Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức ( kỳ 1 đến kỳ 10 )

07/03/2012 at 3:17 chiều 1 Bình luận


 Markus Wolf                          

“…Khi một quốc gia là kẻ thù độc hại nhất của chính mình, có được một cơ quan tình báo hải ngọai giỏi nhất thế giới cũng chẳng giúp nên trò trống gì, điều này các lãnh tụ của Đông Đức đã khám phá ra khi chính quyền Cộng sản sụp đổ…”

http://ethongluan.org/component/content/article/411-ngi-khong-chan-dung-k-1-markus-wolf.html

 Lời toà soạn: Chúng tôi xin gởi đến quý bạn, trong nhiều kỳ, toàn bộ bản dịch quyển « Man Without A Face » của Markus Wolf, trùm gián điệp của Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Các hoạt động gián điệp của ông rất là tinh vi và lan tỏa khắp thế giới, nhưng chung quy ông phục vụ cho quyền lợi của Liên Xô nhiều hơn là cho đất nước ông. Ông Wolf tin vào hệ thống xã hội chủ nghĩa và từ đó tin vào người anh cả Xô Viết đã cưu mang gia đình ông. Nhưng khi bức tường Bá Linh sụp đổ, ông đã không được người anh cả Liên Xô giúp đỡ, trái lại chỉ muốn xua đuổi ông cho rảnh nợ. Bao nhiêu thông tin gom góp với bao nhiêu hy sinh để cuối cùng chẳng giúp cho nước CHDC Đức tồn tại. Tất cả chỉ vì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đã hư hỏng từ trong nội tạng, dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của toàn khối xã hội chủ nghĩa Liên Bang Xô Viết và khối Đông Âu. Xin mời quý bạn theo dõi nhật ký của Markus Wolf để thấy rõ nội tình và cách tổ chức tình báo của ông.

Markus Wolf: Người không chân dung

Hồi kí của trùm gián điệp Cộng Sản Đông Đức

Lời Mở Đầu

Trong vòng ba mươi bốn năm tôi đã giữ chức vụ giám đốc cơ quan tình báo hải ngoại của Bộ Công An của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Ngay cả những kẻ thù gay gắt nhất của tôi cũng công nhân đây có lẽ là cơ quan năng lực và hiệu dụng nhất lục địa châu Âu. Chúng tôi thu thập nhiều bí mật chiến lược và kỹ thuật của những đội binh uy lực bày binh bố trận để đánh chúng tôi và chuyển chúng,nhờ tay của tình báo Xô Viết, đến các bộ tư lệnh của Hiệp Ước Warsaw tại Moscow. Có rất nhiều người nghĩ rằng tôi biết nhiều về những bí mật của Cộng Hòa Liên Bang Đức hơn cả Thủ tướng tạiBonn. Thực ra, chúng tôi cài đặt điệp viên trong văn phòng riêng của hai vị thủ tướng, trong số khoảng một ngàn văn phòng mà chúng tôi đã xâm nhập vào trong tất cả mọi ngành của sinh hoạt chính trị Tây Đức, kinh doanh và các lãnh vực khác của xã hội. Nhiều người trong số những điệp viên này là công dân Tây Dức, họ phục vụ cho chúng tôi hoàn toàn vì lý tưởng.

Tôi nhìn lại quãng đời cá nhân và nghề nghiệp của tôi như vòng cung lớn khởi sự từ cái gọi là lý tưởng cao đẹp theo tiêu chuẩn khách quan. Chúng tôi, những người Đông Đức theo đuổi xã hội chủ nghĩa, cố gắng xây dựng nên một loại xã hội trong đó những tội ác của nước Đức cũ sẽ không bao giờ có cơ hội lập lại. Trên hết mọi sự, chúng tôi quyết tâm không muốn chiến tranh tái diễn trên nước Đức.

Những tội lỗi và những sai lầm của chúng tôi cũng là những tội lỗi và sai lầm của tất cả mọi cơ quan tình báo. Nếu chúng tôi có khuyết điểm, và chắc chắn chúng tôi có, đó là những khuyết điểm của tính chất nghề nghiệp quá đam mê không được tôi luyện bởi đường chỉ không viền của cuộc sống bình thường. Giống như hầu hết mọi người Đức, chúng tôi tuân thủ kỷ luật đến độ sai lầm.Phương pháp của chúng tôi quá hữu hiệu nên chúng tôi đã vô tình phá hỏng sự nghiệp của một nhà chính trị có tầm nhìn xa nhất của nước Đức hiện đại, ông Willy Brandt. Việc sát nhập cơ quan tình báo vào trong Bộ Công An có nghĩa là cơ quan này và tôi gánh trách nhiệm về những cuộc đàn áp trong nội bộ nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức và hợp tác với bọn khủng bố quốc tế.

Thực không dễ kể chuyện về cuộc chiến tình báo từ khía cạnh của kẻ thua cuộc đứng ở bên này Bức Màn Sắt để cho những người sông bên kia hiểu được trọn vẹn. Kể lại câu chuyện của tôi về cuộc chiến độc nhất vô nhị thời Chiến Tranh Lạnh, tôi không có mục đích van xin để được tha lỗi trong vị thế của một kẻ thua cuộc. Phía chúng tôi tranh đấu chống lại sự hồi phục của chủ nghĩa phát-xít. Chúng tôi tranh đấu cho một mẫu mực xã hội chủ nghĩa phối hợp với tự do, một mục tiêu cao cả nhưng đã hoàn toàn thất bại, nhưng tôi vẫn tin là vẫn có thể thực hiện được. Tôi vẫn giữ nguyên niềm tin của tôi, mặc dù ngày nay niềm tin này đã bị kiềm hãm vì thời gian và trải nghiệm. Nhưng tôi không phải là kẻ đào ngũ, và hồi ký này không phải là một lời thú tội để xin được chuộc lại lỗi lầm.

Từ khi tôi tiếp quản cơ quan tình báo hải ngoại Đông Đức vào những thập niên 1950 cho đến khi hình ảnh của tôi bị lén chụp năm 1979 và bị một kẻ đào thoát nhận dạng, phương Tây không hề biết mặt mũi của tôi ra sao. Họ gọi tôi là « người không chân dung », một biệt hiệu đã hầu như biến những sinh hoạt điệp báo của chúng tôi và cuộc chiến tình báo giữa Đông và Tây thành ra lãng mạn. Nhưng nó chẳng lãng mạn tí nào cả. Người người đau khổ. Đời sống chật vật. Tha thứ hay nhân nhượng không có chỗ đứng trong cuộc chiến giữa hai ý thức hệ. Cuộc chiến này đã bao trùm phần nửa thế kỷ của chúng ta và một cách nghịch lý đã cho phép châu Âu có được một thời kỳ hòa bình lâu dài nhất kể từ khi đế quốc La Mã sụp đổ. Đôi bên đều phạm những tội ác trong cuộc chiến toàn cầu này. Giống như đa số những người trên thế giới, tôi cảm thấy hối hận.

Trong quyển hồi ký này, tôi cố gắng kể lại dưới nhãn quan của tôi toàn bộ những sự kiện mà tôi được biết. Những độc giả, những nhà phê bình và các chuyên gia có thể xem xét chúng, tin chúng và kiểm chứng chúng. Nhưng tôi phản bác những lời tố cáo của một vài đông hương của tôi là tôi không có quyền kể lại và xem xét trong từng chi tiết những thành công và những thất bại trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của tôi. Tại Đức đã có những nỗ lực, bằng phương tiện tòa án hoặc phương tiện khác, nhằm đưa ra quyết định chỉ có một phương hướng duy nhất giải thích lịch sử được phổ biến. Tôi không đi tìm biện luận đạo đức để tự bào chữa và cũng không đi tìm tha thứ, nhưng sau một thời gian tranh đấu khốc liệt đây là thời gian để cả đôi bên suy gẫm.

Bất cứ lịch sử nào đích thực có danh xưng là lịch sử không thể chỉ do kẻ thắng trận viết ra.

Lời Tựa

(của Graig R. Whitney)

Khi một quốc gia là kẻ thù độc hại nhất của chính mình, có được một cơ quan tình báo hải ngọai giỏi nhất thế giới cũng chẳng giúp nên trò trống gì, điều này các lãnh tụ của Đông Đức đã khám phá ra khi chính quyền Cộng sản sụp đổ như một toà nhà bằng giấy vào năm 1989. Sự trớ trêu này không thoát khỏi nhận xét của Markus Wolf, nhân vật đã gầy dựng nên cơ quan tình báo Đông Đức và lãnh đạo trong vòng 34 năm với những thành tích nổi bật. Đông Đức cần gián điệp, vì các cấp lãnh đạo Cộng Sản muốn được an tâm trong những ngày đầu của cuộc Chiến Tranh Lạnh, vì vị thế vượt trội của nền kinh tế Tây Đức, cộng với sức mạnh quân sự của khối Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) đe dọa chấn áp Đông Đức. Nhưng mặc dù họ có 4.000 nhân viên điệp báo, 109.000 điềm chỉ viên làm việc cho Cơ Quan Công An Nhà Nước và cứ 105 công dân thì có một tên điềm chỉ, cấp lãnh đạo Cộng sản không nhận ra cho đến khi quá trễ là chính những sai lầm nội tại, những đường lối chỉ đạo hỏng tự căn bản của tất cả những hệ thống xây dựng trên sự đàn áp và cưỡng ép, đã đánh đổ họ.

Vì những lý do cá nhân, ông Wolf đã tự ý xin về hưu năm 1986 và dọn đến ở một căn phòng lầu 6 nhìn xuống con sông Spree, nơi trước đây là trung tâm của Đông Đức. Đây là một địa điểm chọn lọc chiếu theo mô hình tổ chức của Cộng Sản, kế cận một nơi được chế độ tân trang để nhắc nhở lại không khí tiền chiến của Bá-linh (Berlin); đường phố lót gạch xanh cho bộ hành và những cửa quán của những nghệ nhân chen lẫn vào cao ốc với màu sắc nước sáng nhạt nhằm gợi lên hình ảnh dĩ vãng thế kỷ thứ 18. Sau khi Bức Tường Bá-linh sụp đổ năm 1989, những tờ báo lá cải gọi căn phòng của Wolf là căn phòng sang trọng, kiểu mẫu mà các chủ nhân ông trong Cơ Quan An Ninh Quốc Gia – các vị « Stasi » đáng sợ, như người Đức thường gọi họ như vậy – tự dành riêng, không một thường dân Đông Đức nào có được. Báo chí thường hay nói quá đáng.

Có tất cả 99 bậc thang để lên lầu 6 và cao ốc này không có thang máy. Mặc dù ở vào trung tuần 70, ông Wolf vẫn còn sức để leo những bậc thang này. Trên lối đi xập xệ đến căn phòng, có kẻ nguệch ngọac viết « Stasi chó má » trên hộp thư nhôm của ông Wolf, một hành vi có thể đưa vào tù tức khắc trong những ngày cai trị của Cộng Sản. Cách đó vài căn, con của ông Wolf trong cuộc hôn nhân trước đây nay kiếm tiền túi trong một quán bán pizza nằm dưới gầm cầu xe lửa của nhà ga Friedrichstrasse S-bahn, ranh giới đầu tiên giữa Đông và Tây khi quan khách đến trong những ngày Chiến Tranh Lạnh. Ông Wolf là một người đã tuột dốc từ trên cao.

Không như các đồng nghiệp Stasi của ông, ông Wolf không bao giờ dùng họat động tình báo để làm giàu cho cá nhân mình. Bản thân ông Wolf có một sức quyến rũ mạnh, ông cao 1 thước 83, người gọn ghẽ, đầu tóc màu xám, một khuông mặt cởi mở và thon dài, đôi mắt nâu sâu sắc, bàn tay với ngón dài thon và thanh nhã của người trí thức. Giọng nói Đức của ông lịch lãm và hùng hồn. Ông nói chuyện về Goethe và Brecht hoặc về Tolstoi và Mayakovsky cùng một vẻ lưu loát. Để giết thời gian trong giai đọan ông bị ép buộc lưu đày (lần thứ hai) tại Moscow sau khi nước Đức thống nhất vào năm 1990, ông tổng hợp được quyển sách mang tựa đề Những Bí Quyết Nấu Nướng của nước Nga (Geheimnisse der russischen Küche), một mớ thực đơn hấp dẫn để thực hiện món bò Stroganoff, blini, piroshki với hình ảnh và những mẩu chuyện dí dỏm từ công tác điệp báo.

Nhưng nhìn ông ngày hôm nay, người ta không thể cầm lòng tự hỏi ông sẽ đóng vai trò nào nếu ông là người Tây Đức: có thể là một ông tướng hay là một bộ trưởng ngoại giao, hay là giám đốc của một xí nghiệp lớn của Đức. Có lẽ ông sẽ thành công, cố nhiên là như vậy, giàu có và hãnh diện, có thể ông sẽ thêm ít ký-lô ở bụng và có một chiếc Mercedès trên lối đi vào nhà. Nhưng thay vì vậy, ông sống theo lối tiểu tư sản của cấp lãnh đạo Cộng Sản Đông Đức, những khuôn mẫu tầm thường già nua mà ông vẫn trung thành nhưng đồng thời cũng tự cảm thấy vượt lên trên trình độ trí thức của họ. Sống trong một trong những môi trường khắc nghiệt và đàn áp chính trị mạnh bạo nhất tại Châu Âu, ông đã thành công và sống sót nhờ trí tuệ, nhờ biết ứng dụng khả năng học hỏi và nét duyên dáng thu hút để thuyết phục người Tây Âu phản bội quốc gia mình và phục vụ cho lý tưởng Cộng Sản. Nhìn lại lý tưởng thảm não của Đông Đức, câu hỏi được đặt ra là: Làm sao một người tài giỏi và thông minh như vậy lại có thể lãng phí tài sức cho một hệ thống tồi tệ như vậy?

*

        Một cách trớ trêu, cuộc đời của Markus Wolf khởi sự tại Tây Đức. Sinh năm 1923 tại Hechingen, một thành phố nhỏ tại Württemberg, phiá Tây Nam nước Đức, ông là con trai đầu lòng của một bi kịch sĩ, một tác giả và một y sĩ đồng liệu tương pháp tên Friedrich Wolf, một người Do-thái tôn thờ chủ nghĩa Mác. Giống như chồng, Else, bà mẹ của ông Wolf, là một thành viên năng động của Đảng Cộng Sản Đức. Khi Quốc Xã lên nắm chính quyền năm 1933 và gia đình Wolf bị liệt kê vào danh sách truy nã, ông bố của Markus chạy trốn sang Pháp. Bà Else, Markus và em trai Konrad sau đó theo ông bố, và năm 1934 cả già đinh tị nạn chính trị tạiMoscow.

        Tại đây, trong vòng mười năm, hai cậu bé được uốn nắn theo kiểu mẫu giáo dục, văn hóa và chính trị của Cộng Sản Nga. Konrad trở về Đức năm 1944 theo binh lính trong Hồng Quân. Markus theo học ngành kỹ sư hàng không tại Nga và năm 1945, lúc 22 tuổi, được phái trở về Đức theo lệnh của Đảng Cộng Sản Đức để giúp xây dựng một đài phát thanh tuyên truyền trong cảnh đổ nát của thành phố Bá-Linh.

        Nhờ ăn nói lưu loát tiếng Nga và thấm nhuần tư tưởng cộng sản từ trong nôi, ông Wolf giao hảo mật thiết với các cấp lãnh đạo Hồng Quân trong vùng chiếm đóng của Nga tại Đông Đức và với các người Đức lưu vong và còn sống sót, được đưa lên hàng lãnh đạo Cộng Hoà Dân Chủ Đức năm 1949. Cho dù có làm điều gì khác đi nữa, Stalin đã cứu gia đình Wolf thoát nạn Tiêu Diệt (Holocaust) của Đức Quốc Xã. Sự kiện này cùng với cảm giác say sưa trong quyền lực khởi sự từ lúc ông nhận lãnh trách nhiệm trong một nước Cộng Sản đầu tiên trên mảnh đất Đức luôn luôn nặng cân hơn tất cả những gì Markus Wolf sau này khám phá về bộ mặt đen tối và đàn áp của chế độ cộng sản.

        Chẳng bao lâu các cấp chỉ huy nhận ra ông Wolf rất có tài. Họ gởi ông sangMoscow với tư cách là nhà Ngọai Giao Đông Đức trong vòng vài năm và sau đó đưa ông về lại cơ quan tình báo hải ngọai Đông Đức đang phôi thai, giao cho ông trách vụ lãnh đạo cơ quan này năm 1952, khi ông chưa đầy 30 tuổi. Một năm sau, cơ quan này được sát nhập vào Cơ Quan An Ninh Quốc Gia, biến ông Wolf thành một phó giám đốc hầu như độc lập của cơ quan Stasi trong chức vụ giám đốc của HVA – Hauptverwaltung Aufklärung, « Tổng Cục Tình Báo Trung Ương », và ông mang quân hàm đại tướng trong cơ quan này.

        Trong những ngày đầu bấp bênh của Đông Đức, có rất nhiều mối đe dọa từ ngoài đến cần phải lưu tâm. Cộng Hoà Liên Bang Đức, về mặt diện tích to lớn nhất trong hai quốc gia hậu duệ của Quốc Xã Đức, đơn phương tuyên bố xác định tính cách chính thống lịch sử của họ và sẽ không thiết lập ngọai giao với bất cứ quốc gia nào công nhận người anh em láng giềng Đông Đức. Dưới con mắt của Tây Âu, chẳng có gì đáng gọi là dân chủ trong nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức, và phần đông những quốc gia dám chọc giận Tây Đức bằng cách thiết lập ngọai giao với Đông Đức là những nước vệ tinh chư hầu của Xô-viết hoặc là những nước đồng hội đồng sàn.

        Trong những ngày đầu ngắn ngủi này, Bộ Trưởng phụ trách về an ninh quốc gia của Đông Đức là Erich Mielke, một anh Cộng sản cáo già chuyên luồn lách thuộc thế hệ đàn anh hơn ông Wolf 16 tuổi. Hai nhân vật này là hai mẫu người thật tương phản hiếm có. Mielke sinh trưởng trong một gia đình thuộc giới lao động tại Bá-Linh năm 1907, trong một môi trường cực kỳ khó nhọc, và đã gia nhập Đảng Cộng Sản năm 1930. Bị bỏ tù sau khi ám sát hai cảnh sát viên Bá-Linh năm 1931, y đã đào thoát và trốn sangMoscow. Sáu mươi hai năm sau, y bị kết án vì tội này theo những tang chứng mà y đã cất khóa kĩ lưỡng trong tủ sắt Stasi của chính y. Trong suốt thời gian đứng đầu bộ máy công an mật vụ của Cộng Hoà Dân Chủ Đức (GDR), Mielke, ám ảnh bởi mối đe dọa bị khuynh đảo ngay trong nội bộ, đã biến Đông Đức thành một quốc gia công an hữu hiệu và tàn bạo nhất Đông Âu.

        Khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, Mielke trở thành một đối tượng mà mọi người kinh tởm. Cả ông Wolf cũng không có chút cảm tình nào đối với y. Ông mô tả Mielke là một tên bạo chúa, một cấp lãnh đạo mà ông luôn phải đối đầu vật lộn trong những thủ tục hành chánh để bảo vệ tính cách độc lập và tự trị của ngành điệp báo của ông.

Nhưng cùng lúc, Wolf phủ nhận trách nhiệm về những họat động của Stasi có dính líu ít nhiều với điệp báo hải ngọai, chẳng hạn như những lệnh « bắn bỏ » được chỉ thị cho lính biên phòng canh gác Bức Tường Bá-linh. Ông phủ nhận việc ra lệnh thủ tiêu các điệp viên ngọai quốc. Ông phủ nhận mối quan hệ với Biệt Đoàn XXII của Stasi, biệt đoàn này chứa chấp một thời gian ngắn bọn khủng bố và sử dụng bọn này như những thành phần khuynh đảo Tây Âu.

        Biệt đoàn XXII theo dõi rất sát những thành phần cực đoan như Đoàn Hồng Quân (Red Army Faction) thô bạo của Tây Đức. Thành viên của Hồng Quân đã ám sát một chục kỹ nghệ gia và các viên chức cao cấp vào những thập niên 70; Ilyich Ramirez Sanchez, tên khủng bố quốc tế, mang bí danh là « Carlos »; và nhiều thành viên khác của Tổ Chức Giải Phóng Palestine (PLO). Cơ quan Stasi dùng những tên khủng bố này để biến chúng thành những nhân tố khuynh đảo tại Tây Âu, cung cấp cơ sở lẩn trốn cho chúng tại Đông Đức. Chính một đại tá của Stasi đã cung cấp hơn 22 ký chất nổ cực mạnh cho tên phụ tá của Carlos tại Đức năm 1983 vào lúc trước ngày đánh bom lãnh sự Pháp tại Tây Đức. Cũng như Wolf tường thuật lại trong quyển sách này, các sĩ quan của Stasi trong Biệt Đoàn XXII biết rõ kế họach của các nhà ngọai giao Lybia đánh bom một hộp đêm tại Tây Bá-Linh, nơi có đông đảo binh lính G.I. Mỹ thường lui tới. Bom nổ giết chết bốn người và gây thương tích cho hơn 200 người năm 1986, một vài tháng trước khi Wolf về hưu. Nhưng Đông Đức không hề can thiệp để ngăn chặn việc này.

*

Ngay từ lúc đầu vào những thập niên 1950, nhiệm vụ chính của Wolf là tìm hiểu những gì các cấp lãnh đạo Tây Đức bàn tính về cái nước Đông Đức thật nhỏ bé này. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đông Bá-linh hầu như đạt đến điểm cao chưa ai đạt được trong trò chời gián điệp với Tây Đức. Cơ quan của Wolf « lật ngược » các điệp viên Tây Đức, đưa họ trở qua lại Bức Tường Bá-linh để làm điệp viên ngược lại cho Cộng Sản. Họ kết nạp các thương gia và các luật gia thuộc lẫn phe tả và phe hữu và nhờ họ xâm nhập để biết được những thông tin về đường lối kinh tế và chính trị của Tây Đức. Họ gởi đi những anh chàng « Romeo », những chàng trai độc thân quyến rũ, để tán tỉnh những phụ nữ độc thân đầy mặc cảm, những cô chỉ biết miệt mài với công việc làm thư ký cho các chính trị gia Bonn. Cơ quan của Wolf đã dẫn dụ quá nhiều thành phần chiêu hồi về với chủ nghĩa Cộng Sản nên đã trở thành một mối bận tâm. Những thành phần chiêu hồi này bao gồm những viên chức trong ngành tình báo và phản gián của Tây Đức, có vấn đề rượu chè, lo lắng về tài chánh hoặc có lòng ngờ vực về viễn tượng phục vụ suốt đới cho chính nghĩa của liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo trên đất nước chia đôi của họ: « Probst », « Günter », « Kohle », « Komtess », « Mauerer », và cuối cùng « Topaz » – tên thật là Rainer Rupp, một gián điệp thượng thặng của Wolf nằm trong tổng tham mưu Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Brussels, không hề bị phát hiện cho đến khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt. (Sau khi mãn hạn tù tháng 12 năm 1998, Rupp được Đảng tân Cộng Sản Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa, trong một buổi họp sơ bộ của họ tại Quốc Hội Đức mời làm tham vấn, nhưng cuối cùng đã không dám mời vì bị đả kích dữ dội.)

*

        Wolf cũng nếm mùi thất bại, một điều chắc chắn: Các cá nhân trốn chạy chủ nghĩa cộng sản như Werner Stiller, đã đưa cho tình báo Tây Đức những tài liệu vi phim tương đương với 20.000 trang giấy, cho phép Tây Đức phát hiện các điệp viện ẩn nấp và, một cách ngẫu nhiên, bức hình đầu tiên của Wolf từ 30 năm nay, từ trước cho đến giờ trong hồ sơ của họ vẫn là một « người không chân dung ». Nhưng những thất bại này không đáng kể so với những thắng lợi của ông.

        Cơ quan của Wolf gởi đi hàng chục những « con chuột chũi », nấp sâu trong lòng của xã hội Tây Đức, suy tính rằng với thời gian và may mắn, một vài con chuột sẽ tìm đường lên gần đỉnh cao của những chính đảng Tây Đức và sẽ cung cấp những tin tức có giá trị liên quan đến kế họach điều động quân số của Tây Đức và, quan trọng hơn hết cho mối quan hệ chiến lược của Đông Đức với Liên Bang Xô-viết, ý định quân sự và chiến lược của Hoa kỳ trong trường hợp Chiến Tranh Lạnh trở nên nóng bỏng. Một trong những con chuột nằm vùng là Günter Guillaume và bà vợ Christel, đã xâm nhập Tây Đức vào giữa những thập niên 50 với bí danh là « Hansen » và « Heinze » để tìm đường đạt đến cấp bậc cao của Đảng Dân Chủ Xã Hội tại Frankfurt. Họ đã thành công ngoài sức tưởng tượng của Wolf khi Guillaume trở thành phụ tá cho Thủ Tướng Willy Brandt năm 1972.

        Khi bị phát giác là gián điệp, Guillaume đã kéo ông Brandt ngã theo vào năm 1974. Có thể nói đây là một thất bại nặng nề nhất mà Đông Đức tự gieo lấy cho chính mình trước khi sụp đổ 15 năm sau. « Ostpolitik » (Chính Sách Đông Âu) của ông Brandt đã cải thiện mối bang giao giữa các nước vốn kèn cựa với nhau. Chính quyền Bonn cuối cùng ngưng không đánh phá phe Cộng Sản và bắt đầu có những trao đổi ngọai giao. Nhưng lãnh tụ Cộng Sản Erich Honecker không tin Ostpolitik (Đông Sách) của Brandt, xết rằng mối giao hảo giữa Tây Đức và Moscow đe dọa đến tính cách chính thống của Đông Đức. Chính vì vậy tại Đông Bá-Linh, Wolf không bị khiển trách vì đã tác động đến việc ngã đài của ông thủ tướng Tây Đức.

        Danh sách liệt kê tất cả điệp viên của ông Wolf có thể đóng thành nhiều tập. Ông Wolf chỉ nhận diện những ai đã chết hoặc đã bị bắt và đem xử. Mặc dù có được một hệ thống rộng lớn nhân viên nằm vùng và điệp viên, ông Wolf đôi khi vẫn cảm thấy ấm ức về kết quả của trò chơi gián điệp của ông. Các điệp viên của ông đã thực hiện được những gì trên mô hình rộng lớn của các dữ kiện ? « Hầu hết tất cả những tài liệu mà Liên Minh Bắc Đại Tây Dương sản xuất ra, đóng dấu « mật » và « tối mật », mà chúng tôi đã bỏ bao nhiêu công sức để thu thập, truy xét cho kỳ cùng chẳng đáng dùng làm giấy chùi đít », ông viết trong quyển nhật ký vào cuối năm 1974. Về phía Cộng sản ông cũng đánh giá như vậy – hệ thống rộng lớn và to phù của nhóm thư lại sản xuất những núi giấy vô dụng. Tại Moscow, tại Warsaw, tại Đông Bá-Linh, bộ máy tiếp tục xay nghiền, cố gắng che chở, bảo vệ và lưu truyền một hệ thống không thể cứu vớt được nữa vì đã lầm tưởng từ căn bản rằng hạnh phúc và phồn thịnh của con người có thể áp đặt lên đầu người dân bởi bộ máy hành chánh quyền uy của Cộng Sản.

        Ở cả hai bên tuyến ngăn cách ý thức hệ, nhóm thư lại mà John Le Carré mô tả là « điệp lại » đào sâu vào lòng lãnh thổ địch, đưa những con chuột nằm vùng xâm nhập, âm mưu và bàn định kế họach, nhưng rồi cuối cùng họ chẳng làm được gì nhiều để thay đổi một cách cơ bản đời sống của người dân ở cả hai phía. Tại A-phú-hãn (Afghanistan), CIA gây điêu đứng cho Hồng Quân Nga, cung cấp cho nhóm chiến sĩ hồi giáo mujahidin hỏa pháo không-không Stinger, và cuối cùng đánh đuổi quân đội Nga ra khỏi nước. Nhưng thay thế vào đó là một bọn cuồng tín độc tài Hồi giáo đàn áp còn kinh khủng hơn chế độ Cộng Sản, và chẳng bao lâu ai cũng lo ngại các hỏa pháo Stinger lọt vào tay bọn khủng bố cuồng tín. Tại Đông Âu, không phải CIA hoặc cơ quan tình báo Tây Đức, cơ quan BND, đã làm sụp đổ chủ nghĩa cộng sản và khối Hiệp Ước Warsaw, nhưng là do những dồn nén và những mâu thuẫn nội tại về chính trị, kinh tế và xã hội của xã hội cộng sản.

        Ông Wolf đã không chờ cho đến khi quá muộn để công khai phê bình những sai lầm trong hệ thống Cộng Sản trong một hồi ký nói về tuổi trẻ và lý tưởng Cộng Sản xuất bản tại Đông Đức chỉ cách vài tháng trước khi Bức Tường Bá-Linh sụp đổ năm 1989. Quyển hồi ký Die Troika, tiếp nối công trình khởi sự bởi người em trai của ông Wolf, tên Konrad, trước khi qua đời năm 1982, là một trong những cố gắng hiếm hoi tại Đông Đức nhằm khảo sát, mặc dù là dè dặt, những lỗi lầm các cấp lãnh đạo Cộng Sản tại Moscow và những nơi khác nhân danh chủ thuyết Stalin. Mặc dù trước đó Nikita Khrushchev cũng đã làm, nhưng những lời chỉ trích như vậy chỉ xuất hiện tại Liên Bang Xô-viết sau khi Mikhail Gorbachev nắm quyền lãnh đạo năm 1985 và đưa ra chính sách perestroika, một cố gắng nhằm cải tổ chủ nghĩa cộng sản, nhưng thay vì vậy ông đã khai tử nó, đúng như Khrushchev lo ngại vì cởi bỏ tất cả những hạn chế sẽ làm cho tan tành. Honecker không phải đương đầu với tình trạng này tại Đông Đức và vì vậy sách của ông Wolf đã tạo nên náo động.

        Nhưng vị thế của ông Wolf vào lúc đó không được các đồng hương của ông đánh giá đúng mức cho đến khi nhân dân Đông Đức rốt cuộc xuống đường vào mùa thu đó để đòi hỏi tự do. Trong một bài diễn văn đọc tại Bá-Linh tháng 10 năm 1989, Gorbachev nói rõ là hơn nửa triệu Hồng Quân đồn trú tại Đông Đức sẽ không dùng súng và xe tăng để đàn áp họ. Diễn ván này đánh dấu ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Đức. Chẳng bao lâu các cuộc biểu tình thoát vòng kiểm soát, càng lúc càng lớn tràn ngập Leipzig, Dresden và Bá-linh, và khi ông Wolf xuất hiện và đề nghị đem khả năng để giúp cải tổ guồng máy, quần chúng tẩy chay và ông phải rút lui. Người Đông Đức muốn được tự do đi lại, muốn có Đức Mã, muốn những xe hơi Mercedes và BMW, và tất cả những tiện nghi vật chất mà Tây Đức có, họ không muốn một cuộc cải cách hâm nóng chế độ cộng sản. Kế họach thống nhất hai nước Đức đang trên đà tiến mà không sức nào có thể cản nổi.

        Ngày 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức không còn nữa, bị khóa chặt và chôn vùi trong nước Cộng Hoà Liên Bang Đức. Nước Đức thống nhất có nhu cầu thanh toán những món nợ với Markus Wolf. Khi đồng hồ gõ đúng 12 giờ đêm vào ngày đã mong đợi từ lâu, ông Wolf biết rằng mình sẽ vào tù. Một cách bình tĩnh, ông bắt đầu quay điên thọai gọi bạn bè trong cơ quan KGB để bàn tính kế họach xin tị nạn tai Moscow.

*

        Không những chính quyền Tây Đức có những món nợ cần thanh toán với ông Wolf, cả CIA cũng có nhiều ân oán với ông. Khoảng năm 1990, cơ quan tình báo của Hoa Kỳ bị khủng hoảng trầm trọng. Liên Bang Xô-viết, kẻ thù chính và cũng là lẽ sống còn của CIA, đang trên tiến trình giải thể. Nhưng khoảng một chục điệp viên Xô-viết mà CIA kết nạp và nuôi dưỡng với bao nhiêu khó khăn đã bị lộ tẩy và bị hành quyết, do sự phản bội của một công dân Hoa Kỳ. Hành vi phản bội này được phát giác khi Aldrich Ames bị bắt 4 năm sau, năm 1994. Năm 1990, CIA chỉ biết là có một người đang bán những bí mật sâu kín nhất của họ và đã gây thiệt hại chí mạng. CIA lúc đó nghĩ rằng ông Wolf có thể giúp họ tìm ra tên phản bội.

        Ngày 22 tháng Năm, Gardner A. Hathaway, gần đây đã về hưu rời chức vụ phụ tá giám đốc về phản gián, đến căn nhà bồi dưỡng của ông Wolf, một căn nhà gỗ nhỏ nấp dưới những cây thông ở ngọai ô Đông Bắc Bá-Linh, tay cầm một bó hoa và một hộp xô-cô-la để tặng bà vợ Andrea của ông Wolf. Hathaway đưa ra một đề nghị rất đặc biệt: Xin giúp chúng tôi và chúng tôi đưa ông ra khỏi Đức để sang Hoa Kỳ trước khi họ đến bắt ông vào tháng Mười.

        Đưa tôi sang Hoa Kỳ trước đã và chúng ta sẽ nói chuyện tại đó, ông Wolf đáp lời đề nghị, nhưng ông Hathaway nhấn mạnh: Không có thỏa thuận hợp tác thì không có vé máy bay. Ông Wolf nhìn nhận rằng lời mời rất là hấp dẫn mặc dù ông chỉ ước định những gì CIA muốn ông giúp đỡ. CIA đã có một danh sách ghi vào vi phim của tất cả những nhân viên của ông, ông biết chắc chắn như vậy, vì danh sách này đã được bí mật thu thập do các tay chiêu hồi hoặc tham lợi thuộc thành phần viên chức HVA cung cấp (CIA sau này xác nhận là họ có những thông tin này nhưng vào năm 1999 họ từ chối trao lại danh sách này cho chính quyền Đức khi chính quyền Đức chính thức yêu cầu). Nhưng có lẽ CIA muốn biết thêm tin tức nằm ngoài danh sách này. Có lẽ họ cũng muốn học hỏi ông Wolf về những phương thức hành động của Xô-viết với mục đích huy động nhân viên phản gián tại Langley (trụ sở của tình báo CIA tại Hoa Kỳ) để truy tìm những nhân viên của Moscow.

        Khi ông quyết định không tiết lộ những gì ông biết, ông Wolf đã gây bực tức cho Washington, và vì chính quyền Bonn đuổi sát bên nách, ông không còn lựa chọn con đường nào khác là trốn chạy nước Đức một lần nữa, giống như cha của ông trước đây. Ông vẫn còn những bàn tay giúp đỡ cao cấp tại Moscow, những người bạn như Vladimir A. Kryuchkov, một người bạn Nga đồng nghiệp đã trở thành thủ lãnh của KGB. Sáu ngày trước ngày 3 tháng 10, ông Wolf và bà Andrea, người vợ nhỏ hơn ông 13 tuổi, đào thoát ra khỏi Đông Bá-Linh và trốn qua biên giới Áo, và một vài tuần sau tìm đường tẩu thoát – dầu sao ông Wolf cũng biết khá rõ kỹ thuật này – sang Hungaria rồi sang Ukraine và đến Nga.

        Nhưng khung cảnh mà ông Wolf đã được biết tại Nga nay đang thay đổi một cách mau chóng. Đối với Gorbachev, chià khóa cửa ngõ tương lại của Nga không phải là cơ quan KGB nữa mà là mối giao hảo với nước Đức và vị Thủ tướng, ông Helmut Kohl. Ông Wolf là biểu tượng của một quá khứ không đáng tin cậy, và khi bạn của ông Wolf, Kryuchkov tham gia cuộc đảo chánh bất thành nhằm hạ bệ Gorbachev tháng 8 năm 1991, ông Wolf biết rằng nước Nga sẽ không còn chấp chứa ông nữa. Một tháng sau, ông trở về lại nước Đức.

        Ông Wolf ra đầu thú tại biên giới Áo và lập tức bị bắt, sau đó được tại ngọai hậu tra nhờ sự can thiệp của bạn bè và các cộng tác viên cũ tại Đông Bá-Linh. Ông rất ngạc nhiên khi nghe Cộng Hoà Liên Bang Đức có ý định kết án ông về tội phản bội. Vì ông chỉ huy một cơ quan gián điệp chống lại Cộng Hoà Liên Bang từ Bá-Linh và Bá-Linh bây giờ đã trở thành trở lại thủ đô của nước Đức, các công tố viên không muốn kết án ông Wolf với tư cách là một điệp viên ngọai quốc, nhưng buộc tội ông là một tên phản quốc. Trường hợp của ông có vẻ đen tối. Klaus Kinkel, một cấp lãnh đạo cũ của cơ quan tình báo Liên Bang Đức, đương giữ chức vụ Bộ Trưởng Tư Pháp của Đức và do một sự ngẫu nhiện kỳ lạ, ông cũng sinh đẻ ở Hechingen.

        Toà án xét xử ông Wolf nằm tại Düsseldorf, cũng cùng một phòng ốc trong một toà nhà kiên cố, nơi mà trước đây gần 20 năm Günter Guillaume đã bị kết án, khởi sự vào mùa xuân 1993 và kết thúc vào tháng 12 với bản án kết tội và án lệnh 6 năm tù ở. Phải chờ cho đến giữa năm 1995, Toà Án Đức tương đương với Tối Cao Pháp Viện mới gác lại bản án này và ghi nhận tính cách vô lý của nó. Toà án tối cao phán quyết Ông Wolf không thể nào phạm tội phản bội khi ông ta lãnh đạo cơ quan điệp báo của Đông Đức, bởi vì Đông Đức là một nước có chủ quyền mà lúc đó chính Tây Đức trong gần 20 năm đã thừa nhận. Ngoài ra, chính bản thân ông Wolf không hề đặt chân lên đất Tây Đức để làm công tác điệp báo. Ông không thể nào phạm tội phản bội không khác gì Yevgueny Primakov lúc đó chuẩn bị lãnh đạo cơ quan KGB tại Moscow.

        Các công tố viên lại tìm một lý cớ khác, kết tội ông Wolf lần nữa vào năm 1997 dựa trên những tội hình nhẹ hơn – họ kết tội ông Wolf đã ra lệnh bắt cóc và đàn áp nhân dân từ bên kia bên giới Đông Đức vào những thập niên 1950 và 1960, những tội trạng này cũng phạm pháp chiếu theo luật pháp Đông Đức vào thời điểm đó. Tháng 5 năm 1997, lần nữa tại Düsseldorf, ông Wolf bị kết tội với ba tội trạng như vậy và bị kết án hai năm tù treo thay vì một năm tù ở. Vì thiếu tiền để trả chi phí toà án mỗi lúc một nhiều, ông Wolf đã quyết định lên tiếng ghi nhận thắng lợi về mặt tinh thần và tiếp tục kháng án.

        Nhưng chính quyền vẫn không buông tha ông. Tháng Giêng năm 1998, họ lại mở phiên toà, yêu cầu ông Wolf làm chứng nhân trong vụ án của Gerhard Flämig, một luật gia của Tây Đức bị cáo buộc làm gián điệp cho Đông Đức trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Ông Wolf từ chối trả lời những câu hỏi then chốt và, nhờ gần đến ngày sinh nhật 75 tuổi của ông, đã bị bỏ tù ba ngày vì tội phỉ báng toà án. Đứa cháu trai 7 tuổi của ông đã gởi cho ông bức hình vẽ bánh sinh nhật, trong đó có dán một cái dùi mài, làm như thể ông có thể dùng nó để cưa chấn song để vượt ngục, nhưng các luật sư của ông Wolf đã kháng án để bác bỏ tội phỉ báng. Ông Wolf lại được tự do lần nữa, nhưng tự do của ông khiến cho các kẻ thù cũ của ông tại Đức phải nghiến răng vì họ quyết tâm muốn ông phải tiết lộ khai báo.

