vì chủ thuyết này chỉ thị việc cô lập ngoại giao Đông Đức, và ngăn chặn sự tái vũ trang của Tây Đức. Nhiệm vụ chính yếu của chúng tôi không phải là « nói dối » hoặc «cố tình đánh lạc hướng », nhưng dùng phương pháp tán phát những sự kiện gây bất ổn và bối rối. Đặt cho nó cái tên là chiến tranh tâm lý. Chúng tôi góp phần trong những trò bẩn thìu, nhưng đó không phải là nhiệm vụ chính của chúng tôi. Chúng tôi phối hợp những thông tin thật và giả và tán phát chúng làm thế nào để củng cố chính sách của chúng tôi, làm suy yếu chính sách và tổ chức của Tây Đức, và gây tổn hại cho uy tín của những cá nhân. Phản thông tin đối với chúng tôi không cần vì bao lâu các đảng viên Quốc Xã cũ nằm ở các địa vị then chốt tại Tây Đức, chính quyền Cộng Hòa Liên Bang Đức bị áp lực phải thực thi chương trình tái vũ trang quá sớm ngay sau sự thất bải thảm não của đất nước trong cuộc phiêu lưu quân sự của Hitler, và báo giới Tây Đức luôn chực sẵn để đăng những vụ chính trị xấu xa.

 Nhóm nhỏ chuyên về « những biện pháp tích cực » trưởng thành trong Tổng Cục 10 của cơ quan Tình Báo Hải Ngoại HVA, được chính thức thành lập năm 1956 với mục đích mau chóng tác động đến truyền thông Tây Âu và Hoa Kỳ để thích ứng với chính sách của họ đối với khối Xô Viết. Người cha tinh thần của tổ chức này là Ivan Ivanovich Agayang, một chuyên viên tình báo có học thức uyên bác mà các người thừa kế trong KGB khống đáng cột dây giày cho ông.

 Nước Đức trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh là một nơi lý tưởng để áp dụng những biện pháp này. Chúng tôi lẽ cố nhiên có cùng một ngôn ngữ và lịch sử. Đông Văn Phòng của Đảng Dân Chủ Xã Hội tung bong bóng và ném truyền đơn vào lãnh thổ của chúng tôi theo lệnh của tình báo Hoa Kỳ, vì vậy chúng tôi đương nhiên không phải là người duy nhất dùng trò này ngay từ lúc khởi đầu. Bộ Quốc Phòng  của chính quyền Bonn cũng thiết lập một bộ phận « Quốc phòng Tâm lý », không liên quan gì đến quốc phòng và chỉ chuyên chú về chiến tranh tâm lý. Chúng tôi biết được điều này do một cựu đại úy khu trục hạm Wilhelm Reichenburg, đã làm việc trong bộ phận này với mật danh Admiral (Đô đốc) và cung cấp những tài liệu tình báo mật cho chúng tôi. Sau khi ông về hưu năm năm 1978, ông trở thành chủ tịch của nhóm nghiên cứu chính sách quốc phòng của Đảng Thống Nhất Xã Hội Thiên Chúa Giáo Bavaria tại Munich, cho đên khi ông bị bắt năm 1984; ông bị tố cáo làm gián điệp cho chúng tôi vì tiền trong vòng mười bốn năm. Trước khi Reichenburg bị bắt, chúng tôi tìm cách báo động cho ông và những giao liên trong cuộc gặp gỡ tại Viện Bảo Tàng Vương Quốc ở Amsterdam dưới bức tranh Canh Khuya (Night Watch) của Rembrandt, nhưng cuộc hẹn đã không thành. Dù sao đi nữa, những lời chứng trong lúc xét xử Reichenburg gây tổn thương cho một viên chức lãnh đạo trong phản gián Tây Đức có mối liên hệ mật thiết với ông. Về phần chúng tôi, đây không phải là hiệu ứng không mong muốn của chúng tôi vì nó đã gây tổn hại đến uy tín của phản gián Tây Đức, mặc dù người của chúng tôi bị lộ.

 Cơ quan CIA cũng phát động một chương trình chiến tranh tâm lý vào những thập niên 1950 và 1960. Ai cũng biết rõ mối liên hệ giữa CIA và các tổ chức như Radio Free Europe (Đài Châu Âu Tự Do) và RIAS (Radio In America Sector, Đài Phát Thanh trong Khu Vực Hoa Kỳ); trong tất cả những phương tiện dùng để ảnh hưởng đến quần chúng để đánh phá Đông Âu trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, tôi đánh giá những cơ quan này hiệu nghiệm nhất. Chúng cung cấp những phương tiện toàn hảo để phản tuyên truyền, dùng những tin tức của những nhóm đối lập và của các công dân đã trốn chạy các nước chư hầu bởi vì họ chống đối về mặt ý thức hệ với chế độ. Hơn nữa họ rất nhạy bén khi có bất cứ chỉ dấu bất ổn nào xảy ra trong khối Đông Âu, họ cung cấp những dữ kiện đúng thời điểm và đầy đủ chi tiết để những kẻ đối lập có thể hoạch định và phản ứng nhanh chóng với những sự cố đã bị các cơ quan truyền thông Cộng Sản bưng bít hoặc che đậy.

 Tôi biết khá rõ công việc này, và kinh nghiệm của tôi trong Đài Phát Thanh Nhân Dân Đức (Deutsche Volkssender) tại Moscow trong những thập niên 1940 là một căn bản hữu dụng. Khuôn mẫu của đài phát thanh, kêu gọi các thính giả Đức đứng dạy chống Hitler, là Đài Phát Thanh Calais của Lính (Soldatensender Calais), phát thanh từ  nước Anh, do Sefton Delmer khôn khéo điều khiển một cách điêu luyện. Ý định của Delmer là cung cấp những thông tin xác thật nhất, thông báo những sự cố có thật pha lẫn với những câu chuyện chế biến về mức độ chống đối trong hàng ngũ quân đội Đức, trong Đảng Quốc Xã và dân về SA. Những câu chuyện được truyền thanh trong một ngôn ngữ bình dị – gần gũi với những tiếng lóng và truyện khôi hài của lính Quốc Xã – của dân thường, khác với giọng điệu khoa trương và trịnh trọng của ngành tuyên truyên Xô Viết. Qua các tù bình chiến tranh và các lá thơ của binh lính được thu hồi, chúng tôi biết việc này có hiệu quả và tác động suy nghĩ chống lại cấp lãnh đạo Quốc Xã và chiến tranh.

Sefton Delmer phát thanh sang Đức

 (Ảnh của Delmer estate)

Chúng tôi quyết định xem xét lại toàn bộ Đài Phát Thanh Nhân Dân Đức để điều chỉnh cho giống đường hướng của đài phát thanh Delmer và tạo dựng những câu chuyện để được phát thanh từ trong lòng nước Đức chứ không phải từMoscow. Một huyền thoại phức tạp về mối liên hệ với kháng chiến ẩn núp được dàn dựng và chúng tôi tuân thủ nguyên tắc của Delmer là pha lẫn sự nguy tạo với những sự kiện có thực, cân nhắc tỷ lệ cho đến khi chúng tôi hoàn thành, theo sự lạc quan của tôi, một đài phát thanh có thể tranh đua với những cố gắng thời chiến của Hoa Kỳ và Anh Quốc.

 Tại Tổng Cục 10, chúng tôi cũng theo một mô hình tương tự, tìm kiếm liên hệ với những ký giả phương Tây thích hợp. Chúng tôi có khuynh hướng tránh né những phóng viên được công nhận tại Đông Bá Linh, bởi vì chúng tôi nghĩ họ có thể do phản gián Tây Đức cài vào. Chúng tôi tập trung vào những loại ký giả sưu tra tự do vì họ không cầu kỳ với những mối liên hệ họ có và những người họ đi cùng, và họ sung sướng nhận một tài liệu từ bất cứ ai miễn là họ có được một câu chuyện lấy ra từ đó.

 Chúng tôi cũng có liên lạc với Gerd Heidemann, ký giả lập dị của tuần báo Stern đã từng tung ra thị trường nhật ký giả mạo của Hitler trong những thập niên 1980, mặc dù vào lúc đó chúng tôi không hề biết công việc này của ông. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, khi chúng tôi liên lạc với ông ta, ông để ý đến việc tìm kho tàng nghe nói là đưa lên một trong những chiếc phi cơ Đức cuối cùng rời nước Đức khi Đồng Minh tiến vào Bá Linh. Heidemann đoan chắc vật giấu đã được các cảm tình viên của Quốc Xã chôn vùi đâu đó gần biên giới Đông Đức với Czechoslovakia, và trong một cuộc thương lượng phúc tạp trong những điều kiện tuyệt mật với Bộ Công An, ông được phép đào ở vùng này. Nhưng than ôi, kho tàng không thấy đâu cả, nhưng danh tiếng là người đã có những môi liên lạc kín đáo với Đông Đức cho ông cái cớ tuyệt hảo để thình lình xuất trình nhật ký đã bị thất lạc bấy lâu nay và tuyên bố nó xuất phát từ Moscow. Sáng chế này cuối cùng bị bại lộ và tài liệu là đồ giả mạo, những trước đó nó đã làm ô danh một số các nhà xuất bản Tây phương đã nhúng vào chuyện này và các sử gia đã xác minh tài liệu này là thật.

Gerd Heidemann của tuần báo Stern với Hồi ký Hitler giả

Mặc dù cơ quan tình báo hải ngoại HVA không dính lìu gì với trò xỏ lá này, những trò giả mạo là một phần sáng chế của Tổng Cục 10. Cho dù chúng tôi nhắm vào chính quyền Tây Đức, cơ sở kinh doanh lớn, nhà xuất bản hoặc một đảng phái chính trị, mục đich là luôn luôn hủy hoại sự tín nhiệm của quần chúng trong các cơ quan mới và phần lớn chưa trưởng thành của đất nước và do đó gieo nghi ngờ về đường hướng chính trị của phương Tây. Các tổng cục trưởng đều có khuynh hướng theo lời chỉ dẫn của cha đẻ phong trào Cơ Đốc Giáo, Martin Luther: « Mỗi một dối trá cần có bảy dối trá theo sau để cho nó giống với sự thật và có hào quang của sự thật ».

 Tuy nhiên, nguyên tắc của tôi là bám sát tối đa với sự thật, đặc biệt khi có quá nhiều để dễ dàng hỗ trợ cho mục tiêu của tổng cục. Chúng tôi tán phát những thông tin thật về những những mối liên hệ Quốc Xã của nhiều chính trị gia lãnh đạo Tây Đức và các quan tòa, không kể đến Chủ tịch Heinrich Lübke; thủ tướng Kurt-Georg Kiesinger, một thành viên cũ của đội tuyên truyển của Goebbels; và Hans Filbinger, thủ tướng của Baden-Württemberg, vào thời ông là ủy viên công tô Quốc Xã đã kết án tử hình binh sĩ và nhiều người khác.

 Công việc phá vỡ uy tín Tây phương là một công việc chuyên biệt rất cao. Các sĩ quan đánh giá nội dung câu chuyện nghe lén qua điện thoại giữa các bộ trưởng hoặc những giám đốc ngân hàng, tìm kiếm những tin tức không phổ biến cho quần chúng về những vấn đề nhạy cảm như việc xuất khẩu vũ khí hoặc những thủ đoạn chính trị. Sau khi nhận diện được điểm yếu và những màn che dấu, họ sẽ gài thông tin này vào trong một hồ sơ, và dùng các điệp viên ngụy trang tại Tây Đức và Tây Bá Linh, trao tận tay các ký giả mà chúng tôi biết sẽ theo dõi câu chuyện. Bản sao thường được chuyển không sửa đổi, và chúng tôi cố gắng lèo lái mối nghi ngờ sang phía Tây phương là nguồn cung cấp tin tức nghe lén trên điện thoại, và mọi người ai cũng biết là Cơ Quan An Ninh Quốc Gia của Hoa Kỳ (NSA) dàn trải trên một quy mô rộng lớn. Bối rối vì thông tin thật nhưng bị cắt xén được tung ra ngoài, các đối tượng nằm trong vị thế không thể tự bào chữa, còn tệ hại hơn cả những lời tố cáo được bịa đặt.

 Nhưng rủi thay, chuyên nghệ cao cấp này có những động năng của nó, và các sĩ quan làm việc này tỏ vẽ hãnh tiến vì đã cung cấp những tài liệu sao chép có tính thuyết phục theo kiểu mẫu phát biểu hoặc lối hành văn đặc biệt của hàng trăm cơ quan khác nhau của Tây Đức. Những người này có khuynh hương dùng tài năng của mình một cách điên rồ, mà tôi phải ân hận nói rằng tôi đã cho phép họ làm để không ngăn cản sáng kiến và trí óc sáng tạo của họ. Họ vượt lên trên giới hạn cho phép của một cơ quan tình báo, chẳng hạn như ngụy tạo những lời khai của kỹ nghệ gia Đức Hans-Martin Meyer bị đội Hồng Quân bắt cóc trước khi họ sát hại ông năm 1977. Trớ trêu thay, Herbert Bremer, người trong Tổng Cục 10 đã từng miệt mài để xuất trình tài liệu giả này từ một núi thông tin thật, là người đầu tiên bán câu chuyện này cho báo giới sau khi Cộng Hòa Dân Chủ Đức sụp đổ.