*

        Hoa kỳ, hoặc vì những lý do riêng của họ hoặc vì lời yêu cầu của chính phủ Đức (Klaus Kinkel trở thành Bộ Trưởng Ngọai Giao của Đức năm 1992), cũng chơi cái trò đó với Ông Wolf. Mặc dù Do-thái, từ trước đến nay vẫn e ngại những tên khủng bố tiềm tàng, đã tiếp đón Ông Wolf năm 1996, Hoa kỳ đã từ chối không cho ông bước chân vào. Khi các nhà xuất bản của ông Wolf mời ông sang Hoa Kỳ để giúp hoàn tất ấn bản đầu tiên của quyển sách này, chính phủ Hoa Kỳ đã dùng những tình nghi liên lạc với khủng bố của ông để viện cớ không cho ông đặt chân lên lãnh thổ của Hoa Kỳ.

        Bức thư Ông Wolf nhận ngày 12 tháng Ba năm 1996 của Tổng Lãnh Sụ Hoa Kỳ tại Bá-Linh tố cáo về tội phạm mà ngay cả chính quyền Tây Đức cũng không dám kết thành tội :

        Thưa ông Wolf,

        Qua những trao đổi điện thọai ngày hôm qua, chúng tôi xác nhận Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ từ chối không cho ông vào Hoa Kỳ quy chiếu đoạn 212(a), chương 3(B) về Luật Di Trú và Quốc Tịch của Hoa kỳ.

        Theo chương 3(b), các ngọai kiều đã tham dự vào những hành vi khủng bố bị khước từ không được vào Hoa Kỳ. Chương 3(b) liệt kê những loại hành vi khủng bố, trong đó có việc chuẩn bị và bàn định kế họach hành động khủng bố cũng như cung cấp những vật liệu hỗ trợ cho những cá nhân thực hiện hay hoạch định những hành vi khủng bố.

        Bộ An Ninh Quốc Gia của GDR (Cộng Hoà Dân Chủ Đức) tích cực khuyến khích và cổ võ khủng bố quốc tế và khủng bố do quốc gia hỗ trợ. Với chức vụ Thứ Trưởng Bộ An Ninh Quốc Gia của GDR và là cựu thủ lãnh của điệp báo hải ngọai thuộc Bộ An Ninh Quốc Gia của GDR, ông nắm giữ một vị thế quyết định và tham gia trong việc ấn định chính sách và những đối tượng của Bộ này. Vì vậy ông có trách nhiệm trong những hành vi phát xuất từ chính sách đó.

        Dựa trên căn bản này chúng tôi thẩm định ông đã tham dự trong những hành vi khủng bố.

        Vào thời điểm này, Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ nghĩ không thuận lợi cho yêu cầu Sở Di Trú và Quốc Tịch cấp cho ông giấy phép đặc biệt để ông vào đất Hoa Kỳ.

Nay kính,

Glen C. Keiser

Lãnh Sự Hoa Kỳ

Trong một lá thư bằng tiếng Anh khống mấy lưu loát của ông, Ông Wolf một tuần lễ sau đã yêu cầu ông Clinton can thiệp.

“Thưa Tổng Thống,

     Tin tưởng nơi cá nhân Tổng Thống cũng như những lo ngại của tôi về những thủ tục hành chánh thư lại đã khiên tôi phải viết thư đích danh đến ông để xin ông phê chuẩn cho đơn xin nhập cảnh của tôi vào Hoa Kỳ.

   Viếng thăm quốc gia của ông có một tầm quan trọng vượt lên trên những lý do viện dẫn của Bộ Ngọai Giao để từ chối đơn xin nhập cảnh của tôi. Tôi có ý định gặp tạiNew York (Nữu Ước) nhà xuất bản của tôi để hoàn tất ấn bản dứt khoát của bản biên tập tay của quyển sách của tôi. Những lý do từ chối cấp hộ chiếu cho tôi có những hàm ý mà tôi nghĩ là mâu thuẫn, không thế chấp nhận được. Lẽ cố nhiên, có những lý lẽ nhằm đánh giá và duyệt xét quãng đường đời của tôi, những nẻo đường được đề cập đến trong quyển sách sẽ do Random House xuất bản. Tôi phải trả lời những câu hỏi liên quan đến câu chuyện, kể cả những câu hỏi gây đau đớn cho bản thân tôi.

   Những quốc gia Âu Châu tự nhận mình xã hội chủ nghĩa, trong số này có Đông Đức, đã thất bại và họ tự hào đã phục vụ cho một ảo vọng của nhân loại. Vào cuối cuộc đời của tôi, tôi tự hỏi trong quyển sách sắp xuất bản đây, bắt đầu từ lúc nào và khởi sự từ đâu chúng tôi đã sai lầm, bắt đầu từ thời điểm nào chúng tôi thấy những sai lầm nhưng đã qua muộn và do đâu chúng tôi thành thủ phạm. Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra. Vì vậy tôi cũng không muốn mang gánh nặng bị gắn ép phạm tội. Lời tuyên bố trong quyết định của Bộ Ngoại Giao cho rằng tôi dính líu đến những họat động khủng bố không có căn cơ và không đúng sự thật. Ông có thể thấy điều này trong thơ kháng án đính kèm của tôi.

   Có nhiều nét trong cuộc đời và trong đường lối chính trị của ông mang tính chất phá lệ không khô cứng trong khuôn mẫu đã làm cho tôi thán phục như tôi đã thán phục Tổng Thống John F. Kennedy và khuyến khích tôi bước một bước bất thường này. Đối với ông, gánh nặng của những hàm ý vô căn cứ và võ đoán cũng không xa lạ gì. Tin tưởng vào tinh thần công chính của ông, với lời cầu chúc tốt lành nhất cho ông, tôi luôn thành kính nơi ông”.

        Cho dù lá thư của Ông Wolf có giọng nịnh bợ họăc là một lối khiêu khích mỉa mai – tổng thốngClinton đã có phán ứng gì đi nữa nếu ông có đọc qua – lá thư này chẳng giúp ông Wolf đi đến đâu cả. Một năm sau, khi quyển sách xuất bản, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nicholas Burns nói ông Wolf vẫn không đuợc vào nước Mỹ. “Chúng tôi nghĩ rằng không thể cấp hộ chiếu cho một người đã ra công sức suốt cuộc đời mình chống lại một nước Đức tự do, nước Tây Đức, chống lại nhân dân Đức, và một người có tinh thần bài Mỹ và âm mưu lật đổ chính quyền của chúng tôi và đỡ đầu những họat động khủng bố đánh vào chúng tôi; tại sao chúng tôi phải cấp chiếu khán cho đương sự? Vì vậy đương sự không vào đựoc đất Hoa Kỳ. Đương sự có thể viết những quyển sách bán chạy nhất, nhưng đương sự không thể nào an hưởng cuộc đời trên đất nước Hoa Kỳ cho đến mãn đời của đương sự, chúng tôi chẳng liên can gì nữa”, ông Burns tuyên bố trong một cuộc họp báo của Bộ Ngoại Giao.

        Khi được hỏi tại sao ông Wolf bị khước từ ở mọi địa điểm vào, trong khi đó những người như Bộ Trưởng Ngọai giao Primakov và lãnh tụ Palestin Yasser Arafat bây giờ được tiếp đón, ông Burns trả lời “Chúng tôi có mối liên hệ tốt với Yevgeny Primakov. Ông là Bộ Trưởng Ngọai giao của một trong những nước bạn, một nước thân thiện với Hoa Kỳ. Markus Wolf là một người Cộng Sản không biết cảnh tỉnh, vẫn chủ trương khủng bố trên quy mô quốc gia chống lại Hoa kỳ. Đó là một sự khác biệt đáng kể”.

        Cũng có một sự khác biệt khá lớn giữa việc kết tội chủ trương khủng bố và sự thật tại sao chính quyền Hoa Kỳ không muốn cho Markus Wolf nhập cảnh Hoa Kỳ. Các viên chức cao cấp Hoa Kỳ sau này thú nhận CIA tình nghi ông Wolf vẫn chưa nói hết những gì ông biết. Mãi mấy năm sau khi Liên Bang Xô-viết tan rã, cơ quan CIA mới hồi phục lại sau những tổn thất mà các tên phản bội làm việc cho KGB đã gây nên. CIA nghi ngờ ông Wolf hoặc những đồng nghiệp cũ của Ông Wolf biết rõ những tên nội tuyến hiện vận còn họat động. Họ muốn biết tên tuổi của những tên đó. Đầu năm 1998, đầu não của cơ quan phản gián Đức, ông Volker Foertsch, bị điều tra vì tinh nghi ông họat động gián điệp cho Nga. Cuộc điều tra không có kết quả vì thiếu bằng chứng.

        Nếu chính quyền Hoa Kỳ mong đợi ông Wolf ra tay giúp họ, họ sẽ sớm thất vọng. Tình báo thời Chiến Tranh Lạnh rất phức tạp và là một trò chơi tốn kém vô cùng, nó có những lô-gích và những luật chơi của chính nó. Nguyên tắc căn bản là không để bị qua mặt. Nhưng một khi bị qua mặt và lỡ rơi vào tay địch thủ, quý vị không nên bao giờ tiết lộ những gì đối thủ đã biết rõ. Cả hai bên đã áp dụng luật chơi này trong thời Chiến Tranh Lạnh và lặng lẽ duy trì hệ thống trao đổi điệp viên để tưởng thưởng những ai biết kín miệng. Mặc dù sống trong sự điêu tàn của một thất bại chính trí lớn hơn, ông Wolf vẫn tỏ ra hãnh diện một cách ngoan cố về những thành tích nghề nghiệp của ông. Ông sẽ không bán danh dự để có một chuyến đi sang Hoa Kỳ. Vì vậy Yevgeny Primakov, bây giờ là Thủ Tướng của Nga, lúc nào cũng được tiếp đón niềm nở, và ông Wolf sẽ luôn mãi là một người bất hảo (persona non grata).                                          

*

        Vì nhiều lý do, đây không phải là một quyển sách “thành thật khai báo”. Ông Wolf vẫn tiếp tục là một nhân vật gây nên nhiều tranh cãi, một phần vì ông cố bày tỏ cuộc đời của ông không phải là một thất bại đáng ghê tởm, trong khi đó các kẻ thù trước đây của ông cho rằng đúng là như vậy. Những điều không nói ra trong sách sẽ làm thất vọng những độc giả mong muốn tìm thấy lời khai thú trong đó, nhưng những lời khai thú trong nghề điệp báo thường là táng mạng, và ông Wolf là một con người cũng muốn thụ hưởng cuộc đời. Đọc ông Wolf để có một thoáng nhìn khâm phục, chỉ một thoáng thôi, để đi sâu vào tâm não đầy sức thu hút của một trong những bầc thầy điệp báo lớn của thời đại chúng ta, một người mang nặng ấn dấu của cuộc Hỏa Diệt Do Thái do quốc xã Đức phát động và sau đó là của cuộc phân tranh ý thức hệ thời Chiến Tranh Lạnh, một người đứng bên kia trận tuyến đối đầu với phần đông độc giả. Có lẽ ông có quyền đem một ít bí mật theo ông xuống mồ.

Trọng Khiêm dịch

 (Còn tiếp)

Hồi ký Markus Wolf – kỳ 2 (Markus Wolf)                         

“…Đất nước của tôi, nước Đông Đức, đã thất bại không đáp ứng được với danh xưng Cộng Hoà Dân Chủ Đức, đang phải chấp nhận một cuộc hôn nhân cưỡng ép với anh khổng lồ kinh tế Châu Âu, nước Tây Đức…”

Hồi Kỳ trùm gián điệp Đông Đức Markus Wolf

Mục Lục

Lời mở đầu

Lời tựa

Chương 1 Cuộc đấu giá

Chương 2 Thoát khỏi ác bóng Hitler

Chương 3 Học trò của Stalin

Chương 4 Cộng Hòa Dân Chủ Đức lớn mạnh và tôi lớn theo

Chương 5 Vừa học vừa làm

Chương 6 Khrushchev mở mắt cho chúng tôi

Chương 7 Giải pháp bê-tông

Chương 8 Làm gián điệp vì tình

Chương 9 Hình bóng của Thủ Tướng

Chương 10 Nọc độc của sự phản bội

Chương 11 Tình báo và Phản gián

Chương 12 « Những biện pháp tích cực »

Chương 13 Phong trào khủng bố và nước CHDCĐ

Chương 14 Trong lòng địch

Chương 15Cuba

Chương 16 Chấm dứt trật tự cũ

Chương 17 Lời kết

Chương 1 

Cuộc Đấu Giá

Vào mùa hè năm 1990, hai nước Đức chuẩn bị thống nhất sau bốn mươi năm chia cách và gây hấn khởi sự từ lúc trật tự hậu chiến do Đồng Minh chiến thắng đặt để vào năm 1945 và được duy trì do sự xung đột tiếp nối của các cường quốc. Công trình đời tôi, cống hiến cho lý tưởng xã hội chủ nghiã, đang sụp đổ trước mắt tôi. Đất nước của tôi, nước Đông Đức, đã thất bại không đáp ứng được với danh xưng Cộng Hoà Dân Chủ Đức, đang phải chấp nhận một cuộc hôn nhân cưỡng ép với anh khổng lồ kinh tế Châu Âu, nước Tây Đức. Tiến trình hình thành một nước Đức độc lập đang trên đường hoàn tất, và dù tôi không rõ một nước Đức thống nhất có ý nghĩa gì đối với Châu Âu, tôi biết chắc một điều: Tôi sẽ bị truy lùng.

         Ngày thống nhất được ấn định vào ngày 3 tháng 10 năm 1990. Đi đến đâu tôi cũng thấy đất nước của tôi và hệ thống đã gầy dựng nên nó đang trở thành vật phế thải. Những kẻ tìm kiếm kỷ vật nhộn nhịp mua bán huy chương và đồng phục, những gì đã từng tạo nên niềm hãnh diện cho những ai khoác mặc tại Đông Đức. Nhưng tâm hồn tôi lúc đó không hề vui hoặc có một nỗi buồn man mác nào cả.

         Mặc dù chúng tôi đều là người Đức, có cùng một ngôn ngữ và một nền văn hóa sâu sắc hơn cả những chia cắt của hàng rào kẽm gai thời hậu chiến tại Châu Âu, tinh thần của chúng tôi thuộc một loại tranh chấp đặc biệt. Đây không những là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, giữa người Đức với người Đức. Đây là một cuộc đối đầu giữa nước Đức tư bản với nước Đức cộng sản, nằm trong bối cảnh toàn diện nhằm thanh toán những di sản của Mác và Lê-nin và những bất công thực hiện nhân danh chủ nghĩa xã hội. Đất nước tôi là môt minh chứng hùng hồn nhất về sự chia rẽ giữa hai bên ý thức hệ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Sự chia cắt này chấm dứt với một tốc độ mà không một ai ngờ trước được, cả Đông lẫn Tây.

         Tôi vẫn luôn xác nhận công tác điều khiển cơ quan điệp báo mang một trách nhiệm đặc biệt trong cuộc Chiến Tranh Lạnh. Trong một bài hát tôi giúp soạn tháo từ khuôn mẫu Xô Viết để huy động tinh thần các tân binh, tôi đặt công tác của họ nằm trong «Chiến Tuyến Vô Hình». Đây không phải là một lối nói cường điệu. Trong vòng 40 năm sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, chúng tôi luôn tự đặt mình vào vị thế chiến đấu chống lại các thế lực của tư bản chủ nghĩa đang bủa vây chúng tôi.

         Trung tâm điểm của công tác chúng tôi là Bá Linh, nơi phân chia giữa hai hệ thống ý hệ nằm trong trạng thái đông đặc. Các chiến lược gia và các chính trị gia ở cả hai bên đều nghĩ nếu có xảy ra chiến tranh thứ ba, có lẽ Bá Linh là điểm phát xuất. Nhưng tiếp theo sự sụp đổ của Bức Tường Bá Linh tháng 11 năm 1989 và cánh cửa Đông Đức mở toang ra thế giới, nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức mau chóng tan biến và không còn là một quốc gia nữa. Thực sự, tôi không thể nào mường tượng được công trình của đời tôi lại có thể chôn vùi trong sự sụp đổ toàn diện của nước Đông Đức tôi đã từng phục vụ. Bốn năm trước khi Bức Tường sụp đổ, vì cảm thấy ngột ngạt trong những cơ cấu hành chánh sơ cứng quanh tôi, tôi về hưu và rút lui khỏi cơ quan để bắt đầu cầm viết; dưới sự lãnh đạo trì trệ của một Erich Honecker đau yếu, tôi không thấy một triển vọng thay đổi nào phát xuất từ bên trong. Nhưng chính tôi cũng bị hoàn toàn bất ngờ vì tốc độ suy sụp của quốc gia này. Đối với rất nhiều người, màn kết khi đến không vui chút nào cả; có người kể cho tôi nghe nỗi nhục nhã của họ.

         Các nhân viên thuộc Cơ Quan Công An Đông Đức, một trong những cột trụ chính của nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức, đã bị kết tội bởi giới truyền thông, giới chính trị và tòa án, họ trở thành Kẻ Thù Công Cộng Số Một. Đây là một diễn biến không thể tránh khỏi, ở vào chừng mực nào đó, đây là một diễn tiến đau đớn mà những nguời công dân của một chế độ sụp đổ phải gánh chịu và đương đầu với thực tế của quá khứ.

Ngày 15 tháng Giêng 1990, đám đông giận dữ tràn vào tổng tham mưu của Bộ Công An Nhà Nước trên con đường Normannestrasse và tìm thấy một kho hồ sơ to lớn mà bộ đã lưu trữ dùng để rình rập các công dân mình. Tôi như đang sống trong một cái bẫy nghiệt ngã đang xiết chặt lại. Tâm thần tôi lúc đó chỉ nghĩ đến rút lui và từ chức. Tôi biết tất cả mọi hy vọng cải tổ nhà nước xã hội chủ nghĩa bây giờ đã tan tành (có một vài người nghĩ rằng những năm tôi về hưu là để trở thành một nhà cải cách tương lai theo kiểu Mikhail Gorbachev). Tôi cần một lối thoát tạm thời ra khỏi quốc gia nóng bỏng này.

         Tôi hướng vềMoscow, thành phố của thời niên thiếu của tôi, nơi đã cho gia đình tôi trú ẩn tránh nạn Hitler và nơi tôi luôn ghi đậm tâm tình. Trái ngược với suy luận bình thường, cuộc trốn chạy của tôi không có một kế hoạch rõ rệt nào cả. Tôi đang viết hồi ký về những biến cố năm 1989 và tôi cần thời gian và không gian để hoàn tất nó trong lặng lẽ. Nhưng tôi biết việc thống nhất có nghĩa là tôi sẽ bị giam cầm; đã có trát lệnh bắt tôi tại Tây Đức ngay trước ngày sụp đổ, tố cáo tôi về tội gián điệp và phản bội. Những con cá mập đang bủa vây.

         Cô em gái dị bào Lena Simonova cho tôi trú ngụ tại dacha và căn phòng nằm trong căn phố nổi tiếng Nhà trên Bờ Đổ Bộ, nhà của các thành phần uư đãi thuộc giới ưu tú củaMoscow kể từ những thập niên 1930. Mỗi lần tôi bước qua ngưỡng cửa đầy trang trí của căn phố này, tôi không thể nào quên được hùng khí bừng lên trong lòng của thanh niên Cộng Sản tại Moscow, nơi chúng tôi nương thân với cha mẹ chúng tôi để trốn chạy Đệ Tam Đức Quốc (của Hitler). Bây giờ, nhìn xuống con Sông Moscow đông đặc vào tháng Hai, tôi cảm thấy an toàn trở lại. Gió mùa đông giá buốt kích thích đầu óc suy nghĩ. Tôi rảo bước thật lâu quanh đường phố chật hẹp của khu Arbat cũ, suy gẫm về cuộc đời mình và những thăng trầm đã đưa đẩy tôi, một người sanh đẻ ở miền Nam nước Đức, đến Moscow vào tuổi thiếu niên, đến nước Đức chia cắt vào tuổi trung niên, và bây giờ trở lại Moscow lúc tuổi hưu dưỡng.

         Mục đích khác của chuyến đi sangMoscow này của tôi nhằm xem những đồng minh cũ trong KGB và điện Cẩm-linh có thể giúp đỡ tôi và các đồng nghiệp của tôi trong cộng đồng điệp báo đến chừng mực nào, nay quốc gia của chúng tôi đã thực sự tan vỡ. Chẳng có đồng chí anh emMoscow nào vồn vã hỗ trợ chúng tôi trong suốt mấy tháng căng thẳng vừa qua. Giống như chúng tôi, họ cũng hoàn toàn bị bất ngờ khi biến cố xẩy đến. Tình anh em muôn thuở vẫn thường được tán tụng năm này sang năm nọ nay trở thành một mớ giẻ rách. Nơi trước đây các đường giây điện thọai ưu tiên vẫn suốt ngày reo giữaMoscow và Đông Bá Linh theo những cấp độ khác nhau giữa hai đồng minh, nay chẳng còn trao đổi gì nữa. Thư từ không ai đáp lại. Im lặng phủ kín.

         Hộp thư tôi tràn ngập thư từ của các cựu sĩ quan trong cơ quan, cơ quan HVA (Hauptverwaltung Aufklärung, « Tổng Cục Tình báo Trung Ương » – cơ quan điệp báo hải ngọai), họ than phiền bị bỏ rơi và đơn độc gánh chịu cơn thịnh nộ của đồng hương, nay tất cả những thái quá của Bộ Công An Nhà Nước đã được phơi bày. Quần chúng phẫn nộ khi họ khám phá tầm kiểm soát rộng lớn của hệ thống công an trên khắp lãnh thổ. Mặc dù công tác của tôi trong cơ quan HVA không bao giờ nhắm vào 17 triệu dân tại Đông Đức mà mục tiêu chỉ nhắm tìm hiểu ý đồ của các quốc gia khác đối với khối Đông Âu, tôi biết chẳng có mấy ai có chút tinh tế để phân biệt các ngành trong cơ quan Stasi (tên tắt quần chúng thường đặc biệt dùng cho Ministerium für Staatssicherheit, mà cơ sở chúng tôi cũng trực thuộc; một danh từ không một nhân viên nào trong ngành sử dụng và chính tôi cũng tránh dùng)*. Tôi muốn biết bây giờ chúng tôi còn trông nhờ được gì với tư cách nhân viên của một cơ quan trước đây đã từng là cơ quan điệp báo giỏi nhất khối Xô Viết.

         Khi tôi đến, tôi được tiếp đón như thường lệ ở ngọai ô phía Tây Nam Moscow tại toà nhà lớn ở Yasenovo, trụ sở của Đại Tổng Cục KGB, trung tâm điều nghiên công tác điệp báo quốc tế. Giám Đốc điệp báo hải ngọai Leonid Shebarshin và ban điều hành chào đón tôi thật là niềm nở. Chúng tôi biết nhau từ chục năm nay. Họ đem Vodka và ân cần thăm hỏi về điều kiện sinh sống của tôi tạiMoscow. Nhưng rồi sau đó cơ quan KGB xem ra không còn khả năng giúp đỡ chúng tôi đuợc nữa, vì họ ở thế kẹt trong cuộc tranh giành quyền lực, bùng nổ vào giai đọan cuối bấp bênh khi Gorbachev cầm quyền.

         Vì trường hợp của tôi và số phận các sĩ quan, nhân viên và điệp viên trong ngành điệp báo của Đông Đức quá sức tế nhị về mặt chính trị nên Tổng thống Gorbachev đích thân giám định. Tôi biết những mối liên hệ của tôi với điện Cẩm-linh đều qua trung gian của Valentin Falin, một Ủy Viên Trung Ương có uy tín và cố vấn ngọai giao cho Gorbachev, một người tôi hiểu rõ qua những nỗ lực quan trọng trong việc thắt chặt liên hệ Xô Viết và Đức. Việc can thiệp của Falin, một người được Tây Đức biết tiếng và kính trọng, báo cho tôi biết tôi là một mối phiền toái chính trị tiềm tàng. Ông được giao nhiệm vụ không mấy gì là đẹp giúp đỡ tôi nhưng không được quá lộ liều để làm phiền phía Tây.

         Đây không phải lần đầu trong cuộc đời của tôi, tôi nằm trong vị thế phải trông nhờ Bà Mẹ Nga cứu vớt tôi. Nhưng trái với những lời đồn đãi, tôi chẳng có liên hệ chính thức nào với thượng tần lãnh đạoMoscow khi tôi rời cơ quan điệp báo hải ngọai năm 1986. Giám đốc KGB tại Bá Linh, trước đó là Wassily T. Shumilov và sau đó là Gennadi W.Titov, cả hai đều liên lạc mật thiêt với Erich Mielke, Bộ trưởng Bộ Công An nhà nước, và tránh tiếp xúc với tôi. Có một vài người đồn đãi tôi cùng với ông Cộng Sản cải cách Hans Modrow đang chuẩn bị đảo chánh Honecker. Nhưng mặc dù tôi đã cảnh báo Falin và các đồng nghiệp khác tại Moscow chế độ Đông Bá Linh đang trên đà tan vỡ, tôi không hề yêu cầu hoặc nhận trợ giúp để áp lực lên cơ cấu lãnh đạo sau khi Honecker bị hạ bệ nhằm thúc đẩy một cuộc đảo chánh lật đổ ông ta ngay trong nội bộ Bộ Chính Trị.

         Thực tế mà nói, tôi có thể đoan quyết lý do khiến cấp lãnh đạo Nga tránh liên lạc với tôi sau khi tôi về hưu nằm ngoài lý do trung tín và phép xã giáo. Trong thời gian ởMoscow, Falin và Sherbashin bàn luận rất cởi mở về những ưu tư của tôi đối với Đông Đức, nhưng họ bị lôi cuốn vào các vấn đề của perestroika. Sau khi Bức Tường sụp, các biến cố dồn dập với một tốc độ hầu như không một ai bắt kịp. Có lẽ đã quá trễ khi tôi viết một lá thư cho Gorbachev vào ngày 22 tháng 10 năm 1990 và trình bày như sau :

         Chúng tôi là bạn của quý vị. Chúng tôi đeo trên ngực rất nhiều huy chương của quý quốc. Chúng tôi được tiếng đã đóng góp rất lớn cho an ninh của quý vị. Bây giờ, tôi thiết nghĩ quý vị sẽ không từ chối giúp đỡ chúng tôi.

         Bức thư tiếp tục yêu cầu lãnh tụ Xô Viết có thể nào xin ân xá cho tất cả những điệp viên Đông Đức và lồng điều kiện này vào thỏa hiệp thống nhất nước Đức. Một bức thư hồi âm của Vladimir Kryuchkov, giám đốc KGB, nói rằng Gorbachev đã phái Đại Sứ đến Bonn để bàn thảo lời yêu cầu của tôi với Thủ Tướng Helmut Kohl. Thực ra ông Đại Sứ được ông Horst Teltschick, Đổng lý Văn Phòng của ông Kohl, tiếp chuyện. Họ bàn thảo về việc ân xá trong suốt mùa hè năm 1990 trước ngày Đồng Minh bàn đến việc thống nhất nhưng họ không đạt đến một thỏa thuận nào cả. Kryuchkov nghĩ rằng Gorbachev sẽ khơi động vấn đề này lại nhân cuộc họp thượng đỉnh tại Arys, miềnCaucasus, để hoàn tất những chi tiết trong việc thống nhất. Lời hồi đáp không cỏ vẻ gì khả quan. Lần đầu tiên, tôi bắt đầu nghi ngờ về lòng thành của Gorbachev. Có thể nào ông giao chúng tôi một cách vô điều kiện cho chính quyền Tây Đức, kẻ thù trước đây của chúng tôi ?

         Nhưng khi thỏa thuận việc thống nhất với Thủ Tướng Kohl tại Caucasus từ ngày 14 đến 16 tháng 7 năm 1990, Gorbachev hoàn toàn bỏ rơi chúng tôi. Vào những ngày cuối của cuộc đàm phán, ông từ chối đưa ra bàn thảo lời yêu cầu miễn tố của chúng tôi. Lúc bấy giờ mối quan tâm bức thiết của ông là trưng bày một hình ảnh đèp đẽ đối với Tây Âu và gọn ghẽ quên đi trước đây ông cũng là một người Cộng Sản. Chính quyền Tây Đức sẵn sàng bàn thảo vấn đề miễn tố cho những ai đã phục vụ cho Đông Đức, nhưng khi vấn đề được đề cập nhanh chóng tại cuộc hội thảo, Gorbachev khoác tay và nói với Kohl là người Đức nên tìm cách khôn khéo giải quyết vấn đề với nhau. Đây là lần phản bội tột cùng của Xô Viết đối với những người bạn Đông Đức, những người đã từng làm việc hơn 40 năm nay để cung cố sức mạnh của Liên Bang Xô Viết tại châu Âu.

*

         Trong khi các nhà đầu tư mua bán mặc cả các cơ sở kỹ nghệ và cơ quan của Đông Đức, một cuộc đấu giá tuyệt mật khác khởi sự. Đó là cuộc đấu giá trên cá nhân tôi họăc chính xác hơn trên những hiểu biết tình báo và họat động của tôi. Và giá treo đắt hơn hết mọi thứ : tự do của tôi.

         Cuộc đấu giá bắt đầu từ một phía hoàn toàn bất ngờ, các địch thủ trước đây tại Tây Đức, cơ quan BfV (Bundesamt für Verfassungsschutz) Văn Phòng Liên Bang Bảo Vệ Hiến Pháp, môt tổ chức tôi đã cài đặt các điệp viên và gián điệp nhị trùng xâm nhập vào ngõ ngách thâm sâu của nó từ hàng chục năm nay.

         Tháng 3 năm 1990, cuộc bầu cử đầu tiên sau năm 1945 diễn ra tại Đông Đức đưa Đảng Dân Chủ Thiên Chúa lên cầm quyền, đuợc hỗ trợ mạnh mẽ bởi liên minh lãnh đạo của Thủ Tướng Kohl tại Bonn. Đây là một chính phủ biết chăm lo; công tác chính là nâng cao Đông Đức theo kịp đà thống nhất và đồng thời giảm thiểu những nội lọan. Ông Bộ Trưởng Nội Vụ là một người ăn mặc gọn ghẽ, một anh chàng có vẻ năng động tên Peter-Michael Diestel, xuất hiện từ một trong những đảng bảo thủ thành lập tại Đông Đức vào những ngày đầu Đông Đúc sụp đổ.

         Lúc này, Erich Mielke, từng là Bộ Trưởng Bộ Công An của nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức và là cấp trên trực tiếp của tôi trước khi tôi về hưu, đã bị bắt và áp lực trên các nhân viên và sĩ quan cũ trong cơ quan của chúng tôi buộc họ phải tiết lộ những bí mật mỗi ngày một gia tăng. Phản bội lan tràn và có những cuộc mặc cả giữa các nhân viên kỳ cựu và chính quyền Tây Đức. Cuộc thương lượng thường xoay quanh vấn đề miễn truy tố đổi lấy những bí mật của Đông Đức. Các sĩ quan tình báo lo sợ họ phải nằm tù vào những ngày đầu của nước Đức thống nhất. Mỗi ngày tôi nhận điện thọai của các nhân viên tuyệt vọng yêu cầu tôi can thiệp. Tôi được biết hai nhân viên cao cấp trong Bộ đã tự vẫn. Bern, thằng con rể của tôi, chỉ huy một ban trong cơ quan HVA đặc trách về điệp báo nhắm vào cơ quan phản gián của Tây Đức, gần đây cũng được đề nghĩ miến tố và hưởng nửa triệu Đức Mã đổi lấy những hiểu biết về họat động điệp báo và những mục tiêu trước đây của đương sự.

         Đương sự bác bỏ lời đề nghị nhưng, vì tuyệt vọng bởi sự nghiệp đổ vỡ thình lình và sụp đổ của một hệ thống mà đương sự đã từng tin tưởng với hết tâm can, rơi vào khủng hoảng tinh thần và đã định tự sát. Giống như trường hợp của hàng chục người khác cuộc đời dù đúng hay sai đã dính liền với hệ thống đổ nát này, đương sự cảm thấy hết thời và vô dụng. Họ không được một trợ giúp tâm lý nào cả; tinh thần tự trọng và lòng tin vào chủ nghĩa của họ qua một đêm sụp đổ cùng với Bức Tường Bá Linh.

         Vào lúc này, Diestel gọi cho tôi tại dacha ở Prenden, gần Bá Linh, và mời tôi đến gặp tại tư gia ông ta. Ngay từ lúc gặp gỡ đầu tiên tôi rõ biết ông ta làm việc theo lệnh của Bộ Trưởng Nội Vụ Tây Đức, ông Wolfgang Schäuble. Nhưng khác với các chính trị gia mới, ông ta không lấy gì làm vui thú nhìn sự bất hạnh của tôi. Trái lại, anh ta mong muốn tạo nên một bầu không khí thân thiện giữa hai chúng tôi. Mặc dù có những khác biệt rất lớn trong chính trường Đông Đức (và tôi chắc chắn bất đồng với lập trường cực kỳ Bảo Thủ của ông Diestel) cùng chung một quá khứ giúp chúng tôi có được một chút tâm cảm.

         « Chúng ta cùng nhau dùng một bữa ăn tối và bàn thảo về những tiến triển tới, nhé ? » ông ta hỏi một cách nhẹ nhàng. Ông nói người phụ tá sẽ thu xếp mọi việc.

         Một vài ngày sau, một chiếc xe BMW xanh lơ đến rước tôi, lọai phuơng tiện di chuyển mới của những kẻ có thế lực, thay thế cho những chiếc Citroën và Volvos trước đây vẫn được các lãnh tụ Cộng Sản ưa chuộng. Tôi có ý định vặn hỏi ai trong cấp lãnh đạo trước đây được tài xế đưa rước cách đây vài tháng, nhưng tôi tế nhị không nói.

         Tôi cảm thấy thú vị khi nhận ra những người hầu bữa ăn tối đều làm việc cho Bộ Công An trước đây. Diestel nói : « Những gì tôi đề nghị với ông bây giờ là tuyệt mật ». Ông giải thích chính quyền Tây Đức rất khổ sở trong cố gắng mổ xẻ tìm hiểu những họat động tình báo rộng lớn và tinh vi của Đông Đức, điều nghiên những tài liệu do hệ thống cộng sản để rơi lại trong lúc sụp đổ không kèn không trống. Người kế vị tôi khi tôi rời bỏ nhiệm sở năm 1986 ông Werner Grossmann và môt sĩ quan cao cấp khác, ông Bernd Fisher, đã được lệnh hướng dẫn các viên chức Tây Đức trong sồ lượng khổng lồ tài liệu nhưng họ không theo dõi kịp danh sách những nhân viên điệp báo và điệp viên, và không có một bảng tổng kết tương đối rõ rệt về những hiểu biết của họ. Ông Bộ Trưởng Nội Vụ Schäuble rất nôn nóng, đoan chắc các nhân viên điều tra của ông đã thất bại trong việc tìm hiểu toàn bộ công trình của chúng tôi.

         « Ai là người có thể giải thích rõ cho họ ngoài tác giả đã xây dựng tất cả nền móng này và điều khiển cho nó chạy như một cây kim đồng hồ? » Diestel thúc gịuc tôi đồng thời châm nước vào ly của tôi. Ông không chỉ đơn thuần xin tôi một ơn huệ. Lẽ cố nhiên là sẽ có phần thưởng : đuợc miễn truy tố về tội phản bội nhà nước Tây Đức. « Lên xe của tôi », ông nói, « và đến văn phòng của Boeden với tôi [Gerhard Boeden lúc đó là giám đốc cơ quan phản gián của Tây Đức, cơ quan BfV]. Nói cho chúng tôi biết khoảng 10 hay 12 tên điệp viên cao cấp tại Tây Đức và giúp đỡ chúng tôi nhận diện những tai hại mà phía các ông đã làm, và chúng tôi sẽ dàn xếp để ông không bị truy tố. »

         Boeden, ông ta nói tiếp, sẵn sàng bảo đảm cho tôi được tự do không có chuyện bẳt bớ nếu tôi chấp nhận khai báo cho đương sự. Cuộc thảo luận đã được cẩn thận dàn xếp từ trước, Boeden sẽ nhẫn nại chờ đón tôi cách đó vài dặm để xác minh cho lời mời của Diestel. Chúng tôi cũng đề cập đến việc tôi cộng tác với cơ quan truy lùng khủng bố của Tây Đức với những hiểu biết sâu rộng của tôi.

         Bây giờ đến lượt tôi thương thuyết. Tôi nói tôi chân thành cảm tạ đề nghị miễn tố nhưng tôi cũng có trách nhiệm với những thượng cấp và nhân viên của tôi trước đây.

         Một đỗi sau Diestel cảm thấy chán ngán với cuộc dằng co này. « Ông Wolf » ông nói, « Tôi thiết nghĩ ông biết rõ tất cả chúng ta sẽ vào tù không vì lý do này cũng vì lý do khác. Vấn đề duy nhất là miếng ăn và điều kiện sẽ ra sao khi chúng ta vào trong đó. »

         Ông có ý ám chỉ những ai như chúng tôi đã từng phục vụ cho Đông Đức bây giờ chẳng còn chỗ đứng nào trong nước Đức mới. Trường hợp của tôi nhất định không thể nào thoát tội phản quốc và chùi bò vài năm trong xà-lim.

         Tôi sẽ là kẻ nói láo nếu tôi không nhìn nhận lời mời có sức quyến rũ mãnh liệt. Tôi muốn được tự do. Nhưng tôi cũng hiểu rõ tự do của tôi sẽ nguy hại đến tự do của các nhân viên nam nữ đã cống hiến cuộc đời của họ cho cơ quan của tôi và, đối với các nhân viên làm việc bí mật tại Tây Đức, nguy cơ ngồi tù nhiều năm. Họ sẽ đánh giá tôi như thế nào, người mà họ vẫn gọi là Ông Xếp, nếu tôi bán đứng họ lúc này? Tôi cám ơn Diestel về bữa cơm tối thân mật nhưng tôi từ chối lời đề nghị.

         « Tôi để cho kẻ khác phản bội » tôi nói.

         « Sẽ không thiếu người ghi danh, » ông nói và đồng thời quay lưng ra đi.  « Nếu ông thay đổi ý kiến, sẽ luôn có xe sẵn chờ đưa ông cùng với tôi đến văn phòng của Boeden.»

*

         Quả không thiếu những người muốn mua chuộc tôi. Một lời mời khác phát xuất từ một nơi mà tôi không thể ngờ dù là trong những ước vọng điên cuồng nhất của tôi, giúp tôi thẳng tiến trên đường tìm tự do.

         Ngày 28 tháng 5 năm 1990, hai người Mỹ đến trước cổng nhà tôi ở dưới quê. Họ tự giới thiệu với một vẻ bình thản lạ lùng, họ đại diện cho cơ quan tình báo CIA và đưa một bó hoa to và một hộp chô-cô-la cho vợ tôi. Không hiểu bó hoa đó để khen tặng hay để đưa đám.

         Người đàn ông cao niên, bộ mặt ốm và tóc hoa râm, mặc một bộ đồ đen xậm, áo sơ-mi trắng toát ủi ngay ngắn và đeo cà-vạt sọc. Ông ta tự giới thiệu là Hathaway và người ủy nhiệm của ông William Webster, lúc đó là Giám đốc của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa kỳ và thừa lệnh ông ta đến đây. Ông nói tiếng Đức chính xác và gãy gọn.

         « Một tên thư lại văn phòng » bà vợ Andrea tôi nói vậy, thì thầm nơi tai tôi khi chúng tôi lui vào bếp để vợ đi kiếm bình bông, tôi đi kiếm thuốc lá và gạt tàn. Hathaway là một trong những anh chàng cực đoan chống hút thuốc và yêu cầu tôi đừng mồi thuốc. Tôi hỏi đùa đây có phải là một chiến dịch mới của CIA không và ông cười một cách xã giao không có vẻ gì thực thà cho lắm.

         Người tháp tùng, trẻ và béo mập hơn, vui vẻ tự giới thiệu là Charles và xưng là Trưởng Ban của cơ quan tại Bá Linh, nhưng theo nhận xét của tôi đương sự có vóc dáng của một tên cận vệ. Hắn nói và phản ứng rất ít trong lúc trò chuyện, dù là mãi sau tôi mới biết y cũng am hiểu tiếng Đức. Andrea nghĩ đến những anh chàng Mỹ được thấy trên phim truyền hình về chiến tranh ViệtNam.

         Họ đã cẩn thận không dùng điện thoại để liên lạc với tôi, hiển nhiên họ cảnh giác việc KGB và chính phủ Tây Đức đặt đường giây nghe lén. Họ năm lấy cơ hội một người sưu tầm quân phục tại Hoa Kỳ để liên lạc với tôi, và hỏi tôi có sẵn quân phục Đông Đức để bán không. Qua đường dây tiếp cận mới này giữa Đông và Tây, họ quyết định liên lạc với tôi.

         Từ khi Bức Tường sụp đổ, tôi cũng có cơ hội bằng phương tiện fax nhận thơ thăm hỏi của một người trước đây họat động cho CIA tại Âu Châu; đương sự hầu như chẳng bao giờ moi móc tôi một điều gì; lời lẽ của đương sự biểu hiện thái độ thán phục phong cách của một địch thủ uy tín. Nhưng nay tôi tự hỏi đương sự có thể nằm trong kế họach tiếp cận tôi.

         Dù thế nào đi nữa, có người trong tổng tham mưu CIA đã tìm ra được tên và địa chỉ của Eberhard Meier người phụ tá thân tín của tôi, và đã liên lạc với đương sự để dọ hỏi xem tôi có muốn tiếp hai đối tác Mỹ không. Họ tỏ ra rất là chuyên nghiệp, không bao giờ dùng điện thọai hoặc thơ từ để có thể bị tiếp thu, và luôn tìm những phương tiện khác để gởi thông điệp đến tôi qua người phụ tá, không bao giờ trực tiếp. Tôi nói với anh phụ tá mời họ đến biệt thư của tôi, một nơi gặp gỡ kín đáo hơn là căn phòng của tôi tại Bá Linh. Tuy nhiên tôi vẫn ngẫm nghĩ không biết họ muốn gì. Đã 4 năm tôi rời cơ quan, tôi đâu còn gì để bắt cóc tôi, họ đeo đuổi việc gì đây ?

         Tôi không còn những phương tiện điệp báo như xưa nên tôi trở về với những nguyên tắc thuở ban đầu và khôn khéo thu thanh cuộc họp mặt trong một máy ghi âm giấu ở cạnh bàn. Bất cứ ai dù biết sơ sai kỹ thuật điệp báo cũng không bao giờ liên lạc với một thế lực thù địch mà không ghi âm toàn bộ buổi họp để tự bảo vệ tránh sau này bị nạn xăng-ta.

         Hathaway bỏ ra cả nửa ngày trình bày nỗi thông cảm với những khó khăn của tôi trong giờ phút thống nhất nước Đức và việc tất yếu tôi sẽ bị bắt giữ. Ông tâng bốc tôi cao độ và tôi danh tiếng trở thành một trong những cấp lãnh đạo tình báo đứng đầu thế giới.

         Tôi cảm nhận ông ấy biết rất nhiều về tôi và ông đang cố gắng lựa lọc những định kiến của ông về tôi và chọn lựa những điều phù hợp với tình thế hiện tại. Thật ra, trong phong cách của một nhân viên tình báo có bản lãnh, ông tiết lộ rất ít về cá nhân ông để có được một tiết lộ quan trọng của người đối thọai. Ông nói ông đã từng họat động tại Bá Linh vào những thập niên 1950 và theo dõi rất sát những năm đầu của tôi trong nghề. Tôi ước đoán trong lúc đối thọai ông cũng đã từng lãnh đạo trụ sở CIA tạiMoscow.

         « Ông là một người làm việc cần mẫn và thông minh, » Hathaway nói.

         Đầu tiên là củ cà-rốt, tôi tự nhủ, sau đó là cây gậy. Chúng tôi uống hình như là một biển cà-phê. Tôi hút thuốc và người khách của tôi bất bình ra mặt. Cuối cùng tôi không chịu đựng được.

         « Thưa hai ông », tôi nói, « tôi thiết nghĩ hai ông từ đường xa đến đây không phải để ca ngợi cặp mắt tôi đẹp. Tôi đoan chắc hai ông cần tôi làm một chuyện gì đây ».

         Cả hai đều phá lên cười, cảm thấy nhẹ nhọm, chiếc bánh rồi ra cũng được cắt đôi.Giọng của Hathaway trầm xuống.

         «Ông là một người Cộng Sản kiên định, chúng tôi biết điều này. Nhưng nếu ông cố vấn và giúp chúng tôi, ông có thể làm việc chung với tôi. Không ai biết chuyện này cả. Chúng tôi có thể dàn xếp, ông biết rõ. Chúng tôi có thể thực hiện được công việc này. »

         Đầu óc của tôi bắt ngay những tín hiệu của ngôn ngự mật mã và chuyển sang một tốc độ cao hơn. Đây là phái viên của chính phủ Hoa Kỳ, kẻ thù chính trong cuộc Chiến Tranh Lạnh, đang chuẩn bị cung cấp cho tôi nơi tá túc để tránh sự phục thù của một đồng minh trong Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO), nước Đức thống nhất.

         «California, » ông tiếp tục nói bằng tiếng Đức trôi chảy, « là một địa điểm rất thoải mái. Khí hậu tốt quanh năm. »

         « Tây-bá-lợi-á cũng thoải mái lắm, » tôi nói đùa nhưng lại đau sót thấy cách nói chuyện trong ngành tình báo thực tế đôi lúc cũng giống văn phong của tiêu thuyết gián điệp.

         Chúng tôi đều phá cười, nhờ vậy tôi được một khoảnh khắc suy nghĩ.

         « Vấn đề là tôi không biết rõ Hoa kỳ. Tôi không mường tượng được cuộc sống của tôi tại đó ».

         Hathaway nói Webster muốn mời tôi đến tổng hành dinh của CIA tạiLangley,Virginia, để bàn thảo. Ông tiếp tục : « Chúng tôi có thể cải trang hoặc sửa mặt cho ông để ông có thể cảm thấy an toàn hơn».

         Tôi phải cố gắng hết sức để không phi cười khi tôi nghĩ đến những năm đầu tập tễnh học nghề gián điệp.

         « Tôi mãn nguyện với hình thù nguyên vẹn của tôi », tôi trả lời.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 3 (Markus Wolf)                        

“…Nếu các ông còn muốn nói chuyện với tôi, hãy mời tôi sang Hoa Kỳ một cách chính thức và chúng ta sẽ nói chuyện nghiêm chỉnh, như nguời lớn. Tôi cần được biết đất nước của quý ông để tôi có thể quyết định…”

Một lần nữa, người đối thọai với tôi cười gằn. Đương sự nói tiếp là một số tiền rất lớn sẽ được trao cho tôi. Chúng tôi không đề cập đến những chi tiết, nhưng tôi biết một sĩ quan của tôi phụ trách về điệp báo nhắm vào Hoa Kỳ, Jürgen Rogalla, đã được một trưởng ban CIA tại Bá Linh hứa trao một triệu Mỹ kim để đương sự khai hết những gì đương sự biết, nhưng anh ta đã từ chối. Chúng tôi xã giao bàn về những hậu quả của sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và danh tiếng tốt của cơ quan do tôi chỉ huy.

         « Lẽ cố nhiên, » ông nói « ông phải làm một việc gì đó cho chúng tôi ».

         Lo ngại phải nhắc lại lời mời của chính quyền Đức trong việc khai tên các nhân viên của tôi để bù lấy tự do, tôi trả lời tôi không sẵn sàng trao danh tánh của bất cứ nhân viên nào của tôi.

         « Chắc chắn sẽ có đền bù cho ông trong vấn đề này, lẽ cố nhiên là vậy » Hathaway nói.

         Câu này gây cho tôi một cảm giác khó chịu, có lẽ vì nó gợi lại phong cách của chính tôi khi tôi dùng lối tâng bốc và kẻ cả để nói chuyện với nhân viên của tôi vào thời vàng son của tôi. Cái đám người này là cái thá gì mà dám nói với tôi như vậy.

         « Thưa quý ông », tôi trả lời, « Tôi có rất nhiều kinh nghiệm trong việc các ông đang cố gắng làm hôm nay. Tôi biết rất rõ các ông nghĩ gì. Các ông đòi hỏi đối tác của các ông rất nhiều nhưng đối tác của các ông không lấy gì làm vồn vã. Các ông phải biết kiên nhẫn. Các ông phải bàn thảo rất nhiều chuyện và mổ xẻ kỹ lưỡng vấn đề trước khi đi đến một quyết định chính thức ».

         Đây là lối diễn tả khéo nhất những gì tôi suy nghĩ. Nhưng trong thâm tâm tôi chỉ muốn nói toẹt với Hathaway là đương sự lầm to, đương sự nói chuyện với tôi như thể nói chuyện với một nhân viên quèn mà đương sự có thể mua và bán dễ dàng. Tôi muốn nói thẳng với đương sự làm việc như vậy không được, chúng ta phải nói chuyện một cách nghiêm chỉnh trên cấp độ của hai người biết chuyện quá thành thạo.

         « Nhưng ông phải giúp chúng tôi, » Hathaway nói.

         «Có lẽ điều này đúng nếu tôi cầu cứu đến các ông » tôi nói, lần này không cần dấu diếm sự bực tức của tôi, « Các ông có thể vặn hỏi tôi đóng góp được gì cho các ông. Nhưng đàng này tôi không nộp mình cho các ông. Chính các ông đến đây mời gọi tôi ».

         « Vâng, vâng, » Hathaway vội vã nói « đúng là chúng tôi đặc biệt đến Bá Linh để nói chuyện với ông ».

         « Luôn luôn có giới hạn trong những cuộc bàn thảo như vậy, » tôi nói « Giới hạn của tôi là tôi không bao giờ phản bội bất cứ ai làm việc cho tôi. Không tên tuổi gì hết. Nếu các ông còn muốn nói chuyện với tôi, hãy mời tôi sang Hoa Kỳ một cách chính thức và chúng ta sẽ nói chuyện nghiêm chỉnh, như nguời lớn. Tôi cần được biết đất nước của quý ông để tôi có thể quyết định. ».

         « Nhưng an ninh của ông ở đây không khả quan chút nào, » Hathaway phản bác, nhắc nhở cho tôi biết nếu tôi ở lại Đức, chỉ còn một vài tuần nữa tôi sẽ bị bắt và điều này tôi biết quá rõ.

         « Nước Nga luôn chờ đón tôi », tôi đáp lại.

        Khi nghe câu này, người đối thoại với tôi thình lình trỗi dậy, cảm nhận đương sự đang đấu giá với một đối thủ uy thế khác.

         « Chớ đi Moscow, » đương sự nói « Đời sống nơi đó cực lắm. Hãy nghĩ đến Andrea. Hãy đến một nước mà mọi sự sẽ thoải mái cho ông, nơi đây ông có thể làm việc và viết sách một cách yên tĩnh. Theo ý kiến cá nhân của tôi, điều này chỉ có thể thực hiện được tại Hoa kỳ mà thôi ».

         Viễn tượng về hưu sung túc và nằm phơi nắng tạiCalifornia hoặcFlorida hơn là nếm mùi vị của nhà tù Đức đối với tôi thật là quyến rũ. Nhưng tôi vẫn cảm thấy bất an khi nhìn thấy viễn tượng nộp mạng làm con tin cho CIA. Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu họ quyết định siết chặt gọng kềm lên tôi ? Đoán chừng họ cũng ghi âm buổi nói chuyện, và họ có thể hô hoán là tôi đã ngụy tạo cuộc họp nếu cuộc đàm phán bất thành. Tôi muốn có được bảo đảm là họ thật tâm muốn tiến xa hơn nữa để tôi có thể tiếp tục nói chuyện ; vì vậy tôi yêu cầu họ viết thư mời tôi sang Hoa Kỳ, qua trung gian của một cơ quan ngoại vi của CIA.

         Các vị khách của tôi không hài lòng với lời đề nghị của tôi, họ giải thích rằng họ làm việc trong một khuôn khổ giới hạn số khách ngọai quốc được mời, khó vượt qua. Lẽ cố nhiên họ lo ngại Tây Đức sẽ khám phá việc trao đổi này. Dù sao đi nữa, việc âm mưu thu nhận một cán bộ cao cấp đã từng làm việc lâu năm cho kẻ thù như tôi được coi như một phản bội lớn đối với các đồng minh tại Âu Châu và đặc biệt đối với Đức. Tôi đề nghị họ tìm một nhà xuất bản hoặc một hãng phim gà nhà qua đó họ mời tôi với tư cách là tác giả – một phương pháp hiệu nghiệm để ngụy trang một công tác. Đây chắc chắn là phương pháp để dàn xếp một cuộc trao đổi tại khối Đông Âu, và tôi thiết nghĩ CIA có thừa phương tiện để kiếm ra một tổ chức viết thư mời rồi sau đó biến thành thường trú tại Hoa Kỳ nếu cuộc trao đổi thành công.

Bầu không khí chìm trong im lặng một lúc lâu, sau đó Hathaway lắc đầu. Nhưng rồi họ bỏ lửng, tiếp tục nhấn mạnh tôi có thể có những đóng góp giá tri cho cơ quan CIA mà không phản bội các nhân viên của tôi. Lần hồi tôi mới hiểu rõ họ không như chính phủ Tây Đức, họ không ưu tiên chú ý đến những việc làm của tôi với tình báo Đông Đức, nhưng chú ý đến những hiểu biết của tôi về KGB và cơ cấu của cơ quan tình báo Xô Viết.

         « Thưa quý ông, » tôi nói, với hy vọng đưa cuộc thảo luận đi mau chóng vì tôi bắt đầu ưu tư, « tôi không biết rõ quý vị thuộc ngành nào trong cơ quan, nhưng tôi có thể đoán chừng. Có phải quý ông muốn tôi cung cấp một sự kiện rất đặc biệt cho quý ông, có phải thế không ? »

Cuối cùng Hathaway nói toạc vấn đề.

         « Ông Wolf, » ông nói nhỏ nhẹ, « chúng tôi đến đây vì chúng tôi biết ông có những thông tin trong đường dây họat động có thể có ích cho chúng tôi trong một trường hợp đặc biệt trầm trọng. Chúng tôi đang tìm một tên nằm vùng ngay trong cơ quan chúng tôi. Y đã gây thiệt hại rất lớn cho chúng tôi. Đã xẩy ra nhiều chuyện không tốt cho chúng tôi khoảng năm 1985. Không những tạiBonn mà còn tại những nơi khác nữa, những nơi mà ông rất quen thuộc. Chúng tôi đã thiệt mạng vài người – có thể từ 30 đến 35, và từ 5 đến 6 thuộc thành phần cao cấp».

Ông có vẻ thông thạo Tình Báo Xô Viết và biết rõ ai chỉ huy ngành điệp vụ hải ngọai và những công tác của ngành này. Điều này xác định nhận xét trước đây của tôi trong lúc nói chuyện, ông là một nhân vật cao cấp trong tình báo Mỹ. Chúng tôi nói chuyện dè dặt về những tên phản bội nổi tiếng của Xô Viết – Penkovsky, Gordievsky, Popov – những người đã thay lòng đổi dạ giúp cho Hoa Kỳ theo kịp tình báo Xô Viết. Ông cảm phục tướng Kireyev, một người bạn đồng nghiệp của tôi, đứng đầu phản gián hải ngọai tạiMoscowvà tôi đã từng phối hợp với ông trong nhiều cộng tác chống lại CIA. Ông cũng biết đôi chút về những cơ sở này và muốn quay cuộc thảo luận sang ông Felix Bloch, một nhân viên ngoại giao Mỹ mà CIA tình nghi đã bịMoscowmóc nối, nhưng họ không đưa ra tòa xét xử vì thiếu tang chứng. Tôi đoán chừng trung tâmLangleyđã rất khổ sở tìm kiếm những mối giây liên lạc của tôi với KGB và họ hy vọng trong vấn đề này họ có thể biết được danh tính của tên nằm vùng mà họ tìm kiếm.

Tôi không rõ việc này. Loại tin tức này được mấy ông Xô Viết bảo vệ rất chặt chẽ. Tôi cũng không hề báo cho Xô Viết biết danh tính của những điệp viên nằm vùng cao cấp cũng như nhân viên của tôi, mặc dù ngoài mặt chúng có cùng chung chí hướng anh em. Cùng lắm chúng tôi nói nhẹ nhàng với nhau chúng tôi có « người ngồi » trong lòng của địch thủ, và không thêm một chi tiết nào khác.

Qua lối tiếp cận khẩn khoản và những cố gắng dai dẳng của Hathaway để dẫn dụ tôi ngả theo phiá Hoa Kỳ, rõ ràng là CIA đang ở trong trạng thái hoảng hốt vì bị xâm nhập. Họ phải ngậm đắng nuốt cay để trình bày vấn đề của họ cho tôi. Hơn nữa, họ có thể gây hiềm khích với đối tác Tây Đức khi họ tiếp xúc với tôi. Trong những trường hợp vô vọng như vậy, ngay cả những gắn bó ý thức hệ cao độ nhất cũng vỡ tan.

Ngày 29 tháng 5 họ trở lại lần nữa, nhưng chúng tôi không đạt đến một thỏa hiệp nào để chính thức mời tôi sang Hoa Kỳ. Hathaway nói ông sẽ báo cáo cho Webster và nếu tôi muốn xúc tiến vấn đề này, tôi có thể liên lạc với ông. Họ thật sự hy vọng, với áp lực mỗi ngày một kề cận tội bị bắt giam, tôi sẽ chấp thuận khép mình duới lọng che của họ, theo những điều kiện họ muốn. Đến đây Charles nhập vào chuyện và nói với Andrea, mô tả những vui thú tại Hoa Kỳ. Trước khi lên đường, họ trao cho tôi một số điện thoại miễn phí của trung tâm Langley, và chúng tôi trao đổi mật tự để liên lạc mai sau. Tôi không cung cấp và cũng không hứa bất cứ điều gì với họ. Tôi biết họ đang chơi trò chờ đợi và tình trạng của tôi mỗi ngày bi thảm hơn.

Vào trung tuần tháng 8 lời mời của chính quyền Đức do Peter-Michael Diestel đứng ra làm trung gian mất đi hoàn toàn hiệu lực. Tôi nhận thấy những lựa chọn của tôi không còn bao nhiêu. Cơ quan CIA lẽ cố nhiên cũng tiên đoán như vậy, vì họ liên lạc với tôi lần nữa cũng theo con đường cũ. Chúng tôi thu xếp một cuộc gặp gỡ khác tại dacha của tôi và Hathaway một lần nữa nhắc nhở điều ông gọi một cách tế nhị « tình thế khó khăn » của tôi. Webster, ông nói tiếp, vẫn tiếp tục từ chối gởi lời mời đích danh cá nhân tôi, nhưng họ vẫn sẵn sàng mở cửa đón nhận tôi tại Hoa Kỳ với điều kiện tôi giúp họ săn lùng tên điệp viên nằm vùng. Lần này Charles có vẻ họat bát hơn. Y giải thích nếu tôi quyết định kêu gọi sự giúp đỡ của họ, tôi có thể phái Andrea đến trạm xe hỏa Bahnhof Zoo nằm phía Tây của Bá Linh và gọi một số điện thọai miễn phí. Andrea tự giới thiệu là Gertrud và nói « Tôi muốn nói chuyện với Gustav ». Cuộc đào thoát của tôi như vậy đã được tính toán tại Bá Linh và một người tên Charles sẽ đảm nhiệm trường hợp của tôi.

Tôi đoán chừng từ đó mật hiệu Gertrud sẽ tự động chuyển sang Trung Tâm Langley và đồng thời cho cả đầu giây CIA tại Bá Linh. Bốc tôi ra khỏi nước Đức không phải là một chuyên khó, có lẽ bằng máy bay, tương tự như Xô Viết đã làm khi họ đưa vị lãnh tụ thất sủng Erich Honecker ra khỏi Đông Đức trên một chiếc máy bay quân sự để đến Moscow. Hồi tưởng năm 1945 ngồi trên một trong những chuyến bay đầu tiên trở về nước Đức Cộng Sản từ Moscow sau khi Hitler sụp đổ, tôi suy gẫm tịnh huống trớ trêu của tôi chấm dứt sự nghiệp 45 năm sau lại trốn bỏ Bá Linh dưới sự bảo trợ của Hoa kỳ.

 Chúng tôi có thêm một lần họp nữa, lần này tại căn phòng trong thành phố của tôi, và cuối tháng 9, nhưng không có một tiến triển nào trong lời mời của Hoa Kỳ.

Tới đây, Tòa Biện Lý Tây Đức trịnh trọng tuyên bố các sĩ quan cảnh sát đã bày binh bố trận trước cửa nhà tôi vào đêm ngày 2 tháng 10 để bắt tôi. Tờ báo lá cải Bild-Zeitung đã gởi một đại diện đến đề nghị trả chi phí tòa án bào chữa cho tôi bù lại họ được độc quyền đăng tải về việc bắt giam tôi. Tôi nói với họ tôi sẽ nghĩ đến việc này. Đây là cả một trò hề dàn cảnh mà tôi không muốn tham dự vào. Tôi nói với tờ Bild-Zeitung tôi không có ý định rời bỏ nước Đức. Điều này hầu như là đúng, vì chắc chắn tôi có ý định rời bỏ nước Đức một thời gian, nhưng tôi không biết phải đi nơi nào. Vì khi tôi từ chối trở thành một tên phản bội theo mệnh lệnh củaBonn, tôi đã từ bỏ mọi lựa chọn để ở lại Đức để tránh không phải ra tòa và cố nhiên vào tù.

Mãi sau này tôi khám phá ra tên tuổi của tay nằm vùng đã làm đau đầu CIA. Tên của y là Aldrich Ames, tên phản bội tai hại nhất trong lịch sử gián điệp Hoa Kỳ. Ames đã lợi dụng vị thế của mình trong trách vụ truy lùng những công tác phản gián của Xô Viết trên khắp thế giới để bán cho Xô Viết tên tuổi các điệp viên của Hoa Kỳ, và đã hữu hiệu phá vỡ mạng lưới tình báo của Hoa Kỳ tại Liên Bang Xô Viết từ bên trong. Hắn phục vụ choMoscowtrong vòng 9 năm, cả dưới chế độ cộng sản và thời của BorisYeltsin, trong chức vụ này và sau này trong ngành bài trừ ma túy. Qua cuộc buôn bán, hắn đã nhận 2,7 triệu Mỹ kim ; sự kiện này biến hắn trở thành tên nằm vùng đắt giá nhất trong lịch sử điệp báo. Ông Gardner A. Hathaway, người khách từ Langley đến gặp tôi không chỉ là một đặc phái viên của William Webster, nhưng, sau này tôi được biết, ông là Giám Đốc ngành phản gián Hoa kỳ, về hưu vài tháng trước khi đến thăm tôi.

Gus Hathaway, một sĩ quan kỳ cựu của Nha Giám Đốc Điều hành Công tác của CIA, nhận trách vụ được hơn một năm, ghi nhận một số tín hiệu càng ngày càng nhiều có một tên phản bội ở cấp cao trong cơ quan. Ông là một trong những người hiếm hoi biết rõ những tổn thất nặng nề của điệp báo Hoa Kỳ trong lòng Liên Bang Xô Viết – mười vụ hành quyết và một chục bị kết án tù nặng – và ông am hiểu rất rõ sự hiện diện của tên phản bội trong hàng ngũ đang làm xuất huyết tình báo Hoa Kỳ.

         Tôi cũng tìm hiểu về Hathaway và có điều gì đó nơi ông làm cho tôi kính phục. Khi tôi được biết ông ta vừa về hưu, tôi có phần tâm cảm với ông trong tư cách của một sĩ quan tình báo về hưu. Giống như trường hợp của tôi, ông không có khả năng chấm dứt cuộc đời sự nghiệp của ông và đơn sơ hưởng những năm còn lại để làm vườn, nghỉ mát, và tận hưởng tất cả những thú vui gia đình mà chúng tôi mơ ước khi về hưu. Ông bị lôi cuốn vào mớ bòng bong chết người mà ông đã bỏ những năm cuối làm việc để tìm cách gỡ rối : Ai là kẻ phản bội liên tục ngay trong cơ quan của ông? Tôi liên tưởng đến ánh mắt của ông khi chúng tôi đối diện nhau ông thú nhận sự thất bại của CIA trong những lời ngắn ngủi và đứt đọan. Có lẽ ông đã hy sinh tự ái rất nhiều để đi sang Bá Linh cầu cứu với kẻ thù trước đây. Nhưng vì lương tâm nghề nghiệp và vì cá tính, ông bị ám ảnh trong việc truy tìm tênAmes. Đơn vị truy lùng cũng được giữ bí mật ngay trong nội bộ CIA. Đội truy lùng phần đông gồm những sĩ quan về hưu để bảo vệ bí mật và được gọi là Toán Công Tác Đặc Biệt. Toán này có một nữ sĩ quan cao cấp trong ngành điều nghiên – một sự kiện hiếm có trong CIA hoặc trong các cơ quan tình báo khác. Bà này đã tìm hiểu trường hợp của một tên nằm vùng gốc Trung Hoa làm việc cho CIA trong vòng 30 năm mà không hề bị phát giác và trường hợp của một đồng nghiệp đáng kính trong cơ quan tình báo Xô Viết. Tôi khâm phục khả năng điều hành của Hathaway. Trong vị thế của ông tôi sẽ hành sử đúng như ông đã hành sử và giữ số người trong đội càng ít càng tốt. Dùng những sĩ quan đã về hưu là một phuơng thức hành sử càng khôn ngoan hơn nữa, vì dùng những nhân viên làm việc trong Ban Điều Nghiên Xô-viêt của CIA sẽ có nguy cơ báo động và ngay cả tuyển chọn tên nằm vùng. Phương sách hoạt động trong những trường hợp này phải là : bủa lưới một cách nhẹ nhàng.

         Cuối cùng cơ quan FBI, đối thủ của CIA, phát giác hành tung củaAmes. Tôi ngờ những khó khăn Hathaway vấp phải là do thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu hiểu biết. Hơn thế nữa, ông không phải là một người có nhiều sáng kiến và, theo lời của một vài đồng nghiệp của ông, ông là người của bàn giấy. Nhưng tôi không trách lỗi ông đã thất bại trong việc nhận dạng tên phản bội đã đánh phá tình báo Hoa Kỳ như con vi khuẩn độc hại nằm trong ruột. Công việc bội bạc và mệt nhọc để truy lùng tên phản phé lúc nào cũng có vẻ giản dị khi nhìn lại hơn là lúc đang lâm cuộc. Những điểm then chốt lúc nào cũng có vẻ hiển nhiên – nhưng chỉ sau khi lùng bắt đuợc con mồi.

         Tìm những điểm lạ trong phong cách của một tên nằm vùng là phương pháp đúng đắn. Nhưng rất nhiều người trong bất cứ ngành nghề nào – chưa kể đến nghề điệp báo đầy bức xúc – cũng có vấn đề rượu chè, tư cách hoặc vấn đề gia đình, họ cảm thấy không được cấp trên đánh giá đúng mức hoặc cần tiền nhiều hơn mức thu nhập lương thiện của họ. Các nhân viên trong ngành điệp báo do môi trường bưng kín họ sống hoặc làm việc được khuyến khích cảm nhận những nguyên tắc áp dụng cho những người khác nhưng lại không áp dụng cho họ. Các nhân viên CIA nỗ lực làm việc trong ngành phản gián Xô Viết phải biết rõ tâm não của kẻ địch để rồi càng ngày càng dễ rơi vào lối suy nghĩ của địch thủ và rồi, như trong trường hợp của Ames, những mối ràng buộc với quốc gia và cơ quan của mình tự nhiên tan biến do những mặc cảm thua kém và ấm ức dồn nén.

         Khi Xô Viết móc nối Ames vào năm 1985, đương sự đuợc điều khiển bởi Stanislav Androsov, một nhân viên KGB thường trú ( sĩ quan KGB được chính thức bổ nhiệm) tại Đại Sứ Quán Xô Viết tại Washington. Một năm sau Ivan Semyonovich Gromakov thay thế Androsov. Tôi quen biết Gromakov từ năm 1960 khi ông làm giám đốc đơn vị KGB tại Đức (Cục 4 của Đệ Nhất Tổng Cục). Tôi biết Gromakov nói được tiếng Đức, tôi không rõ về khả năng tiếng Anh của ông, vì vậy tôi hơi ngạc nhiên nghe tin bổ nhiệm ông tạiWashington. Người ông dáng dấp thấp béo và vui tính, mắt đeo gương. Ông có thói quen khó chịu gầm thét làm người khác nhảy nhổm mỗi khi ông nâng ly chúc mừng sự thành công của KGB. Tôi không hề được nghe ông nói về việc bắt con mồi lớn này, như tôi có thể mường tượng nỗi vui sướng của ông, khi ông làm việc ngay trong lòng địch và Ames rơi vào trong rọ của ông.

        Khi câu chuyện phản bội của Ames được tiết lộ, tôi thật sửng sốt không ngờ hắn làm việc không bị phát giác một thời gian khá lâu và phản gián Hoa Kỳ tỏ ra quá bất tài và quá tuyệt vọng để buộc phải cầu cứu cấp lãnh đạo điệp báo của kẻ thù để tìm hắn.

         Quý vị có thể lấy làm lạ vì tôi sẵn sàng nói chuyên với CIA. Dù sao đi nữa, tôi không có ý định rời nước Đức và tôi đã chính thức tuyên bố tôi không có ý định di cư. Tôi phản đối Tây Đức với tư cách kẻ chiến thắng Chiến Tranh Lạnh đòi áp đặt hình thức pháp luật của họ lên tôi và các đồng nghiệp của tôi; đối với tôi đòi hỏi này mang sắc thái một đòn trả thù. Lời mời của CIA lôi cuốn tôi chỉ vì nó cho phép tôi tam thời rời đất nước tôi trong những ngày đầu thống nhất hai nước. Tôi biết trong những tuần lễ và tháng đầu lòng hăm hở trả thù lên cao. Nếu có thể, tôi muốn tránh giải pháp lánh nạn sangMoscow, vì sự biệt tích của tôi tạiMoscow là một tín hiệu không tốt cho mối liên lạc của tôi với nước Đức mới, tạo nên lý cớ khuyến khích những người trong nước két án tôi. Tôi sẽ bị tố cáo là trốn sangMoscow để đưa tên tuổi những điệp viên, lời đồn này đã được tung ra khi tôi chạy sangMoscow ở hai tháng vào đầu năm 1990. Thực tế không phải như vậy. Tôi quá nhiều lo lắng trong việc tìm cách tránh đỡ cho cá nhân tôi cũng như cho các nhân viên cũ của tôi, các điệp viên và các người nằm vùng không bị truy tố để tôi có thời giờ chơi trò nước đôi với Xô Viết.

        Giả như CIA chuẩn bị đón nhận tôi sang Hoa Kỳ, có lẽ tôi sẽ đắn đo suy tính chấp nhận lời mời này như một giải pháp tạm thời hữu lý. Nhưng tôi nghi ngại một khi thỏa thuận xong xuôi và tôi bay sang Hoa Kỳ không có lời mời chính thức, CIA có thể phao tin tôi xin đầu thú và ép tôi hợp tác với họ theo điều kiện của họ. Với phong cách hống hách của một cơ quan tình báo lớn, CIA chắc mẩm tôi mong ước làm việc với họ nên tôi sẵn sàng tự đặt vào một vị thế yếu kém, một trường hợp mà mọi người đào thoát khôn ngoan đều muốn tránh – bị ép buộc phải thương luợng trên lãnh thổ của kẻ địch. Mặc dù Hathaway đích thân sang Bá Linh ngày 26 tháng 9 và chúng tôi đã chuẩn bị hành lý, cuộc thảo luận cuối cùng của chúng tôi cũng chỉ mệt nhọc quay luẩn quẩn không đi đến đâu cả.

*

         Điều mà không một ai có thể ngờ kể cả Hoa Kỳ, Nga vả Tây Đức, có một tay bí mật khác nhảy vào đấu giá. Đó là Do-thái. Tôi là người Do thái, một điều không bình thường trong giới lãnh đạo tình báo cao cấp của khối Xô Viết. Chính xác hơn, tôi có nửa phần Do thái vì mẹ tôi là Gentile (người không theo đạo Do Thái). Nhưng cũng đủ thành người Do thái để bị phân loại và bị bách hại theo luật pháp phân biệt chủng tộc Nuremberg được ban bố năm 1936 , nếu gia đình của tôi bị Đức Quốc Xã bắt kịp khi chúng tôi trốn chay sang Pháp rồi sau đó sang Nga. Chủ thuyết tôi theo đuổi một khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt có thể biến tôi thành kẻ kình địch củaIsrael. Nhưng tôi luôn quan tâm theo dõi tình hình Do thái, và gia đình tôi đã cho phép tôi thừa hưởng truyền thống Do thái, chưa kể đến đức tin Do thái.

         Mối liên lạc của tôi với Tel Aviv (thủ đô Do thái) đến rất trễ nếu không muốn nói là bất ngờ, do sự xuất hiện của tôi nhân một buổi họp ngày 4 tháng11 năm 1989 tôi kêu gọi cải cách trong chế độ Đông Đức. Tại đây tôi gặp một phụ nữ tên Irene Runge, người điều khiển trung tâm Văn Hóa Do thái, thành lập tại Đông Bá Linh vào những thập niên 1980 sau hàng chục năm truyền thống Do thái bị đàn áp tại Đông Âu, do sự cấu kết giữa Cộng Hòa Dân Chủ Đức với khối Ả-rập. Tôi trả lời cuộc phỏng vấn của Irene để đăng trên một nhật báo Do thái, và tôi tham dự một cuộc họp của hội bà ta với tư cách là khách, sau đó tôi không màng đến nữa.

         Vào mùa hè năm1990, thình lình bà ấy gọi tôi để báo tin ông Rabbi Tsvi Weinman, một vị lãnh đạo cao cấp của Chính Thống Giao tại Jerusalem, muốn làm quen với tôi. Đúng hôm đó rơi vào ngày thứ sáu, có nghĩa là Ngày Sabbath Do thái sẽ khởi sự lúc mặt trời lặn và vị này không thể nào gặp gỡ tôi tối nay được. Tôi điện thoại cho ông và chúng tôi vui vẻ đùa cợt với nhau và đồng ý gặp nhau lần tới khi ông ghé Bá Linh. Không bao lâu sau ông xuất hiện trở lại nói rằng lý do chính ông đến đây là để thăm trung tâm Văn Hóa Do-thái. Tôi mời ông đến căn phòng của tôi. Ông đến rất đúng giờ hẹn. Ông trạc 50 tuổi, đội nón vành tròn đen và không có một dấu hiệu nào khác chứng tỏ ông là Do thái chính thống giáo. Ông ân cần hỏi thăm tình trạng của tôi, ở vị trí của một người có bản sắc Do thái và kinh nghiệm bách hại, trước tình thế sắp đương đầu với tòa án chính trị của nước Đức. Ông khôn khéo tránh đề cập đến công việc trước đây của tôi, nhưng hỏi tôi có muốn thăm viếng Israel không. Tôi liền suy nghĩ mục đích của ông Weinman không lẽ chỉ vì vấn đề văn hóa. Liền sau đó tôi nhận được thư của một nhật báo Do-thái tờ Yediot Abranoth mời tôi sang thăm viếngIsrael.

         Tìm hiểu về Weinmann tôi được biết có lời đồn ông làm việc cho Mossad (tình báo Do thái) hồi còn thanh niên. Ông đích thân phản bác chuyện này và nói ông đã phục vụ trong quân đội nhưng không hề làm việc cho ngành tình báo. Chúng tôi thường xuyên điện thoại cho nhau và trông chờ chuyến đi của tôi, và tôi hình dung bộ mặt thiểu não của Bonn, Moscow và Washington khi họ thấy những hàng tựa lớn đăng tin sự xuất hiện thình lình của tôi tại Israel. Tôi đoán chừng Mossad cũng muốn dò xét những hiểu biết của tôi về những nhóm Palestine và hoạt động của họ, một điều mà tôi biết rất ít, nhưng tôi quyết định bước qua cầu khi tôi đặt chân xuống Đất Thánh. Dù gì đi nữa, cuộc viếng thăm này cho tôi một cơ hội mới để thoát ra khỏi nước Đức. Tôi không thể nào để cho miếng mồi này vuột khỏi tay tôi.

         Hai tuần trước ngày thống nhất nước Đức, tôi nhận cú điện thoại bất ngờ của Weinmann. Ông có vẻ thất thần và hơi ngượng ngùng. Cuộc viếng thăm bị bãi bỏ. Tờ báo không còn chú ý đến tôi, ông nói, vì sự xuất hiện của một quyển sách chỉ trích Mossad và phương pháp làm việc của cơ quan này đã gây phẫn nộ trong quần chúng. Bây giờ không đúng thời điểm để mời tôi sang. Tôi hiểu ngay là Do thái lạnh cẳng vào giờ phút chót, chắc chắn họ e sợ tất cả những dịch vụ tôi cung cấp cho họ không bù lại những tai hại mà tôi có thể gây nên cho mối giao hảo của họ với Tây Đức vì sự hiện diện của tôi tạiIsrael. Cánh cửa hy vọng vừa hé mở đã bị đóng xầm lại. Nhưng Tel Aviv không cắt đứt hoàn toan mối dây liên lạc với tôi. Sau cuộc điện đàm với Weinmann, tôi nhận được một cú điện thọai khác từ tòa báo, hứa cấp cho tôi chiếu khán và vé máy bay vào một ngày khác. Tôi dàn xếp để họ cất giữ cho tôi tạiVienna. Nhưng khi tôi kiểm soát lại một vài tuần sau, tôi không nhận được gì cả. Nếu quả vé đó nằm tại đây thì nay nó không còn đó nữa.

         Đến đây áp lực rất mãnh liệt, và tôi biết chính quyền Đức nông nón nhìn thấy tôi đứng trước vành móng ngựa. Tôi trốn nơi nào đây? Và giá phải trả là bao nhiêu? Tôi không còn lựa chọn nào đáng trông đợi nữa, và tôi không còn đủ thời giờ nữa.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 4 (Markus Wolf)                        

“…Chúng tôi cũng được huấn luyện kỹ lưỡng về kỹ thuật tuyên truyền. Trong một lớp huấn luyện, một người được chỉ định để trình bày những lý luận của kẻ thù Quốc Xã đạt đến mức thuyết phục tối đa, trong khi đó những người khác phản bác lại với những luận cứ chống phát-xít…”

Thoát khỏi ác bóng Hitler

Cha tôi, Friedrich Wolf, sinh tạiRhinelandnăm 1888, xuất thân từ một gia đình Do thái ngoan đạo. Buổi thiếu thời, bố mẹ muốn ông trở thành thầy cả Rabbi, nhưng ông kháng cự và đòi học y khoa. Lòng tôn thờ chủ nghĩa Mác-xít đạt đến cao độ năm 1928, vào lúc ông 40 tuổi, và ông thấm nhập chủ thuyết này qua những nẻo đường ngoằn ngoèo. Ông không thuộc diện trí thức phải bắn bỏ lúc khởi sự Cách Mạng Tháng Mười năm 1917 tại Nga. Xuất thân từ một gia đình tiểu tư sản Do thái – cha của ông là một thương gia – cha tôi trôi nổi trong phong trào hiếu hòa và mộng tưởng, góp nhặt tư tưởng của Tolstoy, Strindberg, Upton Sinclair, Nietzsche và Kropotkin, trước thời kỳ hãi hùng Thế Chiến Thứ Nhất. Ông ta phục vụ trong quân đội của Kaiser (tước hiệu Đế Vương của nước Đức từ 1871-1918) và bị trọng thương nhưng đồng thời ông cũng bị cấp sĩ quan Đức hất hủi khinh thường, khiến ông trở nên cực đoan và bài bác tinh thần quốc gia. Thất vọng vì sự thất bại của các nhà cách mạng Đức trong nỗ lực xây dựng một quốc gia công bằng và bình đẳng vào năm 1918 và sau đó vào những năm đầu của Đệ Nhất Cộng Hòa Đức, ông chuyển hướng sang ôm ấp những lời hứa hẹn đem hài hòa xã hội và kinh tế do Mác và Lê-nin đề xướng.