 Không như các đồng nghiệp đầy năng lực và sáng kiến, trong thâm tâm tôi không tin loại công việc mờ ám này sẽ đánh đổ trật tự của khối tư bản. Một cách đơn thuần hơn, tôi thấy sự hữu dụng của nó là hạ bệ trong trò chơi tuyên truyền những kẻ chống đối Đông Đức đặc biệt ngoan cường và nhiều sáng kiến, có nhiều ảnh hưởng đến chính sách và dư luận quần chúng. Trùm báo chí Axel Springer là kẻ thù chính của chúng tôi trong trận chiến này. Đế chế của Springer bao trùm tờ báo phổ biến rộng rãi Bild-Zeitung cũng như tờ Die Welt, tờ báo có uy tín trong chính quyền Tây Đức và giới hành chánh. Springer chống đối kịch liệt việc công nhận ngoại giao Đông Đức. Cho đến giũa những thập niên 1980, những tờ báo của ông in những chữ tắt của Cộng Hòa Dân Chủ Đức, DDR (Deutsche Demokratische Republik), trong ngoặc kép. Springer dùng những tờ báo này để đả phá những hiệp ước công nhận sự chia đôi nước Đức và việc bình thường hóa kinh doanh giữa hai miền bị cắt đôi. Cấp lãnh đạo của chúng tôi, vì lo lắng cho việc thế giới công nhận và những cơ hội trao đổi thương mại và ngoại giao phát xuất từ những thỏa ước này, ra chỉ thị cho các cơ quan tình báo áp dụng tất cả mội biện pháp cần thiết để phản bác lại những tiếng nói của Tây Đức.

 Giống như những tờ lá cải của Springer, tuần báo phổ biên rộng rài Quick cũng là môi trường để bày tỏ những tiến nói như vậy. Chúng tôi gặp may mắn lớn: người chủ bút Hans Losecaat van Nouhuys, trước đây là nguồn tin tức chúng tôi bắt gặp trong lần dàn dựng một ổ mãi dâm trá hình, vẫn còn là điệp báo làm việc cho cơ quan của tôi trong những thập niên 1950 với bí danh Nante, cung cấp những tài liệu giá trị lấy từ trong nội tình của chính giới của Bonn. Vào khoảng giữa những thập niên 1960, sự công tác của ông với chúng tôi bị đình chỉ, nhưng ông lại những tưởng công tác sẽ hoàn toàn chấm dứt và sẽ không bao giờ trở lại ám ảnh ông nữa. (Điều làm tôi kinh ngạc là các điệp viên phương Tây đã từng dính líu với cơ quan tình báo của địch nghĩ rằng họ làm chủ được vận mạng của họ. Không có một hợp tác nào với cơ quan tình báo lại bị bỏ quên. Họ có thể khuấy động trở lại và quay ngược chống lại anh cho đến khi anh chết mới thôi).

 Chúng tôi quyết định gạt sang một bên nguyên tắc không bao giờ tiết lộ danh tính của nhân viên điệp báo và loan báo chủ nhiệm của một tuần báo chống đối quyết liệt những hiệp ước với Đông Đức đã nhận tiền lương của Đông Bá Linh nhiều năm qua. Chúng tôi phối hợp việc tiết lộ này với một công tác khác, đặc biệt là vụ điều tra cái chết của một doanh nhân Tây Đức tên Heinz Bosse, đã từng có mối liên hệ tốt với Bonn và đã tử thương trong một tai nạn lưu thông ở Đông Đức. Thực ra Bosse có một vài liên hệ với tình báo Đông Đức và qua đây để tham viếng xã giao không ngờ xe của ông ta trượt bánh trên đường trơn ướt trên đường trở về Tây Đức. Tin đồn được tức khắc phổ biến quanh cái chết bí mật của một người đã từng có những mối liện hệ bí mật với cả Đông lẫn Tây Đức, trong đó có Karl Wienand, một dân biểu của đảng SPD. Tai nạn này chỉ là một tai nạn lưu thông bình thường và chúng tôi cố tìm cách chứng minh điều này bởi vì những mối nghi ngờ về cái chết của ông là một mãnh lực khiến cho các nguồn tin và điệp viên Tây Đức khác của chúng tôi không dám di chuyển đôi lúc sang Đông Đức để tham khảo hoặc để chuyển giao tài liệu. Chúng thực hiện một việc hi hữu là mời phóng viên điều tra của tuần báo Stern để tìm hiểu về tai nạn này và cho phép họ vào phòng giảo nghiệm và tiếp cần những biên bản liên hệ.

 Chúng tôi lợi dụng chuyến đi của ký giả tuần báo Stern để kín đáo gây sự chú ý về hành tung của van Nouhuys. Chúng tôi không phải tốn công sức nhiều, vì tờ Stern – thường có đường hướng bảo thủ – là đối thủ kịch liệt nhất của Quick. Câu chuyên xuất hiện trên tờ Stern đúng như chúng tôi dự liệu. Van Nouhuys bị đuổi, nhưng Quick đã nhảy vào một trận chiến luật pháp kéo dài vụ kiện tuần báo Stern để  biết câu chuyện có thật hay không. Tòa án phải mất nhiều năm để phán quyết thuận lợi cho Stern, một chỉ dấu chứng tỏ sự khó khăn trong việc giải quyết qua phương pháp của luật pháp những cái vã phát xuất từ thế giới phức tạp của tình báo.

 Những câu chuyện cá nhân tại Đức có khuynh hướng thay đổi rất là oái ăm. Không bao lâu sau khi Đông Đức sụp đổ và các hồ sơ của Stasi công khai rộng mở, trong đó những chi tiết về sự phản bội của Van Nouhuys vẫn còn được lưu giữ, cùng với hàng trăm ngàn câu chuyện đời định mệnh, đáng quở và thảm khốc của những người khác, tôi mở xem một tờ báo lá cải và thấy lời chú giải của Hans van Nouhuys đập vào mắt tôi. Luôn thay đổi để thích ứng với thời thể, anh ta đã tự chuyển hóa để biến thành một chuyên gia về Bộ Công An và cơ quan tình báo hải ngoại Đông Đức.

*

Cái khó khăn của các cục « phản thông tin », như mọi giám đốc tình báo trên thế giới đều biết, là họ có khuynh hướng đáng tiếc tự phát.Các chuyên gia làm việc trong những cục này nặn ra càng lúc càng nhiều những chuyện hoang đường và táo báo. Một trong những giai đoạn mà tôi vẫn còn cảm thấy ghê tởm cực độ phát xuất từ tổng cục trách nhiệm về tôn giáo và đối lập; cơ quan này không do tôi kiểm soát, và trong trường hợp này kẻ thủ phạm đượcMoscownâng đỡ và xúi giục. Vào đầu những thập niên 1980, sợ rằng các sinh hoạt tân Quốc Xã tại Tây Đức lan tỏa và ảnh hưởng đến giới thanh niên Đông Đức, tổng cục này đã tự ý sản xuất những tài liệu tuyên truyền tân Quốc Xã sao chép văn phong lỗ mãng và cuồng loạn của phương Tây và gởi sang Tây Đức. Như họ mong đợi, những tờ rơi này làm cho mọi người tưởng chúng là thật, đưa đến việc bàn thảo tại Quốc hội (Bundestag). Tôi thấy cái trò bẩn thỉu thật là nguy hiểm; một vài vị quan Xô Viết đỡ đầu cho sáng kiến này cảm thấy sung sướng thấy chúng tôi cuối cùng đề cao những tập hợp tân Quốc Xã trong mục đích gây rối loạn hàng ngũ Tây Đức.

 Yếu kém cơ bản của khối tình báo Xô Viết là áp lực chính trị liên tục để sản xuất chứng cớ về thói hư tật xấu của phương Tây và dùng chúng trong tuyên truyền quy mô để chống phá kẻ thủ. Trận chiến tuyên truyền của Chiến Tranh Lạnh dùng những từ ngữ đạo đức để che dấu trên thực tế bản chất kỹ thuật và quân sự của cuộc xung đột. Nhưng để cho quần chúng ở hai bên bức màn sắt tiêu thụ, chính quyền của đôi bên vì vấn đề sinh tử phải biến kẻ thù thành quỷ dữ và từ đó họ tuyên bố họ hành động có chính nghĩa và có luân lý trong khi đó kẻ đối nghịch phá vỡ nguyên tắc cư xử văn minh.

 Hậu quả độc hại của việc này là lâu lâu có những sĩ quan tình báo bịa chuyện hoàn toàn để chứng tỏ với bộ tổng tham mưu họ đang phản công kể thù trong khi họ chẳng làm gì hết. Người ta được biết các sĩ quan tình báo Moscow cư trú tại các sứ quan ở ngoại quốc lâu lâu gởi báo cáo về đã gặp gỡ các điệp viên và các nguồn tin ma, để xuất hiện trước mắt cấp trên của mình như một người chăm chỉ làm việc.

 Loại phong cách này không thể che dấu được lâu trong tình báo hải ngoại, bởi vì tất cả thông tin do điệp viên và nguồn tin thâu lượm được đều được các sĩ quan nghiên cứu kỹ lưỡng không chậm trễ, do đó những mánh khóe và những trò quái gở sẽ bị phát giác nhanh chóng một khi thông tin nguyên thủy được đem ra đối chiếu. Tuy nhiên, nguy cơ có những hành động như vậy rất dễ xảy ra trong cơ quan phản gián. Nơi đây, Mielke tạo nên một không khí nhà kính bằng cách ép buộc các sĩ quan thực hiện những việc không thực tế để chứng tỏ với nhóm Xô Viết và cấp lãnh đạo của chúng tôi chỉ có nhân viên của ông mới đánh bật được gián điệp của phương Tây ra khỏi nước CHDCĐ. Năm 1979 phong cách này cuối cùng dẫn đến sự việc đáng tiếc của ASA.

 Đôi lúc các kẻ đào thoát từ Quân Đội Nhân Dân sang Tây Đức và cảm thấy cuộc sống ở đây không quyến rũ và dễ dàng như họ thấy trên màn ảnh truyền hình, xin trở về Đông Đức. Vị thế của những kẻ đào ngũ như vậy luôn luôn bấp bênh. Họ được phép như vậy vì sự trở về của họ là một phương tiện tuyên truyền tốt và ngăn cản rất hưu hiệu những ý đồ đào thoát sau này. Cùng lúc đó, kẻ đào thoát trở về không được chính quyền tin tưởng. Để có một căn nhà ở hoặc việc làm tươm tất, họ phải chứng minh trước những câu hỏi dồn dập và chẳng nhã nhặn tí nào là lần này họ phải trung thành với nhà nước xã hội chủ nghĩa. Không cần phải là tâm lý gia Freud, mọi người đều biết ở thời điểm này về tâm lý họ rất dễ uốn nắn.

 Một trong những mục đích của cuộc thẩm vấn là khám phá xem kẻ trở về có bị tình báo Tây Đức kết nạp không, và nếu có, phương pháp nào đã được áp dụng. Khốn thay, văn phòng Tổng Cục 9 của Bộ Công An tại vùng Suhl (Tổng Cục 9 phụ trách về thẩm vấn) không gạt hái được nhiều thành quả trong lãnh vực này. Ít ai trong số những người bị thẩm vấn có cơ hội gặp gỡ các cán bộ tình báo Tây phương để được kết nạp, hoặc nếu có, chỉ ở mức độ tổng cục trưởng không xem là quan trọng để gây ấn tượng với bộ tổng tham mưu ở Đông Bá Linh.

 Một hôm, hai sĩ quan trung cấp báo cáo là họ đã chấm dứt việc thẩm vấn một lính đào ngũ trở về thú nhận đã nhận tiền của người Mỹ. Đây là một khám phá hay ho hơn là một người làm việc cho Tây Đức. Các sĩ quan báo cáo người này đã được sĩ quan Hoa Kỳ huấn luyện kỹ thuật khuynh đảo bạo động tại những căn cứ tái định cư cho những người Đông Đức đào thoát. Những năm tháng tuyên truyền về những kế hoạch của phương Tây nhằm phát động một cuộc chiến ngấm ngầm tại Đông Âu đang đem lại kết quả. Người này nói rằng Hoa Kỳ đặt tên cho mỗi một người Đông Đức là một « điệp viên công tác hạ tầng cơ sở đặc biệt » hoặc là ASA, viết tắt từ danh từ Đức Agent mit spieller Auftragstruktur.

 Điều này lý ra phải gây báo động. Khởi sự, đây là một cụm từ có âm hưởng Đức, không có âm hưởng Hoa Kỳ – đặc biệt hơn nữa, đây là tiếng Đông Đức bình dân có tính cách khoe khoang. Một sự pha trộn giữa những lời mớm của sĩ quan thẩm vấn và cảm nghĩ của kẻ đào ngũ trở về cho rằng câu chuyện hoang đường của mình càng màu mè chừng nào càng được chính quyền chiếu cố chừng ấy đã khiến cho mọi người thi nhau nhận mình là ASA. Bộ tổng tham mưu của Tổng Cục 9 ở Bá Linh cũng nhúng tay vào, và các quận khác cũng tham dự; Rostock trên vùng biển Baltic cũng đóng góp một câu chuyện, do lời khai báo của một ASA, về một chiếc tàu ngầm bí mật.

 Mielke vui mừng nghe những tin này, vì chúng xác quyết những tiên đoán báo động về mức độ xâm nhập của phương Tây vào Đông Âu và nhu cầu giám sát kỹ lưỡng quần chúng. Trong một cuộc họp với Andropov tôi có mặt, ông khoe khoang ông có những tin tức xác thực về hiểm họa của một cuộc chiến tiềm tàng. Ông trao cho Andropov một tài liệu tối mật vạch rõ những nơi chốn của chiếc tàu ngầm tí hon và, liếc nhìn tôi một cách đắc thắng, giải thích dông dài đây là kết quả của công trình phản gián của ông chứ không phải là của cơ quan Tình Báo Hải Ngoại HVA do tôi lãnh đạo.