Nhưng gia đình chúng tôi luôn có khuynh hướng cực đoan. Cha tôi thường nói với tôi giáo dục chính trị của ông bắt đầu lúc ông 5 tuổi, khi bà ông bế ông đi xem Kaiser kéo màn khai trương pho tượng của Friedrich Wilhelm, một nhà lãnh đạo Đức vào thế kỷ thứ 19. Trong lúc quần chúng tung hô vị lãnh tụ và ngóng cổ để nhìn cho rõ pho tượng, bà nâng cao thằng bé lên và nói thẳng thừng, « Fritzsche, đây không phải là tay anh hùng, đây là một quan vua ham chuộng súng đạn đã ra lệnh bắn các công nhân ». Bà ám chỉ cuộc tàn sát đẫm máu của Friedrich Wilhelm dẹp cuộc nổi loạn đòi tự do năm 1848 tại Đức. Else, mẹ của tôi, cũng có đầu óc trái khoái. Trẻ hơn cha tôi 10 tuổi, có bộ tóc vàng của miền Rhineland, mẹ tôi đã đoạn tuyệt với gia đình khi quyết định lấy một anh Do thái.

Cả đến khi chết cha tôi vẫn còn để lại một hình ảnh nhiều mâu thuẫn. Tại trung tâm bùng binh gọn ghẽ của thành phố nhỏ Neuwied, trên bờ sông Rhine về phía Nam của Bonn, có treo một tấm bảng tưởng nhớ ghi sinh nhật của ông ngày 23 tháng 12 năm 1888. Gần đó cũng có một con đường mang tên ông, kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhật của ông. Việc treo dựng tấm bảng này suýt nữa tạo nên một cuộc nội chiến nhỏ chưa từng thấy tại thành phố Neuwied, vì cha tôi, ngoài danh tiếng quanh vùng là một y sĩ nhiều kinh nghiêm và là một nhà biên sọan kịch, ông cũng là một người Cộng Sản năng nổ, một lọai anh hùng địa phương ít được tưởng niệm tại những thành phố ấm cúng của nước Đức.

Sau ngày xụp đổ của Đông Bá Linh, tôi may mắn được thăm viếng trở lạiNeuwied. Tôi có cảm giác ngỡ ngàng khi rảo bước trên những con đường thuộc nửa phần đất nước của tôi, những con đường tôi quen thuộc rất nhiều mà tôi chỉ nhìn thấy rất ít. Suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh, tôi không hề liều bước trên đường phố Tây Đức. Những chuyến đi ra ngoài khối Đông Âu trong những chục năm tôi làm giám đốc điệp báo Đông Đức chỉ nằm trong dịch vụ những công tác cần thiết, thường để gặp gỡ các điệp viên vì vấn đề an ninh ngăn cản họ di chuyển đến chúng tôi.

Tôi sinh đẻ tại Hechingen, một thị trấn nhỏ theo đạo Công giáo vùng nông thôn nằm phía Nam nước Đức. Đó là ngày 19 tháng Giêng năm 1923, vào những năm lạm phát hoành hành đến độ cha mẹ tôi cảm thấy an tâm mỗi khi cha tôi thu được y phí của các bệnh nhân vùng nông thôn dưới dạng bơ và trứng. Chúng tôi là một gia đình năng động, khác thường so với lối sống của phần đông dân cư trong vùng. Cuộc sống không thay đổi bao nhiêu khi chúng tôi dọn đến ở Höllsteig, phiáNamnước Đức gần biên giới Thụy Sĩ.

Cha tôi là một tín đồ điên cuồng của thể dục thể lực, ông ưa chuộng nhào nặn thân hình lực sĩ của ông đến mức toàn hảo. Ông cũng là người tiên phong chủ trương sống khỏa thân. Vì vây trong gia đình có nhiều bức hình để lộ cha tôi, tôi và Konrad em trai nhỏ hơn tôi gần ba tuổi trần truồng chồng chất lên nhau trong một tư thế thể thao uốn éo. Koni và tôi nghĩ chuyện này bình thường, mặc dù các bạn học cùng lớp khúc khích cuời mỗi khi chúng tôi đưa hình cho họ xem. Nhiều tấm hình như vậy được dùng làm mẫu cách trí và in trên sách của cha tôi, một quyển sách bán rất chạy tựa Die Naturols Arzt und Helfer(Dùng Thiên nhiên làm Thầy Thuốc và Thầy Trợ Giúp), một tiểu luận về đồng liệu tương pháp ông viết khi chúng tôi ở Höllsteig, ông nói về mối tương quan giữa sức khỏe và điều kiện sống và làm việc của mỗi cá nhân. Những phát kiến như vậy sau này trở thành những hiểu biết thường thức ngày nay chúng ta gọi là y học phòng bệnh. Tuy nhiên,vào thời đó, những điều này không được công nhận là chính thống, và cộng đoàn y sĩ tỏ ra khó chịu với cha tôi, vì họ thấy công trình nghiên cứu của cha tôi về những nguyên nhân bệnh tật sẽ dẫn đến một cuộc thảo luận rộng lớn hơn về xã hội và tình cảnh của người nghèo, điều mà họ muổn tránh.

Nhưng quyển sách đạt thành công lớn trong quần chúng, bán được hàng ngàn bản, và trở thành một loại thánh kinh về sức khỏe mọi người bình thường phải có. Sách này đã trở thành một bài khoa học thường thức, và mấy năm về sau, nó thoát cao trào Đức Quốc Xã cấm đoán sách của tác giả Do thái. Thành tựu tài chánh của quyển sách đã cho phép gia đình chúng tôi dọn đến một căn nhà khang trang tạiStuttgart, một thành phố có truyền thống yêu chuộng nghệ thuật từ thời các vị vương công cấp tiến cùng với quần thần với tư tưởng phóng khoáng.

Mẹ tôi là người điềm đạm và hiền hậu nhưng không thiếu can đảm, cho dù phải chịu đựng những lục soát thô bạo của Quốc Xã trong nhà hoặc của công an mật vụ Stalin. Dưới triều đại khung bố của Stalin, đã có lần bà cho trú ẩn gia đình của một người bị tù, một hành động có thể khiến bà vào tù hoặc tệ hơn nữa. Cũng vào thời kỳ gia đình chúng tôi lưu ngụ tại Nga, khi nghe mẹ của Lena, em gái cùng cha khác mẹ của tôi, bị bắt tại vùng Volga, mẹ tôi từ thủ đô tìm đuờng đến cứu giúp và đem Lena về ở với chúng tôi.

Chính mẹ chúng tôi nuôi dưỡng chúng tôi khi cha chúng tôi lâu ngày vắng mặt vì đi tình tự hoặc vì hoạt động chính trị. Nhưng mặc dù vắng mặt cha chúng tôi vẫn đóng vai trò quan trọng khi ông gởi thơ nhắn nhủ và dậy dỗ cách ăn ở để trở nên con người xã hội chủ nghĩa đứng đắn và tự trọng. Lẽ tất nhiên ông là người có ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ nhất vào thời niên thiếu của tôi. Mẹ chúng tôi phiền muộn rất nhiều vì những mối tình của ông với những người đàn bà khác. Do sự kiện này, ông có đầy con cái, anh em và chị em dị bào với tôi và Koni và chính con cháu của họ cũng rải rác hai bên bờ giới tuyến của Cuộc Chiến Tranh Lạnh. Đến nay, tôi có họ hàng tại Đức, tại Nga, và tại Hoa Kỳ do kết quả những mối duyên tình của ông.

Người ngoại cuộc nhăn mày vì những mối tình lãng du này, nhưng tôi và Koni chẳng thèm để ý. Nó đã trở thành một phần thiếu thời của chúng tôi mỗi khi cha tôi tuyên bố chúng tôi sẽ gặp gỡ một anh em hay chị em dị bào mới. Những đứa con khác mẹ này được mẹ tôi đối xử như người trong gia đình với lòng rộng mở. Cuộc hôn nhân của họ vẫn tồn tại vượt qua những mối tình kia và cha mẹ chúng tôi vẫn sống chung với nhau cho đến khi ông qua đời tại Đông Đức năm 1953.

Tinh thần năng động của Friedrich thật đáng nể. Ông từ bỏ Đảng Dân Chủ Xã Hội Độc Lập năm 1928, gia nhập Đảng Cộng Sản Đức, và ra ứng cử hội đồng xã Stuttgart với tư cách đảng viên Cộng Sản; ông nhận được 20 phần trăm số phiếu. Vở kịch « Cyanide » ủng hộ việc trụy thai năm 1929 đã đưa ông vào tù một thời gian ngắn ngủi và biến ông thành phát ngôn nhân chính thức của cánh chính trị cực đoan. Năm 1931 ông vào tù lần nữa, lần này ông bị tố cáo phá thai để tìm lợi nhuận. Sau khi ông và người biện hộ cho ông, cả hai được tha bổng, hai người rời Đức để đi Liên Xô, và sau đó trở lại Đức cùng năm.

Koni và tôi theo học trường các nhà cải cách giáo dục có tinh thần cấp tiến mạnh mẽ của Đức vào thời đó và chúng tôi được khuyến khích tìm hiểu vùng nông thôn và phát biểu một cách tự do. Cha mẹ chúng tôi bấy giờ cả hai đều là Cộng Sản; em trai Koni và tôi gia nhập tổ chức thanh niên Cộng Sản, Thiếu Niên Tiền Phong, ngay khi chúng tôi còn ở Đức. Chúng tôi thắt khăn quàng đỏ với niềm hãnh diện lớn và chăm chú nghe những câu chuyện về Cách Mạng tại « Liên Bang Xô Viết vĩ đại ». Không khí trong gia đình đã có ảnh hưởng quyết định trên suốt cuộc đời chúng tôi, trừ việc kiêng chay vì cha mẹ tôi chỉ ăn thực vật. Chúng tôi thèm chảy dãi nhìn những miếng thịt nguội và nước tương Đức trong hộp đựng thức ăn trưa của các bạn cùng trường, và thằng em trai tuyên bố « khi nào em lớn, em sẽ ăn cả một con bò ». Nhưng ấn tượng sâu xa và lâu bền nhất họ để lại cho chúng tôi là lòng yêu quí thiên nhiên và thể dục thể lực, và con đường chính trị cực tả lồng trong những vở kịch của cha tôi phô bày cuộc đấu tranh của nông dân và công nhân đuợc Đoàn Kịch Công Nhân Tây Nam lưu diễn. Tôi bắt đầu cảm thấy tôi là chiến sĩ chính trị, quyên góp ủng hộ cho nhưng công nhân thép đình công, tham dự các chiến dịch, và lắng nghe những biện luận mạnh mẽ của người lớn trong những ngày cuối trước khi Hitler lên nắm chính quyền.

Với đầu óc non nớt của một cậu bé trong một gia đình bố mẹ Cộng Sản tại Đức, tôi cảm nhận Stalin như một mẫu người khôn ngoan và xa cách, giống như một ông ảo thuật gia giàu lòng nhân từ trong những câu chuyện thần tiên. Tôi thường mộng tưởng và tự hỏi đời sống tại « Liên Bang Xô Viết vĩ đại » ra sao – trong hàng nhiều năm tôi vẫn nghĩ đó là tên chính thức của một quốc gia – và kết luận đó là một nước trắng xóa, tuyết bao phủ và đầy những người tốt lành dưới sự hướng dẫn của vị phù thủy tốt lành. Koni, em trai tôi, có năng khiếu hơn tôi, đặt bút chuyển đổi ý tưởng ra hình, đã bỏ ra hàng giờ phóng vẽ những bức họa của vị lãnh tụ vĩ đại dưới hình dạng vị anh hùng trong chuyện thần tiên. Nhưng vào thơì điểm đó, tôi không trông mong gì tiếp cận được thực cảnh của Xô Viết.

Sau khi Quốc Xã lên nắm chính quyền năm 1933, đời sống của chúng tôi tại Đức trở nên bất kham. Việc đốt cháy Quốc Hội Đức tại Bá Linh và lời cáo buộc gian trá đổ tội bọn Cộng Sản có trách nhiệm trong vụ này đã gây nên một cuộc săn lùng các thành phần Tả Phái. Cha tôi, cảm thấy lâm nguy vì vừa là Do Thái vừa là Cộng sản, bỏ trốn sang Áo. Trong một trong những cuộc lục soát nhà cửa tiếp theo đó, tôi trả lời một cách trơ tráo với một trong những tên áo nâu SS. Y đẩy ép tôi vào tường và hăm dọa đưa tôi « vào trại Heuberg » nếu tôi không khai báo hành tung của cha tôi. Heuberg là trại tập trung đầu tiên ở trong vùng, nơi các người đối lập chính trị bị giam giữ. Người lớn khi đề cập đến nơi này họ chỉ thì thầm, và tôi bối rối không hiểu rõ những gì xảy ra trong đó; vào lúc thiếu thời, tôi nhìn xung đột giữa hai bên Quốc Xã và Phe Tả như một lọai đụng độ giữa hai băng đảng. Tôi biết những người mặc áo nâu, biểu lộ tính chất bộ lạc, khác rất xa với gia đình chúng tôi; và tôi cảm thấy mình là một chiến sĩ trẻ sẵn sàng chiến đấu.

Vào thời điểm này, lần đầu tiên tôi ý thức được căn cước Do Thái của tôi. Tôi còn nhớ sau một cuộc lục soát đặc biệt thô bạo, anh em chúng tôi rất đỗi phẫn nộ vì bọn côn đồ nhảy xổ vào phòng chơi của anh em chúng tôi, hất vung vãi đồ chơi và sách vở quý báu của chúng tôi, và mẹ tôi, lấy tất cả bình tĩnh để che giấu nỗi kinh hoàng trong lòng, đưa chúng tôi đi xe đạp dạo qua cánh đồng tươi tốt vùng nông thôn Swabian để thăm Moritz Meyer, cậu của cha tôi mà chúng tôi thân mật gọi là «Öhmchen.»

Dân thành phố nhỏ Hechingen coi Öhmchen là một người hơi kỳ dị. Sau thời gian làm việc chăm chỉ, ông về hưu để sống với ngỗng trong rừng và có một chút ít danh tiếng nhờ tài chữa bệnh thấn kỳ. Điều hầu như chắc chắn là ông đã ảnh hưởng đến cha tôi, khiến cha tôi chuyển từ ngành y khoa thông thường sang ngành điều trị đồng vi phân kháng tính và điều khoa dùng dược liệu thiên nhiên, và cha tôi hiến tặng quyển sách về cách điều trị theo thiên nhiên của ông của cho ông cậu. Cuộc thăm viếng bằng xe đạp của chúng tôi nhằm ngày lễ Vượt Qua (lời của dịch giả : lễ Vượt Qua là ngày lễ người Do Thái kỷ niệm ngày Thượng Đế trừng phạt dân Ai-cập, giết những đứa bé đầu lòng của người Ai-cập và «vượt qua» những nhà có con cái Do-thái. Để nhận biết nhà Do thái, Thượng Đế nhắn dân Do Thái bôi máu cừu lên cửa nhà của họ. Dưới thời vua Ramsès Đệ Nhị, dân Do Thái làm nô lệ cho Ai- Cập, và Môi-sen đã làm phép lạ rẽ đôi Biển Đỏ để đưa dân Do Thái ra khỏi đất Ai-cập và tiến về miền đất hứa đi tìm tự do), vì vậy ông cậu chỉ cho chúng tôi ăn bánh mì không men, không tạo hứng thú cho khẩu vị trẻ con của chúng tôi, vì vậy để bù trừ thiệt thòi này, ông cậu kể cho chúng tôi nghe câu truyện trang nghiêm và khích động lấy từ quyển Thánh Kinh Torah và giải thích ý nghĩa những ngày lễ Do-thái.

Một vài tháng sau, mẹ tôi, em trai tôi và tôi được đem đi trốn sáng Thụy sĩ với sự trợ giúp của các đảng viên Cộng Sản tại đây, đảng Cộng Sản lúc bấy giờ trở thành bất hợp pháp. Từ đó chúng tôi chạy sang Pháp, tại đây chúng tôi chính thức được xem là « những người ngoại quốc bất hảo » và được đem đi trốn trên hòn đảo nhỏ Bréhat ở Brittany; nơi đây cha tôi gặp gỡ lại gia đình. Tại đây cha tôi biên sọan xong vở kịch Professor Mamlock, một áng văn chương đầu tiên làm chứng cho cảnh bách hại dân Do Thái tại Đức. Trước khi đem trình diễn lần đầu bằng tiếng Đức tại Zurich, vở kịch đã được diễn xuất tại các nhà hát Do Thái tại Warsawa và Tel Aviv, và đã gạt hái những thành công rực rỡ khắp nơi trên thế giới. Một phim dựa trên vở kịch đã được quay tại Liên Bang Xô Viết và mãi sau này Koni em trai tôi quay lại lần thứ hai. Nhờ phim được trình chiếu tạiNew Yorkvào năm 1939, tên tuổi cha tôi được biết đến tại Hoa kỳ.

Không bao lâu sau bọn Quốc Xã phản ứng vì sức thành công của vở kịch này, – lẽ đương nhiên chưa bao giờ được trình diễn tại Đức đương lúc họ cầm quyền. Tất cả của cải của chúng tôi bị tịch biên và tên của cha tôi được liệt kê trong danh sách những tác giả « có bài viết tác hại và bất hảo ». Sau đó tất cả gia đình bị tước quyền công dân Đức và vào khỏang năm 1937, không những tên tuổi của ông, mà tên tuổi mẹ tôi, tôi và em trai tôi đều xuất hiện trong danh sách truy nã của Nhà Nước. Điều này khiến mấy đứa thiếu niên chúng tôi cảm thấy mình đã thành người lớn. Nếu chỉ có một biến cố định hướng cuộc đời chính trị của một người, đối với tôi đây chính là biến cố: bị liệt kê là kẻ tội phạm bởi chính đất nước của mình.

Nếu chúng tôi không lẩn trốn sang Thụy-sĩ, có lẽ chúng tôi đã chia sẻ số phận của các thân bằng quyến thuộc Do Thái mà sau này tên tuổi được luôn mãi ghi tạc trên Bia Tưởng Niệm Yad Vashem tạiJerusalem. Tỉ dụ như ông cậu Öhmchen, ông đã không thoát khỏi Họa Hỏa Diệt. Một tù binh Đức tạiMoscowkể lại cho tôi ông cậu đã bị bắt đi và đã chết trong trại tập trung Mauthausen tại Áo. Ông được tám mươi tuổi khi ông chết.

Sáu mươi năm sau, dạo trên đường phố sạch bóng Hechingen, tôi tưởng nhớ đến ông cậu và không khỏi rùng mình lạnh xương sống, một cảm giác chỉ có người Đức nhận biết khi đương sự nhìn tận mặt những người đàn ông đối diện cùng lứa tuôi và trộm nghĩ họ hành sử ra sao dưới thời Quốc Xã: Họ đã chứng kiến bao nhiêu việc và họ đã xóa bỏ bao nhiêu ký ức tội lỗi? Có lẽ thành phố lớn dễ xóa nhòa dấu vết dĩ vang mau hơn các thị trấn nhỏ tại Đức vì đầu óc tôi bất an khi suy nghĩ đến các đồng hương tôi khi tôi đến các thị trấn nhỏ.

Đến đây Quốc Xã thu hồi trương mục của chúng tôi trong ngân hàng và tịch thu tài sản của chúng tôi. Việc Liên Bang Xô Viết đón nhận chúng tôi là một cái phao cứu mạng cha mẹ chúng tôi, Koni và tôi. Nhờ sự trợ giúp của Vsevolod Vishnevsky, bạn của cha tôi và cũng là sọan giả bi kịch, cha tôi kiếm được một căn nhà nhỏ hai phòng tại Lộ Nizhny Kizlovsky, một trong những con đường quanh co của thế kỷ 19 nằm trong trung tâm cổ của Moscow, nấp đàng sau đại lộ chính, khu Arbat, nơi các nhà văn và trí thức yêu chuộng. Vào tháng Ba năm 1934, mẹ tôi, em trai tôi và tôi theo ông đến đây.

Chúng tôi hội nhập từ từ với ngôn ngữ và văn hóa lạ lùng, e ngại lối hành sử mạnh bạo của những đứa trẻ chơi cùng sân. «Nemets-perets, kolbassa, kislaya kapusta, » bọn chúng hò hét:  Bọn Đức – muối tiêu, tương, cải chua». Bọn chúng cũng chế diễu áo khoác ngắn của chúng tôi và chúng tôi nài nỉ mẹ tôi cho chúng tôi cái dài hơn. Cuối cùng bà xiêu lòng và thở dài: «Chúng bay trở thành người lớn sạch sẽ rồi đấy».

Chẳng bao lâu chúng tôi bị lôi cuốn bởi môi trường bao quanh. Trải qua thời niên thiếu trong một làng xã Đức quốc, chúng tôi choáng ngộp vì cảnh sinh động của thành thị với phong cách mạnh bạo và sắp sẵn. Thời kỳ này thiên hạ vẫn còn khạc nhổ vỏ hạt hướng dương xuống đất và cỗ xe ngựa kéo vẫn còn cọc cạch trên đường phố Moscow vẫn là một «ngôi làng lớn», một thành phố với lối sống của nông dân. Đầu tiên chúng tôi theo học trường Đức Karl Liebknecht (một trường học cho con cái của những bố mẹ nói tiếng Đức, lấy tên của một nhà lãnh tụ Xã Hội theo phong trào nổi dậy Spartacist tháng Giêng năm 1919, bị ám sát sau đó không bao lâu), sau đó, chúng tôi vào trường Trung Học Nga. Ở tuổi niên thiếu khó mà phân biệt chúng tôi với các bạn gốc bản xứ học cùng trường, vì chúng tôi dùng ngôn ngữ đàm thọai Nga với giọng Nga. Chúng tôi có hai người bạn đặc biệt, đó là George và Victor Fischer, hai người con trai của ký giả Hoa Kỳ Louis Fischer. Chính họ đã gắn cho tôi biệt hiệu «Mischa»,và từ đó gắn chặt vào tên tôi. Em tôi, Koni, e ngại bị ngồi chầu rìa lấy tên Nga thu ngắn là «Kolia».

Thành phốMoscowvào thập niên 30 trong ký ức của tôi luôn là thời tranh tối tranh sáng. Thành phố thay đổi trước mắt chúng tôi. Bấy giờ tôi trở thành một thanh niên khá chững chặc và không còn xem Stalin là ông ảo thuật gia nữa. Các cao ốc mới với nhiều tầng bắt đầu xuất hiện quanh điện Cẩm-linh và số lượng xe cộ di chuyển bất thình lình gia tăng, các xe sedan đen láy thay thế cho những xe ngựa kéo, làm như thể có ai vẫy một chiếc đũa thần biến Moscow của qua khứ trở thành một phong cảnh vị lai. Các hầm xe điện khang trang, với những bóng đèn kiểu Art Déco và cầu tháng máy thẳng giốc làm choáng váng mặt mày, ồn ào sinh động, và chúng tôi bỏ cả một buổi trưa sau khi tan trường đi xem những vòm trần,vang dội như ngôi nhà thờ lớn dưới hầm. Thảm cánh thiếu ăn thập niên 20 chợt đến, nhưng mặc dù cảnh cao ốc mới mẻ, các bạn bè của gia đình chúng tôi, phần đông là trí thức Nga, phải sống chật chội trong những căn phong nhỏ bé. Diễn hành ngày 1 tháng Năm (Ngày Quốc Tế Lao Động) thật là ngọan mục. Những tin tức khích lệ trong ngày đem lại cảnh rực rờ của thời đại, chẳng hạn như cảnh cứu thoát can truờng của đội thám hiểm Chelyushkin khỏi băng đá trong vùng Biển Arctic sau khi họ chiếm đóng Bắc Cực. Chúng tôi theo dõi những biến cố này với hứng thú của những đứa trẻ Tây Âu xay mê đội bóng đá hoặc đội baseball của mình.

Với cùng một đam mê Koni và tôi, cả hai đều gia nhập Thanh Niên Tiền Phong Xô Viết – một tố chức thiếu niên Cộng Sản tương đương với Hướng Đạo – và chúng tôi học những bài hát chiến trận ca tụng đấu tranh giai cấp và Tổ Quốc. Là Thanh Niên Tiền Phong, chúng tôi diễn hành trong ngày trọng đại Cách mạng tháng 11 tại Quảng Trường Đỏ kỷ niệm Cách Mạng Xô Viết, hô to những khẩu hiệu vinh danh trước hình tượng nhỏ bé mặc áo choàng đứng ở lan can phía trên mộ của Lê-nin.Chúng tôi nghỉ cuối tuần ở ngọai ô nông thôn Moscow, đi lượm nhặt dâu và nấm bởi vì cha chúng tôi mặc dù sinh sống tại thành phố nhất quyết bảo tồn lòng yêu mến thiên nhiên theo quan niệm sống của ông. Tôi vẫn thèm những món ăn của Đức và thấy chương trình ăn uống Nga với món ăn chính lúa mạch đen và thịt ba rọi cùng với sữa chua, thật là tẻ nhạt. Nhưng từ khi tôi bắt đầu ưa thích các thức ăn đa dạng của Nga, và nếu buộc lòng nói, tôi giỏi nhất về món nhồi Pelmini ở vùng Tây-Bá-Lợi-Á. Nhưng tôi chẳng bao giờ ưa thích món thịt ba rọi với lúa mạch đen, có lẽ vì tôi tiêu thụ hàng tấn món này hồi thiếu thời.

Mùa hè tôi được phái vào trại Thanh Niên Tiền Phong và được phong chúc trưởng ban lãnh đạo. Tôi viết thơ than phiền với cha tôi về kỷ luật quân đội dữ tợn và hèn hạ tại đây. Tôi nhận trở lại một lá thơ đặc biệt lạc quan, khuyến khích tôi kháng cự lại chế độ kỷ luật này bằng cách thành lập một ủy ban bao gồm những bạn đồng đội thiêu niên. « Hay nói với họ Đồng Chí Sta-lin và Đảng không thể chấp nhận lãng phí này. Phẩm chất là quan trọng. Bất cứ ở hoàn cảnh nào, với cương vị một Thanh Niên Tiền Phong và đặc biệt là cấp lãnh đạo, con không nên cãi vã! Con và các trưởng nhóm khác phải đồng thanh lên tiếng với ban quản trị trại… Con không có quyền nản chí ».

Liên Bang Xô Viết bây giờ là gia đình duy nhất của chúng tôi, và vào ngày sinh nhật tôi tròn 16 tuổi, năm 1939, tôi nhận căn cước Xô Viết đầu tiên của tôi. Cha tôi viết cho tôi từParis« Bây giờ con đã trở thành công dân thực thụ của Nhân dân Xô Viết », điều làm cho tôi cảm thấy hãnh diện. Nhưng càng lớn lên, tôi ý thức được tinh thần mộng tưởng lây lan của cha tôi không phải là sở trường của tôi. Bản tính tôi thực tiễn hơn cha tôi. Lẽ cố nhiên, đây là một thời gian say đắm nhưng đồng thời cũng là thời kỳ thanh trừng; những người đã từng được ca tụng là anh hùng Cách Mạng nay bị tố cáo một cách dã man đã phạm tội và thường bị kết án tử hình hoặc bị giam tại các trại tù ở miền Bắc Cực. Mạng lưới do NKVD – cơ quan công an mật vụ tiền thân của Sở Mật Vụ KGB – bủa ra xiết chặt vòng vây các bạn di cư và những người thân thuộc. Tình trạng này khiến các thanh niên chúng tôi bối rối, mù tịt và khó hiểu, vì chúng tôi được dậy dỗ trong truyền thống tin tưởng Liên Bang Xô Viết là hải đăng của tiến bộ và tinh thần nhân bản.

Nhưng trẻ con rất bén nhạy trước những im lặng và tránh né, và chúng tôi thầm hiểu chúng tôi không thể nào biết toàn bộ sự thật về môi trường quanh chúng tôi. Rất nhiều giáo viên giảng dạy cho chúng tôi mất tích trong khoảng thời kỳ thanh trừng 1936-38. Trường học đặc biệt dậy tiếng Đức cũng đóng cửa. Trẻ con chúng tôi để ý người lớn không bao giờ nói đến những người « mất tích » trước mặt mọi người trong gia đình, và chúng tôi tự động kiêng dè thói tục xã giao kỳ lạ này. Cho đến khi chúng tôi chạm trán tính cách quy mô và kinh hoàng của những tội ác của Stalin và trách nhiệm của ông trong những vụ này. Nhớ lại thuở trước, ông là lãnh tụ, là hình ảnh của một người cha, với khuôn mặt chữ điền, với bộ râu ria, ánh mắt nhìn thẳng của một người có viễn kiến qua những bức hình treo trong các lớp học của chúng tôi. Con người và công trình của ông đứng trên mọi phê bình, đứng trên mọi nghi vấn. Năm 1937, khi guồng máy tàn sát bắt đầu chạy với mức độ hữu hiệu khủng khiếp, một trong những người quen biết của gia đình chúng tôi, Whilhelm Wloch, người đã liều lĩnh làm việc cho Comintern (Cộng Sản Quốc Tế) trong bóng tối tại Đức và hải ngoại, bị bắt. Những lời cuối cùng ông nói với vợ như sau: «Đồng chí Stalin không hề biết việc này».

Lẽ cố nhiên, cha mẹ chúng tôi che dấu chúng tôi những nỗi lo sợ về cảnh đổ máu này. Trong tâm trí của họ, mặc dù họ có những mối nghi ngờ và thất vọng, Liên Bang Xô Viết luôn là «nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên » mà họ đã hãnh diện báo cho chúng tôi biết sau khi họ thăm viếng năm 1931.

Cha tôi, bây giờ tôi biết, lo sợ cho tính mạnh của ông mặc dù vợ và các con ông có quốc tịch Xô Viết vì chúng tôi sống nơi này, ông sống phần lớn thời gian ở ngọai quốc và vì vậy ông không có quốc tịch này. Tuy nhiên , ông vẫn có thể di chuyển với thông hành Đức, dù là quốc tịch này của ông đã bị thu hồi. Ông cũng đã nộp đơn xin phép chính quyền Xô Viết rờiMoscowđể đi Tây-Ban-Nha, tại đây ông muốn đem tài bác sĩ để phục vụ cho Chiến Đòan Quốc Tế đánh lại chế độ Phát-xít của tướng Franco thời kỳ nội chiến tại đây. Tây-Ban-Nha là một đấu trường quân đội Quốc Xã dùng để thử nghiệm tiềm năng tiêu diệt của họ, họ thực tập để chuẩn bị tấn công sau này các thế lực yếu kém khác. Khắp châu Âu, các chí nguyện quân thiên tả đổ xô vào để giúp cánh Cộng Hòa chống lại nhóm quân đội nổi dậy của Tây-Ban-Nha. Đối với nhiều người tại Liên Bang Xô Viết, tham dự chiến trận tại đây có nghĩa là rời khỏi Liên Bang Xô Viết và tránh xa không khí đàn áp của những cuộc thanh trừng. Một chục năm sau, một người bạn tin cậy trong gia đình kể cho tôi nghe cha tôi tìm cách để đi Tây-Ban-Nha: «Mình không lẽ ngồi đây mãi để chúng đến bắt». Tiết lộ này khiến tôi đau lòng, mặc dù tôi đã trưởng thành, vì sự kiện này cho tôi thấy cha mẹ chúng tôi che dấu rất nhiều phiền muộn và chuyện thầm kín không cho trẻ con chúng tôi biết vào thập niên 1930, và không biết bao nhiêu sầu muộn đã được cất giấu quanh chúng tôi trong đám bạn bè của chúng tôi tại Moscow.

Cha tôi chẳng bao giờ đi được Tây-Ban-Nha. Đơn xin chiếu khán cả năm không được trả lời. Càng ngày càng nhiều bạn bè và người quen biết trong cộng đồng Đức bị mất tích và cha mẹ chúng tôi không còn che dấu được mối lo âu. Có một hôm giữa đêm thình lình chuông cửa reo, cha tôi thói thường bình tĩnh đã nhảy nhổm và phát cáu. Khi được biết người khách lạ chỉ là ông láng giềng đến mượn một món vật gì đó, cha tôi bình tĩnh trở lại, nhưng tay ông run bần bật đến nửa tiếng đồng hồ mới hết.

Có lẽ ông có người đỡ đầu che chở trong cấp lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đức lưu vong. Tôi biết ông liên lạc với Whilhelm Pieck, một trong những khuôn mặt lớn vào thời đó và Pieck kính trọng cha tôi. Hay có lẽ ông gặp may. Dù sao đi nữa, ông được phép rời Moscow năm 1938 và đi sang Pháp; tại đây vào lúc khởi sự Đệ Nhị Thế Chiến ông bị bắt giữ một cách oái oăm vì là kẻ thù ngọai lai mang thông hành Đức. Tệ hại hơn nữa, sau khi Quốc Xã chiếm nước Pháp năm 1940, ông và các bạn cùng tù trong trại Le Vernet phải được trao trả cho chính quyền Đức, có nghĩa là chắc chắn ông sẽ bị giết. Nhưng cũng có thể nhờ vậy ông có cơ hội di cư sang Hoa Kỳ, nhưng trên đơn xin ông phải tuyên bố ông không bao giờ là đảng viên Cộng Sản, điều ông từ chối vì tính ông trung thành. Mẹ tôi ba năm trước đó đã hạch sách các cơ quan chính phủ tại Moscow, nơi ông tìm cách bỏ đi, để cha tôi có được quốc tịch Xô Viết và hồi hương. Cuối cùng ông trở thành công dân Xô Viết vào tháng 8 năm 1940.

Nhưng đến đây Hiệp Uớc Hitler – Stalin ký kết tháng Tám năm 1939 khiến cho đời sống các di dân Đức tại Moscow khó khăn hơn bao giờ hết. Các cơ quan đã từng tiếp đón chúng tôi như những nạn nhân của nhà nước ác độc Đức nay nhận lệnh không được khơi động những cảm nghĩ xấu về Hitler. Đặc biệt đối với những gia đình như chúng tôi, đã phải trốn chạy khỏi nước Đức để tránh họa Quốc Xã, thật là khó hiểu khi cấp lãnh đạo Xô Viết lại có thể thỏa hiệp với họ. Vì chúng tôi là những thành phần năng động trong Komsomol (Đoàn Thanh Niên Cộng Sản), chúng tôi được thông báo đó là cách duy nhất của Stalin để tránh Liên Bang Xô Viết bị tấn công, và các cường quốc Tây Âu mong muốn Nước Cộng Sản của chúng ta phải « xuất huyết cho tới chết » vì ngọn gươm của Quốc Xã. Lối giải thích này có phần thuyết phục vào lúc đó, mặc dù chúng tôi cảm nhận đối với cha mẹ chúng tôi đó là một xúc phạm khi Cộng Sản thỏa hiệp với tên độc tài mà họ trốn chạy.

Để hòa nhập vào môi trường mới của chúng tôi, Koni và tôi, chúng tôi tự Nga hóa chúng tôi một cách mau chóng. Chúng tôi nói tiếng Nga suốt ngày tại trường học cùng với các bạn học, chỉ nghe tiếng Đức khi tối về trong phòng chúng tôi. Tôi cảm thấy thích thú khi các đứa trẻ khác kêu tôi Mischa, có nghĩa là người ta có thể nhận lầm tôi là người Nga. Chúng tôi lên giường ngủ, tai nghe đài phát thanh giọng thét của Hitler tung hô vinh quang của Đế quốc Đức.

Khi tôi kết thúc chương trình trung học, tôi bắt đầu học ngành kỹ sư hàng không. Nhưng thình lình tình hình biến đổi khi Quân Đội Hitler tấn công Liên Bang Xô Viết với một mãnh lực hung bao trong chiến dịch Barbarossa. Khi quân đội Đức tiến đến gần Moscow năm 1941, gia đình các thành viên của Hội Đoàn Kết Văn Sĩ, trong đó có gia đình chúng tôi, được di tản đến Alma-Ata, thủ đô của Kazakhstan, cách Moscow 4 ngàn dặm ( khoảng 640 cây số). Nỗi hãi hùng trong chuyến đi ba tuần lễ vượt qua vùng Ural vẫn còn sống động trong ký ức của tôi. Chuyến xe hỏa của chúng tôi bò trên tuyến đường sắt, và cứ một tiếng đồng hồ xe chúng tôi phải rẽ tránh sang một bên để chuyến xe hỏa đi ngược chiều tiến về phía trận tuyến. Cha tôi chăm sóc bà Anna Akhmatova, thi sĩ nổi tiếng của Nga, tiều tụy và đau yếu. Hai người chồng của bà đều mất tích trong cuộc thanh lọc và một đứa con trai nằm trong trại tập trung. Tôi được phép lấy cho bà phần thức ăn cấp dưỡng gồm bốn trăm gram bánh mì đen và một ít nước ấm. Linh hồn của văn học Nga nằm hôn mê và mệt mỏi, nay chính quyền chính thức coi bà như « vô danh », nhưng vẫn được giới trí thức thờ phụng như một thần tượng đúng lúc họ đi cùng một chuyến xe hỏa của Hội Đoàn Kết Văn Sĩ.

Alma-Atalà một nơi hẻo lánh và lạnh lẽo, chúng tôi cách biệt thông tin vớiMoscow, đừng nói chi đến thế giới. Phong cảnh đẹp, dân số chỉ gồm bốn ngàn người,Alma-Atabỗng nhiên tràn ngập với một triệu dân tị nạn, và cuộc sống trở nên chen chúc và khổ cực. Năm 1942, Koni gia nhập Hồng Quân, nhưng vào lúc đó tôi được miễn vì ngành kỹ sư hàng không là một công tác quan trong. Tôi vẫn đang ở tuổi lạc quan và nghĩ không một tai họa nào có thể đổ lên đầu tôi, mặc dù xôn xao có tin quân đội Nga tổn thất nặng nề. Mặc dù được miễn, tôi vẫn được huấn luyện quân sự, và vì tôi lớn nhất trong nhóm, tôi luôn phải vác trên cái chân chạng ba đại liên nặng nề, nóng hơn một trăm độ Fahrenheit. Phần lương thực của chúng tôi bớt đi chỉ còn năm trăm gram, và tôi có thể nói thật đó là lần duy nhất trong đời tôi biết thế nào là đói. Nhưng có một vài trợ giúp và thay đổi nhờ giới trí thức lưu đày Nga, đặc biệt là văn phòng quay phimMoscow. Buổi tối chúng tôi tìm kiếm đến nhà đạo diễn đại tài Sergei Eisenstein, và ông đọc cho chúng tôi nghe những vở đọan của phim Ivan The Terrible( Ivan Khủng Khiếp). Khi họ khởi sự quay phim, chúng tôi đóng những vai phụ, nhận làm hiệp sĩ Đức xâm chiếm nhưng rồi bị đẩy lui. Nhờ có tập luyện nhảy dù, tôi giữ những vai trò mạo hiểm, nhờ đó tiền lương tôi tăng gấp ba và điều này giúp tôi trút bớt được gánh nặng buồn nản và thiếu thốn.

Đang học hành nửa chừng, tôi nhận được một điện tín bí mật, ký tên « EKKI Vilkov ». Bốn chữ EKKI thay cho Executive Committee Communist International (Ủy Ban Điều Hành Quốc Tế Cộng Sản) của tổ chức Comintern , và do cấp lãnh đạo ngành nhân sự và cán bộ ký tên. Tôi được lệnh di chuyển đến Ufa trước tiên, thủ đô cộng hòa tự trị Bashkiria, nơi Cộng Sản Quốc Tế (Comintern) và cấp lãnh đạo lưu vong của Đảng Cộng Sản Đức được thuyên chuyển ra khỏi vòng vây Moscow.

Đảng quyết định gởi tôi đến trường Cộng Sản Quốc Tế, tại một ngôi làng nhỏ Kushnarenkovo, cách Ufa 60 cây số, nơi các đảng viên Cộng Sản của các nước Âu Châu bị chiếm đóng và nước Đại Hàn chuẩn bị giải phóng tổ quốc của họ và được huấn luyện để đảm nhận trách nhiệm tương lai của họ. Tôi được dậy dỗ trong khuôn phép Thanh Niên Cộng Sản nên tôi không thắc mắc về các quyết định, mặc dù tôi nuối tiếc giấc mơ phác thảo họa đồ phi cơ Xô Viết bây giờ khó lòng thực hiện được. Ngoài những nuối tiếc này, tôi đoan quyết cuộc đấu tranh chống Hitler quan trọng và vinh dự hơn việc học hành của tôi.

Đời sống tại trường Quốc Tế Cộng Sản, một tổ chức có nhiệm vụ đẩy mạnh cách mạng vô sản quốc tế, được tổ chức trong không khí bí mật, điều làm tôi tự cảm thấy rất trưởng thành. Ấn dấu của Đảng ăn sâu vào tâm khảm của tôi nên khi Đảng đòi hỏi nơi chúng tôi một việc gì, chúng tôi ngoan ngoan tuân thủ. Họ nói « Nhảy », chúng tôi trả lới « Cao đến đâu?». Tính bí mật ngự trị tuyệt đối trong trường học. Người ta đạt cho chúng tôi những bí danh – của tôi là Kurt Förster, theo tôi tên này nghe rất là hăng hái. Mặc dù tất cả những thanh niên Đức biết nhau từMoscow, chúng tôi dùng những tên nay để gọi nhau – một cách huấn luyện sơ khới trong phương pháp ngụy trang. Chúng tôi được huấn luyện cách xử dụng tiểu liên, súng trường,và súng lục, chất nổ và lựu đạn, cách sử dụng « kỹ thuật hoạch định mưu kế » trong các buổi họp và việc chuyển thông tin, căn bản trong ngành điệp báo. Việc huấn luyện chính trị của chúng tôi đều nhắm vào thời gian thắng lợi sau khi lật đổ Hitler. Chúng tôi quyết tâm thành lập một mặt trận chung bao gồm tất cả các lực lượng chống phát-xít và dân chủ.

Chúng tôi cũng được huấn luyện kỹ lưỡng về kỹ thuật tuyên truyền. Trong một lớp huấn luyện, một người được chỉ định để trình bày những lý luận của kẻ thù Quốc Xã đạt đến mức thuyết phục tối đa, trong khi đó những người khác phản bác lại với những luận cứ chống phát-xít. Tôi thích thú nhận thách đố đi sâu vào tư tưởng của kẻ thù và trình bày rất rành mạch và với nhiều nhiệt huyết những lý luận ủng hộ Quốc Xã. Trong khi đó các học viên chậm chạp hơn, có lẽ vì e ngại điểm sấu trong học bạ bi ghi nhận là thanh niên Cộng Sản không kiên định, chỉ nhắc lại như con vẹt bài bản đã ghi giải thích sẵn không lấy gì làm phấn khởi. Có một lần, các bạn học của tôi bị quở trách vì trả lời không đủ sâu sắc và gẫy gọn chống lại những luận điệu của phát-xít, tôi nghĩ thế. Ông thầy chúng tôi la hét: «Chúng bay làm nên trò trống gì nếu chúng bay phải lý luận với một tên Quốc Xã thực sự? ». Tôi tranh đua thực sự trong những đấu trường ý thức hệ kỳ lạ này với Wolfgang Leonhard; ông này vài năm sau, năm 1949, trốn chạy Đông Đức đế đi Nam Tư (Yougoslavia) và trở nên một nhà nghiên cứu lỗi lạc về Liên Xô tại Đức và sau này tại các đại học Harvard và Yale. Một trong những oan trái của đời tôi là khi Giáo Sư Leonhard dùng tài biện luận ông đã mài dũa trong trường Quốc Tế Cộng Sản (Comintern) để chống lại hệ thống Xô Viết, còn tôi, tôi vẫn tiếp dùng khả năng của mình để bào chữa cho nó.

Tại trường Quốc Tế Cộng Sản, tôi gặp Emmi Stenzer, người vợ tương lai của tôi. Tôi chưa bao giời gặp một người đàn bà nào đem hết tâm can vào công tác chính trị như vậy, một công tác mà cô ta cống hiến cho người cha, ông Franz Stenzer, môt dân biểu Quốc Hội bị Quốc Xã giết tại Dachau năm 1933. Cô có một người bạn trai người Tây-Ban-Nha khi chúng tôi gặp nhau lần đầu, và chỉ sau khi chúng tôi rời trường Quốc Tế Cộng Sản và gặp nhau lại tại Moscow, chúng tôi yêu nhau. Tôi thán phục tinh thần độc lập và ý chí của cô sau bao nhiêu khó khăn thời niên thiếu. Cô đã trải cuộc đời trong cô nhi viên của một thành phố kỹ nghệ thê lương của Ivanovo sau khi mẹ cô bị bắt tại Moscow vào những thập niên 30 trong một cuộc bố ráp toàn diện các người ngọai quốc thường trú vì tình nghi có họat động chống Xô Viết (mẹ cô sau này được thả ra).

         Bertolt Brecht viết cho vợ Helene Weigel và nói đến tầm quan trọng của « sự vật thứ ba » luôn luôn nằm giữa hai người – chia sẻ cùng một Hoài Bão – và trở nên một thành phần sinh động của mối tình của họ. Thời buổi bây giờ, thiên hạ có thể chế diểu, nhưng vào thời buổi tư tưởng chính trị có thể đưa đến cái chết hoặc tù tội, chúng trở thành cơ cấu tình cảm và trí thức của đời người. Mặc dù tôi đã ly dị với Emmi sau gần ba mươi năm ăn ở và đã tái giá hai lần, cô ta vẫn tiếp tục là bạn tri kỷ và giữ mối giây liên kết tước đây với tất cả gia đình tôi qua việc quản thủ Thư Viện Friedrich Wolf tại Bá Linh.

Ngày 16 tháng Năm, cuộc đời của tôi thay đổi bất chợt qua một khúc quanh khác. Chúng tôi đến lớp học và thấy trên bảng ghi một thông báo giải thích vì « những sự khác biệt về điều kiện giữa các nước nâng đỡ chế độ độc đoán Quốc Xã và các dân tộc yêu chuộng hòa bình », Đảng Cộng Sản Quốc Tế và trường học cần phải giải tán. Lẽ cố nhiên có những lý do chính trị nấp đàng sau. Giải tán Quốc Tế Cộng Sản là một thỏa hiệp giữa Stalin và các nước Đồng Minh Tây Âu, vì các nước này xem Quốc Tế Cộng Sản là một cơ quan xách động cách mạng trong nước của họ.Tôi cực kỳ may mắn vào thời điểm tôi được tuyển dụng. Lớp tốt nghiệp trước tôi đã được thả dù vào nước Đức nhưng họ rơi vào bẫy của phản gián Đệ Tam Quốc Xã, vì Quốc xã truyền đi những tần sóng phát thanh đánh lừa các cơ quan trách nhiệm Xô Viết. Họ bị cơ quan Gestapo (Mật vụ của Đức Quốc Xã) và cơ quan phản gián quân đội của Hitler bắt và đem tử hình. Hy sinh của họ giúp cho đội xâm nhập của chúng tôi tránh chia sẻ cùng một số phận với họ. Chúng tôi chuẩn bị một đội bảo trì máy móc ở trong một nhà nông trại và chúng tôi chuyển nhưng kiện vật liệu lên trên bờ sôngBelaya.

Tuy nhiên chúng tôi không khỏi bỡ ngỡ vì quyết định này. Phải chăng các vị giáo sư của chúng tôi nói rằng Quốc Tế Cộng Sản là muôn năm, là thành tố cao đẹp nhất của Đảng? Nhưng toàn bộ huấn luyện nhằm mục đích dậy cho chúng tôi tuân lệnh không đặt vấn đề. Chúng tôi được học tập để chấp nhận tất cả những gì Đảng ra lệnh là đúng, và chờ đợi những mệnh lệnh mới.

        Có lẽ vì tôi là con của một tác giả có tiếng, cấp lãnh đạo Đảng nhận xét tôi thích hợp với nhiệm vụ thông báo và bình luận trên Đài Phát Thanh của Nhân Dân Đức (Deutsche Volksender), tiếng nói của Đảng Cộng Sản Đức trên đài Moscow, vì vậy tôi trở về Moscow. Tôi trở thành đảng viên chính thức lúc tôi hai mươi tuổi và tham dự các cuộc hội họp trong khách sạn Hotel Lux cũ tại căn phòng của Wilhelm Piecke, sau này trở thành tổng thống đầu tiên của nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Chính tại đây, trong khách sạn sau này trở thành trung tâm thanh lọc các đảng viên cộng sản ngọai quốc, tôi gặp lần đầu các vị, như Walter Ulbricht và những người khác nữa, sau này sẽ quản lý đất nước sau chiến tranh.

Emmi trong khi đó được gởi ra ngoài mặt trận để tuyên truyền tiêu cực qua máy vi âm phát thanh bằng tiếng Đức trong chiến dịch chiến tranh tâm lý. Cô ta đi qua đi lại sát chiến tuyến địch, la vang trong máy phóng thanh tuyên truyền chiến tranh đã chấm dứt và kêu gọi binh lính Đức đầu hàng. Cô ta bị trọng thương tại Gomel, và vào ngày 24 tháng 9 năm 1944, ngại rằng chúng tôi sẽ chẳng còn bao giờ gặp mặt nhau nữa, chúng tôi làm đám cưới. Tuy nhiên chúng tôi vẫn xa cách nhau trong những ngày tháng cuối của cuộc chiến.

Ngày Mừng chiến thắng Đức Quốc Xã cuối cùng được cử hành vào tháng 5 và chúng tôi không bao giờ quên nỗi vui mừng của cha mẹ chúng tôi và tôi hòa nhịp với đám đôngMoscowhoan hỉ. Koni đã có mặt trên đất nước Đức và đã tham dự vào cuộc tiến công sau cùng vào Bá Linh và được sáu huy chương khen thưởng vì lòng anh dũng. Em tôi gởi thơ nói rằng nó đang chờ chúng tôi, và tôi bắt đầu đóng thùng tất cả tài sản của thời niên thiếu Nga. Tại trường Quốc Tế Cộng sản, chúng tôi biết chúng tôi đang chuẩn bị để trở về Đức sau khi Đồng Minh chiến thắng. Thời cơ này đã đến.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 5 (Markus Wolf)                        

 “…Chúng tôi tiếp cận một số hồ sơ đảng viên Quốc Xã của Đệ Tam Đức Quốc và chúng tôi dùng những hồ sơ này để thuyết phục những người Tây Đức đã xóa bỏ quá khứ cộng tác với Quốc Xã về cộng tác với chúng tôi…”

Chương 3

Đệ tử của Stalin

         Năm tôi mười một tuổi tôi rời nước Đức và đi Moscow và thêm mười một năm tôi mới trở về Đức. Có người thường gọi đùa tôi có « nửa máu Nga », hàm ý có vẻ khen nhưng đôi khi cũng soi bói, nhưng tôi không hề coi đó là một lời mắng nhiếc, việc bảo trợ của người Nga là một yếu tố thiết yếu trong sự nghiệp của bản thân tôi. Các bạn đồng chí Cộng Sản Đức biết cuộc đời niên thiếu của tôi được nhào nặn tại Liên Bang Xô Viết cùng với tinh thần sâu xa của dân tộc Nga. Việc tiếp cận khắng khít với Liên Bang Xô Viết cho phép tôi có một thẩm quyền hiểu biết mà tôi có thể dùng để áp đảo trong những cuộc tranh luận.

         Khi tôi trở lại thăm viếng Moscow sau này trong những chuyến công tác, tôi gỡ bỏ mau chóng căn cước chính thức quốc tịch Đức của tôi để hòa nhập vào dáng dấp quen thuộc của một người dân Moscow, lang thang trên đường phố và trò truyện với mọi người một cách thân thuộc hơn cả đối với thành phố Bá Linh và người Bá Linh. Tôi tiến đến căn nhà cũ của chúng tôi tại Đại Lộ Nizhny Kizlovsky, bây giờ có bảng ghi dấu tưởng nhớ cha tôi và em tôi, và tôi thăm viếng rất nhiều bạn bè cũ tại khu phố Arbat. Tôi sẽ cùng với ông bạn Alik, mất một chân vì chiến tranh và nay là Giáo Sư dạy tiếng Đức, đi dạo ngang qua phố láng giềng cũ đến đường Gorky, bây giờ được gọi trở lại là Tverskaya như hồi trước Cách Mạng. Khi còn là sinh viên, chúng tôi đứng xếp hàng cả giờ để kiếm ghế ngồi tại Nhà Hát Nghệ Thuật Moscow xem tài nghệ diễn xuất của đại kịch gia Tarasova trong vở Anna Karenina, hoặc xem Michoels, một ngôi sao sáng của kịch trường Do Thái, nằm bên cạnh trường học chúng tôi.

         Chúng tôi yêu thích văn học cổ điển Nga và các nhà văn hào Châu Âu thế kỷ thứ mười chín – Heine, Balzac – cũng như Galsworthy, Roger Martin du Gard và cú pháp chặt chẽ và mạnh mẽ của Hemingway. Khi chúng tôi có một buổi họp vào hè năm 1941, chúng tôi chèo ghe đến dưới một vòm cầu hẻo lánh của Sông Moscow và ngâm những câu thơ của Aleksandr Blok và Sergei Yesenin.

         Mấy năm nay, mỗi khi tôi rời Moscow, tôi đau quặn lòng vì nhớ quê nhà, nhưng khác với các bạn Đức của tôi đã định cư tại đây, tôi chẳng bao giờ muốn ở lại Moscow cho đến mãn đời tôi. Nước Đức vẫn là Heimat (Tổ Quốc) của tôi, và đây là nơi tôi được mời về để thi thố những gì Quốc Tế Cộng Sản đã đào luyện cho tôi và áp dụng kinh nghiệm phát tuyến tôi đã học hỏi. Tôi tròn hai mươi ba tuổi và là một thanh niên khôn ngoan và nhiều tham vong nhưng đầu óc vẫn còn khờ dại khi tôi trở về lại Đức đối diện những thực tế tôi phải đương đầu. Việc huấn luyện chúng tôi đặt rất nặng trên nền tảng ý thức hệ và chú tâm đến chiến dịch tẩy sạch những vùng lãnh thổ Quốc Xã bị đánh bại. Chúng tôi không thể hình dung được sức chấn động nội tâm khi chúng tôi đối diện với các người đồng hương sau khi thế giới của họ sụp đổ, một cuộc bại trận to lớn của một quốc gia và màn kết thúc nhục nhã của tên độc tài đã làm cho họ say mê.

         Chúng tôi, thanh niên Cộng Sản từ Moscow trở về, cảm nhận mình là những bó đuốc chính trị soi sáng, minh chứng bằng chính gương sáng của chúng tôi cho thấy phe Tả tốt lành hơn phe Hữu. Lệnh ban đầu chúng tôi nhận được là không áp đặt cơ cấu Cộng Sản trên những vùng chiếm đóng của Xô Viết trên nước Đức, nhưng tạo nên một liên minh rộng lớn chống phát-xít do chính chúng tôi thành lập. Đây không phải đơn thuần là một chiến thuật mà đối với chúng tôi và tất cả các đảng viên Cộng Sản, đó là một nhu cầu. Chúng tôi học hỏi kinh nghiệm từ Hitler làm thế nào để tiêu diệt cánh Tả. Stalin, trên thực tế và thoạt tiên không hy vọng có cơ may xây dựng được một chính quyền theo kiểu Xô Viết trên phần đất của Đức và muốn có những chọn lựa mở ngỏ với Đồng Minh Tây Phương.

         Chúng tôi trở về nước Đức tiếp cận thực tế tàn nhẫn và khó chịu hơn hẳn những gì chúng tôi dự đoán. Em tôi, Koni, phản ánh sự kiện này mấy năm sau trong một bộ phim diễn tả tâm trạng các thanh niên phải đối đầu với những cảnh tượng man rợ không bút nào tả xiết, Tôi Tròn Mười Chín Tuổi. Em tôi tô đậm nét tương phản giữa hình ảnh tuổi thơ của trang thiếu niên anh hùng với một xã hội hỗn loạn, trong đó các thị trưởng thành phố vội vã thu cất lá cờ Quốc Xã – hoặc đôi khi chỉ cắt vòng tròn và chữ vạn đen ở trung tâm lá cờ – khi Hồng Quân tiến đến gần.

         Trong khi Koni, với trách nhiệm của một sĩ quan lãnh đạo của quân đội Xô Viết, góp sức thiết lập nền tảng guồng máy hành chánh hậu Quốc Xã trong vùng chiếm đóng của Liên Bang Xô Viết, tôi được lệnh đến Bá Linh tháp tùng bộ tham mưu Đảng. Ông Walter Ulbricht, với đầu óc sắc bén và khuôn mặt râu rậm, hiện thân là lãnh tụ của Đảng Cộng Sản Đức lưu vong, đã rời Moscow để đến Bá Linh hồi tháng 4 cùng với khuôn mặt khả ái của Whilhelm Pieck và một nhóm nhỏ tiên phong của đảng. Phần còn lại trong nhóm của chúng tôi bay về Đức một tháng sau, vào ngày 27 tháng Năm, trên chuyến phi cơ quân sự Douglas DC-3 ; tất cả chúng tôi đều mặc quần áo dân sự mới cắt chỉ. Từ trên không trung, chúng tôi nhìn xuống chỉ thấy những tàn phá của chiến tranh.

         Đoàn chúng tôi rất là hỗn tạp – Cộng Sản cũ và tù binh Đức con cái của những đảng viên cộng sản cũ. Không ai có một chút ý niệm gì về những gì sẽ diễn ra và chúng tôi nói chuyện và bàn bạc về những gì chúng tôi có thể sẽ gặp. Chúng tôi cũng không biết rõ Đảng Cộng Sản có được phép họat động tại Đức không . Không thấy ai đề cập đến ý thức hệ để xây dựng một nước Đức mới. Công việc đầu tiên chúng tôi phải làm là một công việc căn bản: tổ chức lại cuộc sống thường ngày để người Đức sinh sống.

         Emmi cùng đi với tôi, lần đầu tiên chúng tôi sống chung với nhau như vợ chồng. Đối với cả hai chúng tôi, hành trình trở về quê nhà vừa phấn khởi vừa đau đớn khi chúng tôi nhìn thấy cảnh thảm não và tan nát của các thị xã và thành thị Đức. Chúng tôi cũng đã thoáng nhìn cảnh tàn phá của Warsaw trên đường bay về Bá Linh. Nó hoàn toàn bị tàn phá, khói nghi ngút bay lên từ những đống gạch vụn như thể trong nhà táng. Phi cơ của chúng tôi là chiếc đầu tiên đáp xuống phi trường Tempelhof vừa mới mở lại; phi trường này ba năm sau đã được dùng làm trạm liên lạc không vận của Đồng Minh khi Bá Linh bị bế môn phong tỏa. Sự tàn phá của Bá Linh hầu như toàn diện không ai nghĩ có thể tái thiết lại được.

         Vì chúng tôi là những đứa con của Quốc Tế Cộng Sản, chúng tôi có tinh thần quả quyết rất cao. Chúng tôi muốn gột rửa cho nhân dân vết nhơ quá khứ Quốc Xã và hết lòng tin tưởng vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa chúng tôi được nuôi dưỡng để có thể rửa sạch và tái tạo nước Đức. Tôi không ngờ việc hòa nhập sống chung với những người đã từng tung hô Hitler và Goebbels khó khăn hơn tôi nghĩ. Phần đông hầu như không có khả năng hoặc không muốn hiểu những gì Quốc Xã đã làm với sự trợ giúp của họ hoặc nhân danh họ. Chẳng có mấy ai cảm thấy có tội hoặc có trách nhiệm với những gì đã xẩy ra. Emmi có lần nghe trộm một nhóm phụ nữ bàn thảo về báo cáo tội ác chiến tranh của Đức do đài phát thanh do tôi điều khiển loan truyền. Họ nói và dùng những ngôn ngữ của nhóm quốc gia cực đoan Hitler mà họ đã nghe từ mười hai năm nay « Người Đức không bao giờ làm một việc như vậy ».

         Dưới nhãn quan của nhiều người Đức và của phần đông thế giới, chúng tôi trở lại từ phía Đông mang theo với chúng tôi một chế độ độc tài khác. Nhưng chúng tôi không tự xem chúng tôi là những người thay thế chế độ độc tài Nâu bằng một chế độ độc tài Đỏ, như Tây Âu sau này vẫn nhìn chúng tôi. Chúng tôi người Cộng Sản Đức có lẽ là những người ngoại quốc mù tịt nhất về những tội ác của Stalin, vì chúng tôi đã được Liên Bang Xô Viết cứu khỏi cái chết hoặc tù tội tại Đức. Tất cả những mối nghi ngờ về những gì đang xẩy ra bị che lấp bởi những biến cố dưới chế độ hung bạo của Hitler, và tôi không thể nào nhìn thấy hệ thống xã hội chủ nghĩa là một chế độ độc đoán. Đối với tôi và đối với thế hệ Cộng Sản chúng tôi, đó là một lực lượng giải phóng. Có thể phương pháp của họ mạnh bạo, nhưng chúng tôi luôn luôn cảm thấy đó thực sự là một lực lượng lương thiện và những cố gắng để thuyết phục tôi phải thay đổi suy nghĩ hầu như vô hiệu.

         Nếp suy nghĩ này quyết định não trạng của chúng tôi trong suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh. Điều này có nghĩa mỗi lần chúng tôi nghe mô tả một hình ảnh không đẹp đẽ của phía chúng tôi, câu hỏi xuất hiện đầu tiên trong đầu óc không phải là « Điều này có đúng không?» mà là « Bọn họ đang tìm cách che đậy gì đây khi họ tố cáo chúng ta điều này?». Một khi hệ thống phòng thủ trí não đã được hoàn chỉnh, ít lời chỉ trích nào có thể làm suy xuyển nổi tinh thần chúng tôi.

         Chúng tôi cũng còn ngây thơ. Tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều người Đức, sau khi bị chấn động vì bại trận, tỏ ra biết ơn được cởi bỏ ách của Hitler và ôm chầm đoàn quân Xô Viết như đoàn quân giải phóng. Thực tế có phần hơi khác. Nơi cư xá tôi ở, tôi nghe trộm các người láng giềng cãi cọ xem ai là người sẽ được dời đến những căn phòng rộng rãi và thông thoáng nằm đối diện với căn phố chúng tôi, nơi đây một gia đình Quốc Xã bị trục xuất. Sự sụp đổ của nước Đức, một cường quốc thế giới, đã không hủy diệt ước vọng của người dân mong muốn có được « Lebensraum » (Không gian sinh tồn) * Lời dịch giả : Thuyết « không gian sinh tồn » được Quốc Xã sử dụng để biện minh cho chính sách bành trướng lãnh thổ của nước Đức.

Tôi cảm thấy đau xót vì vấn nạn này. Tôi tức điên tiết khi tôi nghe người khác kể lại gia đình đòi căn phố này dựa trên chứng cớ họ không là đảng viên của Quốc Xã, nhưng thực ra họ bị ghi trong sổ hộ tịch địa phượng là « những kẻ tố cáo », họ đã tố giác năm đảng viên Công Sản cho chính quyền.

         Làm sao tôi có thể ngu muội trước cảnh mỉa mai của lời kêu gọi của chúng tôi nhằm thiết lập một trật tự nhân bản và yêu chuộng hòa bình? Tôi chỉ có thể trả lời là một phần con người của tôi trải qua những năm tháng tại Liên Bang Xô Viết đã trở thành nửa Nga và nhìn nhận phần nảo khát vọng trả thù vì những kinh hoàng mà Quốc Xã đã gieo rắc. Tôi thiết nghĩ sau một cuộc tháo chạy tán lọan như vậy khát vọng trả thù sẽ lắng dịu và sau đó chúng tôi có thể xây dựng mối liên hệ Đức Nga, không chút tham vọng chế ngự lẫn nhau.

         Một vài ngày sau khi chúng tôi đến, chúng tôi được lệnh trình diện Ulbricht từng người một. Ngắn gọn, ông vạch rõ vai trò hành chánh của chúng tôi trong vùng kiểm soát của Liên Bang Xô Viết. Tôi đuợc chuyển sang Đài Phát Thanh Bá Linh làm biên tập viên; đây là một công thự đồ sộ tại Charlottenburg, nằm trong vùng kiểm soát của Anh quốc, trước đây là Đài Phát Thanh của Josef Goebbels nay rơi vào tay của quân đội Xô Viết. Lúc đầu tôi cự nự lệnh của Ulbricht, vì tôi được huấn luyện để trở thành kỹ sư hàng không và tôi không biết gì nhiều về kỹ thuật sách động    mặc dù khi tôi còn nhỏ tôi sống trong khung cảnh đó, nhưng đây là một chương tình huấn luyện để chống lại chủ thuyết Quốc Xã. Khi tôi hỏi ông Ulbricht đến khi nào tôi được phép hoàn tất học vấn về hàng không tạiMoscow, ông quát mắng « Anh thi hành công tác của anh đi. Chúng ta có nhiều việc phải lo toan hơn là làm tàu bay ». Mặc dù lo sợ lúc ban đầu, nhưng khi tôi làm phóng sự và bình giải chính sách ngoại giao (với bí danh là « Michael Storm ») tôi cảm thấy công việc hấp dẫn. Nằm xa khu vực kiểm soát Xô Viết, ngay trong khu vực Anh quốc, đài phát thanh của chúng tôi đúng là tiền đồn trong cuộc Chiến Tranh Lạnh bắt đầu khởi sự. Khoảng cách giữa Bộ Tham Mưu Đảng tại Bá Linh với nơi chúng tôi làm việc cho phép chúng tôi hoạt động có ít nhiều phần độc lập. Tôi có một tập nhỏ do Ulbricht viết khi còn ở Moscow chỉ thị đường hướng của Đảng và nhấn mạnh công cuộc đấu tranh chung chống phát-xít, nhưng, trong thuở ban đầu, đó là tất cả chỉ thị chính trị mà tôi nhận được.

         Đôi khi tôi đụng độ với Ulbricht. Trong một chương trình tôi điều khiển gọi là « Diễn Đàn Dân Chủ », ông là phát ngôn viên của Đảng Thống Nhất Xã Hội Chủ Nghĩa (SED) ( hiện nay là Đảng Cộng Sản, được thành lập do sự phối hợp của đảng viên Cộng Sản với đảng viên Dân Chủ Xã Hội trong vùng chiếm đóng của Xô Viết năm 1946). Giọng the thé pha trộn với tiếng dân miền Saxon của ông tạo nên một cảm giác không lấy gì làm thú vị cho thính giả. Với lòng cương trực nguy hiểm của tuổi niên thiếu, tôi đề nghị ông nên để một xướng ngôn viên đọc bài của ông đồng thời ông nên trau dồi luyện giọng. Ông tỏ ra khó chịu ra mặt. Thật là một chuyện lạ, sự nghiệp tôi vẫn thăng tiến tại Bá Linh với một bước đầu thật là vụng về.

         Chúng tôi cố gắng đưa đài phát thanh đến gần quần chúng một cách sống động bằng cách trả lời những câu hỏi về những vấn đề xem như cấm kị chẳng hạn như số phận của trăm ngàn tù binh Đức giam giữ tại Liên Bang Xô Viết, số phận của các công chức nhỏ của Quốc Xã được xét xử như thế nào và biên giới mới thâu ngắn của nước Đức trên dòng sông Oder và Neisse ; điều đáng ngạc nhiên, những đề tài này không cấm kị đối với các sĩ quan Xô Viết giám sát đài phát thanh. Cuộc tranh đấu gay go của chúng tôi là chống lại lệnh các sĩ quan Xô Viết phải phát thanh giờ này sang giờ khác những bài diễn văn chán ngấy. Có một bài diễn văn hầu như dài vô tận đọc tại Liên Hiệp Quốc của bộ trưởng ngọai giao Andrei Vishinsky, rêu rao những cọ sát trong môi tương quan giữa Moscow và Đồng Minh phía Tây. Tuyên truyền loại này đưa đẩy thính giả vào tay của đài phát thanh mới thành lập RIAS ( Radio in American Sector) đài phát thanh trong vùng kiểm soát của Hoa Kỳ.

         Cũng có những vấn đề khác nữa. Chúng tôi không được phép tự do thông tin về mối tương quan giữa nhân dân Đức với quân đội chiếm đóng Xô Viết, cũng không được nói về những vụ hãm hiếp và cướp bóc diễn ra cùng với bước tiến của Hồng Quân vào Bá Linh. Chiến dịch đối xử bạo tàn đối với đám quần chúng bại trận, đặc biệt tại Đông Phổ (East Prussia) không còn là một bí mật nữa. Như mọi người dân Đức, chúng tôi khiếp đảm vì những tin này, và chúng tôi cảm nhận phương cách duy nhất để dân Nga và dân Đức xích lại gần nhau là công khai nói về mọi tội ác chiến tranh. Cấp lãnh đạo Cộng Sản Đức tỏ ra phẫn nộ vì cách hàng xử của đám quân tội lệ của Hồng Quân khiến cho việc thu hút nhân tâm về phía chúng tôi càng trở nên khó khăn thêm. Chúng tôi cũng có ý kiến của chúng tôi nhưng chúng tôi không thể phát biểu công khai, và các sĩ quan Xô Viết có trình độ văn hóa cao hơn cũng âm thầm nhìn nhận những trò thô bạo như vậy không được phép xảy ra. Nhưng chính ngay từ ngữ « Nga » đã được bộ máy tuyên truyền của Quốc Xã liên tục sử dụng không ngừng nghỉ để khơi động lòng căm thù sơ đẳng, nay một lần nữa được gán ghép với sự sợ hãi.

         Là đảng viên của Đảng Cộng Sản Đức, chúng tôi không lên tiếng phản đối những lối hành xử tàn ác này mà đáng lý ra chúng tôi phải lên tiếng vì hai lý do chính. Thứ nhất một người Đức tỏ ra bất nhã khi chỉ trích người Nga về tính thô bạo, so với những tàn phá của Quân đội Đức đã gieo trên đất của Liên Bang Xô Viết khi họ chiếm đóng. Trong lòng chúng tôi, những người trốn chạy nước Đức của Hitler, có lẽ vẫn còn một chút hận thù đối với chính những người dân đã chấp nhận trở thành công cụ của Đệ Tam Quốc Đức (Third Reich). Lý do thứ hai đơn giản là chúng tôi gạt bỏ những mối nghi ngờ về hành vi của quân đội Nga vì đề vấn đề ý thức hệ.

         Có người hỏi tại sao tôi một thanh niên có giáo dục trong một gia đình có văn hóa lại có thể gạt bỏ ra khỏi trí tuệ bao nhiêu những biến cố bất ổn định như vậy. Tôi cũng tò mò muốn biết những nhận định này, nhưng những từ ngữ chỉ thoáng lướt qua trong đầu óc của tôi, bởi vì chúng được gạn lọc bởi một màng lưới ý thức hệ. Vào thời kỳ đảo lộn của thời hậu chiến, lòng thù hận mong muốn báo thù phá lẫn với lòng đố kị, nơi đâu cũng có bất công cả, tuy nhiên chúng tôi chú tâm đến việc ngăn chặn không cho chủ thuyết Quốc Xã tiêm nhiễm trở lại nước Đức. Thực vậy, phần đông các thính giả viết thư cho chúng tôi đều quan tâm đến việc xóa bỏ những tàn dư của Quốc Xã hơn là số phần của một vài người có thể bị thương tổn trong quá trình của sự việc.

         Khi các viên chức chiếm đóng Xô Viết tổ chức bắt giam hàng lọat các cựu đảng viên Quốc Xã và các thành phần chống đối Stalin, hàng ngàn đảng viên Dân Chủ Xã Hội chống đối Quốc Xã cũng bị càn quét và một vài người bị đưa vào trại lao động, được chính Quốc Xã một cách trớ trêu vừa mới xây dựng xong. Chúng tôi biết rất ít về những sự kiện này, và những gì chúng tôi biết chúng tôi cho đó là trò tuyên truyền gian ác của Tây phương. Ví dụ, tờ báo của Đảng Dân Chủ Xã Hội tại Tây Bá Linh, tờ Telegraph, đăng một câu chuyện nói rằng tại một căn phòng của một ngôi nhà tôi ở, có người bị một biệt đội cảnh sát K-5 thẩm vấn và tra tấn. Tôi công khai phủ nhận hoàn toàn điều này và tố cáo tờ báo đã bịa đặt không những cảnh tra tấn mà ngay cả sự hiện hữu của biệt đội K-5. Mãi sau này, khi tôi được bổ nhiệm làm việc tại Bộ An Ninh Nhà Nước, tôi mới khám phá đội K-5 có thật và họ đã tra tấn những người tình nghi ngay dưới hầm căn nhà đó.

         Trong suốt sự nghiệp của tôi, tôi bỏ qua, tôi cho là tiểu tiết hoặc tôi biện luận về những giai đọan như vậy, và tôi chỉ biết nhắc nhở độc giả rằng tâm tính của tôi được huấn luyện để chống chủ nghĩa phát-xít; chúng tôi cảm nhận đối với một địch thủ độc đoán như vậy, hầu hết mọi phương tiện chống lại nó đều tốt. Trong tiến trình suy luận, chịu ảnh hưởng của bài diễn văn bí mật Nikita Khrushchev đọc trước Đại Hội lần thứ Hai Mươi của Đảng Cộng Sản năm 1953, trong đó ông tiết lộ những tội ác của Stalin cho các đảng viên Cộng Sản ủng hộ Stalin và sau đó tiết lộ cho thế giới, tôi bắt đầu có những cảm nhận khác. Nhưng vào lúc đó và trong hầu hết quãng đời của tôi, tôi tin tưởng chúng tôi, những người Cộng Sản, đứng về phía canh tân và công bằng xã hôi. Điều này giúp châm chế Moscow những kịch án thanh trừng, và bây giờ những bắt buộc của tình thế Chiến Tranh Lạnh khiến cho chúng tôi bỏ qua những hành vi tấn công Đảng Dân Chủ Xã Hội Đức, một đảng vẫn còn tồn tại sau Quốc Xã. Trong những trường hợp cá biệt, tôi xoay sở trong phạm vi khả năng của tôi, nhưng tôi không gặp nhiều những trường hợp này. Có lẽ tôi cảm thấy tôi miễn nhiễm với mốt số tiêu chuẩn đạo đức, một cảm nhận được hỗ trợ bởi lòng tin rằng guồng máy Cộng Sản sẽ không bao giờ quật ngược lại tôi, vì tôi là một đứa con của guồng máy. Tôi không bao giờ nghĩ tôi có thể là nạn nhân. Cả cha tôi cũng vậy, và có lẽ đó là một lý do chúng tôi còn tồn tại. Cha tôi có lần đã viết cho Stalin năm 1945, than phiền ông không trở về được nước Đức trên danh nghĩa một người Do Thái, và khi cao trào tố cáo « bọn bác sĩ mưu đồ » vào những năm cuối của Stalin nhằm tạo nên cớ bài miệt Do Thái tại Liên Bang Xô Viết, cha tôi và tôi không ai đụng chạm đến. Cũng như vào lúc tình trạng bất an toàn diện và mối đe dọa trước chiến tranh, trong sự hỗn loạn sau chiến tranh, tôi không cảm thấy có nhiệm vụ làm suy yếu những người đứng cùng phía với tôi để đấu tranh chống lại ác độc.

         Lẽ cố nhiên tôi biết rất nhiếu về những tội ác kinh khủng vào thời Stalin ngay cả khi chúng còn trong vòng dự mưu thực hiện. Người nào nói không biết gì cả là một thằng nói láo. Có nhiều điều tôi nhìn lại tôi cảm thấy không hãnh diện chút nào. Có lúc tôi đề cập đến vấn đề này với các cấp lãnh đạo Cộng Sản Đông Đức. Nhưng trong quá khứ cũng như hiện tại, tôi không bao giờ đem tội ác của chế độ Cộng Sản lên bàn cân so sánh với tội ác của Quốc Xã. Điều khiến tôi đoan chắc không thể nào cân bằng hai thể chế đó là những sự kiện ghê rợn nổi bật trong những vụ xét xử tội ác chiến tranh của các cấp lãnh đạo Quốc Xã tạiNuremberg.

*

         Tháng Chín năm 1945, tôi được đài phát thanh phái đến tòa án xét xử tội ác chiến tranhNuremberg để làm phóng sự. Chúng tôi chỉ được biết những sự kiện xẩy ra tại Quốc Xã Đức qua bộ máy tuyên truyền của Xô Viết, chú trọng đến số phần của các đảng viên Cộng Sản Đức. Chúng tôi cũng được biết một số chuyện do lời kể của chính gia đình chúng tôi đến tai chúng tôi tại Moscow và từ những thư từ của cha tôi nói về những sự kiện khai mào sau này mọi người được biết là Hỏa Diệt (Holocaust). Tuy nhiên mãi sau này chúng tôi mới khám phá chiều sâu độc nhất vô nhị thảm cảnh tàn sát dân Do Thái nằm trong căn gốc của chủ nghĩa Quốc Gia Xã Hội (Quốc Xã). Nhưng tại tòa án, tương tự như trên bàn giải phẫu, bộ mặt thật của chủ nghĩa Quốc Xã được phơi bày rõ rệt và tất cả thảm cảnh Hỏa Diệt dân Do Thái lần đầu tiên hiện ra trước mắt tôi.

         Vì tôi là một người con của một gia đình Do Thái Cộng Sản, tôi rùng mình khi tôi ngồi đối diện những khuôn mặt đại diện còn sống sót của thời kỳ Quốc Xã. Lang thang trên nhưng đổ nát của thành phố Nuremberg, trước đây được xem là « hộp quý trang của nước Đức » nhưng nay bị gắn liền với những luật pháp kỳ thị chủng tộc mà hàng triệu dân Do Thái là nạn nhân, tôi bất chợt, lạnh lùng bừng tỉnh và nhận định chúng tôi đảng viên Cộng Sản và các đối thủ khác của Hitler đã hoàn toàn thất bại trong việc ngăn ngừa cảnh tàn sát này, và tôi nguyện thề không để tình trạng này tái diễn một lần nữa trên đất nước Đức.

         Chính vì lý do đó tôi thấy lòng căm phẫn của người Đức bại trận đối với quân đội chiếm đóng Xô Viết khiến cho tôi tức giận thêm hơn. Tôi viết thư cho cha mẹ tôi một cách ngây ngô cho rằng «lòng hảo tâm của Hồng Quân coi như quần chúng đương nhiên được thụ hưởng mà quần chúng vẫn luôn than vãn. Hình như họ không nhìn thấy được tầm mức thảm họa Hitler đem đến cho nước Đức. Họ không hiểu cơ may một trang sử mới đang đến với họ».