 Không ai dám hỏi người Xô Viết đã làm gì với những tài liệu này, vì không bao lâu sau đó, một đồng nghiệp trong quân báo của Bộ Quốc Phòng báo cho biết một vụ xì-căng-đan đang âm ỉ. Những chuyên gia hàng hải và chiến lược của họ tuyên bố, khi phân tích những dữ kiện này, về mặt vật lý Hoa Kỳ hoặc bất kỳ ai không thể nào đặt một chiếc tầu ngầm dưới biển nơi điệp viên công tác hạ tầng cơ sở đặc biệt nói trên đã thấy nó. Lần lữa, những lời khai của điệp viên ASA tan theo mây khói. Việc khám phá những lời khai này hoàn toàn bịa đặt là do luật sư nổi tiếng Wolfgang Vogel chứ không do những cuộc điều tra trong nội bộ cơ quan. Ông Vogel được mời gọi bào chữa cho những ASA kém may mắn này (những kẻ đào ngũ mặc dù thú nhận đã tham gia trong công tác ASA để được nhẹ tội vẫn bị truy tố về tội đào ngũ). Một cách khôn ngoan, Vogel điều tra tỉ mỉ những câu chuyện của họ và khám phá phần lớn là do các thẩm vấn viên trong Tổng Cục 9 tự gài đặt vào. Tệ hơn nữa, xem ra các vị sĩ quan cao cấp trong ngành điều tra không hề tin những lời khai của những ASA, nhưng vì họ bị tràn ngập với những lời khai lý thú này và sự thèm khát những câu chuyện như vậy trong ngành phản gián tại Đông Bá Linh, họ không thể hoặc không muốn ngăn chặn cái trò này để nó không tự khai triển động năng của nó.

 Mielke phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ. Ông cách chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 9 và ra lệnh điều tra. Ông cho một bài lên lớp nghiêm chỉnh về nhu cầu các cơ quan an ninh phải tôn trọng pháp luật. Ông kêu gọi kiểm sóat kỹ lưỡng hơn các thẩm vấn viên và luôn tôn trong quyền người công dân. Ông quát tháo: « Một lời thú tội không thay thế cho nhu cầu triển khai sự thật một cách độc lập. Phương châm thà bất nhiều hơn bắt ít không thể chấp nhận được ». Chúng tôi tự hỏi đây có phải là một Mielke mới không ? Mọi người cảm thấy nhẹ nhõm khi ông kết thức bài giảng với lời khích đông: « Các đồng chí, kẻ thù phải được đối xử như kẻ thù – không nhân nhượng ! ». Cuối cùng chúng tôi thấy ông đã trở lại bình thường.

 Tôi không biết ông có tự thú nhận cái trò ASA là do bầu không khí lồng kính hâm nóng ông đã tạo nên. Toàn bộ sĩ quan cao cấp trong Tổng Cục 9 tạiSuhl đã được âm thâm thay đổi, tuy nhiên không một người trách nhiệm nào bị trừng phạt. Rõ ràng ông bộ trưởng nghĩ rằng sự kín đáo là một lối hành xử khôn ngoan.

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 18 (Markus Wolf)                          

 “…Mielke không bao giờ ngờ việc này có thể xảy ra, nhưng việc giao du với nhóm khủng bố đã vượt quá tầm kiểm soát…”

Chương 13

Phong trào khủng bố và Cộng Hòa Dân Chủ Đức

Ngày 13 tháng 9 năm 1993, Yassir Arafat, chủ tịch của Tổ chức Giải Phóng Palestine và Yitzhak Rabin, thủ tướng Israel, bắt tay nhau trên sân cỏ Tòa Bạch Ốc niêm ấn hiệp ước biểu tượng cho một bước tiến lịch sử trên con đường đi đến hòa bình ở Trung Đông. Một năm sau cả ngườiPalestinevà người Do Thái được trao giải thưởng Nobel Hòa Bình. Trong những năm trước khi xảy ra sự kiện nức lòng này, mối liên hệ với Arafat hoặc tổ chức của ông bị kết án tức khắc là kẻ a dua hoặc ngay cả là kẻ đỡ đầu cho khủng bố quốc tế. Gần hai năm sau, vào ngày 4 tháng 11 năm 1995, Rabin đã phải trả mạng sống của mình vì ban tay của những kẻ khủng bố Do Thái. Đây là những miả mai của lịch sử.

 Mọi người đều nói các sử gia trong tương lai sẽ coi nước Cộng Hòa Nhân Dân Đức là một trong những nước ủng hộ tích cực phong trào khủng bố. Tôi và công trình của tôi bị gạt phăng trong những vụ tố cáo, và lời tố cáo nặng nề nhất đến từ phía người Hoa Kỳ. Hình như họ đã quên chính công việc lâu nay của họ là đã ủng hộ những tên độc tài tàn bạo và tấn cống các chính quyền hợp pháp, một cách công khai và một cách ngấm ngầm, từ việc lật đổ Mossadegh tại Iran, Arbenz Guzman ở Guatemala, và Allende ở Chili để hỗ trợ cho nhóm độc tài gia đình trị Somoza ở Nicaragua và rất nhiều kẻ khác giống như họ trên khắp thế giới.

 Những mối liên kết xấu xa này của cả hai bên là hệ quả bi thảm của Chiến Tranh Lạnh. Việc công khai hóa những hồ sơ của Bộ Công An không hề cho thấy ngành tình báo hải ngoại chúng tôi, cơ quan HVA, có ít nhiều cộng tác với những tổ chức như là Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO) và  Cộng Hòa Dân Chủ Đức hỗ trợ cho một vài nhóm có liên can đến phong trào chính trị khủng bố.

 Bởi vì tôi là giám đốc của ngành cơ quan tình báo của bộ, cho nên không ai lấy làm ngạc nhiên là tôi phải biết tất cả về những mối liên hệ của chính quyền của tôi với nhóm khủng bố. Trên thực tế tôi biết Đông Đức có mối liên hệ với các tổ chức mà phương Tây cho rằng họ là khủng bố. Nhưng, như tôi giải thích sau đây, tôi không được biết những chi tiết công tác quan trọng. Trách nhiệm hàng đầu của tôi là tình báo: thu thập tin tức, nhất là tin mật. Đó là điệp báo chứ không phải là khủng bố. Cá nhân tôi chưa hề can dự trong việc lập kế hoạch hoặc thực hiện những hành động khủng bố.

 Để hiểu nghịch lý của một anh trùm gián điệp không hề biết những mối quan hệ chằng chịt của ngoại giao, tôi cần phải viết hai điều: thứ nhất, những cuộc đấu tranh giải phóng của Thế Giới Thứ Ba đã vướng mắc như thế nào vào trong Chiến Tranh Lạnh; và thứ hai như thế nào nguyên tắc phân ly cứng rắn của Bộ Công An đã tạo nên sự tôn thờ tuyệt đối đầu óc mưu đồ và che dấu bí mật.

 Những giải thích trên không phải là để tìm cách bào chữa cho những gì đã xảy ra và tôi muốn mọi người thấy rõ mục đích của tôi không phải là để chạy tội. Thức tế là nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (CHDCĐ) và các cơ quan tình báo hỗ trợ kỹ thuật và tài chánh cho những tổ chức mà chúng tôi xem là chính đáng, và một vài tổ chức đi vào con đường khủng bố giết hại thường dân trong chính sách của họ. Nước này cũng bảo vệ những kẻ khủng bố trốn chạy Liên Bang Đức. Tôi không tham gia vào việc này, những người khác đều nhưng tay. Họ làm việc của họ, tôi làm việc của tôi. Có lẽ may mắn cho tôi là Mielke, bộ trưởng Bộ Công An, không muốn cho tôi biết, bởi vì điều này sẽ làm tôi sao lãng không tập trung công tác thu thập những bí mật ở hải ngoại.

 Có quá nhiều trách nhiệm cần được chia sẻ và quá nhiều hối tiếc cần phải bày tỏ. Tôi phải nhấn mạnh tất cả những sai trái chúng tôi đã làm không thể nào bào chữa được với những gì phương Tây đã làm dưới chính ngọn cờ của họ trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản, đã khiến cho Việt Nam và một vài nước ở Trung Mỹ và châu Phi phải điều tàn sau khi cuộc chiến địa lý chính trí đã kết thúc. Đây là phương cách cuốc chiến đã diễn ra trên một vài chiến tuyến; tôi không tiếp tay cho kẻ khủng bố theo đường hướng này, nhưng chúng tôi chắc chắn đã huấn luyện và đào tạo những con người theo những phương pháp mà sau này họ lạm dụng.

 Điều này nghe có vẻ phi đạo lý, xuất phát từ một người sống trong một đất nước đã từng bị những báo cáo của Amnesty International (Ân Xá Quốc Tế) chỉ trích trong cách đối xử với những người bị bỏ tù vì tội chống lại nhà nước. Tôi không dám nói là việc thẩm vấn và tiến trình gửi trả về trại giam trong nước chúng tôi không có gì để chê trách, cũng không dám nói là tôi đã lên tiếng đủ để chống lại sự hà khắc của họ vào lúc đó. Nhưng tôi vẫn phân biệt rõ rệt giữa những chế độ trong đó phẩm cách và tự do của con người bị tước đoạt vì chính sách quá tích cực của công an nhà nước – đó là hệ quả của việc đàn áp tại Đông Đức – và việc tra tấn có phương pháp để trừng trị những người đối lập chính trị. Lằn ranh giữa phong cách quá tích cực và sự tàn bạo đã bị vượt qua tại Thế Giới Thứ Ba, và chó dù không cố ý, chúng tôi và các đối thủ phương Tây giúp họ bước qua lằn ranh này. Thử hỏi chúng tôi có ý thức được những gì chúng tôi cung cấp có thể được dùng theo những đường hướng mà chúng tôi không đồng ý ? Lẽ cố nhiên, nhưng tôi không tin rằng Honecker và ngay cả Mielke tìm cách chế tài những hành vị khủng bố hoặc vũ lực đối với dân thường. Với tư cách là một giám đốc của một cơ quan tình báo hải ngoại, tôi chấp nhận trách nhiệm về những lạm dụng này – nhưng không phải là nhận tội. Đây là một phân biệt về đạo đức mà tôi hy vọng độc giả chấp nhận để chấm dứt những thái quá của thời buổi đó.

 Cuộc tranh luận về những định nghĩa khác nhau của « phạm tội » và « trách nhiệm » đã trở nên mỗi lúc một sôi động hơn trong những năm gần đây. Để đem những danh từ này trở về khung cảnh lịch sử của nó, chỉ có một thiểu số dân Đức có tội vì đã phạm những tội ác dưới thời Quốc Xã, nhưng tất cả những Đức sống thuận theo chế độ Quốc Xã có trách nhiệm về những hành vi này. Đây không phải là một sự phân biệt có tính cách hàn lâm. Tội ác thuộc phạm vi xét xử của luật pháp, trách nhiệm thuộc pham vị của lương tâm. Nếu chiếu theo pháp luật, chỉ cần nói tất cả những hồ sơ lưu trữ được đội ngũ cần mẫn của những ủy viên công tố của Liên Bang Đức xem xét, họ không đưa ra được chứng cớ nào, chưa nói đến tang chứng, về sự đồng lõa của tôi trong những hành động bạo lực. Tôi cũng đệ ba đơn kiện những tờ báo nói rằng tôi biết Cộng Hòa Dân Chủ Đức chứa chấp những kẻ khủng bố Tây Đức khi Bộ Công An làm việc này; tôi không hề biết. Hơn thế nữa, tôi bị Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối không cấp chiếu khán viện cớ là tôi đã có lần thương thảo với bọn khủng bố. Tôi không thấy họ trưng bày chứng cớ để hỗ trợ cho những lời kết án này. (Cũng nên chú ý là CIA không hề thắc mắc khi họ mời tôi sang Hoa Kỳ năm 1990, mặc dù là Bộ Ngoại Giao hầu như không biết chuyện này khi họ ngăn cấm tôi sáu năm sau.)

 Như câu chuyện của tôi sẽ làm sáng tỏ, các bộ trong cùng một chính quyền, ngay cả những ngành có liên lạc mật thiết với nhau như cục đối ngoại và cục tình báo hải ngoại, không nhất thiết phải biết cục kia làm gì – cho dù cục này nằm ở tại Langley, Virginia, chi nhánh lớn của Washington, D.C, có biệt danh là Foggy Bottom (Cái Đáy Mờ Ảo), hoặc là ở tại Đông Bá Linh khi nó vẫn còn là thử đô của Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Tôi sẽ đề cập ở đây những gì tôi biết và tôi để độc giả xem xét tội phạm của tôi, mà tôi từ khước, đối nghịch lại với trách nhiệm tinh thần của tôi, mà tôi chấp nhận.

*

Tôi đang nói đến những mối tương quan với Thế Giới Thứ Ba mà chúng tôi liên kết trong những phong trào giải phóng, và điều này chuẩn bị và điều kiện hóa chúng tôi để dễ chấp nhận những tổ chức giải phóng áp dụng chính sách khủng bố. Nhìn lại, tiến trình này xem ra không thể nào tránh được, nhưng vào lúc đó vẫn có thể tránh được. Tất cả khởi sự tại châu Phi trong khoảng nửa quãng lịch sử ngắn ngủi của Đông Đức. Vào ngày 18 tháng Giêng năm 1964, nước Cộng Hòa Zanzibar nhỏ bé, bao gồm hai hòn đảo nằm ngoài khơi Đông Phi, tuyên bố độc lập. Đậy là mọt sự kiện chẳng lấy gì làm to tát lắm đối với thế giới. Vào thời buổi này, các thuộc địa châu Phi luân phiên nhau tuyên bố độc lập, ngoài những người sưu tập tem lạ, chẳng mấy ai để ý đến Zanzibar.