*

         Nước Đức chính thức chia ra làm hai thực thể chính trị sau cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 tại ba vùng chiếm đóng của Tây Âu đưa đến sự củng cố nước Cộng Hòa Đức ( Bundesrepublik) hay là Liên Bang Đức. Để trả lời, nước Công Hòa Dân Chủ Đức được chính thức thành lập tháng 10 năm 1949 cùng với diễn hành đêm đuốc, diễn hành đông đáo quần chúng và những bài ca ái quốc. Đối với một số thành viên Xã hội chủ nghĩa có nhiều cảm tính, tất cả những cảnh này giống một cách khó chịu như hệt họat cảnh cũ của chính quyền Quốc Xã. Nhưng tôi thấy đây là giây phút lịch sử của mối bang giao Đức Nga. Không bao lâu tôi được Trung Uơng Đảng vời về và tôi được thông báo tôi là người trách nhiệm giúp thắt chặt tình hữu nghị này. Ngày 1 tháng 11, tôi được lệnh trở vềMoscow với chức vụ Tham Vụ cho Tòa Đại Sứ Đông Đức tại đây. Để nhận nhiệm vụ này tôi phải từ bỏ quốc tịch Xô Viết của tôi và một lần nữa tôi chính thức trở thành người Đức. Chúng tôi đến Moscow vào ngày 3 tháng 11 năm 1949.

         Vẻ sang trong và tính khoan thái của ngành ngoại giao mở lòng chúng tôi sau những ngày sống trong cảnh hoang tàn của Bá Linh, và chúng tôi an hưởng trọn vẹn đời sống gia đình tạiMoscow. Đúng là một đời sống gia đình ấm cúng: Trong khi tôi làm phóng viên tại Tòa Án Nuremberg năm 1946, đứa con đầu lòng của tôi, tốc vàng, mắt xám, được đặt tên là Michael, ra đời, sau đó là em bé gái tên Tatjana, sinh năm 1949. Emmi, không ưa thích vẻ bề ngoài của không khí trong Tòa Đại Sứ, được cơ hội chìm đắm trong văn học Nga và khởi sự học trình lấy bằng tiến sĩ về Dostoyevsky.

         Với tư cách đệ nhất tham vụ của Tòa Đại Sứ nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức, cuối cùng tôi được gặp Stalin, một biến cố đáng ghi nhận đối với tôi mặc dù bao năm đã qua. Nói chuyện với các bạn bè cùng thế hệ, tôi thấy Stalin vẫn đôi lúc xuất hiện trong giấc mơ của chúng tôi, có lẽ do một thoáng hồi nhớ cảnh diễn hành quần chúng chúng tôi chứng kiến tại Quảng Trường Đỏ, vào lúc đó nhiệt độ thờ phụng của quần chúng che lấp tất cả những cảm giác khác, hoặc nhớ lại những hình ảnh và tượng đài của Stalin – đã biến mất từ lâu khỏi thành phố Moscow – tất cả những điều này khiến cho chúng tôi có cảm giác đang sống với một vị á thần.

         Thực ra, cho dù tôi cố chú tâm với hiểu biết của con người trưởng thành để khách quan đánh giá những tội ác của ông, khía cạnh gần như huyền bí trong tâm trạng của tôi đối với Stalin không thể nào xóa nhòa được. Hình ảnh không thể xóa nhòa hoàn toàn này có thể có ích cho tôi, vì điều này luôn nhắc nhở tôi hấp lực của kẻ độc tài vẫn quan trọng và mạnh mẽ, vẫn tồn tại ngay cả sau khi những bất công y gây ra đã được phơi bày.

         Ấn tượng sống động nhất trong cuộc đời nghề nghiệp của tôi tại Tòa Đại Sứ là buổi tiếp tân khoản đại lãnh đạo Trung Quốc ông Mao Trạch Đông tại đại sảnh tròn của Khách Sạn Metropol vào tháng Hai năm 1950. Tôi đang đứng lưng quay ra cửa ra vào, thình lình tôi nghe tiếng xôn xao trong phòng. Quay trở ra, tôi thấy Josef Vissarionovich Stalin đứng cách tôi vài thước. Ông mang bộ Litevka nổi tiếng với cổ áo may cao. Ông không đeo một huy hiệu hoặc huy chương nào cả. Với vóc dáng thấp bé và tròn trịa lạ lùng, ông có đầu hói bóng lưỡng. Những chi tiết này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh của Vozhd, « Vị Lãnh Tụ Vĩ Đại », được nuôi dưỡng trên phim ảnh và trình diễn trên những bức chân dung. Tôi choáng váng trước tiên vì thất vọng nhưng sau đó vì hãnh diện. «Thì ra ông cũng như một người bình thường », tôi nghĩ. « Tất cả những câu chuyện để tôn vinh cá nhân ông đã được thêu dệt nhưng ông không được biết đến » .

         Với tư cách là Tham Vụ Ngọai Giao, tôi thay mặt cho Đại Sứ vào dịp này, ngồi đối diện với nơi các cấp lãnh đạo của cả hai phái đoàn nâng chén chúc mừng nhau. Trong khi Chu Ân Lai, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Trung Quốc và đồng nghiệp Xô Viết, ông Andrei Vishinsky trò chuyện với nhau, Stalin mồi hết điếu thuốc nọ đến hết điếu thuốc kia, điếu thuốc nặng mùi mang hiệu Herzegovina Flor (một lọai thuốc lá Nga dài đặc biệt quấn giấy papyrosi mà ông ưa thích). Sau đó ông đọc nhiều bài diễn văn chào mừng theo kiểu của ông. Trong một bài, ông ca ngợi tính khiêm nhường và tinh thần đoàn kết của cấp lãnh đạo Trung Quốc. Rồi, với vẻ đầy hăm dọa, ông nâng chén chúc mừng nhân dân Nam Tư (Yougoslavia), mà ông hy vọng một ngày gần đây lấy lại chỗ đứng của mình trong gia đình các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Chỉ cách đó hai năm trước đây, Nam Tư đá bị khai trừ đưa vào bóng tối do lệnh của Stalin, sau khi lãnh tụ Nam Tư đầy hấp lực Josip Broz Tito đã từ chối khép mình theo phong hóa tôn vinh cá nhân lãnh tụ của điện Cẩm Linh và yêu cầu được thêm phần tự trị nhiều hơn nữa trong việc cai quản quốc gia Balkan đa chủng trong khi Moscow không muốn như vậy. Chúng tôi, tại các nước trung thành với đường lối của Xô Viết, nhìn nước Nam Tư với lòng sợ hại và kinh ngạc lẫn lộn là Tito đã cả gan thách thức ý nguyện của Stalin.

         Chúng tôi nuốt từng lời của các vị lãnh đạo Xô Viết một cách kính cẩn. Đối với tôi, cũng như đối với tất cả các quan khách có mặt trong buổi tiếp tân, Stalin và Mao không phải là những người phàm tục. Họ là đền đài của lịch sử. Tôi không hề nghĩ đến viễn tượng Trung Hoa – Xô Viết sẽ rạn nứt, nhưng tôi nhớ rõ một điều đáng chú ý họ Mao không hề nói một câu nào suốt đêm đó. Tôi tự hỏi có phải đây là chỉ dâu tinh thần hội nhập nổi tiếng của người Trung Hoa.

         Không phải tất cả biến cố trong hai năm trong ngành ngọai giao đều để lại ấn tượng mạnh mẽ trong trí óc của tôi. Trong một cuộc tiếp tân kỷ niệm hai năm thành lầp nước Đông Đức, việc tranh chấp không liên quan gì đến vấn đề rạn nứt trong liên minh hoặc về một quốc gia Cộng Sản phản động, nhưng lại liên quan đến y phục phải mặc hôm đó. Như thuờng lệ, các nhân viên ngọai giao trẻ bàn luận với ông trưởng phái đoàn, vị này muốn chúng tôi mặc y phục tiếp tân ban ngày áo đuôi tôm để đánh dấu vẻ trọng thể của ngày lễ. Vì không có áo đuôi tôm, chúng tôi chọn y phục thượng khách. Cuối cùng chúng tôi đi đến thỏa thuận mặc y phục thực khách mầu đậm với cà-vạt đen. Tuy nhiên vào thời buổi đó chỉ có những nước xã hội chủ nghĩa công nhận Nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức, và đa số, họ phủ nhận cà-vạt đen cho rằng đó là trang sức của bọn tiểu tư sản. Với tất cả danh tiếng sau này của chúng tôi là nô bộc Cộng Sản ngoan ngoãn nghe lệnh, nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức rõ ràng vẫn mang ấn dấu của quá khứ Phổ trong những năm phôi thai. Chúng tôi bối rối cực độ vì những người duy nhất tham dự mặc y phục như chúng tôi là những người hầu bàn. Khi ông Nikolai Krutitsky, Giám Mục Chính Thống Giáo Kinh Thành của tất cả tín đồ Nga, đứng dậy để từ giã và tôi xã giao tiễn ông đến phòng mắc ao, ông lục lọi một lúc trong áo choàng nặng nể của ông để rồi móc ra ba rúp và trao cho tôi một cách trịnh trọng để làm quà.

* 

         Tháng 8 năm 1951, tôi nhận văn thư khẩn cấp kêu tôi trở về Đông Bá Linh để gặp Anton Ackermann – tên thật là Eugen Hanisch – Bộ Trưởng Ngoại Giao Đông Đức và cũng là một chiến lược gia lãnh đạo trong Bộ Chính Trị. Ông chào đón tôi tại Bộ Ngoại Giao ban sáng, thăm hỏi sức khỏe của tôi và dặn tôi sau bữa ăn trưa cùng ngày đến một căn phòng nào đó trong dinh thự vĩ đại của Trung Ương Đảng. Tôi cảm thấy có gì bí mật – cho đến khi đến nơi gạp gỡ để rồi cũng gặp lại Đồng Chí Ackermann ngồi đàng sau một chiếc bàn khác, lần này trong chức vụ ủy viên Trung Ương Đảng. Cái trò vô lý này bày ra là do Ackermann nhất quyết bảo mật và thực thi phân cách quyền hành giữa Đảng và Nhà Nước, trên thực tệ tỏ ra kịch cỡm.

 

Ackermann đã được giao phó công tác thành lập một cơ quan tình báo chính trị, và tôi được chỉ định để làm việc này, chia sẻ trách nhiệm để « soi sáng quốc gia tân lập ». Nói trắng ra, tôi trở thành gián điệp. Đây một lần nữa là một mệnh lệnh, và theo thói thường lúc đó, tôi chẳng thắc mắc gì hoặc thậm chí suy gẫm về quyết định này có ảnh hưởng gì đến cuộc đời của tôi. Đảng đã cho tôi đi học trường Quốc Tế Cộng Sản. Đảng đã chỉ định tôi đi đếnMoscowvà đến trạm vô tuyên truyền thanh tại Bá Linh. Đảng đã phái tôi đi đếnMoscowđể làm nhân viên ngọai giao. Nếu Đảng nghĩ rằng tôi hữu ích trong ngành tình báo, tôi cũng tuân lệnh. Tôi hãnh diện vì cấp lãnh đạo đã tin tưởng giao phó cho tôi công tác mật. Tinh thần kỷ luật mù quáng là một điều khó hiểu nhất đối với các quan sát viên Tây phương tìm hiểu hệ thống của chúng tôi, nhưng nếu không hiểu được mãnh lực của Đảng trên tinh thần chúng tôi và phương pháp họ chỉ định công tác cho thế hệ Cộng Sản chúng tôi, thì không thể nào hiểu nổi, chưa nói đến phán đoán về cuộc sống của chúng tôi.

         Ngày 16 tháng 8 năm 1951, tôi bắt đầu làm việc tại một cơ sở hoàn toàn mới Viện Nghiên Cứu Khoa Học Kinh Tế, một tên ngụy trang cho cao ốc nơi làm việc của hệ thống tình báo phôi thai của Đông Đức. Sự nghiệp mới của tôi bắt đầu với cuộc diện kiến với Richard Stahlmann trên một chuyến xe Tatra li-mu-sin to lớn có tám xy-lanh, rất sang trọng vào thời đó. Stahlman, mang trách vụ thiết lập công tác cho chúng tôi, là một nhà cách mạng chuyên nghiệp và tôi kính phục tác phong đường bệ của ông. Tên thật của ông là Artur Illner, nhưng vì ông công tác quá lâu trong thế giới bí mật Cộng Sản nên mọi người, kể cả vợ ông, dùng bí danh của ông như tên thật của ông. Ông là thành viên của Đảng Cộng Sản Đức từ năm 1918 và ông trở thành ủy viên trong « Hội đồng Quân Sự » của Đảng năm 1923. Như mọi thành viên cựu trào, ông ít khi nói về quá khứ với quá nhiều bí ẩn. Tuy nhiên ông chia sẻ với tôi những mẩu chuyện về những công tác của ông tại Liên Bang Xô Viết, Anh quốc, Trung quốc, Tây-ban-nha, Pháp, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Ông nhận lãnh tước hiệu bất hủ « Richard Kháng Chiến Quân» trong cuộc nội chiến tai Tây-ban-nha và ông là bạn thân tín của Goergy Dimitrov, đảng viên Cộng Sản Bulgari bị Quốc Xã tố cáo âm mưu đốt tòa nhà Quốc Hội. Stalhmann đi cùng với Dimitrov khi mật vụ Gestapo đến bắt Dimitrov, nhưng cả hai đều giữ bình tĩnh, mặc dù bị bắt và bị hạch hỏi một cách thô bạo. Sau này nhắc đến Stalhmann, Dimitrov luôn gọi ông « con ngựa tốt nhất trong chuồng », một tước hiệu giúp ông thăng tiến trong giới lãnh đạo Đông Đức mới. Ông là người đầu tiên được tham khảo trong mọi vấn đề, và mỗi khi có trở ngại trong việc thiết lập hệ thống tình báo, ông đến gặp Thủ Tướng Otto Grotewohl tại tư gia và các vấn đề được nhanh chóng giải quyết. Thường các vấn đề liên quan đến tiền bạc và nguồn tài trợ. Chúng tôi đói khát tiền bạc trong những năm đầu, và tiền mặt phải đợi đến cả tháng để đi qua các cửa ngõ công quyền. Đôi khi Stalhmann đến gặp bộ trưởng tài chánh và trở về với cặp sách tay chứa đầy ghi chú. Khi Czechoslovakia (Nam Tư) có nhã ý tặng hai mươi bốn chiếc xe Tatra cho chính quyền Đông Đức, Stahlmann đã khéo léo chuyển nửa số xe sang cơ quan còn nhỏ bé của chúng tôi, nhờ vậy khi chúng tôi hoạt động ngoài phạm vi của cớ sở chật hẹp của chúng tôi, chúng tôi có thể di chuyển trong một tư thế sang trọng. Stahlmann hiểu rõ những tiểu tiết này giúp nâng cao vị thế của cơ quan đối với chính phủ, và những cơ quan nào cố gắng hoạt động trong vòng eo hẹp thường gây chú ý hay bị cắt giảm ngân sách.

         Lần đầu chúng tôi gặp gỡ tại Bohnsdorf, một ngoại ô phía Đông Nam Bá Linh. Chẳng ai nhớ rõ ngày họp mặt, và chúng tôi cũng chẳng ghi sổ sách, vì vậy chúng tôi chọn ngày 1 tháng 9 năm 1951 là ngày thành lập cơ quan tình báo. Ngay sau đó chúng tôi dời cơ quan đến một ngôi trường cũ trong khu vực Pankow của Đông Bá Linh, sát cạnh khu bảo vệ nơi các cấp lãnh đạo Đảng và nhà nước cư ngụ – một dấu hiệu chứng tỏ chúng tôi được nể trọng.

         Lúc ban đầu chúng tôi chỉ có tám người và bốn cố vấn Xô Viết, trong số đó có một nhân viên điệp báo NKVD lão thành tự xưng mình là «Đồng chí Grauer». Andrei Grauer đã từng là sĩ quan tình báo của Sứ Quan Liên Bang Xô Viết tạiStockholm. Ông giàu kinh nghiệm họat động và chúng tôi chăm chú và thán phục nghe những thành tích phát hiện điệp viên nằm vùng, xâm nhập cơ quan và các nhân viên anh dũng. Chúng tôi học hỏi nơi ông cách xây dựng hạ tầng cơ sở tình báo, biết phân nhiệm và tìm đánh vào điểm yếu của địch thủ. Than ôi, sự nghiệp của ông kết thúc một cách thảm não vài năm sau đó. Ông càng lúc càng trở nên đố kỵ vì ông méo mó nghề nghiệp trong môi trường sinh họat thời Liên Bang Xô Viết của Stalin. Ông và Ackermann, người lãnh đạo chính thức cơ quan tình báo, trở thành những kẻ thù gay gắt, và Grauer luôn ám ảnh nghi ngờ Ackermann. Một thời gian sau Grauer bị triệu hồi vềMoscow. Sau này tôi nghe các bạn trong ngành tình báo Xô Viết xấu hộ thú nhận ông bị bệnh tâm thần bách hại cuồng, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Tinh thần cảnh giác cao độ của ông trước đây khiến ông trở nên một sĩ quan tình báo tinh nhuệ nay đã lôi keo ông đi.

         Trong nội bộ chính quyền và đảng, tên ngụy trang của cơ quan của chúng tôi là Tổng Cục Nghiên Cứu Kinh Tế và Khoa Học (Hauptverwaltung für Wirtchafts-Wissenschaftliche Forschung). Danh xưng này chẳng có gì là bí mật, vì ngay cụm từ “tổng cục” nhắc nhở cho mọi người biết những biệt môn của Pervoye Glavnoye Upravleniye, “Tổng Cục Số Một” của KGB, phụ trách về các công tác gián điệp. Năm 1956, cơ quan tình báo hải ngoại được đặt tên là Die Hauptverwaltung Aufklärung – gọi tắt   là HVA – có thể dịch là “Tổng Cục Tình Báo”.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 6 (Markus Wolf)                        

 “…Đây là một loại áp lực tâm lý trên những người đàn ông và đàn bà đã gắn liền căn cước và lòng tự trọng bản thân với tinh thần liên thuộc vào một nhóm cùng chung một lý tưởng. Khi thình lình lòng tín nhiệm này không còn nữa, áp lực tâm lý trở nên gay gắt hơn…”

Chương 3 (tiếp)

Đệ tử của Stalin

             Các cố vấn Xô Viết của chúng tôi giữ một vai trò lớn, có thể nói là bao trùm. Lúc đầu các cấp lãnh đạo ngành của chúng tôi soạn thảo tất cả kế hoạch dưới sự kiểm soát của các cố vấn. Các vị này nhất mực theo phuơng pháp cực kỳ hành chánh của Xô Viết, làm cho chúng tôi phải điên đầu. Ngoài việc sao chép các điều lệ và các giấy tờ khác bằng tay, chúng tôi phải mất hàng giờ đóng chúng gọn ghẽ thành tập, một thủ tục du nhập của công an mật vụ Nga Hoàng trước thời Cách Mạng. Không ai hiểu nguyên ủy của thủ tục này, nhưng cũng chẳng có ai đặt câu hỏi thắc mắc.

         Cơ cấu tổ chức của cơ quan chúng tôi phản ánh trung thực mẫu mực Xô Viết. Những ngôn từ trong đường hướng chỉ đạo để lộ nét phiên dịch từ tiếng Nga và vạch rõ những mục tiêu công tác tương lai của chúng tôi. Đó là thâu thập tình báo chính trị của nước Tây Đức và Tây Bá Linh; tình báo khoa học và kỹ thuật trong lãnh vực vũ khí hạt nhân và hệ thống phân phối, về năng lượng hạt nhân, hóa học, thiết kế điện lực và điện tử, hàng không và vũ khí quy ước, và sau cùng nhưng không phải là cuối cùng, tinh báo về các đồng minh Tây Âu và những tính toán của họ đối với nước Đức và Bá Linh.

         Một chi nhánh nhỏ, độc lập của Tổng Cục Tình Báo, gọi là “phản gián” (Abwehr) được thành lập để giám sát và xâm nhập các cơ quan tình báo Tây Âu; nhưng nó xung đột trực tiếp với Bộ An Ninh Nhà Nước, vì bộ này cũng có một bộ phận giám sát tinh vi hơn. Ngay cả khi chúng tôi sát nhập vào Bộ này năm 1953, cuộc xung đột vẫn tiếp diễn và phản gián vẫn nằm dưới sự kiểm sóat trực tiếp của Bộ. Những cuộc chiến hành chánh này khiến cho những tin tức bức thiết liên quan đến những công tác trong ngay nội bộ của chúng tôi không đến tay chúng tôi, đặc biệt những năm sau này khi các nhân viên phản gián bắt đầu làm việc với bọn khủng bố hải ngọai.

         Người ta thường hỏi tại saoMoscow lại thành lập một cơ quan do người Đức chúng tôi điểu khiển để tranh đua với họ. Nhưng Stalin nhận định chính xác nước Đức thời hậu chiến sẽ là một khu vực các cơ quan Nga khó mà xâm nhập, và một cơ quan vững chắc của chính quốc gia đó như trong trường hợp cơ quan Đông Đức trong khu vực của Xô Viết sẽ tạo niềm hãnh diện cho chúng tôi và nhờ đó bảo vệ quyền lợi của Xô Viết. Thọat tiên các cố vấn Xô Viết nhận tất cả tin tức chúng tôi có, ngay cả đến bí danh của các nguồn tin và các đơn vị cá nhân, mặc dù chúng tôi bắt đầu bảo vệ nguồn tin và cung cấp cho các sĩ quan liên lạc Xô Viết những tin tức chọn lọc.

         Nhiệm vụ đầu tiên của tôi là phụ tá điều nghiên cho Robert Korb, một bạn đồng nghiệp cũ của tôi tại Radio Moscow. Korb hiểu biết sâu rộng về chính trị và thấu hiểu các sự kiện, và trình độ hiểu biết của ông rất cao. Tôi học hỏi rất nhiều nơi ông về những vấn đề không liên quan gì đến công tác của chúng tôi, ví dụ như Islam, lịch sử khúc mắc của Israel và những xung đột tôn giáo tại bán lục địa Ấn Độ. Ông là một chuyên gia điều nghiên sáng suốt; ông dậy cho tôi biết phân xét các bản báo cáo tại địa bàn công tác một cách lãnh đạm, và chúng tôi sớm đi đến kết luận việc duyệt đọc kỹ lưỡng báo chí thường đem lại kết quả hữu hiệu hơn là các báo cáo mật của điệp viên, và các chuyên viên điều nghiên phải biết rút tỉa kết luận từ nhiều nguồn tin khác nhau để có thể thẩm định các thông tin tình báo. Từ đó nhận định này luôn là hành trang cùng đi với tôi.

         Korb, trong cung cách cũng như trong suy nghĩ cá biệt của ông, có thể gợi chú ý của cử tọa với óc tinh tế và lời lẽ mỉa mại ông thường biểu lộ khi ông trình bày vấn đề trước các bậc trưởng thượng. Vì tôi chia sẻ tính bất nể phục này nên chúng tôi có nhiều điểm giống nhau. Mặc dù chúng tôi là những bày tôi trung kiên của nhà nước, chúng tôi cố gắng giữ khoảng cách với tinh thần tận tụy quá đáng của các cấp lãnh đạo chính trị trong việc truyền bá chủ nghĩa.

         Cơ quan chúng tôi phát triển nhanh chóng và chúng tôi lại di chuyển từ khu Bá Linh – Pankow đến một cao ốc lớn hơn trong khu vực Rolandufer tại trung tâm Đông Bá Linh. Tôi sớm được thăng chức phụ tá giám đốc cơ quan tình báo hải ngọai vừa mới thành lập bên cạnh ông Gustav Szinda , một người có hàng chục năm kinh nghiệm trong các công tác mật tại Tây-ban-nha và các nơi khác cho tình báo Xô Viết.

         Không may cho cả hai chúng tôi, ông Szinda và tôi không ai biết cách thức khởi sự đối phó với tình báo Tây Đức ra sao; một cơ quan vừa được thành lập từ sự sụp đổ của chế độ Quốc Xã không hề bị một thiết hại nào. Các cấp lãnh đạo tình báo phục vụ cho Hitler nay làm việc với các chủ nhân mới tại một cái làng nhỏ, bao trùm nhiều bí mất của vùngBavaria gọi là Pullach. Chúng tôi phải tìm kiếm tên của ngôi làng trên bản đồ khi tên làng này xuất hiện trên báo chí. Đây là một thế giới xa lạ với chúng tôi và hầu như chúng tôi không với tới được, mặc dù với thời gian, chúng tôi rất quen thuộc với lề lối làm việc của họ.

         Tôi được biết đến danh tính của Tướng Reinhard Gehlen, cấp lãnh đạo đấu tiên của tình báo Tây Đức, trên trang nhất của tờ Daily Express tại Luân-đôn; tờ nay ghi rõ Tướng Của Hitler làm Gián Điệp trở lại – lần này với Mỹ kim.

             Sefton Delmer, một ký giả được biết có liên lạc với tình báo Anh, đã viết hàng tựa này; vào thời kỳ chiến tranh, ông phụ trách phản gián Anh quốc tại đài phát thanh Soldatensender Calais. Bản tin của Delmer gây phẫn nộ. Nó không những tiết lộ hệ thống tình báo cũ của Quốc Xã vẫn còn nguyên vẹn, mà còn cho biết cơ quan tình báo mới của Cộng Hòa Liên Bang chứa chấp nhiều cựu sĩ quan SS và chuyên viên an ninh quân đội đã hoạt động dưới thời Hitler tại Pháp và nhiều nơi khác. Chính Gehlen đã từng chỉ huy đơn vị điệp báo quân đội của Quốc Xã chống lại Hồng Quân. Nhờ Cơ Quan của Gehlen, sau này được biết, Hoa kỳ tiếp cận với tất cả các đường dây hệ thống tình báo cũ của Quốc Xã; Hoa Kỳ ra lệnh cho giới tình báo Tây Đức cũng giống như Nga ra lệnh cho khối Đông Âu.

         Cũng có tin đồn Tướng George S. Patton Jr. bao che cho một số sĩ quan cao cấp của Đức. Tôi lo âu nhận thức mục tiêu để đạt đến một Châu Âu hòa bình toàn diện khó lòng thành tựu. Dây khóa mõm đã được cài đặt ở cả hai phía. Viễn ảnh hòa bình với bao nhiêu hy sinh vừa qua rất mong manh. Châu Âu bị chia cắt và đường chia cắt nằm ngay trên nước Đức.

         Thủ tướng Tây Đức Konrad Adenauer dốc toàn lực ủng hộ “chính sách mạnh” của Hoa Kỳ và chiến lược đẩy lui chủ nghĩa công sản do John Foster Dulles đề xướng; người em tên Allen Dulles chính là giám Đốc Cơ Quan Tình Báo Hoa Kỳ (C.I.A.).

Liên Bang Xô Viết đã giúp các nước Tây Âu đặt được hòa bình; nay Hoa-thịnh-đốn đang chuẩn bị huy động tất cả sức mạnh chính trị, tình báo, kinh tế và, nếu cần, sức mạnh quân sự của Hoa kỳ và đồng minh để phản công. Gehlen nhận biết lần xung đột mới này là cơ hội cho đương sự tạo ảnh hưởng trực tiếp lên đường hướng chính trị. Ông gặp gỡ Adenauer trước khi Tây Đức thu hồi cơ quan tình báo khỏi tay CIA và ông được hỗ trợ và có quyền lực rất lớn. Điều này có nghĩa ông kiểm soát và dùng những hồ sơ để đánh các đối thủ chính trị trong nước, trong dó có đảng Dân Chủ Xã Hội đối lập với chính quyền Dân Chủ Thiên Chúa Giáo tại Quốc Hội. Trong quân đội và các cơ quan hành chánh Tây Đức, các bày tôi trung kiên của Đệ Tam Quốc Xã một lần nữa giữ những địa vị then chốt, và các cựu sĩ quan Quốc Xã chỉ huy tổ chức của Gehlen.

Tên của Hans Globke, một trong những cố vấn thân tín của Adenauer và là đổng lý văn phòng của Thủ Tướng, đồng nghĩa với phương thức xâm nhập này. Là một cựu viên chức cao cấp trong Bộ Nội Vụ của Hitler, Globke là tác giả của bài bình luận nặng cân về luật phân biệt chủng tộc Nuremberg nhằm hợp thức hóa việc phận biệt bằng võ lực và đưa đến “Giải Pháp Cuối Cùng” của Quốc Xã. Globke làm đổng lý văn phòng cho Adenauer trong vòng mười năm.

Trong bầu không khí xôi động này, thành phố Bá Linh vào thập niên 1950 thừa kế Vienna trở nên trung tâm điệp báo Châu Âu. Có khoảng tám mươi cơ quan điệp báo cùng với nhiều ngành khác và tổ chức ngụy trang họat động tại thủ đô này. Tại các văn phòng ngụy trang của Hoa Kỳ và của Nga được che đậy qua bình phong đủ các thứ hãng, từ công ty sửa ống nước và xuất khẩu mứt cho đến những viện hàn lâm và các cơ quan nghiên cứu, có cả một đội ngũ sĩ quan chuyên kết nạp và điều khiển các điệp viên của mình và những điệp viên này có thể di chuyển dễ dàng trong những khu vực Bá Linh và cả hai phần của nước Đức vào những ngày trước khi Bức Tường, chia cắt thành phố và đất nước Đức, được xây dựng vào năm 1961.

Đây cũng là lúc trước khi phép lạ kinh tế Tây Đức bắt đầu và do đó cũng là thời buổi thiếu thốn và tan tác kinh tế. Hứa hẹn cung cấp thực phẩm hoặc được thăng tiến xã hội đã khiến thiên hạ đi vào con đường điệp báo. Nhưng trong khi chính quyềnTây Đức có thể dễ dàng trông cậy vào nguồn tài chánh, chúng tôi vẫn hoạt động trong cảnh nghèo nàn và phải theo đuổi một lối tiếp cận có tính cách ý thức hệ hơn. Nhiểu điệp viên nằm vùng của chúng tôi tại Tây Đức, đặc biệt trong môi trường chính trị và kỹ nghệ, không phải là Cộng Sản nhưng họ làm việc cho chúng tôi vì họ muốn khuất phục tình trạng chia đôi nước Đức và nghĩ rằng chính sách của các Đồng Minh Tây Âu đang củng cố nó. Sau này chúng tôi mất một số điệp viên như vậy khi Bức Tường được xây và cho họ thấy biểu tượng của nước Đức chia hai theo nghĩa đen đã được xây dựng bằng bê-tông.

Những chi tiết nhỏ nhặt trong việc xây dựng một cơ quan tình báo hoàn toàn mới chiếm hầu hết thời gian của tôi. Tôi chú ý đến các nước phương Tây và tôi cố gắng làm quen với những chuyển biến chính trị tại Hoa Kỳ và tại Tây Âu và tôi theo dõi sát những tiến triển trong ngành tình báo hậu chiến.

Chúng tôi phải thu thập những nguồn tin mới tại các trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế và khoa học kỹ thuật của phía bên kia. Điều này nói dễ hơn là làm, vì những đòi hỏi an ninh trong chính guồng máy của chúng tôi, do tình báo Xô Viết áp đặt, rất là gắt gao. Cả ngàn thí sinh được gửi gắm đến phải được sàn lọc để có được một nhúm nhỏ khả dĩ chấp nhận được. Những ai có thân nhân ở Tây Âu đều bị loại bỏ, cũng như những người trải qua những năm tháng chiến tranh làm người tị nạn hoặc là tù binh chiến tranh ở Tây Âu. Trái ngược với những lời đồn đãi cho đến nay vẫn còn, chúng tôi không có ý dùng những cựu đảng viên Quốc Xã trong bộ máy của chúng tôi và chúng tôi kiêu hãnh có đạo đức hơn Tây Đức về mặt này.

Chúng tôi tiếp cận một số hồ sơ đảng viên Quốc Xã của Đệ Tam Đức Quốc và chúng tôi dùng những hồ sơ này để thuyết phục những người Tây Đức đã xóa bỏ quá khứ cộng tác với Quốc Xã về cộng tác với chúng tôi. Nhiều người khác tình nguyện làm việc cho chúng tôi và họ cho đó là một loại đền bù tinh thần cho những tổn hại họ đã gây ra trong quá khứ. Thoạt nhìn phong thái này có vẻ tử tế. Lý do thực sự là họ muốn được an toàn và bảo vệ sự nghiệp mới của họ ở Tây Đức để tránh không bị chúng tôi lật tẩy sau này. Theo ngôn từ Đức, chúng tôi gọi là Rückversicherung, có nghĩa nguyên văn là “tái bảo hiểm” cho quá khứ. Nhờ Đảng Cộng Sản Tây Đức chúng tôi thừa hưởng được sự cộng tác của một chính trị gia trong Đảng Dân Chủ Tự Do tên là Lothar Weihrauch ( au này làm việc trong Bộ Xử Lý Các Vấn Đề Chung Nước Đức của Tây Đức), người này cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tin tức chính trị cho đến khi chúng tôi khám phá đương sự đã phạm những tội ác chiến tranh khi đương sự giữ một chức vụ quan trọng vào thời kỳ Đức chiếm đóng Ba Lan. Chúng tôi cắt đứt liên lạc với y. Chúng tôi cũng đã kết nạp một cựu đảng viên Quốc Xã, trước đây là một đội viên xung kích, mang bí danh là Moritz. Người này đã giúp chúng tôi trong cuộc đấu tranh chính trị chống lại sự thành lập của Cộng Đồng Quốc Phòng Châu Âu (cuối cùng đã bị ngăn chặn vì tinh thần chủ nghĩa quốc gia của nước Pháp chứ không phải vì cơ quan tình báo chúng tôi phá vỡ dự án thành lập).

Quá khứ là một vũ khĩ lợi hại trong ngành tình báo và cả hai bên không ngần gại dùng nó để hăm dọa. Đúng vào lúc chúng tôi tìm phương kế để hạ bệ những chính trị gia hoặc những khuôn mặt kỳ cựu có ý đánh phá chúng tôi bằng cách tiết lộ sự đồng lõa của họ với Quốc Xã, một tổ chức chống Cộng tên là Ủy Ban Luật Sư Tự Do Tây Bá Linh do các luật gia trốn chạy Đông Đức thành lập, cho xuất bản một quyển sách nhỏ ghi tên những công chức Đông Đức đã tìm cách gia nhập đảng Quốc Xã. Nhưng vì phần đông các sĩ quan tình báo cao cấp và cấp lãnh đạo chính trị của chúng tôi đều sống lưu vong hoặc ẩn núp vào thời Đệ Tam Quốc, chúng tôi ở Đông Đức chúng tôi đã thắng trong chiến trận tuyên truyền này.

Một vài thành phần Quốc Xã tìm cách chuyển hướng sang phía chúng tôi bằng cách che dâu quá khứ. Không bao lâu sau khi tôi bắt tay vào việc, một nhân viên trẻ trong đội đến gặp tôi và nói với tinh thần vô cùng hoang mang anh để ý thấy một người làm việc tại ban thẩm vấn trên cánh tay có xâm huy hiệu SS. Ban thẩm vấn là ban thô bạo nhất ở trong Bộ, và tôi không muốn mang tai tiếng vì có những tay côn đồ này làm việc tại đây. Tôi mường tượng một kẻ nào đó ưa thích những việc làm như vậy ở chế độ trước lại cảm thấy an nhiên tự tại ở đây. Chúng tôi lặng lẽ thuyên chuyển y khỏi vị trí này.

Những màn hăm dọa đang diễn ra là một trò bần thỉu và tác hại nhưng cả hai bên đều dùng nó. Một vài thành phần Quốc Xã cũ ở Tây Đức giúp việc cho chúng tôi vì có lòng hối cải, một vài kẻ khác vì tiền, hoặc để phòng bị không bị lộ là người cộng tác với chế độ Quốc Xã. Xô Viết có nhiều cơ hội đẻ hăm dọa hơn vì họ nắm giữ những hồ sơ của Quốc Xã, và sai khiến những người này chẳng hạn như cựu chiến binh SS Heinz Felfe, đã từng giữ chức vụ Obersturmführer (* ldg : tương đương với cấp Trung Úy) trong tổ chức tình báo Quốc Xã, Cơ Quan An Ninh Quốc Gia (Reichssicherheitshauptamt), và làm việc với Tổ Chức của Gehlen thời hậu chiến. Felfe đã trở thành gián điệp nhị trùng của Xô Viết, tiết lộ tất cả những thành quả của cơ quan tình báo Tây Đức cho Moscow và đã gây thiệt hại không thua những gián điệp nhị trùng có tầm cỡ như Kim Philby, George Blake và Aldrich Ames.

*

Một trong những cơ hội đầu tiên của chúng tôi để xam nhập các cơ quan của Đồng Minh là nhờ vào tình báo Đảng Cộng Sản ở Đức. Vào thế kỷ thứ mười chín phong trào Dân Chủ Xã Hội Đức đã tổ chức những nhóm bí mật để đối phó với sự đàn áp của Kaiser. Đảng Cộng Sản Đức (Kommunische Partei Deutsclands hoặc gọi tắt là KPD) đã được tôi luyện bởi những đối xử hà khắc thô bạo của chính quyền (lịch sử khởi đầu của họ đã ghi khắc việc tàn sát những đảng viên Spartacist Rosa Luxemburg và Karl Liebnecht), bắt chước các đảng viên Dân Chủ Xã Hội bằng cách phát triển hệ thống tình báo riêng của họ. Cơ cấu này đã tạo mối liên hệ chặt chẽ với cấp lãnh đạo của Comintern tạiMoscowvà các cơ quan tình báo tại đây.

Đầu não đứng sau hệ thống tình báo của Đảng vào thế kỷ thứ hai mươi là Ernst Schneller, bị ám sát năm 1944 do lệnh của Hitler, và Hans Kippenberger, mà sau này được biết là bị giết năm 1937 do lệnh của Stalin. Hệ thống này, chuyên thu thập những tin tức khoa học kỹ thuật và quân sự để chuyển cho Liên Bang Xô Viết, là nguồn cung cấp tin tức, vào thời Hitler cầm quyền, cho hệ thống tình báo danh tiếng Rote Kapelle – dịch sang tiếng Anh gọi là “Dàn Hòa Tấu Đỏ”.

Dàn Hòa Tấu Đỏ là một trong những tổ chức kháng chiến lớn nhất. Một vài thành viên trong đó là Cộng Sản, và một phần ít ỏi là những nhân viên của các cơ quan tình báo Xô Viết (NKVD và GRU, quân báo).

Tem thư kỷ niệm Ernst Sneller

năm 1960 ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức

Thử thách đầu tiên tôi phải đương đầu là kiểm nghiệm năng lực xây dựng một hệ thống tình báo Cộng Sản mới. Tôi sớm biết hệ thống mới đặt trên con đường hệ thống cũ không thể nào tin tưởng được. Đặc biệt người Anh đã khéo đánh tráo một số những đảng viên cộng sản trước đây là những tù binh chiến tranh. Họ cũng đã vô cùng thành công trong việc đánh tráo một vài người Cộng Sản di dân thời chiến cũng như nhiều điệp viên mới trẻ của hệ thống tình báo mới thành lập này.

Một ví dụ điển hình để thấy hệ thống mới này đã bị lũng đoạn là trường hợp của Merkur, tên thật là Hans Joachim Schlomm. Tôi được biết đến đương sự trong lúc kiểm soát trong núi hồ sơ, phần đông chưa được đối chiếu, để tìm những đầu mối trong những cơ quan tình báo của Tây phương. Tôi nghiên cứu những hồ sơ cho biết đương sự có liên hệ với phản gián Tây Đức, được mệnh danh là Văn Phòng Bảo Vệ Hiến Pháp (Bundesamt für Verfassungsschutz, BfV), đặt trụ sở tạiCologne. Đương sự cũng có nhiều mối liên hệ với giới hoạt động chính trị tạiBonn. Những báo cáo của đương sự về cho Đảng gây ấn tượng mạnh vì có nhiều chi tiết, đa dạng và sâu sắc, trong đó có cả những thông tin nội bộ của các đảng phái chính trị trong quốc hội Tây Đức, những hồ sơ mật của bộ ngoại giao và các bộ khác. Trên bề mặt, đương sự có vẻ như là một nguôn tin lý tưởng, vì vậy tôi phái người đi tìm đương sự ở Schleswig –Holstein, theo như hồ sơ cho biết chỗ ở của đương sự. Merkur nói rằng y đã kiên nhẫn chờ đợi cú điện thoại của chúng tôi và không chút ngần ngại chấp nhận lời mời để đến Bá Linh. Đương sự là điệp viên đầu tiên của tôi.

Đương sự đến nhà an toàn đúng giờ hẹn tại một biệt thư ở ngoại ô Bá Linh. Dáng người cao ốm, độ chạc ba mươi tuổi, đương sự có vẻ thích hợp với nghề nghiệp của mình, nghề của một kỹ sư điện. Đương sự giải thích đương sự đã cộng tác với Đảng Cộng Sản khi con là sinh viên ở đại học Hamburg, làm việc cho cơ quan tình báo của Đảng, và theo lệnh đảng đã gia nhập tổ chức thanh niên cánh hữu, cuối cùng đến làm thư ký cho Bác Sĩ Fritz Dorls tại Bonn. Rồi tôi hỏi đương sự khá lâu, nhưng có nhiều điều lạ; những câu trả lời của y về những người y nói y quen biết không phụ hợp với những lời ghi trong hồ sơ. Chúng tôi đưa y trở về Tây Bá Linh và mời y đến lại ngày hôm sau. Tôi lại dở xem những hồ sơ của y.

Khi y trở lại, tôi đóng vai trò người trí thức và Szinda, kẻ thô bạo. “Đủ rồi, đồ khốn nạn”, Szinda nói để báo hiệu là không còn đủ kiên nhẫn với anh điệp viên tiềm năng này. Khi những mâu thuẫn trong những lời khai man của y bị lột trần, Merkur cuối cùng nhận là đầu năm 1948 y đã được tình báo Anh cài vào tổ chức tình báo Cộng Sản, hiện nay y vẫn tiếp tục làm việc cho họ và những hồ sơ y cung cấp là những hồ sơ do họ cài đặt.

Cuộc điều tra được giao phó cho Erich Mielke, người số hai làm việc tại Bộ Công An (được thành lập vào ngày 8 tháng Hai năm 1950) và là cấp lãnh đạo tại đây, vốn nghi ngờ cơ quan của chúng tôi vì ông nghĩ nó cạnh tranh với bộ của ông. Ông này là một tay Stalin-nít kỳ cựu thô bạo và không mấy ưa thích Szinda từ những ngày còn là đồng chí thời Nội Chiến Tây Ban Nha, và ông cũng chẳng ưa gì tôi. Mielke bắt giam Merkur vì tôi gián điệp nhị trùng và đem ra xử án, kết quả là án lệnh chín năm tù ở.

Trường hợp của Merkur gây báo động không những ở Tây phương mà ngay cả trong cơ quan của chúng tôi. Chúng tôi kết luận từ những cuộc thẩm vấn và lời khai của y là y biết quá nhiều về tổ chức tình báo của Đảng Cộng Sản và những mối liên hệ của tổ chức này với các tổ chức khác, nhiều hơn mức độ của điệp viên ngụy trang. Ở thời điểm này chúng tôi nhận thức là chúng tôi phải kiểm tra lại tất cả mọi người trong các nhóm tình báo Cộng Sản bí mật, mà tổng số lên đến từ bốn mươi đến năm mươi người. Giống như để kết hợp những mẩu hình ghép, tôi bắt đầu hỏi những những sĩ quan giao liên và những người chuyển thư đã được gởi sang Tây Đức từ nước CHDCĐ, để cho những mối nghi ngờ không bị đánh điên đi cho chính các điệp viên. Những gì họ nói cho tôi biết về những vi phạm nguyên tắc trong công tác bí mật làm cho tôi nghi ngờ có nguy cơ bị xâm nhập.

Do đó tôi ngồi vào bàn và bắt đầu vẽ một sơ đồ những mối liên lạc ngang và chéo trong những hệ thống tình báo hiện có, nó giống như một màng nhện khổng lồ. Với kỹ năng của một kỹ sư hàng không kinh nghiệm, tôi thảo cái mà tôi gọi là “màng nhện” trên một trang giấy. Trên sơ đồ tôi liên kết tất cả các thư tín viên, các nhà an toàn, và những điều tương tự. Tôi tô màu đỏ những điệp viên tình nghi là nhị trùng, màu xanh dương những nguồn tin và màu xanh lá cây các điệp viên thường trú. Những đường vẽ và những ô vuông cũng ghi dấu những trường hợp đáng nghi hoặc những mối liên lạc đáng nghi với tổ chức địch. Đối với những người không hiểu biết, sơ đồ chẳng có ý nghĩa gì cả, nhưng đối với tôi, nó bắt đầu làm rõ nét khả năng khai triển và đào xâu công tác của chúng tôi. Có được một hình ảnh rõ rệt để tìm hiểu cơ quan này đã bị xâm nhập sâu đậm như thế nào là một điều cần thiết.

Tôi cuối cùng kết luận là nếu các cơ quan tình báo Tây phương muốn, họ có thể tiêu diệt toàn bộ hệ thống này. Trên mặt thực tế, họ chưa chắc đã khôn ngoan hoặc hữu hiệu như vậy, nhưng nguy cơ vẫn còn đó, đặc biệt đối với đảng Cộng Sản nếu hệ thống tình báo cũ bị cài ngược hoặc bị bại lộ. Vì vậy tôi quyết định tốt hơn hết là giải tán hệ thống này và bỏ rơi những mối liên hệ với điệp viên Cộng Sản ở Tây Đức.

Sơ đồ màng nhện của tôi được cuộn lại và kẹp dưới nách, tôi xin hẹn gặp Walter Ulbricht, là người phụ trách về tất cả các cơ quan tình báo vào lúc đó. Tôi nhấn mạnh về tính cách bí mật tuyệt đối về những gì tôi báo cáo cho ông. Thay vì gọi tôi vào văn phòng của ông, ông mời tôi đến nhà ông ở khu Pankow, nơi mà người Đông Đức không thích mấy và họ gọi là “thành phố nhỏ”. Những căn phòng của nhà lãnh đạo cho thấy sở thích của một anh thợ mộc chuyên nghệ ưa chuộng những đồ đạc rắn rỏi của giới trung lưu, có trạm trổ.

Tôi trải sơ đồ lên trên bàn ăn của ông Ulbricht và trình bày những khám phá của tôi trong từng chi tiết. Với sự đồng ý của Ackermann, tôi đã nói chuyện trước khi tôi đến đây, tôi quyết định cắt đứt tất cả mối liên lạc với hệ thống tình báo Cộng Sản tại Tây Đức và loại tất cả những điệp viên có ít nhiều dính líu đến nó. Sự kiên chính quyền Tây Đức đã chuẩn bị đặt đảng Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật – cuối cùng việc này bị xét là vi hiến vào năm 1956 – giữ một vai trò quan trọng trong những tính toán của chúng tôi. Ulbricht chấp nhận lợi đề nghị của tôi, và từ đó trở đi Đảng Cộng Sản Quốc Gia Đức ở Tây Đức là vùng cấm địa của cơ quan chúng tôi, cũng như tổ chức kế tục Đảng Cộng Sản Đức được thành lập trở lại năm 1968 vào thời buổi tư do hơn.

Năm 1952 chúng tôi triệu hồi tất cả điệp viên về, ngay cả những người Cộng Sản trung kiên nhất cũng bị cô lập trong một loại “giam biệt thự” và bị tra khảo gắt gao. Thiên hạ thường hỏi chúng tôi dùng phương pháp gì trong những trường hợp như vậy. Đây là một loại áp lực tâm lý trên những người đàn ông và đàn bà đã gắn liền căn cước và lòng tự trọng bản thân với tinh thần liên thuộc vào một nhóm cùng chung một lý tưởng. Khi thình lình lòng tín nhiệm này không còn nữa, áp lực tâm lý trở nên gay gắt hơn. Ở đây không cần phải đe dọa hoặc trình lệnh để bắt họ. Nói chuyện với họ và coi họ như những kẻ tình nghi và giám sát những lời khai của họ cũng đủ để cho chúng tôi biết là họ vô tội và chúng tôi không thấy một điệp viên nhị trùng nào khác. Lẽ cố nhiên, vấn đề cài đặt họ lại ở Tây Phương không được đặt ra. Họ được cảnh báo không nên tiết lộ những gì đã xảy ra. Tất cả mọi người đều giữ lời hứa đưng như tư cách của những đồng chí tốt.

Có một vài người đã có chiến công hiển hách chống lại Quốc Xã. Một người đã từng ở chung trại với cha tôi ở bên Pháp; chúng tôi cô lập đương sự trong một căn phòng trong nhiều tuần và sau đó đánh tan mọi nghi ngờ đối với đương sự.

Năm 1956, sau khi Khrushchev đọc bài diễn văn bí mật trong Đại Hội Đảng lần thứ Hai Mươi, chúng tôi phục hồi danh dự cho phần lớn những đồng chí đã bị triệu hồi này, trao cho họ huy chương và huân chương. Bruno Haid, đã từng chiến đấu với kháng chiến Pháp thời chiến và đã bị triệu hồi và phái đến một cơ xưởng tạiKarl-Marx-Stadtđể làm một công chức nhỏ và sau đó được phong chức phó ủy viên công tố của nước CHDCĐ. Ông tố cáo tôi đã dùng những phương pháp thô bạo gợi lại việc Lavrenti Beria, tổng giám đốc mật vụ của Stalin, phá vỡ hệ thống của Đảng – điều tôi không làm – nhưng cuối cùng, nếu không muốn nói là miễn cưỡng, ông chấp nhận quan điểm của tôi khi ông được biết trường hợp của gián điệp nhị trùng Merkur.

Một vài nguôn tin “bảo tồn” của chúng tôi không bị triệu hội và sau đó được phục hoạt, tuy nhiên vẫn phân cách hoàn toàn không hề liên hệ với những đường dây mới. Tại sao chúng tôi làm việc này? Đơn giản thôi, chúng tôi khám phá việc xâm nhập không có sâu đậm như chúng tôi lo sợ. Tây phương không có những phép lạ an ninh như chúng tôi.

 (Còn tiếp)

ồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 7 (Markus Wolf)                           

 “..chúng tôi tìm cách thích ứng lý tưởng của chúng tôi với những hành vi bẩn thỉu bởi vì Hoa Kỳ và Đồng Minh Âu châu đang tìm cách phá hủy những nỗ lực xây dựng xã hội chủ nghĩa của chúng tôi trên đất nước Đức…”

Chương 4

Cộng Hòa Dân Chủ Đức lớn mạnh và tôi lớn theo

Tháng Chạp năm 1952, tôi nhận được thơ của Walter Ulbricht, lãnh tụ Đông Đức, ra lệnh vời tôi về cao ốc của Ủy Ban Trung Ương, nằm trên giao điểm nhộn nhịp đường Lothringer Strasse (sau này trở thành Whilhelm Pieck Strasse) và đường Prenzlauer Allee tại trung tâm của Đông Bá Linh, không xa quảng trường Alexanderplatz. Tại cổng ra vào tôi nhận giấy phép thông hành, người canh gác cửa cẩn thận xem xét căn cước của tôi, mặc dù vấn đề an ninh không chặt chẽ và cao ốc không đồ sộ như tại Bộ Tham Mưu sau này được đặt tại Werderscher Markt. Mặc dù vậy, người ta cũng cảm nhận được sự lớn mạnh của thành phần ưu tú nhưng sau này tự cô lập với quần chúng.

Tôi trình diện tại văn phòng chờ đời của Ulbricht. Ông đang họp, sau một thời gian ngắn ông xuất hiện, ăn mặc gọn ghẽ với hàm râu dựng đứng. Ông mời tôi sang văn phòng kế cận với văn phòng của vợ ông, bà Lotte, một cộng sự viên thân tín nhất. Tôi biết rõ bà khi chúng tôi làm việc chung tại Đài Phát Thanh Nhân Dân Đức tạiMoscow. Bà ân cần chào hỏi tôi. Ulbricht mời tôi ngồi và ra dấu cho bà vợ đi ra. Tôi đã gặp ông nhiều lần và ông hay đùa bỡn, nhưng sau đó đi thẳng ngay vào vấn đề. Đó là phong cách của ông: Ngắn gọn, theo cung cách thương gia, tập trung vào những nét chính và không bao giờ nhìn thẳng người đối thọai. Thản nhiên, Ulbricht báo cho tôi biết Anton Ackermann, người đứng đầu cơ quan tình báo hải ngọai từ khi thành lập, xin từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Tôi biết tình trạng sức khỏe của Ackermann không phải là lý do chính, nhưng Ulbricht bất tín nhiệm Ackermann vì Ackermann nói đến “con đường xã hội chủ nghĩa Đức” riêng biệt, khác với khuông mẫu Xô Viết. Ulbricht có khả năng đánh bật Ackermann vì Ackermann bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, điều cấm kị trong môi trường thanh khiết Đông Đức vào những thập niên 1950.

Ulbricht nói: “Chúng tôi nghĩ anh phải đứng ra quản lý cơ quan”. Danh từ “chúng tôi” mang tính cách kẻ cả – hoặc, chính xác hơn, “chúng tôi” có nghĩa là cấp lãnh đạo Đảng. Ông không hỏi tôi nghĩ thế nào về khả năng của tôi với chức vụ và cũng không muốn bàn luận xa hơn nữa.

Tôi hầu như bị bất ngờ. Tôi chưa đầy ba mươi tuổi và tôi chẳng có một địa vị nổi bật nào trong cơ cấu thứ bậc của Đảng. Tôi hỏi Ulbricht cơ quan tình báo hải ngọai báo cáo thế nào cho cấp lãnh đạo đảng và ông trả lời tôi có trách nhiệm trực tiếp với ông.

Không đầy mười lăm phút sau, tôi đã bách bộ ngoài đường, đầu óc lùng bùng. Khi tôi trở về văn phong của tôi, Richard Stahlman, xử lý thường vụ cơ quan từ lúc Ackermann từ nhiệm, đang chờ đợi tôi. Tôi băn khoăn về thái độ của ông; một người có trọng lượng và kinh nghiệm như ông ta không thể nào chuyển nhượng quyền lực cho một tên trẻ tuổi mới tập tễnh một cách tầm thường như vậy được. Nhưng ông lại tươi cười một cách sảng khoái khi ông mở tủ sắt kín và trao cho tôi một số hồ sơ bên trong; giấy tờ không bao giờ là sở trường của ông và công việc hành chánh này sẽ là một phần quan trọng trong việc làm của tôi. Ông lướt chìa khóa trên bàn về phía tôi và nói: “Tất cả những thứ này là của anh. Chúc anh may mắn. Tôi sẽ có mặt khi anh cần đến tôi”. Lòng tôi đầy hãnh diện khi tôi vội bước ra ngoài đi mua một bộ quần áo mới để khởi sự ngày đầu tiên ngồi vào bàn làm việc to lớn.

Lý do họ tuyển chọn tôi chỉ sau mười sáu tháng làm việc tại cơ quan tình báo cho đến nay tôi vẫn không rõ. Nhưng Công Hòa Liên Bang Dân Chủ mới chỉ được thành lập vào tháng Mười năm 1949 và tất cả các quan chức phải học hỏi ngay trong khi làm việc. Ackermann dường như đã đề nghị tôi làm người kế vị ông và tôi đoan chắc việc cất nhắc của tôi liên quan mật thiết với những mối liên hệ của tôi vớiMoscow. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao tôi chấp nhận chức vụ này trong một cơ quan nằm trong một cơ cấu đàn áp. Trước tiên, tôi nghĩ rằng cơ quan tình báo không phải là một bộ phận trong cơ cấu đàn áp. Và việc từ chối không thể biện bạch được vì tinh thần trách nhiệm của tôi, vì kỷ luật của Đảng và vì nhu cầu của chiến tranh lạnh.

Một trong những lời trách móc rất thường xuyên được đề cầp từ phía Tây về phong cách của chúng tôi trong những thập niên 1950 là chúng tôi không thể nào đui mù không thấy những gì đã xây ra trong thời gian thanh trừng tại Moscow vì chúng tôi đã thấy những dấu hiệu trải qua những năm tháng kinh nghiệm tại đây. Điều này không đúng. Kinh nghiêm sống tạiMoscowcủa chúng tôi lại có tác dụng trái ngược. Trong đầu óc chúng tôi chúng tôi luôn có những bào chữa: Stalin phải tỏ chí phục thù vì ông đang chiến đấu chống một kẻ thù man rợ. Chúng tôi không bao giờ chấp nhận quy mô dối tra dàn dựng tại Liên Bang Xô Viết trong thập niên 1920 và 1930, vì vậy chúng tôi không nhận ra những dối trá, những nửa sự thật và những đòn trả thù đi kèm theo nỗ lực của chúng tôi để bảo toàn những thắng lợi chiến lược của Liên Bang Xô Viết tại Đông Đức.

Trái lại chúng tôi tìm cách thích ứng lý tưởng của chúng tôi với những hành vi bẩn thỉu bởi vì Hoa Kỳ và Đồng Minh Âu châu đang tìm cách phá hủy những nỗ lực xây dựng xã hội chủ nghĩa của chúng tôi trên đất nước Đức. Và tịnh huống viện cớ cứ tiếp tục như vậy, cho đến khi chúng tôi thức tỉnh ra khỏi cơn mê năm 1989. Tôi vẫn phủ nhận thái độ quyết đoán cho rằng chế độ chúng tôi hoàn toàn dựa trên sự Dối Trá, nhưng tôi phải công nhận phần lớn nó được xây dựng trên những bào chữa.

Khi tôi đứng ra lãnh đạo cơ quan tình báo hải ngoại, Ulbricht trực tiếp kiểm soát trong vòng nửa năm. Mùa Xuân năm 1953, cơ quan được đặt dưới quyền của Wilhelm Zaisser, một ủy viên của Bộ Chính Trị và đồng thời lãnh đạo Bộ Công An Nhà Nước. Ông có một quá khứ khiến mọi người Đông Đức phải kính phục. Trước Thế Chiến Thứ Hai, ông tổ chức những công tác mật tại Trung Hoa và điều khiển Quân Đoàn 11 Quốc Tế tại Tây-ban-nha. Ông Zaisser và tôi làm việc nhịp nhàng với nhau, có nghĩa là ông phó mặc hoàn toàn công việc cho tôi. Ông chỉ dành cho tôi một tiếng đồng hồ mỗi tuần và thời gian qua mau tôi không kịp trình bày những ưu tư của tôi. Là một sinh viên đam mê học thuyết Mác-xít, ông thích bàn thảo về các vấn đề chuyển ngữ tuyển tập Lê-nin sang ấn bản mới tiếng Đức, mà ông phụ trách in đăng hơn là nghe báo cáo của tôi. Những bản thảo thường nằm đầy trên bàn của ông thay vì những báo cáo tình báo.                                        

Ngay sau lễ Phục Sinh năm 1953, quả bom đầu tiên trong nghề nghiệp của tôi nổ. Một biến cố sau này mọi người được biết đến là vụ Vulkan (Vulkan, tiếng Đức có nghĩa là “núi lửa”). Gotthold Kraus, làm việc trong đơn vị tình báo kinh tế của chúng tôi, trở thành nhân viên đào thoát đầu tiên của chúng tôi. Tôi xem việc này như một thất bại cá nhân lớn khiến cho tôi khám phá cơ quan chúng tôi còn kém cẩn mật. Hơn nữa, y ra đi vào ngày nghỉ cuối tuần và sự vắng mặt của y không ai để ý trong vòng nhiều ngày. Cơ quan phản giản Tây Đức có thời gian rộng rãi để khai thác những gì y biết về những điệp viên Đông Đức trên lãnh thổ của họ và bắt họ trước khi chúng tôi biết họ gặp nguy, chưa nói đến việc triệu hồi họ về. Franz Blücher, Phó Thủ Tướng Tây Đức, tuyên bố trong một cuộc họp báo ba mươi lăm điệp viên đã bị bắt nhờ thông tin của Vulkan. Con số này thái quá vì không một viên chức nào có thể biết danh tính của quá nhiều điệp viên họat động trên đất địch. Hóa ra phản gián Tây Đức, quá hồ hởi vì lần đầu tiên đã bắt được một mẻ lớn, quơ vào lưới một số thương gia vô tội buôn bán với Đông Đức nhưng họ chắc chắn không phải là gián điệp.

Tuy nhiên chúng tôi phải trả giá đắt vì sự phản bội của Gotthold Kraus: ít nhất nửa chục điệp viên họat động toàn thời bị bắt, trong đó có Andrew Thorndike, một nhà làm phim tài liệu có tài mà chúng tôi mượn nghề nghiệp để làm bình phong cho những họat động gián điệp của ông. Ông xuất thân từ giòng họ nổi tiếng thuộc hiệp hội buôn bán Hanse và qua những mối liên hệ của ông chúng tôi tìm cách xâm nhập các câu-lạc-bộ có thế lực chính trị và kinh tế vùngHamburg. Vào lúc đó ông không có mặt tại Tây Đức nhưng ông ở Đông Đức, ông bị bắt vì một trò lừa thường tình: Phản gián Tây Đức gởi cho ông điện tín báo bà cô bị đau ốm. Ông đi sang Tây Đức và ông bị bắt. May mắn cho ông, họ không có bằng chứng về những họat động của ông và được thả ra. Ông về Đông Đức và sống cuộc đời thanh bạch quay phim ở phía bên này biên giới. Zaisser khiển trách tôi một cách nhẹ nhàng: “Mischa này, anh cần phải học hỏi nhiều hơn nữa”.

Vào những ngày tháng sau này chúng tôi ráo riết tổ chức lại toàn bộ công tác trên những đường dây hữu hiệu hơn. Việc tìm kiếm những thí sinh thích ứng và đáng tin cậy xem ra khó khăn và tốn kém. Điều tra về mức độ tín cẩn chính trị, những mối liên hệ cá nhân và tính tình của họ đòi hỏi thời gian. Chúng tôi tìm kiếm những công dân trẻ, có động cơ chính trị, có quyết tâm với xã hội chủ nghĩa và tin tưởng vào sứ mạng phục vụ đất nước và chính nghĩa. Chúng tôi không quan tâm cho dù các thí sinh có họ hàng bên Tây Đức, trái ngược với chính sách tuyển dụng các sĩ quan tại tổng tham mưu, họ bị loại trừ nếu họ có họ hàng. Trên thực tế, họ hàng bên Tây Đức xem ra hữu dụng để giúp các điệp viên không phải qua các trại tị nạn để vào Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Mỗi một điệp viên được một người phụ trách công tác tương lai huấn luyện theo từng cá nhân, và có thêm phần huấn luyện đặc biệt nếu đó là mục tiêu khoa học và kỹ thuật. Một khi đã vào được Tây Đức, các điệp viên thường bắt đầu công tác qua một thời gian âm thầm lao động tay chân để vượt qua hàng rao hành chánh và lập nghiệp tại Tây Đức. Vì vậy chúng tôi lựa chọn những thí sinh có tay nghề sành sỏi hoặc có kinh nghiệm thực tiễn trong ngành nghề. Hầu hết tất cả các sinh viên và khoa học gia mới tập tễnh di cư sang Tây Đức vào những năm đầu đều kiếm được việc làm trong các công sở nghiên cứu họăc các hãng mà chúng tôi để tâm đến – các cơ sở nghiên cứu hạt nhân của chính quyền liên bang tại Jülich, Karlsruhe và Hamburg; viện Batelle Institute tại Frankfurt, được Hoa Kỳ xây dựng; Siemens, hãng điện tử lớn nhất của Đức; hãng IBM Đức hoặc hãng hóa học khổng lồ Đức BASF, Hoechst và Bayer. Vì chúng tôi dự kiến các nhà sản xuất vũ khí truyền thống của Đức – sau cơn bão tố về việc quân sự hóa nước Đức lắng động – có thể sẽ tiếp tục sản xuất những trang bị quân sự, nên chúng tôi cũng cài người vào các hãng như Messerschmidt và Bölkow.

Có một vài điệp viên của chúng tôi đã len lỏi vào những cơ quan rất chặt chẽ về mật an ninh bảo mật, một số khác nắm chức vụ quản lý với lương bổng rất cao. Chúng tôi cũng khai thác các mối liên hệ chính thức và cá nhân giữa các khoa học gia của hai vùng nước Đức. Vấn đề cũng đơn giản vì khuynh hướng lúc bấy giờ khiến cho họ cảm thấy bất an về hiểm họa vũ khí hạt nhân, sinh trùng và hóa học. Những ai đã từng cực kỳ xúc động vì những hệ lụy trong việc nghiên cứu vũ khí hạt nhân trong thời chiến, họ đặc biệt là những đối tượng tốt của nhân viên chúng tôi.

*

Cái chết của Stalin vào tháng 3 năm 1953 là một chấn động lớn đối với khối chính trị Cộng Sản, khởi sự cho một cuộc chiến tranh giành quyền lực tại điện Cẩm Linh và tạo nên bất ổn trong giới lãnh đạo của các nước trong khối Đông Âu. Phản ứng của tôi, cũng như phản ứng của mọi tín đồ của Stalin, là một nỗi buồn vô hạn pha lẫn với cảm giác hỗn độn ngổn ngang. Chúng tôi sống quá lâu dưới sự hướng dẫn của Stalin nên cuộc sống sau cái chết của ông khó mà mường tượng.

Ulbricht hy vọng vào thắng lợi của các lực lượng cứng rắn nhất trong các lực lượng cứng rắn thân cận Stalin. Để có được sự hỗ trợ của thể chế mới, ông nhất nhất theo đuổi chính sách “tiến nhanh lên xã hội chủ nghĩa”, có nghĩa là sưu thuế cao và trợ cấp xiết chặt, khiến cho các xí nghiệp tầm cỡ nhỏ bị đình trệ và các xí nghiệp tự túc khánh tận. Các nông trại và các hãng nông nghiệp phải điêu đứng vì phải thình lình theo chiều hướng kinh tế xã hội chủ nghĩa toàn diện. Sinh họat tôn giáo của giáo hội Công giáo sau đó bị đình chỉ.

Chính sách này gặp sức kháng cự mãnh liệt. Các nông dân và các nhà sản xuất nhỏ phản ứng bằng cách làm việc không có hiệu năng hoặc, nếu họ thoát tội, chẳng làm gì cả. Tháng Chạp năm 1952, Thủ Tướng Đông Đức, Otto Grotewohl, cảnh báo nguy cơ thiếu hụt thực phẩm và những gia dụng cần thiết. Nhưng Ulbricht chẳng thèm để ý. Ông đánh giá những kháng cự chống lại kế hoạch của ông qua lăng kính của chủ nghĩa Stalin chân chính, theo đó cuộc đấu tranh giai cấp sẽ gia tăng cường độ và tốc độ khi những thay đổi chuyển dứt khóat sang xã hội chủ nghĩa.

Vào mùa Xuân năm 1953, lệnh gia tăng chỉ tiêu 10 phần trăm trong sản xuất được ban hành cho các nhà máy, công xưởng và công trường xây cất lớn, kèm theo giá cả tăng vọt của các lọai thực phẩm căn bản. Không chịu đựng được gánh nặng của những biện pháp bất công đặt để từ trên xuống, quần chúng bắt đầu than phiền công khai tại các hàng quán và các cơ xưởng. Bốn tháng đầu năm 1953, hơn 120.000 người trốn chạy Đông Đức. Điều này cũng xảy ra ba mươi sáu năm sau, năm 1989; trong cả hai trường hợp, giới lãnh đạo quá sơ cứng để phản ứng trước cảnh đào thoát và không làm gì hơn ngoài việc oai dũng trách móch. “Chúng ta sẽ trong sạch hơn khi bọn kẻ thù giai cấp ra đi”, Ulbricht nghe đâu đã nhận định như vậy khi các công nhân cơ xưởng, các giáo viên, các kỹ sư, các bác sĩ và các y tá gia nhập đoàn người ra đi.

Lo ngại cho sự bất ổn có thể dẫn đến sự xụp đổ hoàn toàn của quốc gia Đông Đức và bực dọc vì sự cứng đầu của Ulbricht,Moscowcan thiệp. Lavrenti Beria, lúc đó đang tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo sau cái chết của Stalin, đảm trách việc soạn thảo một tài liệu nhan đề “Biện Pháp Để Cải Thiên Tình Trạng tại Nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức”. Sự kiện điện Cẩm Linh thú nhận tình trạng này trong khối Đông Âu xét ra ngày nay là một thú nhận đáng ngạc nhiên trước thời kỳ “glasnost” khá lâu.

Giống như những cậu học trò ngỗ nghịch, giới lãnh đạo của Bộ Chính Trị chúng tôi được mời sangMoscowvà được lệnh phải đem ý kiến của Beria ra thực hành sớm chừng nào hay chừng đó. Điều này có nghĩa là phải khuyến khích các xí nghiệp nhỏ, bỏ rơi kinh tế điều khiển của Ulbricht và nới rộng những hạn chế hà khắc chẳng hạn như đối với những «kẻ thù nội tại » của chủ nghĩa, trí thức tiến bộ và giáo hội Công Giáo. Mặc dù giới lãnh đạo Đông Đức không lấy gì làm hứng thú, mục đích của Beria là nuôi béo Đông Đức để bán cho Tây Đức hầu nước Đức có được quy chế trung lập họăc ngay cả quy chế phi quân sự.

Từ những ngày đầu cho đến cuộc nổi dậy năm 1953 tại Đông Bá Linh, tôi nghỉ mát tại Biển Baltic, đọc tiểu thuyết Hemingway và chơi đùa với các con. Đối với cấp lãnh đạo của một cơ quan tình báo thú nhận điều này không lấy gì làm xây dựng cho lắm. Những ngày nghỉ hiếm hoi này có được là nhờ sự can thiệp của Wilhelm Zaisser, cấp trên của tôi. Ông gay gắt với tôi khi tôi thúc dục rất nhiều lần về tình trạng tài chánh nghèo nàn của cơ quan tình báo hải ngoại.

“Mischa, có những điều quan trọng đang diễn ra ngay lúc này”, ông nói và rồi để xoa dịu “Anh đã không lấy ngày nghỉ từ bao lâu rồi? Anh lái xe đến Nhà Nghỉ Mát Xanh, rồi chúng mình sẽ tính”.

Thật là một vinh dự lớn cho tôi khi tôi được mời đến Nhà Nghỉ Mát Xanh tại Prerow, nơi bồi dưỡng của Bộ An Ninh trên vùng biển Baltic. Tại đây, trong ngôi biệt thự dacha khang trang của chính phủ, tôi được biết đến lời thú nhận hoảng hốt đầu tiên của Bộ Chính Trị ngày 16 tháng 6. Đó là một bản thông báo trong đó cả Bộ Chính Trị lẫn chính phủ chấp nhận sai lầm trầm trọng và tuyên bố thay đổi ngược lại tất cả những biện pháp gia tăng sản xuất và giá cả thực phẩm. Đầu tư vào kỹ nghệ nặng bị cắt giảm, sản xuất sản phẩm tiêu dùng gia tăng và các cơ sở tư nhân đã bị chính sách khắc nghiệt của Ulbricht buộc phải đóng cửa nay được phép mở lại. Đây là một bước ngọăt chữ U của Ulbricht, nhưng đã quá trễ.

Vào sáng ngày 17 tháng Sáu, Đài Phát Thanh Khu Vực Hoa Kỳ (Radio in the American Sector – RIAS) thông báo các công nhân xây cất đang tiến từ đại lộ Stalinallee đến Dinh Các Bộ (cũng là nơi trước đây Bộ Hàng Không của Hermann Goering tọa lạc thời Đức Quốc Xã). Các công nhân đòi hủy bỏ những chỉ tiêu mới trong sản xuất kỹ nghệ và cải thiện lương bổng và điều kiện làm việc. Tòa nhà được cảnh sát ngăn rào và tình thế rất là căng thẳng. Các công nhân đình công mời gọi Ulbricht và Grotewohl. Fritz Selbmann, Bộ trưởng Bộ Kỹ nghệ, xuất hiện để chấn an đám đông, nhưng vô hiệu quả.

Có những ý kiến khác nhau về mức độ can thiệp của cơ quan tình báo Tây Âu, nói cho chính xác hơn các mặt trận Tây Đức hàng đầu do Hoa Kỳ hỡ trợ, vào việc xúi giục cuộc nổi dậy này. Đã có những xâm nhập trong các xí nghiệp và cho những ai mong muốn sự sụp đổ của Tây Đức, đưa đến thống nhất hai nước, theo diễn biến của những ngày này đây là một cơ hội lớn. Nhưng ở đây lối quản lý kinh tế tồi dở của Đảng và tính chất lãnh đạo đàn áp của Ulbricht đã khiến dẫn đến tình trạng này. Ulbricht sau đó cũng cố gắng muốn xuất hiện, nhưng ông không đương đầu với đám biểu tình, lúc đó đang gào thét “Đả đảo Spitzbart!” (Đả đảo Râu nhọn!), họ liên tưởng đến chòm râu cằm nhọn của ông, trau truốt theo kiểu Lê-nin. Ông lựa cách xuất hiện tương đối an toàn hơn trong một cuộc hội họp với các thành phần họat động để trả lời; tại đây phong cách cục mịch độc đoán của ông biến mất, ông tỏ ra lập lững và thiếu tập trung.

Đến chiều tối, Đài Phát Thanh Vùng Hoa Kỳ đóng vai trò điều hợp các biến chuyển, kêu gọi biểu tình và thông báo rõ thời điểm và địa điểm. Các hãng xưởng lần hồi gia nhập cuộc đình công. Đoàn người biểu tình kéo nhau về công trường Postdamer Platz của Bá Linh, nơi cả bốn vùng kiểm soát của Đồng Minh gặp nhau. Từ phía Tây, những nhóm gào thét đòi lật đổ chế độ Cộng Sản cũng đang tiến đến CổngBrandenburg. Một giờ chiều, quản trị viên Xô Viết của thành phố tuyên bố thiết quân luật và xe tăng di chuyển vào thành.

Tôi quyết định trở về Bá Linh. Khi tôi đến gần thành phố Neustrelitz, khoảng giữa đường từ bờ biển Baltic đến Bá Linh, xe của chúng tôi bị quân đội Xô Viết chặn tại một đọan đường. Thẻ căn cước đặc biệt của tôi tỏ ra vô dụng. Mặc dù chúng tôi phản đối, chúng tôi bị giam giữ với các “phần tử đáng nghi” trong một căn phòng của trạm kiểm soát. Tại đây tôi rủa thầm vài tiếng đồng hồ và tự hỏi ai là người quản lý thực sự phần đất này của nước Đức. Nhờ về kiến thức tiếng Nga, trong đó có cả những tiếng lóng nặng nề, cuối cùng tôi được phép nói chuyện với cấp chỉ huy, tự giới thiệu mình một cách minh bạch và tiếp tục cuộc hành trình.

Sau đó tôi về đến nhà tại khu Pankow của Đông Bá Linh, khu vực thành phố nơi cấp lãnh đạo ở. Các công nhân từ Bergmann-Borsig, một tập đoàn sản xuất các máy móc dụng cụ lớn dùng cho kỹ nghệ nặng và vật liệu gia dụng, đi ngang trước nhà tôi và cha tôi thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc, suýt bị đám đông đánh tại trung tâm thành phố. Ông chắc chắn phần đông thành phần thanh niên biểu tình đến từ Tây Bá Linh và ông hồi tưởng đến bọn áo nâu tràn đầy thành phố thời buổi ban đầu của Hitler. Bây giờ lối phát ngôn này có thể bị đánh giá là kiểu tuyên truyền Cộng Sản, nhưng tưởng cũng không kém phần quan trọng nhắc nhở những biến cố trên xảy ra chỉ có tám năm sau sự sụp đổ chủ nghĩa Quốc Xã tại Đức, và là điều rất là thường tình khi người ta cảm nhận, mượn lời của Bertolt Brecht, “con đĩ đã đẻ ra nó vẫn còn muốn động cỡn.”

Chúng tôi sửng sốt vì sức bạo động và lòng hận thù dâng cao xung quanh chúng tôi. Đối với những ai như tôi sống trong lòng của xã hội mới này đây là một bừng tỉnh khó khăn để nhận thức hệ thống chúng tôi hàng mến chuộng đã làm mất lòng dân. Số lượng chính xác người chết không hề được biết rõ, nhưng tổng số lên đến khoảng 100 và 200 người. Tôi thấy rõ ý niệm “chủ nghĩa phiêu lưu phát-xít” và “lật đổ phản cách mạng” phát xuất từ cấp lãnh đạo chỉ dùng để làm dụng cụ tuyên truyền mà thôi. Điều này không làm cho tinh thần tôi bị lay chuyển. Tôi thích thú mường tượng chúng tôi học hỏi được từ cuộc nổi dạy và đem áp dụng những kinh nghiệm tốt của bài học này cho việc quản lý tương lai nhà nước.

Với trách nhiệm giám đốc cơ quan tình báo hải ngọai, công việc của tôi là tìm kiếm chứng liệu can thiệp của những lực lượng bên ngoài trong cuộc nổi dậy này. Tôi biết rõ, ngay lúc đó, đây cũng là một tiểu sảo để cung cấp những biện minh cho giới lãnh đạo trong lúc quân dội Xô Viết phơi bày sự bất lực của họ. Việc thâu thập bài vở trên nhật báo và tuần báo, sách vở và những tài liệu khác phơi bày kế hoạch của Tây Đức và Hoa kỳ nhằm xóa bỏ Cộng Hòa chúng tôi không phải là một điều khó; lúc đó có một khuynh hướng hòa tấu chung trong mối bang giao quốc tế. Lý thuyết gia Hoa Kỳ James Burnham, trong quyển sách nhan đề Defeating Soviet Imperialism (Đánh bại Chủ Nghĩa Đế Quốc Xô Viết), đã hô hào dùng những phương pháp khuynh đảo trên lãnh thổ của khối Đông Âu, kể cả việc dùng những “câu-lạc-bộ chui” để xúi giục, “phối hợp hành động để lật đổ chính quyền Cộng Sản”, do các ông bạn được CIA trợ giúp tiên phong dẫn đầu tại Tây Bá Linh, Đạo Quân Chống Phản Nhân Đạo (Kampfgruppe gegen Unmenschlichkeit –KGU) và Ủy Ban Điều Tra của Các Luật Gia Tự Do (Untersuchungousschuss Freitheitlicher Juristen – UFJ).

Chúng tôi khám phá, nhờ một điệp viên của chúng tôi trong phái bộ Quân Sự Mỹ, giám đốc CIA, Allen Dulles và cô em gái, Eleanor Lansing Dulles, một viên chức của Bộ Ngọai Giao Hoa Kỳ, đã có mặt tại Tây Đức một tuần trước khi xảy ra cuộc nổi loạn. (Điệp viên, tên Bielke, là thông dịch viên cho đại diện địa phương của AFL-CIO tên là Baker. Công tác của Baker là xâm nhập các tổ chức công đoàn thương mại của Cộng Hòa Dân Chủ Đức.) Chúng tôi cũng bắt được điện tín của Walter Sullivan, phóng viên của tờ New York Times tại Bá Linh, gởi cho trụ sở tạiManhattan, điện tín ghi: “Bất mãn sẽ không bao giờ bộc lộ nếu không có đài Phát Thanh Hoa Kỳ RIAS. Từ 5 giờ sáng thứ Tư, đài phát thanh tuyên truyền của Hoa kỳ tại Bá Linh phóng đi những chỉ thị chi tiết trên toàn lãnh thổ nước Đức”.