 Quốc gia tân lập này gây sự chú ý của chúng tôi khi họ thình lình muốn có quan hệ ngoại giao với Đông Đức. Họ khiến quốc gia này trở thành một quốc gia không theo xã hội chủ nghĩa đầu tiên thách thức chủ thuyết Hallstein của Bonn, theo đó Tây Đức ép buộc tất cả các nước trừ Liên Bang Xô Viết lựa chọn một trong hai nước Đức. (Moscow là một ngoại lệ để nhấn mạnh quan điểm của Bonn cho chúng tôi chỉ là bù nhìn của Moscow; họ là những người duy nhất có quyền giữ liên hệ với cả hai nước Đức.) Zanzibar chọn chúng tôi; chúng tôi không chọn họ. Rất có thể ông tổng thống Sheikh Obeid Karume không biết rõ hệ quả của sự ràng buộc ngoại giao trong sự lựa chọn này khi, do sự khuyến khích của một vài thành viên trong tổ chức thanh niên của ông đã có lần thăm viếng một khóa học hè tại Đông Đức, ông chính thức công nhận đất nước chúng tôi. Ngoài những hệ quả ngoại giao rộng rãi hơn, việc công nhận của một quốc gia châu Phi có nghĩa là chúng tôi có những cơ hội mới cho những dịch vụ tình báo. Hoặc thảng tổng thống Karume không ngoan hơn chúng tôi nghĩ, vì bên cạnh công hàm công nhận ngoại giao còn kèm theo một loạt yêu cầu trợ giúp tài chánh và cố vấn an ninh, đặc biệt trong lãnh vực thu thập tình báo nội địa và bảo vệ biên giới. Danh tiếng của chúng tôi đã quả nhiên lan rộng và đây cũng là một cách tán tụng chúng tôi.

 Phình mũi do sự chiếu cố này, Mielke tìm kiếm một thí sinh để làm cố vấn cho cơ quan an ninh mới ra đời của Zanzibar. Chúng tôi đồng ý đề cử TUosng Rolf Markert, một cựu tù binh của trại tập trung Buchenwald và trở thành  sĩ quan cảnh sát cao cấp  sau chiến tranh và hiện nay làm giám đốc vùng của Bộ Công An. Vì chúng tôi không hề có hiện diện ngoại giao tại châu Phi vào lúc bấy giờ, mội người đồng ý là phải có một người hiểu biết về các vấn đề ngoại giao tháp tùng Markert. Tôi chợt nảy ý và đề nghị chính tôi tháp tùng.

 Đây là một ý nghĩ táo bạo để một giám đốc tình báo hải ngoại du hành đến một nơi mà sự tâm phục chưa được rõ, đi ngang qua những lãnh thổ có mối liên kết chặt chẽ với NATO để mà đến đó. Mielke có do dự đôi chút những cuối cùng cũng đồng ý. Tôi phải một bài giảng dài về nhu cầu tuyệt đối bảo mật và cành báo không được đề cập công tác này ngay cả vớii phó giám đốc của tôi. Mielke đich thân thu xếp vấn đề an ninh cho tôi và ngay cả giám sát một kế hoạch cấp cứu khẩn cấp trong trường hợp tôi rơi vào một cặm bẫy. Markert và tôi được cấp một loạt những thông hành Đông và Tây Đức giả với nhiều tên khác nhau. Tuổi của chúng tôi được thay đổi trên giấy tờ và chúng tôi, với lòng thích thú, khăn gói lên đường đến nhà một nghệ sĩ cải trang để làm mặt nạ. Mielke nhất định buộc chúng tôi phải mang nó trong suốt hành trình. Cải trang của chúng tôi lẽ cố nhiên ăn khớp với hình ảnh trên những giấy tờ căn cước giả mạo và trên đây chúng là những chuyên viên về giáo dục người lớn.

 Chúng tôi khởi hành vào tháng Hai năm 1964, và trạm ngưng đầu tiên của chuyến bay là Cairo. Markert và trưởng phái đoàn ngoại giao thực sự ngồi ghế thượng hạng, nhưng để không ai chú ý đến tôi, tôi ghi tên là một đệ nhất tham vụ nhỏ bé và ngồi nghế hạng du lịch. Khích động đầu tiên là một trận bão cát đã buộc chúng tôi phải hạ cánh xuống Athens, đúng như mối lo ngại của Mielke, sợ tôi bị bắt trên lãnh thổ của NATO. Markert và tôi , hai chúng tôi phân cách nhau và ngủ trọ tại hai khách sạn khác biệt. Điều này gây lo ngại, bới vì chúng tôi biết thông hành Đông Đức không có sức bảo vệ nào trên lãnh thổ của NATO. Sáng hôm sau, tôi phải mất nửa tiếng đồng hồ để dán râu giả vào vị trí thích hợp với hình ảnh trên giấy thông hành.

 Có những trạm thông quá ở lại lâu dài ở Cairo, Adis Abeba và Mogadishu. Cuối cùng chúng tôi đến Nairobi, nơi đây chúng tôi bị lấy thông hành và chúng tôi không được phép lấy chuyến máy bay liên kết. Chúng tôi đoán chừng tuyến đường của chúng tôi đã bị theo dõi từ Cairo, nơi đây chúng phải kê khai với các viên chúc Anh để có chiếu khán để đi Liên Hiệp Đông Phi (Zanzibar, Tanganyika, Kenya, Uganda). Sau một thời gian chợ đội sốt ruột, chúng tôi không bị điều tra hơn nhờ sự can thiệp của bộ trưởng ngoại giao Kenya Oginga Odinga, sau này trở nên phó tổng thống. Con của ông đang học tại Đông Đức, và khi thấy tên quen thuộc của thứ trưởng ngoại giao Wolfgang Kiesewetter trên danh sách của phái đoàn chúng tôi trình đệ cho ông ta, ông ra lệnh cho phép chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Khi chúng tôi tới Zanzibar, toàn bộ chính phủ ra đón chúng tôi, một đội lính danh dự đóng bộ quân phục thời đế quốc Anh cũ và một ban nhạc cảnh sát hòa tấu những bài van-sơ Áo. Họ đã yêu cầu chúng tôi đem theo quốc ca của Đông Đức, nhưng trong lúc chờ họ tập hòa nhạc chúng tôi phải nghe những bài của Strauss. Ông thứ trưởng ngoại giao gặp rất nhiều trở ngại trong lúc diễn hành quan sát đội lính danh dự với nhịp điệu du dương của bài Giòng Sông Xanh (Blue Danube). Làm người Đông Đức ở tại một nước Zanzibar thời hậu thuộc địa quả là một thú vị. Vào những ngày nghỉ trọng thể như ngày 1 tháng 5 của chúng tôi, được đưa vào Zanzibar để vinh danh chúng tôi, chúng tôi được quần chúng nhận diện nhanh chóng và bao quanh. Quần chúng vui vẻ tiếp thu những mong đợi của chính phủ về chúng tôi. Các ca sĩ dẫn dắt đám đông hát những lời ca tán túng vẻ đẹp và sự phồn thịnh của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Rõ ràng nước CHDCĐ đã đạt được vị trí một đất nước thơ  mộng và  giàu có trong trí tưởng tượng của quần chúng.

 Cho dù những buổi ăn mừng có đẹp đến đâu, tình hình không mất tốt đẹp. Những nỗ lực của chúng tôi nhằm đặt để những kế hoạch làm việc vững bền và những công việc thường nhật trong thời gian chúng tôi ở lại đây đều vô vọng. Thường xuyên, chúng tôi đến họp để chỉ thấy người này bị đuổi việc và một người khác không rõ diễn tiến của cuộc thương thảo hoặc của kế hoạch lại ngồi đó. Thoạt đầu, những điều này xem có vẻ như những trở ngại nhỏ so với những đêm dài dạo mát quanh những biệt thự sang trọng , nơi chúng tôi ở, sân đánh golf nay không còn ai chơi, nghĩa địa Ấn độ, và những cái chòi đất ở ngoại ô thành phố. Tại đây, những người đàn ông ngồi tán gẫu và hút thuốc cho đến mờ tối trong khi các bà tiếp tục công việc đồng áng.

 Những giao thiệp với Ibrahim Makungu, sau này được bổ làm giám đốc an ninh, lúc ban đầu xem ra khó khăn. Chúng tôi cần biết những nhận định chân thật về ưu tiên của đất nước anh ta, nhưng Makungu đã nhận được lệnh của ông tổng thống không tiết  lộ điều gì hết và tìm cách khai thác chúng tôi tối đa. Thực ra, anh quá kín đáo đến độ từ chối không cho chúng tôi biết tên thật của anh. Tôi chỉ khám phá tên thật của anh khi anh để quên những mẩu giấy anh thường ghi chép những điều bí ẩn bằng tiếng Swahili trong đó ông hủy bỏ một cuộc họp mặt đã dự bị trước, kết thúc bởi những hành chữ sau: « Công việc của chúng ta khó khăn và bí mật. Simba ». Tôi hỏi anh đầu bếp Simba là ai vậy và tôi được biết không những tên đầy đủ của anh mà cả một số chuyện về anh. Anh đầu bếp nói, trong quá khứ, Makungu đã làm việc với Ngành Đặc Biệt của Cảnh Sát thuộc địa Anh.

 Đến từ một nước trong đó tất cả mọi người trong đảng cẩm quyền đoàn kết với nhau để thực hiện những mục tiêu đã định, chúng tôi không quen thuộc với một chính quyền gồm những cá nhân chia rẽ nhau vì những mục tiêu và quyền lợi khác biệt. Một vài đối tác của chúng tôi tự xem mình là người của Xã Hội Chủ Nghĩa, trong khi đó những người Hồi Giáo nhìn họ và chúng tôi với cặp mắt nghi ngờ. Nhưng không ai ngại ngùng xin xỏ và sau đó chỉ trích chúng tôi vì chúng tôi không cung cấp được hàng hóa. Họ thiểu não đưa cho chúng tôi xem những chiếc tàu mục nát, những đài phát thanh cũ và những đường dây điện thoại sờn cũ do người Anh để lại, họ hy vọng chúng tôi có thể trang bị lại hạ tầng cơ sở của cả một nước.

 Quyền lãnh đạo Zanzibar được chia sẻ giữa Tổng Thống Obeid Karrume, trước đây là thủ lãnh của công đoàn thuyền nhân, nói chuyện như đoàn viên nghiệp đoàn Anh và những phó tổng thống của ông, Abdullah Kossim Hanga và Abdulrahmann Nbabu. Họ hỗ trợ trái ngược nhau và cùng một bầu nhiệt huyết mô hình Cộng Sản Xô Viết và Trung Hoa, lúc bây giờ đang kình chống nhau dữ dội. Hanga đã đi du học tại Liên Bang Xô VIết, trong khi đó Nbabu biểu hiện lòng mến mộ Mao Trạch Đông cho vặn bài « Quốc Tế Ca » trên đĩa hát sao chép trầy trụa thật lớn trong những buổi tiếp tân. Cái túi hổ lốn ý thức hệ này có lẽ giải thích tại sao Zanzibar đã chọn Đông Đức làm đối tác hàng đầu. Tôi mau chóng thấy sự hiện diện của chúng tôi tại đây đơn thuần do một tính toán chính trị. Bởi vì Liên Hiệp các Quốc Gia Đông Phi lệ thuộc về mặt kinh tế vào trao đổi thương mại truyền thống và liên hệ tài chánh với Anh Quốc, mối liên hệ trực tiếp với một trong hai cường quốc Cộng Sản xem ra không khôn ngoan. Chúng tôi khá tiến bộ về mặt kinh tế để trở thành người cố vấn hữu dụng và người cung cấp hạ tầng cơ sở an ninh ( phải mất nhiều năm trời để Zanzibar tiến bộ và có được những kỹ thuật cần thiết), nhưng không lớn để tránh làm phiền lòng những nguồn cung cấp lợi tức khác.

 Một vài tháng sau khi chúng tôi đến, hòn đảo rúng động vì những lời đồn hai nước Zanzibar và Tanganyika sát nhập thành một. Điều này liên quan đến chúng tôi, bởi vì Julius Nyerere lãnh đạo Tanganyika và vẫn giữ những mối liên lạc mật thiết với Luân-đôn. Nếu việc kết hợp thành công , chung tôi e rằng chính phủ Anh sẽ áp lực Zanzibar chấm dứt cộng tác với chúng tôi. Tệ hơn nữa, chúng tôi đang ở vị thế bất ổn làm cố vấn tình báo cho một nước mà không một ai trong số những đối tác có ý định cho chúng tôi biết chuyện gì đang xảy ra trong nước.

 Ngày 24 tháng Tư năm 1964, chúng tôi nhận được tin sự kết hợp đã thành hình và tên của tân quốc gia này là Tanzania. Ngày trước hôm đó, tôi được bảo đảm là chuyện này không được trù tính và đã bay sang hòn đảo nhỏ Pemba để kiểm tra văn phòng an ninh mới. Tôi nhận được tin này trong khi tôi đang ngồi cùng với những tân binh mới kết nạp để trả lời những câu hỏi về mối liên hệ giữa chủ nghĩa Marx và tôn giáo cho đến tờ mờ tối. Tôi bực bội chấm dứt cuộc thăm viếng và bay trở về đảo lớn. Một chiếc tầu hàng hóa Đông Đức đã dời chuyến lên đường để đưa tôi về nước, nhưng sau ba tháng công tác ấm ức, tôi không chấp nhận rời bỏ để chính mắt tôi phải thấy Zanzibar có còn trung thành với chúng tôi không. Chúng tôi hiện nay có những vốn liếng cá nhân và tài chánh tại Zanzibar, vì chúng tôi đã thành lập một hạm đội thuyền nhỏ cho lính biên phòng, thủy thủ và công binh có huấn luyện tại Đông Đức. Trái với những điều lo lắng của chúng tôi, Zanzibar giữ được tính cách tự trị của mình ở mức độ cao. Chân dung của Nyerere được treo thấp hơn chân dung của Karume một ít tại các công sở.

 Những nỗ lực của chúng tôi không bị tiêm nhiễm bởi tinh thần bất chấp đạo lý mà sau này nó thấm nhập những mối quan hệ của chúng tôi với Thế Giới Thứ Ba. Chúng tôi nghĩ rằng giúp Zanzibar là chúng tôi đóng góp cho tự do của nhân dân châu Phi và giúp họ cải thiện đời sống. Tôi thiếu thành thật nếu tôi nói chúng tôi không cảm thấy thú vị làm đại diện cho tình báo Đông Đức trong việc điều khiển công tác tại một phần của thế giới, nơi chính quyền Anh và Tây Đức là những ông vua trong khu rừng tình báo. Tôi nhớ một cuộc hành trình đưa chúng tôi đến một trạm tiếp liên vệ tinh của Hoa Kỳ tại Zanzibar. Đứng ở ngoài là một anh lính cầm súng rất to và khi chúng tôi đến anh ta chĩa súng về phía chúng tôi trong lúc chúng tôi tìm lời giải thích. Cuối cùng chúng tôi thuyết phục anh ta cho chúng tôi vào. Trong chuyến đi đầu tiên vào thế giới tư bản, tôi đứng cạnh một trạm tiếp liên vệ tinh của Hoa Kỳ, ngon chưa.

 Trên nhiều phương diện chúng tôi ngô nghê về những hiệu quả của những can thiệp của chúng tôi tại các nước Thế Giới Thứ Ba. Kỹ năng thu lượm tin tình báo, tôi luyện nhờ kinh nghiệm Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Lạnh, được truyền luyện nhờ các sĩ quan liên lạc có tay nghề cao và các chuyên viên của chúng tôi. Nhờ sự chuyên cần, cơ quan an ninh ở Zanzibar đặt đến một kích thước khôi hài. Tương quan với dân số, chẳng bao lâu họ có kích thước lớn hơn chúng tôi và mau chóng tạo nên một động năng mà tầm ảnh hướng của chúng tôi không còn đụng chạm đến nữa. Karume, vướt sự tiên đoán của chúng tôi, thích gây cạnh tranh giữa các quyền lực ngoại bang, và vị thế của chúng tôi bị sói mòn vì người Trung Hoa ồ ạt đổ vào năm 1965. Chúng tôi cảm thấy đặc biệt chua xót khi chúng tôi , vừa xoay sở song để giao những tàu đánh cà bằng lưới rà cho họ vì chính quyền của họ nài xin chúng tôi cung cấp, thấy món quà của chúng tôi bị che lấp bởi việc phái đoàn Trung Hoa đến và đem theo những thiết bị nông nghiệp. Chúng tôi càng lúng túng hơn khi nhận ra những chiếc tàu này không thích hợp với vùng biển hoạt động.

 Người Trung Hoa tỏ ra rất khôn ngoan trong việc sinh cơ lập nghiệp. Trong vòng một vài tuần lễ, hình ảnh của Ulbricht hoặc là đã bị tháo gỡ tại các công sở hoặc bị lấn lướt bởi những hình ảnh to lớn và hùng vĩ của Mao. Moscow ghi nhận rất kỹ lưỡng những biểu hiện này và yêu cầu báo cáo có bao nhiêu bức hình của vị lãnh tụ Trung Hoa được trưng bày và ở đâu. Chúng tôi làm một công tác vô bổ để đếm những hình ảnh này.

 Trước khi tôi rời Zanzibar, có một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đã ghi khắc trong tấm trí của tôi. Tất cả những người ngoại quốc được mời đi gặt nhổ cây sắn, thức ăn quan trọng nhất trong vùng. Chúng tôi được các đội nhạc và ca vũ tiếp đón và sau đó mọi người bắt đầu đốn và thu góp cho đến khi lưng chúng tôi nhức mói. Cạnh bên tôi, một người nhỏ bé nhưng mạnh mẽ, có dáng dấp nhanh nhẹn đang làm việc, đó là lãnh sự Hoa Kỳ tại Zanzibar. Cải hai chúng tôi được mởi ra và được báo với những lời lẽ thật là nhã nhặn chúng tôi đã nhìn lầm những bó cấy mỉ nhỏ mềm mại là cỏ dại, nhổ chúng đi và ném vào đống rác. Tôi tự hỏi không biết ông Mỹ này có tên là Frank Carlucci, không những là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tài ba mà còn là phó giám đốc của CIA, có biết tôi là ai không.

 Mặc dù trải qua kinh nghiệm ở Zanzibar, động cơ thúc đẩy ban đầu của chúng tôi nhằm trải rộng công tác ở Thế Giới Thứ Ba không tan biến. Chúng tôi tiếp tự tìm kiếm công nhận ngoại giao cho nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Khoảng năm 1969, chúng tôi bị tràn ngập vì những thăm viếng và những lời yêu cấu trợ giúp. Syria và Ai Cập phá vỡ chủ thuyết Hallstein và tìm kiếm chúng tôi, tiesp theo là Soudan, cả hai nước Nam và Bắc Yemen, Công/Brazaville, Kampuchea và phong trào giải phóng Rhodesia, ZAPU  (Zimbabwe African People’s Union). Một buổi tiếp tân bộ trưởng nội vụ Ai Cạp có nghĩa là tất cả những cửa sổ phải được lau chìu sạch sẽ hai lần do lệnh của Mielke, và sân trong của bộ đày những đội binh danh dự và ca đoàn thiếu niên. Tôi bắt đầu cảm thấy những mối liên hệ này là một gánh nặng không thú vị và vô bổ, cho dù việc thăm viếng những nói lạ lẫm có tính chất phiêu lưu ngoạn mục. Chúng làm cho cả hai chúng tôi Mielke và tôi xa rời nhiệm vụ căn bản chiếm thế thượng phong trong cuộc chiến tình báo hải ngoại ở Châu Âu. Tôi luôn luôn tập trung  những cố gắng của tôi vào Tây Đức, nhưng bây giờ những sĩ quan trung cấp đã bị trưng dụng vào những công tác ở Thế Giới Thứ Ba trong một thời gian dài, kiềm hãm chúng tôi trong một số quốc gia do những chính quyền yếu kém và những con người mở ảo lãnh đạo. Cho dù tôi cảm thấy bức bối, những công tác này thoát khỏi tầm kiềm soát của chúng tôi. Đường hướng chỉ đạo cho những hợp tác như vậy phát xuất từ cấp lãnh đạo chính trị, và các cơ quan tình báo chỉ biết tuân lệnh.

 Trong một thời gian ngắn, mối liên hệ của chúng tôi với Ai Cập xét ra đặc biệt hữu ích. Sau Chiến Tranh Sáu Ngày năm 1967, Tổng Thống Gamal Abdel Nasser cho biết qua bộ trưởng nội vụ Tướng Sharawi Gomaa, ông muốn trao đổi thông tin tình báo với chúng tôi. Phụ tá của tôi đi qua Cairo và được tiếp đón theo nghi lế ngoại giao trịnh trọng. Nasser muốn chúng tôi giúp đỡ điều tra sự xâm nhập của Israel trong chính quyền và quân đội của Ai Cập – Nasser nghĩ rằng đó là lý do tại sao Ai Cập bại trận.

 Nasser tỏ vẻ thất vọng khi chúng tôi báo với ông chúng tôi không có điệp viên ở Israel, nhưng đó là sự thật. Thực ra, trong ba mươi ba năm lãnh đạo tình báo hải ngoại, chúng tôi chưa bao giờ tìm cách xâm nhập tình báo Israel. Moscow cũng có áp lực để ép chúng tôi thục hiện việc này, và đã có vài cố gắng vào những năm đầu để tuyển dụng những người di dân Do Thái đến ở Israel, nhưng chẳng bao giờ thành công. Xét cho cùng, tôi đành chấp nhận tiếp thu những thông tin chúng tôi cần về Trung Đông do những nguồn tin tại Hoa Kỳ và Tây Đức và , sau cùng, từ các cơ quan an ninh của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO). Tôi lo lắng chúng tôi sẽ vướng mắc vào Trung Đông, nhưng chính quyền Xô Viết nhất quyết xem Israel là kẻ thù. Tôi sẽ không bao giờ lãng phí thời giờ và tiền tài để thu thập tin tình báo chỉ để trả đũa quốc gia Do Thái nhân danh khối Ả Rập. Tôi xem Do Thái như bất cứ một nước đối tượng nào. Một khi tôi thấy rõ tỷ lệ cố gắng và kết quả không tương xứng về mặt xâm nhập, tôi ngưng nỗ lực cài đặt điệp viên tại Israel.

 Dù sao đi nữa, cũng có những chỉ dấu là Ai Cập cũng chơi trò nước đôi trong việc đề nghị trao đổi thông tin. Chúng tôi muốn có tin tình báo về những hoạt động tình báo của các nước trong khối NATO tại Trung Đông và chúng tôi được giới thiệu đến cấp lãnh đạo của tình báo Ai Cập, cơ quan Muhabarat. Ông ta tỏ ra láu lỉnh và dùng bí danh khi gặp chúng tôi lần đầu. Chúng tôi biết ông ta cũng hành xử như vậy với CIA và chúng không muốn phiêu lưu để những câu hỏi của chúng tôi được chuyển cho người Hoa Kỳ. Để gây thêm tin tưởng của chúng tôi đối với họ, các đối tác của chúng tôi ở Cairo dẫn người đại diện của chúng tôi thăm viếng một cơ sở bí mật sản xuất tên lửa, được một công ty Áo vơi sự giúp đỡ của Pilz, một đồng nghiệp cũ của nhà khoa học phi tiễn Đức Wernher von Braun. Người Ai Cập nghĩ rằng cơ xưởng này đã bị phá ngầm và họ muốn chúng tôi tìm ra kẻ gây rối. Sợ rằng cơ quan chúng tôi có thể bị xem là một loại cơ quan tham vấn tình báo có thể thuê báo bất cứ lúc nào đẻ giải quyết những vấn đề nội bộ của các nước, tôi từ chối lời mời.

 Tôi tin rằng chúng tôi phải chứng tỏ một tinh thần dấn thân và đoàn kết chính trị trong những công tác hải ngoại hơn là chấp nhận những thỏa hiệp tức thì với những quốc gia mà rốt cuộc lòng trung thành không nghiêng về phía Liên Bang Xô Viết và Đông Âu. Trong một thời gian ngắn, tôi thấy rõ là những trao đổi với Ai Cập không có những hiệu quả mong ước, chúng tôi chấm dứt ngay, mặc dù chúng tôi vẫn giữ mối liên hệ các nhân với Gomaa và Bộ Trưởng Nội Vụ của ông. Sau khi Naser chết vào năm 1970, người kế vị, Anwar Sadat, tố cáo Gomaa về tội phản nghịch. Đường giây liên lạc của chúng tôi tại Cairo giảm xuống chỉ còn một sĩ quan liên lạc ở trong tòa Đại Sứ CHDCHĐ, mà trọng tâm công việc của đương sự là an ninh của tòa đại sứ và của toàn nhân viên. Chúng tôi tin cậy vào những nhân viên thường trú – thành viên của những ngành tình báo cải trang làm nhân viên ngoại giao trong tất cả các tòa đại sứ ở ngoại quốc, để thâu thập tin tức về Tây Đức, Hoa Kỳ và những sinh hoạt tình báo của NATO tại Cairo.  Thường trú của chúng tôi tại Cairo gởi những tin tức về Ban 3 của HVA, trông coi về Trung Đông, rồi sau đó được chuyển cho giám đốc Tổng Cục 3, trách nhiệm về Thế Giới Thứ Ba, rồi chuyển cho phụ tá của tôi, tướng Horst Jänicke. Ông sẽ chuyển  cho tôi những thông tin ông xét là quan trọng. Điều này cũng áp dụng cho thường trú của chúng tôi tại Washington và tại trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Nữu Ước. Họ gởi hồ sơ cho Tổng Cục 11, đặc trách về Hoa Kỳ, và sau đó chuyển lên cho giám đốc Tổng Cục XI, và từ đây được gạn lọc để đệ trình lên Jänicke.

 Một vài tháng trước khi Nasser chết, tháng Năm 1969, một nhóm sĩ quan cấp tiến đã cướp chính quyền tại Sudan dưới sự lãnh đạo của Gaafar Mohammad Numeiry, chỉ huy trưởng trường cao đẳng quân sự Sudan. Quên đi những nhọc nhằn của chúng tôi tại Zanzibar, chúng tôi xét thấy Suadan là một lãnh thổ đầy hứ hẹn và có thể là đầu cầu đi vào Trung Đông. Bộ Tư Lệnh Cách Mạng có ý định thiết lập một kiểu chủ nghĩa xã hội Ả Rập và yêu cầu trợ giúp an ninh và kinh tế của Đông Đức.