Công việc của chúng tôi là thâu thập tin tức tình báo trong hậu trường của cuộc nổi dậy, nhưng chúng tôi không rõ cấp lãnh đạo rút tiả kết luận nào từ những báo cáo này. Ulbricht bất ngờ đặt nặng trong tâm lên một bản tin mà chúng tôi không mấy chú ý đến. Vào tối ngày 16 tháng Sáu, tố chức công đoàn thương mại tại Tây Đức dự trù một cuộc du thuyền trên tàu hơi và mời các đồng nghiệp còn rơi rớt lại trong các công đoàn Đông Bá Linh. Nguồn tin của chúng tôi báo rằng lời mời không gởi qua bưu điện nhưng qua điện thoại và các chữ “du ngọan trên thuyền hơi” đã được nhắc đi nhắc lại trong các lần điện thọai. Ulbricht lập tức xem đây là những mật mã khơi động những biến cố ngày 17 tháng 6. Nhưng đây rõ ràng là một suy đoán thái quá.

Cuộc nổi dậy trớ trêu hơn nữa lại củng cố quyền lực của Ulbricht. Sau một cuộc nổi dậy tầm cỡ lớn như vậy, cấp lãnh đạo Xô Viết không thể nào phiêu lưu tạo thêm bất ổn hất chân ông ta và đằng nào cũng vậy Beria vừa mới bị thanh toán trong đợt khai trừ hậu Stalin đầu tiên.

Zaisser và Rudolf Herrnstadt, chủ nhiệm tờ báo của Đảng Neues Deutschland, cả hai đều ủng hộ một cuộc cải cách và Ulbricht nhờ vậy có cớ chính đáng đẩy hai đối thủ này đi. Cả hai được thay thế bởi những người ủng hộ ông vô điều kiện. Ngay chính Ulbricht cũng hành xử một cách thô bạo như Stalin để tiêu diệt những kẻ đối kháng.

Một bầu không khí bất ổn và bất tín nhiệm bao trùm khiến cuộc sống trở nên khó khăn cùng khắp Đông Đức, và tôi cảm nhận điều này. Nhưng cái nhìn về thế giới và lòng thâm tín của tôi không hề suy xuyển, một điều mà các độc giả Tây phương cảm thấy bí ẩn. Tại sao, sau cuộc đổ máu trên đường phố và việc Ulbricht thanh lọc những phần tử mà chúng tôi biết là tốt, chúng tôi không tìm cách lánh xa ông hoặc phê bình chỉ trích ông. Chiếu theo tín thuyết và thực hành của tất cả các đảng Cộng Sản sau khi Lê-nin chết, bất cứ ai công khai tấn công Tổng Bí Thư đương nhiệm, người đó phục vụ cho quyền lợi của kẻ thù giai cấp. Đối với một người Cộng Sản, điều này tương đương với việc xúc phạm của một tín đồ Công Giáo ngoan đạo.

Những người bị Ulbricht thanh trừng chấp nhận những cáo buộc một cách lặng lẽ. Việc họ không phát biểu để tự bào chữa có lẽ chỉ có thể hiểu được bởi những ai đã từng trải qua các cuộc thanh trừng của Stalin và hiểu rằng kỷ luật trong Đảng là sức mạnh keo sơn. Những người này đã cống hiến cả cuộc đời của họ cho phong trào cách mạng và đối đầu với Đảng sẽ là một đổ vỡ toàn diện. Họ giữ im lặng cũng vì một lý do khác: họ biết rằng tình trạng đã trở nên vô vọng, nói điều gì đi nữa cũng chỉ làm cho tình hình tệ hại hơn nữa.

Rudolf Herrnstadt và Wilhelm Zaisser là hai trong những nạn nhân trong tiến trình củng cố quyền lực của Ulbricht. Trước thời chiến, Herrnstadt làm việc cho GRU (Glanoye Razvedyvatelnoye Upravleniye) cơ quan tình báo quân đội Xô Viết và đã gầy dựng một hệ thống tình báo tuyệt hảo tạiWarsaw. Hai điệp viên ông kết nạp Ilse Stöbe, người vợ thứ nhất của ông, và Gerhard Kegel trong Tòa Đại Sứ Đức tạiMoscowđã cung cấp tin tức tiên khởi về cuộc tấn công của Đức năm 1941. Có lẽ ông phiền lòng vì được biết những công tác trước đây của ông hiện không còn nghĩa lý gì cả. Trường hợp của Herrnstadt làm cho tôi xúc động mãnh liệt. Mặc dù ông là một viên chức không nổi tiếng, vào những thập niên 1980, tôi thu xếp để ra lệnh phát hành một phim tài liệu cho các nhân viên trẻ ghi lại thành tích tình báo của ông. Ít ra ông cũng được vinh dự trong giới tình báo, mặc dù không chính thức.

Mãi sau này, tôi đọc được những giòng chữ Herrnstadt để lại trong khi ông làm việc tại Thư Khố Trung Uơng Nhà Nước tại Merseburg. Ngay tại đây, một câu hỏi nhức nhối luôn ám ảnh ông: “Tôi khôn ngoan hơn Đảng chăng?” Câu hỏi này dày vò ông mặc dù ông là nạn nhân của sự bất công do Đảng đỡ đầu và ông thấy những hệ quả sơ cứng của giáo điều của Đảng. Như Zaiser và Ackermann, ông giữ kín mối nghi ngờ trong lòng và ghi những giòng suy tư này trên những trang giấy cho thế hệ mai sau; họ bị ràng buộc bởi một im lặng đồng loã mà phần đông các đảng viên Cộng Sản thất sủng mắc phải. Họ kiên định với nguyên tắc căn bản của một đảng viên Cộng Sản: Không bao giờ gây thịêt hại cho Đảng.

Không một ai trong họ có thể sống được với tâm trạng hồ nghi nghĩ rằng họ cung cấp vũ khí cho những kẻ đánh phá quyền lực mà chúng tôi nhọc nhằn chiếm được. Giới trí thức còn phải mang thêm gănh nặng khác là phải phấn đấu để được lòng tín cẩn của một đảng cống hiến cho sự toàn thắng của giới công nhân. Cha tôi, các văn sĩ và các triết gia thường xuyên nuốt nhục phải hạ mình xuống trước những kẻ tra vấn hằn học trong những buổi họp của Đảng. Tại Đông Bá Linh, danh từ “trí thức” nghe ra lạc lõng trong nội bộ Đảng và Bộ Công An. Nhiều người đã cố gắng tự bào chữa để không bị tố cáo có “lối suy nghĩ trưởng thượng” hoặc “thiếu khiêm nhường”, họ bày tỏ lòng phục tùng chấp nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và phải ngậm họng trước những hành vi ngu xuẩn nhân danh giai cấp. Đối với những ai không hiều rõ sức mạnh của não trạng này, tôi khó mà giải thích làm sao tôi có thể giữ được niềm tin trong những tháng năm săp tới.

Việc cất chức Wilhelm Zaisser khỏi chức vụ Bộ Trưởng Bộ Công An đưa đến những hậu quả vừa có tính cách cá nhân và cũng vừa có tính cách tổ chức đối với cơ quan chúng tôi. Tôi vẫn giữ chức vụ của tôi và tôi được phong làm phụ tá cho Ernst Wollweber, vị giám đốc mới của cơ quan. Vị này không màng đến những chi tiết công tác nhưng đặc biệt chú trọng đến những tin tức chính trị mà chúng tôi thâu thập. Khi đề cập đến vấn đề này, ông bước tới bước lui trên chiếc thảm đặt trong văn phòng của ông. Người ông nhỏ nhắn, tròn trịa, miệng luôn ngậm điếu xì-gà đã tắt ngẩm. Ông không thể nào ngồi yên trước bàn một khi ông bắt đầu bàn về những nhân vật, những mối liên lạc và những mâu thuẫn bên Tây phương và khả năng ảnh hưởng của chúng đôi với chúng tôi.

Wollweber cũng chẳng khác biệt gì nhiều với Erich Mielke, người trách nhiệm về phản gián và khử trừ gián điệp trong hàng ngũ chúng tôi. Mielke chống đối quyền kiểm soát của tôi trên tình báo hải ngoại; ông tự xem là đối thủ của tôi và luôn tìm cách phá tôi, không những lúc chúng tôi ngang hàng với nhau mà ngay cả khi ông trở thành cấp trên của tôi sau này trong chức vụ Giám Đốc Bộ Công An. Ông thuộc đạo quân tiêu diệt của Đảng Cộng Sản nhằm vào các băng đảng Quốc Xã năm 1930 và ông thẳng tay trừng trị kẻ thù. Tuy nhiên, năm 1953, ông vẫn còn đang bối rối vì một quyết định Đảng xem xét khả năng của ông do hệ lụy của cuộc nổi dậy năm 1953. Tôi được nâng quy chế, lên làm một trong những phụ tá của Wollweber trước ông ta, điều mà ông vẫn còn hằn học cho đến mãn đời của ông. Mấy năm sau, tôi được biết khi Wollweber bị cách chức, đại diện của KGB tại Bá Linh, ông Yevgeni P.Pitovranov, và Đại Sứ Xô Viết tại Công Hoà Nhân Dân Đức, ông Georgi M.Pushkin, ban thảo với Ulbricht để tìm kiếm người thay thế Wollweber. Pitovranov nói :”Tại sao ông phải kiếm? Ông có người kế vị rồi – Wolf đấy”. Nhưng Mielke được đề cử vào chức vụ này; ông là tai mắt của Ulbricht.

Mielke có một cá tính đầy uẩn khúc cho dù xét dưới khía cạnh đạo đức thông thường áp dụng cho thế giới điệp viên. Ông đam mê thể thao thể lực. Ông có thói tật thu thập dữ kiện không những về những người tình nghi đối lập mà ngay cả các bạn đồng nghiệp. Ông cố moi tìm kiếm cho ra những tên phản bội trong giới lãnh đạo, ông hứa cho tôi quyền cao chức trọng nếu tôi tìm được trong Trung Tâm Tài Liệu Hoa Kỳ tại Bá Linh, nơi dự trữ tài liệu của Quốc Xã sau năm 1945, một loại bằng chứng cho thấy chính tri gia Đông Đức cộng tác với Đệ Tam Cộng Hòa. Không có một sự kiện nào thoát sự chú ý của ông, không có một chi tiết nhỏ nào không rơi vào hồ sơ đỏ mà ông cất kín trong tủ sắt văn phong.

Có một lần tôi nhận báo cáo của một nhân viên sửng sốt trong cơ quan của tôi, anh thấy Erich Honecker, sau này là lãnh tụ Đông Đức, nhưng lúc đó ông đứng đầu tổ chức Thanh niên Đức Tự Do, rón rén qua các ngõ ngách đường phố sau khi ra lệnh cho tài xế về nghỉ vào lúc trạng vạng tối. Đối với tôi điều này chứng tỏ là Honecker đang thăm viếng một cô bạn gái vụng trộm, mặc dù lúc đó ông đã thành hôn với một cô bạn đồng nghiệp công chức. Tôi đùa bỡn việc này với Mielke: “Này, chúng ta đâu cần giữ sự kiện này trong hồ sơ”, và tôi làm ra vẻ vứt báo cáo đó đi. “Không, không”, ông giám đốc phản gián vội vàng trả lời “Để tôi cất giữ nó. Mình phải cẩn thận không biết chuyện gì sẽ xảy ra sau này”Báo cáo này đóng góp thêm chi tiết về những thành tích không lấy gì làm đẹp đẽ của ông Honecker vào trong hộp đỏ của Mielke, để rồi hàng chục năm sau này vào năm 1989 được phơi bày khi ông uỷ viên công tố tìm tòi trong văn phòng của Mielke.

Một khi đã khởi sự, các cuộc thanh trừng thật khó mà ngừng lại. Bốn năm sau, Wollwever bị khai trừ do một thủ đoạn khác của Ulbricht và Mielke chiếm chức vụ Bộ Trưởng Bộ Công An. Có lẽ Mielke vẫn giữ chức vụ đầu não công an nếu không có ngày ra đi lố bịch vào năm 1989, khi ông rời bỏ nhiệm sở với lời từ biệt miễn cưỡng trước quốc hội Đông Đức: “Tôi thương yêu hết mọi người”.

(Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 8 (Markus Wolf)                           

 “ …Chúng tôi đi xa hơn nữa cài đặt “những vết nhơ” trong lý lịch cá nhân của các điệp viên trong hồ sơ các bộ để tăng cường độ khả tín nếu phản gián Tây Đức bằng phương cách nào đó lấy được hồ sơ của họ…”

Chương 5

Vứa Học Vừa Làm

 Nước Đức vào những năm đầu của thập niên 1950 là một mạng lưới khổng lồ của những mối liện hệ công khai và ngấm ngầm, những nỗi nhục thầm kín và lòng trung thành giấu kín ở cả hai phía Hữu và Tả. Không có gì là chắc chắn, không thể tin ai một cách tuyệt đối, dễ lầm khi nhìn bề ngoài. Kết quả là một xúc cảm mãnh liệt và tính đa nghi, một bầu không khí đã được Billy Wilder ghi nhận trong những bộ phim về cuộc sống trong vùng Hoa Kỳ chiếm đóng – đặc biệt trong phim Foreign Affair – và được chính em tôi quay lại trong những phim nói về những năm đầu trong vùng Nga chiếm đóng. Báo cáo chính thức do người dân tự thẩm định chỉ là vỏ bề ngoài. “Cứ hai người trong nước là có một người tham gia kháng chiến bí mật” cha tôi thuờng hay miả mai đùa cợt sau khi nghe những báo cáo vô căn cứ của người dân Bá Linh về cách họ chống Hitler một cách ngấm ngầm. “Nhưng rủi thay, họ chẳng bao giờ thấy người này”.

         Cả hai nước Đức đều hô hào mục đích của họ là thống nhất đất nước. Chính tôi cũng không tin điều này có thể thực hiện được trong tương lai gần vì những xung đột quyền lợi của những thế lực chiến thắng đã chia cắt nước Đức thời hậu chiến. Ngay cả tạiWashington và Luân-đôn, biến động tháng Sáu năm 1953 tại Đông Đức tạo thêm xác quyết là chiến lược đẩy lui quyền lực của Xô Viết sẽ thành công. Hy vọng thống nhất sau này tiêu tan dần vì áp lực chính trị, kinh tế và, chưa hẳn là tác động cuối, quân sự – việc tái quân trang Tây Đức và việc Tây Đức gia nhập liên minh quân sự Tây phương là những ưu tiên trong lịch trình của Tây Phương. Tuy nhiên cấp lãnh đạo của Cộng Hoà Dân Chủ Đức vẫn tiếp tục bám víu vào khẩu hiệu thống nhất nước Đức, mặc dù quá nhiều công dân của họ đã bỏ nước ra đi.

         Mối ưu tư hàng đầu của giới cầm quyền là cuộc đấu tranh thiết lập một bộ mặt khác biệt của phương Đông. Tình cảnh bấp bênh nội tại của “quốc gia Đức thứ hai” luôn đeo đuổi trí não của họ. Điếu này buộc họ phải phát động việc tôn sùng lòng ái quốc đến độ vô lý. Chúng tôi mặc quân phục, tôi có ít nhất năm bộ, đây là một thành tích đáng kể cho một người không bao giờ phục vụ trong quân đội. Một trong những ý kiến kỳ quặc nhất của Ulbricht áp dụng vào thời kỳ này là việc sử dụng biểu tượng quân sự – một cuộc xoay chiều thấy rõ, vì chúng tôi chỉ trích việc dân Tây Đức vẫn tiếp tục truyền thống quốc gia quân sự của quân đội Hitler. Nhạc quân sự truyền thống cũng được phục hồi và công khai hoà tấu lần đầu tiên tại Đông Bá Linh tại Thế Vận Hội Thanh Niên khối Xô Viết năm 1951. Như phần đông các đảng viên Cộng Sản đã được đào tạo để đánh giá cách pha trộn quân sự với nhạc này chuẩn bị con đường đi đến chế độ Quốc Xã, tôi cảm thấy khó chịu. Khi những bài quân nhạc trổ lên, tôi quay sang nhà văn Nga gốc Do thái Ilya Ehrenburg, đứng bên cạnh tôi trên khán đài, và hỏi ông nghĩ thế nào về quang cảnh này. Ông nhún vai theo kiểu cách nhẫn nhục của người Nga và nói: “Người Đức lúc nào cũng thích diễn hành”.

*

         Trong khi đó, cơ quan non nớt của chúng tôi cố gắng học hỏi xây dựng cơ sở với phong cách ít phô trương hơn. Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng được êm thắm. Vào những năm đầu việc quản lý cơ quan điệp báo mới luôn có khuynh hướng ngả theo luật của Murphy (Lời dịch giả: Murphy’s Law: Điều gì mình nghĩ là hỏng nó sẽ hỏng) và môi trường khoa học kỹ thuật tạo vô số cơ hội để lầm lẫn và tính toán sai lầm).

         Trong những thập niên 1950, hàng ngàn công dân Nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức tràn qua biên giới Tây Bá Linh và Tây Đức lúc đó hầu như mở ngỏ. Con số gia tăng nhanh chóng sau cuộc nổi dậy tháng 6 năm 1953, và gần 500.000 người của một nước có dân số 18 triệu người bỏ trốn trong vòng ba năm kế tiếp.

         Điệp viên của chúng tôi trà trộn trong làn sóng người này không khó. Họ thường là thanh niên, có lý tưởng Cộng Sản cao độ và họ đặt nền tảng cho nhiều thành công của chúng tôi sau này. Mặc dù họ thường bị mời lên tra vấn tại các trại tị nạn một khi họ sang phiá Tây, họ vẫn có cơ hội tốt để hoà nhập với đám đông mới đến nếu họ được trang bị một lý lịch khả tín, chẳng hạn như ước muốn đoàn tụ với thân nhân bên Tây Đức. Chúng tôi dùng nhiều lý cớ khác nhau: Một điệp viên có thể trình bày là y bị bắt tại trận man khai quá khứ đảng viên Đảng Quốc Xã hoặc tố chức Waffen SS, hoặc y tỏ ý phê bình nét xấu của những chính sách của chính phủ. Chúng tôi đi xa hơn nữa cài đặt “những vết nhơ” trong lý lịch cá nhân của các điệp viên trong hồ sơ các bộ để tăng cường độ khả tín nếu phản gián Tây Đức bằng phương cách nào đó lấy được hồ sơ của họ.

Chúng tôi tránh kết nạp vào cơ sở chúng tôi những người có thân nhân bên Tây Đức, vì tôi nghĩ rằng những cơ quan tình báo Tây phương có thể dễ dàng xâm nhập cơ quan chúng tôi – như chúng tôi đã xâm nhập họ – qua liên hệ và áp lực gia đình.

         Mỗi một người chúng tôi gởi đi đều có một công tác nhất định và mỗi một điệp viên được huấn luyện bởi một đội trách nhiệm về công tác này. Chúng tôi giới hạn việc huấn luyện trong những nguyên tắc sơ đẳng về tình báo và phương cách thu thập những tin tức mà chúng tôi muốn. Việc huấn luyện những điệp viên về những vấn đề và phương thức không liên quan đến công tác của họ xét ra không cần thiết; trên một phương diện nào đó, điều này có thể khiến cho công tác của họ nguy hiểm hơn vì công tác của họ sẽ trở nên phức tạp hơn một cách không cần thiết. Trong một vài trường hợp chúng tôi triệu hồi điệp viên từ Tây Đức và đưa họ trở về Đông Đức để huấn luyện bổ túc khi có thời cơ thuận tiện.

         Sự kiện chúng tôi gởi điệp viên sang Tây Đức, một nước có cùng ngôn ngữ và văn hoá, rõ ràng là một điểm lợi. Quả nhiên, việc đưa người của Liên Bang Xô Viết xâm nhập Hoa Kỳ và ngược lại là một việc khó khăn hơn nhiều. Khi cả hai nước Đức trưởng thành theo hai chiều chương khác nhau, công tác xam nhập trở nên khó khăn hơn, và việc xây cất Bức Tường Bá Linh hạn chế hẳn làn sóng di dân trong đó chúng tôi cài điệp viên. Điều này có nghĩa là lý lịch ngụy tạo phải tinh vi hơn. Nhưng vào thời điểm này Tây Đức vẫn lép vế hơn, vì việc di dân từ Tây sang Đông rất hiếm và bị quan sát kỹ lưỡng. Mặt khác, Tây Đức không có nhu cầu gửi người đi: Họ có thể mua chuộc người trong đám đông công dân bất mãn tại Đông Đức chúng tôi.

         Để khắc phục những khó khăn hành chánh trong việc định cư tại Tây Đức, phần đông điệp viên của chúng tôi thường bắt đầu công tác bằng cách trải qua một thời gian lao động chân tay đơn sơ. Vì lý do này, chúng tôi thường chọn các thí sinh có tay nghề khéo léo và có kính nghiệm thực tiễn trong một ngành nghề. Tuy nhiên, không phải ai cũng đi qua nẻo đường này. Như đã đề cập trước đây, hầu hết các khoa học gia và sinh viên ngành khoa học di cư vào thời đó đều kiếm đuợc việc tại các hãng hoặc cơ sở nghiên cứu mà chúng tôi chú ý. Chúng tôi cũng thâu thập tin tức qua các mối liên lạc không chính thức với các khoa học gia Tây Đức. Nhiều người cảm thấy bồn chồn về hiểm họa hạt nhân, vũ khi sinh trùng và hoá học. Họ bị chấn động mạnh vì hai quả bom nguyên tử thả xuốngHiroshima vàNagasaki, họ cung cấp cho các điệp viên chúng tôi rất nhiều cơ hội và đề tài để bàn thảo.

         Có một vài người của chúng tôi xâm nhập vào các khu vực có những nguyên tắc bảo mật khắt khe . Những người khác vào được những vị trí lãnh đạo, lương bổng cao trong các tổ chức xí nghiệp. Nhưng việc xâm nhập vào thâm cung của các trung tâm quân sự và chính trị tạiBonn, nơi những quyết định lớn được thực hiện, khó hơn nhiều.

*

Sau những cuộc nổi dậy năm 1953, cuộc họp thượng đỉnh của các Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao của phía Đông Minh năm sau đó là một mối quan tâm bức xúc nhất của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên một biến cố như vậy diễn ra trước ngưỡng cửa chúng tôi và tôi không rõ tôi phải có những hoạt động tình báo nào. Như thường lệ, ông bạn Xô Viết yêu cầu chúng tôi có một kế hoạch hành động chính xác. Trong tinh thần ước vọng hơn là trông chờ, tôi cố gắng chuẩn bị một kế hoạch nhằm tạo nên nhu câu bức thiết để có được tin tức phẩm chất cao từ các nhân viên của tôi.

         Moscow phái một cố vấn đặc biệt đến để xem xét bản sơ đồ lớn nằm trên bàn của tôi và, giống như một anh thợ phát giác một lỗ hở trong máy, y nói : “Lẽ cố nhiên, quý vị cần có một “malina” trong thời gian công tác này”. Tôi đâm ra bối rối. Malina theo tiếng Nga có nghĩa là “quả mâm xôi”, nhưng chắc chắn ông bạn KGB không nói về trái cây ăn tráng miệng. Hóa ra đương sự dùng tiếng lóng để chỉ động chị em ta, nơi đây các nhân viên của chúng tôi quyến rũ các viên chức lạc lối từ hội nghị ra trút bớt gánh nặng vào nơi có chút xa hoa.

         Việc này diễn ra hàng mấy năm trước khi tôi khai triển chiến lược sử dụng tình dục trong nghề điệp báo, nhưng tôi không muốn để lộ cho ông bạn đồng nghiệp Nga biết là tôi quá ngây ngô. Chúng tôi cấp tốc biến một căn nhà nhỏ mà chúng tôi đôi khi dùng ở phía nam ngoại ô Đông Bá Linh thành vừa là nhà chứa và là trung tâm gài bẫy với đầy dụng cụ nghe lén và máy quay phim có đèn hồng ngoại tuyến, giấu trong phòng ngủ có ánh sáng thích hợp. Ngày nay những dụng cụ này tỏ vẻ rất thô sơ, chính vì vậy các nhiếp ảnh viên phải luồn lách trong tủ quần áo nhỏ và đứng chờ cho đến khi đối tượng họ quan sát ra đi.

         Vấn đề kế tiếp là kiếm các giai nhân. Chúng tôi tiếp xúc một ông cảnh sát cao niên đã từng chỉ huy đội tuần tra thuần phong mỹ tục tại Bá Linh.(Điều ngộ nghĩnh, việc kiểm soát mãi dâm và hình ảnh khiêu dâm được cả hai bên Đông và Tây cùng thực hiện giữa những năm 1945 và 1949). Ông đi mòn giầy cao su biết hết những nơi hành nghề của chị em ta và những nơi họ trú ngụ vì nay cái nghề xưa nhất trái đất đã đi vào bóng tối trong một xã hội mới trong sạch của chúng tôi. Nhưng không may, ông dẫn chúng tôi đến khu Mulackstrasse, một khu từ xưa đến này luôn biểu tượng cho thị trường buôn bán da thịt hạ cấp nhất Bá Linh. Cấp trên của tôi lúc đó, đã từng trải cuộc đời trong nghề điệp báo mặc dù điềm nhiên trước những sự kiện này, điện thoại cho tôi với giọng nhăn nhó : “Anh không thể nào đặt chân đến những nơi như vậy cho dù chỉ tốn một Đức Mã”.

         Đi ngược lại với chủ thuyết, chúng tôi hành động theo bản năng của một xí nghiệp tự do. Tại một quán bán sữa trên đại lộ Karl Marx chúng tôi kiếm ra được nhiều cô gái hấp dẫn, mặc dù sống cuộc đời đáng kính ban ngày, chấp nhận sống một cuộc đời kém trang trọng hơn về đêm nhân danh Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa. Kế hoạch dự tính gởi một đám điệp viên của chúng tôi đến trung tâm báo chí tại Tây Bá Linh và các quán ăn, quán rượu nằm xung quanh những nơi hội họp của các bộ trưởng ngoại giao. Họ có công tác mời mọc các viên chức và cố vấn đến giải khát và, nếu tình hình có vẻ khả quan, đưa họ đến tham gia một “nhóm nhỏ” tại căn “malina”, nơi đây bảo đảm có sự hiện diện của phái nữ.

         Sự việc diễn tiến êm xuôi. Nhưng vào giữa đêm, điện thoại của tôi reo vì xẩy ra một “biến chuyển bất ngờ”. Bà Tám yêu cầu kiểm soát vệ sinh kỹ lưỡng và khám phá một trong những cô nàng không lấy gì làm cảnh vẻ cho lắm. Cô ta có rận. Tôi ra lệnh rút cô ta ra khỏi nhóm công tác.

         Cuộc họp bắt đầu, đội công tác chúng tôi trông chờ hành động, nhưng không thấy xuất hiện một anh bạn nào cả. Nhân viên tháp tùng năm nay hình như đạo đức một cách bất thường, vì người duy nhất lọt bẫy, lại vào đêm cuối, là một ký giả Tây Đức. Nước và thức ăn khai vị được trưng bày thịnh soạn, các giai nhân đứng vào vị trí của mình. Nhưng trong lúc cao hứng, nhân viên trách nhiệm của chúng tôi đêm đó uống nhầm ly rượu chứa thuốc cường dương dành cho khách. Để kết thúc đẹp, có chiếu phim khiêu dâm. Lẽ cố nhiên những loại phim này bị cấm tại Đông Đức, nhưng cũng đuợc ông cựu cấp chỉ huy đội tuần tra thuần phong trình chiếu mỗi khi có dịp cần đến. Trong khi người của chúng tôi không phút nào rời đoạn phim, con mồi chúng tôi không hề chú ý một chút nào đến màn ảnh hoặc các cô gái và rút lui vào trong bếp để nói chuyện gẫu với cô gia nhân.

         Ngày hôm sau, anh ký giả là người duy nhất có đầu ốc tỉnh táo. Anh ta hiểu chò trơi và nói sẵn sàng làm việc cho chúng tôi. Đây cũng là một loại chiến thắng, nhưng quá bất xứng với công lao bỏ ra. Chúng tôi trả lương các cô chiêu đãi thất vọng và mời họ về với chỉ thị họ triệt để không được bàn tán về vở kịch hỏng này.

         Sau đó sự vụ này tiếp diễn một cách kỳ lạ. Khi chúng tôi gởi điệp viên đến gặp anh ký giả, một người bạn đồng nghiệp đến thay anh ta, tên là Heinz Losecaat van Nouhuys, tự nhân làm việc tờ tuần bán danh tiếng Tây Đức Der Spiegel. Hoặc giả họ tự dàn xếp cuộc trao đổi hoặc việc này do phản gián Tây Đức tổ chức, tôi chẳng bao giờ đoán ra sự thật. Nhưng ông van Nouhuys tỏ ra là một điệp có tinh thần cộng tác cao độ. Mặc dù tôi nghi ngờ lời nói của ông cho rằng những tin tức của ông lấy từ các Bộ ra, tin tức ông cung cấp cho chúng tôi năm này qua tháng nọ ăn khớp với những báo cáo khác. Sau đó ông vào ban biên tập của tờ Quick. Tờ tuần báo cánh hữu rất phổ biến này chống Đông Đức mãnh liệt, nhưng nơi đây ông vẫn tiếp tục làm việc cho chúng tôi.

         Chúng tôi bắt đầu sử dụng hội chợ thương mại Leipzig để bắt liên lạc với giới thương dân, và qua họ bắt mối liên hệ với các chính trị gia bảo thủ và các khuông mặt nổi bật có lòng tin trong việc công tác với Đông Đức, họ bằng cách này hay cách nọ muốn duy trì không cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ giữa hai mảnh nước Đức. Các giao ước thương mại Đông Tây tại đây phải tuân thủ lệnh cấm vấn của phương Tây trên những mặt hàng có tinh chiến lược, ví dụ như những vật liệu căn bản như ống thép. Những hạn chế này khiến các thương gia phải lập nên những mối liên lạc đáng tin cậy và gian xếp các giao dịch kinh doanh bất hợp pháp, và một bộ phận của Uỷ Ban Trung Ương Đảng phụ trách về thượng lượng đút lót, cho dù sau này chúng tôi đảm nhiệm công việc này. Tôi thường hay đi Leipzig đóng vai trò nghiêm trang của một viên chức cao cấp thương mại hoặc một đại diện của Hội Đồng các Bộ Trưởng.

Nhờ vậy tôi gặp Christian Steinrücke, người liên quan đến việc buôn bán thép tại Tây Đức. Steinrücke giao hảo với các kỹ nghệ gia lớn như Otto Wolff von Amerongen, gia đình ông quản trị một công ty thép tiên phong giao thương với Liên Bang Xô Viết vào đầu những thập niên 1920 và giúp xây dựng đường xe hoả Mãn-châu. Một hôm ngồi ăn tối với Steinrücke, tôi nói với ông tôi là một vị tướng trong Bộ Nội Vụ Đông Đức, và từ đó chúng tôi tâm đầu ý hợp. Sáng hôm sau, tại một buổi họp kín của Liên đoàn Sắt và Thép Tây Đức, ông giới thiệu tôi là đồng nghiệp của ông ta cho vị giám đốc, ông Ernst Wolf Mommsen. Nhờ sự bảo trợ của Steinrücke, không một ai trong nhóm tinh anh kín đáo này để ý đến sự hiện diện của tôi, nói gì đến chú ý đến tôi. Steinrücke có vợ thuộc gia đình Wehrhahn, một trong những gia đình thế lực nhất của tư bản Đức. Anh của cô vợ là rể của Adenauer – tai tôi rung động vui mừng khi tôi nghe điều này – và hơn thế nữa, chị dâu của cô vợ là cháu của Hồng Y Frings, gương mặt kỳ cựu của giáo hội Công Giáo Tây Đức.

         Mối liên lạc của chúng tôi kéo dài nhiều năm. Để duy trì mối hữu nghị này, đôi khi tôi mời Steinrücke đến dùng cơm tối với tôi và ngụy tạo một gia đình thứ hai. Tôi chọn một biệt thự tại Rauchfangwerder và một cô xướng ngôn viên xinh xắn tại đài truyền hình Đông Đức để làm vợ. Hình con cái của cô ta được treo trên tường mỗi khi Steinrücke ghé thăm tôi. Khi vấn đề buôn bán vũ khí trở nên phức tạp hơn, những cuộc đối thoại với đương sự càng lúc trở nên hữu ích, và đến khoảng giữa thập niên 1970 ông là cố vấn của Lockheed Corporation với nhiều mối liên hệ với cấp lãnh đạo của Không Quân Tây Đức và quan hệ với những sinh hoạt của Franz-Josef Strauss, lãnh tụ chính trị vùng Bavaria đồng thời là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Tây Đức. Tôi chưa hề đề nghị hoặc mời ông làm việc cho chúng tôi, mặc dù ông cũng đoán được vai trò nếu không muốn nói đến tên tuổi đích thực của tôi. Mối liên lạc giữa chúng tôi bất đắc dĩ chấm dứt vì tôi cắt đứt do sự hiện dịên của người bạn Steinrücke, bác sĩ Walter Bauer.

         Bauer tỏ ra vẻ là một thương gia khiêm tốn buôn bán mỡ của Tây Đức để đổi lấy nỉ của Đông Đức trong vùng Lausitz của Đông Đức. Điều này không phù hợp với tài sản Bauer đương có. Mối nghi ngờ của chúng tôi không sai. Vào khoảng trước năm 1945, ông giữ một chức vụ cao trong tổ hợp kỹ nghệ Flick, sở hữu tiền chiến của mỏ than phát đạt của vùng Lausitz. Hình ảnh của một thương gia tầm thường và tồi tàn của ông phản nghịch với bức hình chụp chúng tôi tìm thấy ông ta đứng cạnh Konrad Adenauer trong một hội nghị công giáo. Chúng tôi tình nghi nhiệm vụ chính của ông là giúp chủ nhân của ông có chân đứng tại Đông Đức nhân danh các kỹ nghệ gia lớn trông chờ ngày thống nhất đất nước Đức. Theo đạo luật hình sự của chúng tôi, công tác của ông bị kết tội gián điệp lẫn hoạt động phản động. Điều này cho tôi lý cớ để đưa Bauer vào tròng, tôi nghĩ như vậy.

Tôi biết ông cũng là cộng sự viên thân cận với một người tên Hans Bern Gisevius, người đã từng trong Đại Chiến Thế Giới Thứ Hai là giao liên giữa kháng chiến trung lưu Đức và OSS (Office of Strategic Services), tiền thân của CIA. Trang bị với dữ liệu này, tôi quyết định tấn công trực diện với Bauer. Chúng tôi gặp nhau tại Johannishof, khách sạn dành cho khách của chính phủ tại Đông Bá Linh. Trái với hình ảnh của một công tác viên nhã nhạn và phóng khoáng, Bauer là một người tròn trịa khoác một bộ quần áo cũ kỹ.

         Steinrücke, có vẻ thích thú với vai trò trung gian mới này, cho y biết tôi là một viên chức cao cấp trong Bộ Nội Vụ đặc trách về những vấn đề kinh tế. Chúng tôi nói chuyện hàng tiếng đồng hồ và tôi dùng hết lá bài này sang lá bài khác nhưng không có kết quả. Bauer luôn có câu giải đáp hoặc lời giải thích cho những gì y làm và y không tỏ vẻ lo sợ hoặc do dự khi bị áp lực, kể cả lúc tôi báo cho y tôi biết những đường giây liên lạc của y với Hoa Kỳ. Đây là lá bài tẩy của tôi nhưng tôi đã thất bại một cách thảm não.

         Một thương gia chính tông hoá ra là một tay hoạt động điêu luyện, quá cứng rắn để một sĩ quan trẻ háo thắng có thể áp đảo được. Ông cũng quen biết qua nhiều để chúng tôi hăm dọa. Điều này dạy cho tôi một bài học quý giá, cho những nhân viên điệp vụ quá cường điệu.

         Ước đoán của tôi về Bauer được xác nhận ngay sau đó khi Steinrücke không xuất hiện trong lần hẹn sau với tôi. Ông bị cơ quan tình báo Hoa Kỳ gắt gao thẩm vấn. Họ cho ông biết tôi thực sự là ai và cảnh báo ông nên tránh tiếp tục liên lạc với tôi và Steinrücke đã siêu lòng. Ông tiếp tục củng cố mối liên hệ với những khối áp lực sản xuất vũ khí của Đức và Hoa Kỳ, điều khiến tôi trước đây thắc mắc về ông.

         Vì cách hành xử hống hách của tôi đối với Bauer, tôi đã đánh mất đi một đường giây liên lạc quý báu, lý ra vẫn còn có thể tiếp tục trên căn bản hiểu biết đắn đo. Với thời gian chúng tôi hoàn chỉnh kỹ thuật nhằm thuyết phục thiên hạ làm việc cho chúng tôi và ghi nhận việc ép các đối tượng có khả năng trở thành điệp viên ký khế ước trên giấy tờ là một điều dại dột, thiếu khôn ngoan. Phần đông những kẻ vì một lý do nào đó muốn thương lượng với cơ quan tình báo đối nghịch sẽ lẩn tránh vì không muốn cam kết một cách chính thức, họ muốn ở một vị thế trung hoà. Tôi khuyên các sĩ quan của tôi : nếu các anh nghĩ câu trả lời là không, các anh đừng đặt câu hỏi. Đừng ép uổng con người vào một khuôn mẫu đã được các cơ chế hành chánh định trước. Hàng mấy năm nay chúng tôi cố gắng rũ bỏ những ám ảnh hành chánh của các quan thầy Xô Viết. Điều này thích hợp với chúng tôi.

         Chúng tôi rất ham muốn xâm nhập đế chế kỹ nghệ Krupp và cố thu nạp Carl Hundhausen, một thành viên của ban quản trị vừa có năng khiếu nghệ sĩ vừa hiểu biết Đông Đức nhiều hơn các đồng nghiệp. Ông chỉ trích thái độ của chính quyềnBonn đối với việc giao thương liên quốc Đức, nhưng sau đó ông nhận ra mối liên lạc với tôi vượt quá mục tiêu tạo lợi nhuận cho nhóm Krupp.

         Tại một hội nghị bàn về tính đồng nhất của nước Đức, chúng tôi gặp ông Heinrich Wiedemann, một nhà hoạt động cho việc thống nhất của nước Đức và cũng là một người bạn của Joseph Wirth, cựu thủ tướng của Cộng Hoà Weimar. Tôi rất thích thu khi nghe Wiedemann nói rằng những diễn văn chống lại việc củng cố liên minh Washington – Bonn vẫn chưa đủ và đương sự ngầm báo muốn chúng tôi đóng góp vốn liếng để thành lập một cơ sở kinh doanh tại Bonn. Một bản giao kèo được soạn thảo bảo đảm cho chúng tôi được thạm dự vào phần lợi nhuận của cơ sở. Đây là một phiêu lưu hiếm hoi của cơ quan tình báo chúng tôi vào lãnh vực tư bản rủi ro; đồng thời với sự trợ giúp của chúng tôi, Wiedemann mở Văn Phòng Hỗ Trợ Kinh Tế cho những người Có Lương Bổng Cố Định, một nhóm áp lực có liên lạc với các bộ và nhân viên của họ. Qua ngã này, chúng tôi tạo được liên lạc với Rudolf Kriele, một cơ quan tham mưu trong Phủ Thủ Tướng Liên Bang đặc trách về chính sách quốc phòng và liên minh quân sự. Là một quan chức có thế lực thường lui tới văn phòng lóp-bi của chúng tôi, Kriele chuốc rượuRhine và nói chuyện tầm phào về những công việc nội bộ của các chính trị gia Đức.

         Điều này kích thích tham vọng của chúng tôi. Chúng tôi dự tính khuếch trương văn phòng để trở thành một nơi trú ngụ bất hợp pháp (một danh từ trong trao đổi tình báo để chỉ định một công tác ngụy trang lâu dài), và sau này biến thành một điểm liên lạc vào những thời điểm căng thẳng giữa Đông và