 Hiểu biết của tôi về Sudan thực ra còn mơ hồ. Tôi chỉ biết phía Bắc của quốc gia này có một truyền thống lâu dài chiến đấu chống chế độ thuộc địa của Anh. Người Sudan không tin cậy Ai Cập bởi vì Ai Cập đã từ lâu là nước ủy nhiệm của Anh trong vùng. Cuộc tranh giành nội bộ giữa người Hồi phía Bắc và người Công Giáo duy linh phía Nam gây nên xáo trộn. Làn sóng người tị nạn từ Congo, Zaire và Ethiopia khiến cho nạn nghèo đói trầm trọng hơn.Vì vị thế chiến lược của nó nên nó nhung nhúc cơ quan tình báo và lính đánh thuê, hoạt động không ai kiểm soát và rất thường có những mục tiêu chồng chéo lên nhau ngay trong cánh của mình.

 Lần đầu trong một cuộc viếng thăm ngay sau khi cách mạng thành công, tôi nhận thấy các sĩ quan trẻ  tôi đã gặp chỉ có một ý niệm mơ hồ về xã hội chủ nghĩa mà bây giờ họ phải bảo vệ. Động cơ thúc đẩy họ là những yếu tố khác: lòng mong ước dộc lập, tinh thần huynh đệ chi binh và lòng mong muốn củng cố đúc tin Hồi giáo dưới một danh xưng khác. Một người hãnh diện nói với tôi anh ta là người xã hội chủ nghĩa vì mỗi thứ sáu anh cho người nghèo ăn uống. Thái độ nói chuyện của tôi với Numeiry xem ra lạnh nhạt và đi thẳng vào vấn đề. Tôi có lần đi cùng với anh đến một cuộc họp mặt công cộng và quan sát anh nhảy ra khỏi chiếc xe jeep, đọc một bài diễn văn ngắn ngắt đoạn với những tiếng huýt sáo của đàn ông và tiếng la hét của đàn bà, và dàn xếp những đoàn tán tụng, rồi anh ta lại nhảy lên chiếc xe jeep, rồ máy chạy, tất cả chỉ trong vòng một vài phút. Tôi có những mối liên lạc mật thiết hơn với Faruq Othman Hamadallah, lãnh đạo các Bộ Nội Vụ và Công An. Phần đông các nhân viên cảnh sát và an ninh học nghề từ người Anh hoặc người Ai Cập và trông ra phong cách của họ giống hệt người Anh. Khi họ vào hoặc rời phòng, họ cặp giữa nắm tay và cùi chỏ một cây gậy ngắn, và quay tròn trong bước quân hành.

 Tôi gặp lần đầu tiên Hamadallah tại vườn nhà ông ta. Ông cao lớn, lực lưỡng và màu da đen của ông tràn đầy sinh khí. Ông vẫy tay mời gọi tôi vào trong khi tay kia vuốt ve con chó chăn cừu. Ông ngắn gọn nói cho tôi biết những khó khăn trong việc thành lập một cơ quan an ninh kiên quyết và khách quan để đối phó với những phức tạp của đất nước to lớn của ông. Ông giới thiệu mau chóng một người ngồi cùng bàn với chúng tôi, một người mặc y phục kaki nhỏ bé hơn, mang một tên Ả Rập. Sau này tôi gặp lại ông này khi Đông Đức giao thiệp với Nam Yémen – ông tên Mohammed Saleh Mutea, giám đốc an ninh, và sau này làm bộ trưởng ngoại giao của Yémen; cuộc đời ông chấm dứt khi ông bị đầu độc trong tù vì bất đồng với đảng cầm quyền.

 Hamadallah là một trong những chính trị gia hiếm hoi tôi có mối liên lạc thân tình cũng như tình bạn đồng nghiệp. Ông đến thăm tôi nhiều lần ở Đông Bá Linh và nói chuyên có chiều sâu và nhiệt tình đối với những vấn đề của đất nước và bối cảnh phức tạp của mối liên hệ giữa thế giới Ả Rập và châu Phi đen. Mặc dù trước đây ông chưa bao giờ viếng thăm một nước xã hội chủ nghĩa, ông có những nhận định đúng đắn về con đường khả dĩ đưa châu Phi đến chủ nghĩa xã hội. Ông bày tỏ nỗi lo ngại của ông cho tôi rằng Numeiry có thể giải tán hội đồng cách mạng và thúc đẩy mối quan hệ với phương Tây. Ông buồn bã nói « Ông không thể giúp chúng tôi trong việc này. Chúng tôi phải tự giải quyết vấn đề này».

 Quả nhiên lời tiên đoán của ông đã xảy ra. Năm 1970, Numeiry thay đổi đường hướng và đuổi Hamadallah và các thành phần thiên tả khác ra khỏi hội đồng cách mạng. Năm sau, tiếp theo một cuộc đảo chánh bất thành của nhóm thiên tả, Numeiry thanh lọc tất cả thành phần xã hội chủ nghĩa ra khỏi chính quyền. Hamadallah lúc đó đang ở Luân Đôn và không nghe lời khuyên nhủ của chúng tôi, quyết định trở về nước để quy tụ lại lực lượng chống Numeiry. Chiếc máy bay chở ông về bị ép phải hạ cánh tại Lybia do lệnh của lãnh tụ Đại Tá Muammar Qaddafi và họ nhanh chóng dẫn dộ Hamadallah và một người đồng nghiệp trả về Sudan và giao cho Numeiry. Ông bị kết án tử hình tại Sudan. Sau đó, tôi thấy hình ảnh của ông trên đài truyền hình, trước khi lời kết ấn được tuyên bố, ông điềm đạm nói chuyện với lính gác và đang hút một điếu thuốc. Một giờ sau khi đọan phim kết thúc, ông bị hành quyết. Tôi cảm thấy buồn và mất mát khi nghe tin. Lại thêm một người bạn đã thua một trận đấu đẹp và đáng giá.  Ngay cả bây giờ, tôi vẫn nghĩ Sudan mất đi Hamadallah là mất đi một trong những người tài giởi nhất của đất nước họ, ông đã đi trước thời cuộc và đất nước của ông. Trong không khí chính trị bạo động và thay đổi này, chúng tôi không thể nào tiếp tục làm cố vấn tình báo cho Sudan. Chúng tôi rời Sudan năm 1971 và không bao giờ trở lại nữa.

 Không bao lâu trước khi rút khỏi Sudan, tôi đụng chạm với một trong những tay lính đánh thuê nổi tiếng của thế kỷ này, Julius Steiner (không nên lẫn lộn với Julius Steiner một dân biểu trong quốc hội Tây Đức mà chúng tôi hối lộ). Sinh tại Munich năm 1933, Steiner là một mẫu lính đánh thuê điển hình. Đương sự bắt đầu sự nghiệp trong hàng ngũ Lính Lê Dương Hải Ngoại của Pháp với trong Đơn Vị Hành Quân Đặc Biệt, đánh lại các lực lượng của Hồ Chí Minh vào thời kỳ chiến tranh Việt Nam giành độc lập chống Pháp. Sau khi Pháp thua trận năm 1954, đương sự đem khả năng hiếu chiến của mình vào chiến trường Algeria và cuộc chiến kết thúc khi Algeria giành lại độc lập nơi tay người Pháp năm 1962. Cuộc phiêu lưu độc lập đầu tiên của y là cuộc nội chiến tại Nigeria, xảy ra năm 1967 vì vấn đề tranh chấp quyền lợi về dầu hỏa. Trong vùng có nhiều dầu hỏa nhất, tự tuyên bố tự trị lấy tên là Biafra, y giúp huấn luyện các biệt kích Biafra, và từ đó bắt đầu liên lạc với một số cơ quan tình báo Châu Âu, Trung Đông và Châu Phi. Steiner đã biến Biafra trở thành một lãnh thổ quân sự hóa nhất ở Châu Phi, được Tây Đức và các thương buôn vũ khí cung cấp vũ khí trị giá 20 triệu Mỹ kim, bao gồm cả loại tên lửa Cobra và Roland tối tấn nhất thời đó. Đội quân riêng của y gồm vài ngàn người và tuân hành dưới lá cờ sọ người với hai khúc xương đan chén nhau.

 Khi việc mạo hiểm này của y sụp đổ, Steiner được quân phiến loạn Sudan phía Nam thuê mướn. Cơ quan tình báo Anh hưởng lợi trong dịch vụ này. Steiner được Beverley Barnard và một đồng nghiệp Anthony Duvall cung cấp bản đồ và thiết bị đài vô tuyến truyền thanh. Barnard trước đây là tùy viên quân sự ở Sudan và là chủ nhân của công ty Southern Airmotive và Duvall là đại diện cho cơ quan tình báo Anh, có nhiều kinh nghiệm nhờ làm việc dưới danh nghĩa một cơ quan cứu trợ nhân đạo của Tây Đức.

 Thông tin của chúng tôi cho biết qua ngã đường này, Steiner có liên lạc với CIA và CIA xem y là một phương tiện để lật đổ chính quyền Numeiry. Qua một trạm bưu điện tại Kampala, ở Uganda, Steiner chuyển danh sách nhu cầu vũ khí đến người Mỹ qua trung gian ông Preston làm việc trong Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Kampala. Tự xưng mình là đại diện của Hội Châu Phi Xúc Tiến Trợ Giúp Nhân Đạo ở Nam Sudan, Steiner tổ chức huấn luyện và trang bị vũ khí cho lực lượng du kích hung bạo, gây đổ máu cho thường dân ở phíaNam cũng như tấn công cảnh sát và quân độiSudan. Steiner đã thiết lập tổng hành dinh và sân bay tại một vùng hẻo lánh Tafeng, gầnJuba. Juba là thành phố chính ở phía Nam Sudan và là nguồn cung cấp nhân lực và vũ khí choUganda. Chính quyềnUganda lại do các cố vấn quân sựIsrael hỗ trợ. Đây là hoàn cảnh rất giống với thế giới Châu Phi hỗn loạn và vui nhộn được Joseph Conrad mô tả trong quyển Heart of Dakness (Trung tâm bóng tối). Trong những buổi lễ hội ăn mừng tiếp đón chúng tôi, chúng tôi nhìn những màn vũ bộ lạc, mê hoặc vì tiếng trống và cử động của các vũ công. Thình lình, một người đàn ông lớn tuổi, thân thể trét đầy tro, chạy về phia chúng tôi, dơ một cây lao ngắn và một con cá. Những hộ vệ của tôi nhảy ra che chắn cho tôi, một người bảo vệ thân thể của tôi và hai người khác bắt lấy ông này. Sau đó, họ nói với tôi rằng tôi đã thoát một âm mưu ám sát do bọn phiến lọan tổ chức.

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 19 (Markus Wolf)                         

 “…Chính yếu tố con người tạo nên sự thành công của công tác tình báo, chứ không phải dụng cụ siêu kỹ thuật làm nên nó…”

Chương 14

Trong Lòng Địch

Thế giới tình báo, Đông và Tây, là vương quốc của bóng tối đạo đức. Những cách hành xử của nó đôi khi kém đạo đức, phương pháp của nó bẩn thỉu. Vì vậy CIA đối với tôi ở vào một vị thế đặc biệt bất lợi vì đã góp phần vào trò múa rối dân chủ để thỏa mãn những đòi hỏi của Hiến Pháp Hoa Kỳ, bất chấp chúng có phù hợp hay không với công tác tình báo. Không một cơ quan tình báo nào có thể trở thành dân chủ và, cho dù nhiều chính trị gia mong mỏi điều này, luôn bị xoi bói mà vẫn có thể thực hiện công tác một cách đúng đắn. Tại cơ quan CIA, phần lớn các sĩ quan cao cấp bỏ thời giờ để soạn thảo tài liệu và tổng kết công việc của họ để trình ra bên ngoài, luôn luôn phải chú ý đến phản ứng của giới chính trị và báo chí.

 Ở Đông Âu, chúng tôi lạc lối trong một chiều hướng trái ngược. Mặc dù chúng tôi viết tài liệu và báo cáo lên cấp trên, có nghĩa là cũng có giám sát công tác tình báo của chúng tôi, nhưng không có việc giám thị thực sự. Các chủ nhân chính trị của chúng tôi về cơ bản họ cảm thấy bất an nên họ nhất định lấy cho bằng được mọi thông tin có tiềm năng đe dọa vị thế của họ và họ chẳng thèm để ý đến phương cách thu thập nó. Erich Honecker chuyên mách lại cho các chính trị giá Tây Đức mà ông mong tìm sự tín cậy là tình báo Đông Đức được lệnh không đụng chạm đến họ. Nhưng một khi trở về nhà, ông ngốn nghiến và chăm chú đọc những báo cáo tình báo về những người này và tỏ ý muốn có thêm thông tin chứ không kém đi.

 Phong thái của phản gián CIA, theo kinh nghiệm cá nhân tôi đã trình bày ở phần đầu sách này, cho tôi thấy họ chú tâm đến việc chấn an lo âu có một kẻ nằm vùng hoạt động trong lòng CIA hơn là tìm cách phát hiện tay này. Gus Hathaway trình bày cho Ủy Ban Tinh Báo Thượng Viện năm 1985: « Chưa bao giờ có một điệp viên của Xô Viết nào nằm trong lòng của CIA. Có thể chúng tôi không tìm ra tên này, nhưng tôi nghĩ điều này khó có thể xảy ra ». Mặc dù xảy ra sự việc kẻ đào tị Edward Lee Howard, bị CIA đuổi đi cách đó hai năm vì tội sử dụng ma túy và ăn cắp vặt, đã sau đó tiết lộ những bí mật về những công tác của cơ quan tại Moscow nhắm vào Xô Viết, CIA không phát giác được hành động phản bội của y nhưng lại được một sĩ viên chúc cao cấp KGB Vitaly Yuchenko sau khi đào thoát sang Hoa Kỳ tiết lộ. Nói cho ngay, lời tuyên bố của Hathaway phù hợp với sự thật, vì Howard không còn làm việc cho cơ quan khi đương sự tiết lộ những bí mật của cơ quan. Nhưng lời bảo đảm của ông không chắc chắn. Đã từng gặp Hathaway và đánh giá ông là một sĩ quan tình báo nghiêm chỉnh và cần cù, tôi tự hỏi tại sáo ông lại hài lòng che dấu những khuyết điểm của cơ quan bằng phương cách này. Tôi đoán chừng ông lo ngại bôi xấu CIA trước công chúng vào lúc danh tiếng của của cơ quan đang suy sụp.

 Những âm mưu bất thành của CIA nhằm lật đổ Fidel Castro và những chiến thuật liều lĩnh tại Trung Mỹ đã hạ bệ uy tín của họ đối với phe bảo thủ cũng như đối với phe cấp tiến. Những lượng định của các sĩ quan của chúng tôi tại các trạm ở Hoa Thịnh Đốn và Nữu Ước liên quan đến tình báo Hoa Kỳ cho thấy vào những thập niên 1970 và 1980 họ không được kính nể như vào những thập niên 1950 và 1960. Điều này, theo như một tham vấn quản trị có thể nói, ảnh hướng đến tinh thần của những sĩ quan. Tổ chức không những được xem là bí mật và nham hiểm – hầu như là những đánh giá bình thường đối với một cơ quan tình báo có quyền lực – nhưng mờ ám, một danh tiếng mà không cơ quan tình báo nào có thể đương nổi. Cơ quan tình báo là một nơi bất ổn về mặt tâm lý và não trạng phản ánh mau chóng lên việc làm. Những báo cáo về tên phản bội Aldrich Ames cho thấy tâm lý chán ghét bản thân cao độ trong nội bộ CIA. Ames không những chán ghét cơ quan của mình, y còn khinh khi nữa là đàng khác. Tôi không nghĩ tâm trạng này giống tâm trạng của tay phản bội Xô Viết như Oleg Gordievsky. Những tay phản bội của Moscow đổi cánh do sự hỗn hợp những lý do ý thức hệ và cá nhân, nhưng, mặc dù họ biết rõ những điều tồi bại trong KGB, họ không mất lòng kính sợ đôi với nó cho đến khi Gorbachev lên nắm quyền.

 Ames không phải là người tồi dở đầu tiên được CIA tưởng thưởng. Vào những thập niên 1970, Hoa Kỳ dùng một điệp viên mật danh là Thielemann, có nhiệm vụ liên lạc với những nhân viên ngoại giao Đông Đức, những doanh nhân và những viện sĩ đến thăm viếng Tây Đức và tìm cách kết nạp họ. Đây là một sáng kiến tốt về mặt cơ bản của CIA nhằm thu dụng những người Đông Đức khi họ du hành ra nước ngoài và ít nguy hiểm hơn là kết nạp họ ở tại Đông Đức. Nhưng chúng tôi biết đến hoạt động của Thielemann khi, vào năm 1973, chúng tôi bắt đầu tiến hành những điều nghiên ráo riết về những hoạt động của CIA tại Bonn. Bằng cách đơn giản quan sát những cuộc tiếp xúc ngẫu nhiên của các người đồng hương chúng tôi tại các buổi liên hoan, các câu lạc bộ thể thao, quán nước và cà phê và những nơi tụ họp công cộng khác, chúng tôi thiết lập được danh sách những người làm việc cho CIA.

 Năm 1975, Thielemann đóng chốt toàn thời tạiBonn. Đương sự hoặc CIA không biết chúng tôi tìm ra tên thật của y là Jack Falcon. Lúc đầu chúng tôi chỉ theo dõi y, ghi nhân những đối tượng của y và nghiên cứu những điều y tìm kiếm. Lần hồi, chúng tôi cung cấp cho y những đối tượng – những điệp viên làm việc cho chúng tôi và vờ để cho Falcon kết nạp làm nguồn tin và cung cấp cho y một mớ hỗn hợp bí mật không quan trọng và thông tin sai lạc. Mục đích là dẫn đưa Hoa Kỳ vào những đường dây giả trong lúc nỗ lực tìm hiểu và đưa họ đến những kết luận sai lầm về công tác của chúng tôi. Tội nghiệp cho Falcon vì y nghĩ đang làm một công việc tuyệt vời là kết nạp được qua nhiều người Đông Đức sẵn sàng cộng tác và lại có hiểu biết. Y khoe khoang với một nguồn tin đặc biệt đáng tin cậy là CIA đã thăng chức và tăng lương cho y vì y đã thành công trong công tác kết nạp. Điều này đã làm cho tổng cục phản gián trong Bộ Công An của chúng tôi phải phì cười. Chính các sĩ quan cao cấp tại đây đã bịa phần lớn những bí mật không giá trị này.

 Thực ra, việc phát hiện những đặc vụ của CIA tại Bonn quá dễ dàng. Gần như trái ngược với những lời dặn dò của tôi cho những chuẩn bị kỹ lưỡng và chậm chạp, những tiếp cận gần như tinh tế với những đối tượng kết nạp, họ luôn phát động một loạt những cuộc tiếp xúc. Các đối tượng chúng tôi gài vào thường than phiên là những đặc vụ CIA có trình dộ hiểu biết thấp về tình hình kinh tế của Đông Đức, khiến cho họ không biết phải theo phương hướng nào để quay vì những hiểu biết căn bản về Đông Đức của những đặc vụ quá sơ sài. Có một lúc vào cuối những thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, phẩm chất những đặc vụ Hoa Kỳ quá tồi dở và công tác của họ thiếu phương pháp đến độ các cấp lãnh đạo của chúng tôi lo ngại tự hỏi có lẽ Washington coi Đông Đức chẳng ra gì.

 Sau này, chúng tôi biết Hoa Kỳ thu thập những dữ liệu then chốt về Đông Đức nhờ vào hệ thống giám sát điện tử tại Tây Bá Linh và Tây Đức. Thật là quái gở khi CIA bỏ công gởi người rình mò một cách vô bổ tại đất liền trong khi phần lớn những tin tức giá trị họ muốn có lại ở trên không gian. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, không có phương pháp kỹ thuật nào có thể thay thế trí tuệ và óc phán đoán của con người và – cho dù những cố gắng của họ thiếu khả năng – có người trong CIA phải đồng ý về chuyện này. Quý vị có thể nghe lén một cú điện thoại, nhưng thiếu hiểu biết về bối cảnh, người ta dễ dàng đánh giá sai lầm; một bức hình vệ tinh có thể cho quý vị thấy vị trí những tên lửa, nhưng một nguồn tin ở bộ tư lệnh có thể cho quý vị biết nó nhắm về hướng nào. Vấn đề của tình báo máy móc chính là những thông tin không được ước định. Tình báo máy móc chỉ thu thập được những gì đang diễn ra nhưng không ghi nhận những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Nguồn tin do người cung cấp thông báo về kế hoạch, có thể điều nghiên những viễn tượng chính trị và quân sự, và có thể đặt những tài liệu và mẩu đối thoại vào trong bối cảnh của nó. Như mọi sĩ quan tình báo đều biết, quá nhiều công sức đã được bỏ ra để sàn lọc trong đống núi dữ liệu để tìm ra hạt tin giá trị; sự lệ thuộc quá mức vào tình báo máy móc có thể làm gia tăng gấp đôi con số hạt tin, nhưng chắc chắn sẽ làm tăng lên gấp ba kích thước của quả núi dữ liệu cần phải sàn lọc. Mặc dù vai trò của tình báo máy móc kỹ thuật sẽ gia tăng và hỗ trợ cho những gì vẫn thường được sức người đảm nhiệm với nhiều phí tổn và rủi ro, nó không thể nào thực sự thay thế. Chính yếu tố con người tạo nên sự thành công của công tác tình báo, chứ không phải dụng cụ siêu kỹ thuật làm nên nó.

 Cuối thập niên 1980, chúng tôi ở một vị thế ai cũng thèm thuồng vì biết được không một điệp viên CIA nào làm việc tại Đông Đức mà không biến thành gián điệp nhị trùng hoặc làm việc cho chúng tôi ngay từ lúc khởi đầu. Theo lệnh của chúng tôi , tất cả những người này được cung cấp những tin tức chọn lựa kỹ lượng và những thông tin sai cho Hoa Kỳ. Chúng tôi biết điều này bởi vì Edward Lee Howard đã làm việc cho văn phòng của Đông Đức. Đương sự gặp Falcon sau khi Falcon trở về tổng tư lệnh CIA ở Langley và được tưởng thưởng vì đã thành công gài đặt điệp viên ở Đông Đức. Theo sự tiết lộ của Falcon, Howard  biết chỉ có sáu hoặc bảy điệp viên làm việc cho CIA tại Đông Đức. Chúng tôi điều khiển họ theo đúng kế hoạch của chúng tôi. Điều này đã được chính CIA xác nhận. Họ tiết lộ sau khi Đông Đức sụp đổ tất cả những điệp viên của họ hóa ra đã bị Bộ Công An sai khiến.

 Những năm 1987 và 1988, Howard lúc đó đến thường trú tại Moscow và được KGB bảo trợ, thăm viếng Đông Bá Linh và kể cho các cán bộ điều khiển của mình trong cơ quan tình báo hải ngoại tất cả những chi tiết công tác của CIA và mục tiêu điệp vụ hàng đầu của họ về các thiết bị quân sự và các viện nghiên cứu. Điều thực sự mới mẻ với chúng tôi là Howard cho biết CIA có danh sách mục tiêu hướng về các giáo sư kinh tế ưu tú và các hàn lâm sĩ của Đông Đức. Nếu có ai trong số người này xin hộ chiếu thăm Hoa Kỳ, tên tuổi của người đàn ông hay người đàn bà này được chuyển từ lãnh sự về cơ quan tình báo Hoa Kỳ và sau đó nhập vào kho dữ liệu to lớn. Trong thời gian thăm viếng của những cá nhân này ở Hoa Kỳ, mỗi khi tên của ông hay cô này được đề cập trong một cuộc đối thoại trên điện thoại, trên fax, hoặc máy telex, chính quyền Hoa Kỳ ghi âm và chuyển cho CIA để điều nghiên. Đông Đức vốn có tiếng là hay rình mò và lén nghe, nhưng riêng những giới hạn về kỹ thuật của chúng tôi cũng đủ bảo đảm chúng tôi không thể nào sánh kịp với Hoa Kỳ về điểm này.

 Một yếu điểm về cơ cấu tổ chức của tình báo Hoa Kỳ là trường hợp củaAmes lý ra đã cho thấy sự yếu kém của nó đối với những tác động chính trị. Trong những năm gần đây, chức vụ giám đốc Trung Ương Tình Báo giống hệt chức vụ của một ông bầu bóng đá sau mỗi một mùa bóng tồi tệ là bị mất chức.

 Khi Werner Stiller đào thoát, tôi chỉ ra lệnh đổi cấp lãnh đạo trực tiếp của y. Không hề có áp lực đè lên tôi hoặc đè lên bộ trưởng buộc chúng tôi phải từ chức. Làm như vậy có ích lợi được gì? Tốt hơn hết là vẫn giữ vị thế cũ và tìm phương pháp để ngăn ngừa điều này xảy ra lần nữa. Một cách tình cờ, tôi không hề thấy CIA bình tĩnh ngồi lại và tìm phương cách ngăn ngừa việc này. Một vài ban trong những đặc vụ của họ – tôi đặc biệt liên tưởng đến ban trách nhiệm về Xô Viết – hình như làm việc trên mây và với lời cầu nguyện. Nếu họ điều tra kỹ lưỡng sau vụ Howard đào thoát, Ames có thể đã bị bắt từ lâu rôi.

 Các cơ quan tình báo không có lợi gì để nghe lời kêu gọi của các chính trị gia thiếu hiểu biết yêu cầu hạ bệ người lãnh đạo mỗi khi một tai nạn như vậy được quần chúng biết đến. Tôi luôn có cảm tình với Heribert Hellenbroich vì sự nghiệp giám đốc tình báo hải ngoại của ông tan tành khi Tiedge đào thoát. Hellenbroich, đã từng chỉ huy Nha Bảo Vệ Hiến Pháp, mới vào làm việc tại BND (Bundesnachrichtendienst= cơ quan Tình Báo Liên Bang Đức ). Ông có một vài bất đồng các cố vấn của tân Thủ Tướng (đặc biệt là Klaus Kinkel) và trở thành con vật tế vì những thất bại chính do lỗi của đội tuyển dụng và thiếu hoàn toàn kiểm soát, một việc đặc hữu của môt cơ quan bí mật.

 Cuộc gặp gỡ của tôi với Gus Hathaway lẽ cố nhiên là một kết thúc kỳ quái của mối liên hệ của tôi với Hoa Kỳ thời Chiến Tranh Lạnh. Trong ba mươi lăm năm đứng đầu cơ quan tình báo hải ngoại Đông Đức, Hoa Kỳ đối với tôi là một nước xa lạ và thù địch. Bắt chước đồng nghiệp Xô Viết, chúng tôi dùng danh từ Đức ngữ Hauptgegner, « kẻ thù chính » (tiếng Nga là glavni protivnik ) để mô tả Hoa Kỳ. Đối vớiMoscow và đối với chúng tôi, Hoa Kỳ là nguồn gốc phát sinh mọi tội của đế quốc. Tuy nhiên tôi không đem lòng hận thù cá nhân đối với Hoa Kỳ. Lẽ cố nhiên tôi biết và kinh tởm những hoạt động chống cộng ngoan cố của Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy và những vi phạm luật pháp với sự hỗ trợ của CIA tại Châu Mỹ La tinh. Nhưng tinh thần quốc tế của tôi ngăn cản không cho tôi rơi vào não trạng chống Mỹ ngu xuẩn mà phần đông các thành phần xã hội chủ nghĩa đều mắc phải. Hiểu biết của tôi về nước Mỹ dựa trên những gì tôi học ở Liên Bang Xô Viết từ các người bạn Mỹ, từ kinh nghiệm cá nhân khi làm phóng viên đài truyền thanh tại Bá Linh và theo dõi những vụ án tại Nuremberg, và từ các báo chí và tuần báo phương Tây tôi đọc mỗi ngày. Lẽ cố nhiên tôi đặt lăng kính đượm nặng nề màu sắc ý thức hệ lên những gì tôi đọc, vì công tác của tôi là thảo luận về những giả thuyết và những kết luận về chính trị và ý thức hệ ghi trong bản báo cáo và biện minh cho vị thế của Xô Viết với tất cả năng lực của tôi. Điều này đã gây nên hiềm khích không thể tránh khỏi giữa tôi và các bạn Hoa Kỳ như George Fischer. Trong cương vị cấp lãnh đạo văn phòng Eisenhower, ông thường đến Bá Linh ngay sau thời kỳ kết thúc chiến tranh… Chúng tôi sung sướng gặp lại nhau, nhưng không thể nào quên được lòng nghi kỵ đã tiêm nhiễm vào trong mối quan hệ này.

 Phần lớn những hiểu biết về lề lối suy nghĩ, ý định và mối e ngại của Hoa kỳ mà tôi tiếp thu là do hai người điệp viên Hoa Kỳ đầu tiên của tôi. Họ chưa bao giờ bị phát giác, mặc dù cả hai đã qua đời, tôi không có ý định tiết lộ danh tính của họ ở đây ngoài những bí danh chúng tôi đặt cho họ : Maler (« Thợ Sơn ») và Klavier (« Dương Cầm »). Cả hai người đều sinh đẻ tại Đức và gần gũi với phong trào cộng sản lúc còn thanh niên, và cả hai đều là người Do Thái. Cả hai đều phải bỏ quê hương xứ sở vì mối đe dọa Quốc Xã, an cư tại Hoa Kỳ, và hoàn tất việc học hành của họ tại đây, một người là kinh tế gia, người kia là một luật sư. Nhưng do nguồn gốc sinh đẻ ở Đức và có tay nghề, cả hai đều được kết nạp vào Nha Công Tác Chiến Lược (Office of Startegic Services = OSS), tiền thân của CIA. Vào thời kỳ truy lùng của Thượng Nghị Sĩ McCarthy trong những đầu thập niên 1950, OSS bị tố cáo là hang ổ của bọn trí thức tả khuynh. Một cách nghịch lý, Stalin lấy cớ Noel Field có liên hệ với OSS và dùng Field (*) để ra tay thanh trừng đẫm máu những đảng viên Cộng Sản tại nhiều quốc gia trong những năm 1951-1952, trong đó có Tiệp Khắc, Hungari và Đông Đức. Theo những gì tôi biết về Field, tôi quả quyết Field chưa bao giờ là một gián điệp nhưng chỉ là một người có lý tưởng nhưng ngây thơ, đã ra tay giúp những người chống phát-xít và vì vậy có mối liên hệ với OSS. Nhưng vụ án của ông là một ví dụ về những mánh khóe độc địa của Stalin và Beria để biện minh việc thanh trừng ở Đông Âu.

 (*) Thời kỳ Đại chiến Thế Giới Thứ II, Noel làm việc cho một tổ chức nhân đạo, Unitarian Universalist Service Committee (Ủy Ban Công Tác Nhất Thể Phổ Độ), ngoài những công tác khác họ giúp những người di dân Công Sản. Do đó Field bắt được liên lạc với Allen Dulles trong OSS)

 Trong bầu không khí này, nhiều sĩ quan tình báo của chúng tôi thận trọng trong việc kết nạp người Mỹ, việc này có thể khiến cho họ bị kết tội là rơi vào bậy của Hoa Kỳ. Nhưng tôi biết chúng tôi muốn biết về lề lối suy nghĩ của người Mỹ. Chúng tôi bắt liên lạc với anh kinh tế gia Maler, qua một người bạn quen biết thời còn là sinh viên dưới chế độ Quốc Xã. Hai người là thành viên một nhóm kháng chiến Do Thái đã có lần âm mưu cho nổ một buổi triển lãm Quốc Xã. Phần lớn thành viên của nhóm đều bị bắt và ba mươi lăm người bị giết. Maler tìm cách xuất ngoại; anh bạn của ông thoát chết trại tập trung. Người bạn này là một khuôn mặt kỳ cựu trong thế giới tài chánh của Đông Đức, qua người này chúng tôi dàn xếp để bắt liên lạc với Maler với hy vọng là khơi động những môi liên hệ trong OSS.

 Nhưng hóa ra những mối liên hệ rộng lớn của Maler tại Hoa Kỳ cũng đáng lưu ý. Ông là người một biết suy nghĩ xâu xa và đặc thù và ông vẫn tự nhận mình là người Cộng Sản. Ông có nhiều bạn bè thế lực ở Washington và, theo yêu cầu của chúng tôi, ông đã gặp gỡ đại sứ Hoa Kỳ tại Bonn và trưởng phái đoàn ngoại giao tại Bá Linh với sự giới thiệu của John Foster Dulles. Hữu dụng nhất đối với chúng tôi là việc ông thông báo những mối liên hệ tình báo mà Ernst Lemmer, lúc đó là bộ trưởng Tây Đức đặc trách về những vấn đề Liên Quốc (có nghĩa là, thương thảo với Đông Đức, đã cài đặt trong thời chiến khi ông làm phóng viên cho những tờ báo ngoại quốc tại Bá Linh), từ những hệ thống tại Pháp và Thụy Sĩ cho đến những mối liên lạc với người Nga. Tôi không bao giờ dùng tài liệu này để đối phó với Lemmer, nhưng trong tủ sắt của tôi tôi có giữ một bản sao văn kiện do ông ký nhận làm việc cho KGB. Maler là một người giàu có và chỉ lấy tiền bồi hoàn của chúng tôi vì những chi phí chứ không bao giờ lấy tiền vì việc làm, một việc ông mô tả đem lại ánh sáng đến những vùng tăm tối của Tây phương?

 Trong lúc Maler chú tâm đến châu Âu, Klavier, mặc dù thường trú tại Đức, là một đặc vụ nội gián thường xuyên về Hoa Kỳ. Klavier là người Đức được huấn luyện trong ngành luật đã di cư sang Hao Kỳ, tại đây ông làm luật sư và sau này tham giaOSS. Bất mãn về cách giải quyết vấn đề tội phạm chiến tranh tại Tây Đức, ông cung cấp những tin tức nội bộ cho các sử gia nước CHDCĐ. Ông làm việc cho chúng tôi với điều kiện là người vợ không bao giờ được biết việc này – bà là người Tây Đức và, theo như lời quả quyết của ông, là kẻ thù không đội trời chung với Đông Đức. Tuy nhiên, ông nhận tiền của chúng tôi để xây cất một căn nhà dưỡng lão ở Thụy Sĩ. Klavier là một thành viên trong ban công tố trong các vụ xử ở Nuremberg, ông đặc trách về hồ sơ khởi tố trúm sắt thép Friedich Krupp của Đức, người đã cung cấp nguồn hỗ trợ tài chánh chính cho Hitler lên nắm quyền và sự hỗ trợ kỹ nghệ của ông thiết yếu cho guồng máy quân sự của Quốc Xã. Động cơ thúc đẩy Klavier làm việc cho chúng tôi là nỗi lo sợ Tây Đức sẽ lần hồi trở lại chế độ Quốc Xã. Ông không chấp nhận sự phục hồi dễ dàng của những cựu đảng viên Quốc Xã, vào lúc đó họ trở về với công việc cũ của họ trong ngành tư pháp, kỹ nghệ và tài chánh.

 Nguồn gốc Do Thái của Klavier có ảnh hưởng lớn nhất trên những suy nghĩ chính trị của ông và ông thu thập một hồ sơ khổng lồ, mà ông trao cho tôi, trong việc khởi tố Krupp và Adolf  Eichmann tạiJerusalem. Chính nhờ qua ông tôi mới ý thức được hành trình của cha tôi từ khuynh hướng nhân bản chuyển sang cộng sản bị ảnh hưởng mãnh liệt do ý thức xã hội của một người Đức có nguồn gốc Do Thái. Klavier cũng là bạn của ký giả uy thế Walter Lippmann, có những môi liên hệ mặt thiết với gia đình Kennedy. Trước cuộc họp thượng đỉnh của Tổng Thống Kennedy với Khruschev, Klavier đã cho chúng tôi biết qua những cuộc đối thoại của ông với Lippmann là Kennedy sẽ theo đường hướng cứng rắn. Chúng tôi chuyển tin này choMoscow, nhưng tôi không biết việc này có ảnh hưởng gì đến cuộc họp thượng đỉnh không. Sự việc xảy ra là Khruschev hùng hổ với Kennedy bằng cách tỏ vẻ cứng rắn hơn đối tác Hoa Kỳ.

 Tôi đánh giá cao những thông tin của các phóng viên và bình luận gia ngoại quốc vì đối với tôi họ biết rõ vấn đề và ít thiển cận hơn các nhà ngoại giao phương Tây. Trong vòng hàng chục năm, chúng tôi có gắng kết nạp một số ký giả Hoa Kỳ và Anh để làm nguồn tin, nhưng chúng tôi thất bại. Những nguồn tin báo chí duy nhất của chúng tôi là Đức, và nhất thiết là các tờ báo nhỏ. (Trong số các ký giả của Đông Đức chúng tôi, chúng tôi không thấy đúng đắn kết nạp họ trực tiếp, mặc dù các chủ nhiệm Thông Tấn Xã Đông Đức và các báo chí của chúng tôi nằm ở ngoại quốc hội họp thông thường với các thành viên của văn phòng tình báo thường trú hải ngoại tại các tòa Đại sứ của chúng tôi). Trái với đường lối của giám độc cục phản gián, tôi không ngăn cấm phóng viên ngoại quốc đi lại trong nước. Chính sách trước đây hạch sách họ và tạo khó khăn cho việc đi đứng của họ đối với tôi là phản tác dụng. Tôi dự đoán tất cả mọi người trong họ có thể là một nhân viên tình báo và chúng tôi nên chuyển tải những thông tin sai lạc cho họ, cấp cho những thông tin sốt dẻo và những chi tiết dù gì cũng có lợi cho chúng tôi hơn là đuổi họ đi với lòng đầy oán giận.

 Việc Đông Đức được quốc tế công nhận trong thập niên 1970 cho phép chúng tôi thu thập tin tức dễ dàng về châu Mỹ. Cục Nghiên Cứu Châu Mỹ tại Đại Học Humboldt ở Bá Linh và Ban châu Mỹ của Viện Cao Đẳng Ngoại Giao được thiết lập với sự hỗ trợ của chúng tôi và các cấp lãnh đạo đều trung thành với chúng tôi. Nhưng chúng tôi kiêng dè danh tiếng của phản gián Hoa Kỳ và Anh quốc (cơ quan FBI và MI5) và điều nghiên rất kỹ lưỡng trước khi phát động công tác tại các nước này.

 Chúng tôi liệt Anh quốc vào loại Quốc Gia Hạng 2, liên quan đến quyền lợi tình báo của chúng tôi. Nước Anh do tổng cục đặc trách về Pháp và Thụy Điển lo liệu. Chúng tôi tìm cách cài đặt nhiều người qua ngả lãnh sự Tây Đức tại Edinburg , vì tại đây thủ tục kiểm soát lỏng lẻo hơn ở Luân Đôn, nhưng rất ít điệp viên loại này ở lại Anh Quốc bởi vì chính phủ của chúng tôi có ý muốn giữ mối giao hảo với Luân Đôn, đặc biệt vì ảnh hưởng chính trị của các siêu cường trên mối liên hệ của chúng tôi với Hoa Kỳ. Một trong những mục tiêu của chúng tôi là tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty International). Mielke nghĩ rằng đó là tổ chức khuynh đảo và mong muốn xâm nhập nó để khám phá những nguồn tin từ Liên Bang Xô Viết và Đông Âu. Chúng tôi chẳng bao giờ thành công. Một lý do khác để chúng tôi không dòm ngó nhiều đến Anh Quốc (ngoài việc thu thập tin tình báo thông thường do tình báo hải ngoại thường trú tại Tòa Đại Sứ  Đông Đức tại Luân Đôn) là vì chúng tôi có nguồn tin khác – tại Bonn. Trong vòng mười năm bắt đầu từ giữa những thập niên 1970, một cố vấn chính trị tại Bộ Ngoại Giao của Tây Đức, bác sĩ Hagen Blau, cung cấp cho chúng tôi tất cả tin tình báo của Tây Đức về Anh Quốc và là một trong những nguồn tin tốt nhất trong Bộ Ngoại Giao Tây Đức. Ông có vợ là người Nhật và nhờ đó ông cung cấp những thông tin giá trị khi ông làm việc tại Tokyo.

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức ( kỳ 1 đến kỳ 10 ) HẰNG ƠI!… ( thơ Tô Vĩnh Hà )

1 Phản hồi Add your own

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Ba 2012
M T W T F S S
« Feb   Apr »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 54,979 hits

%d bloggers like this: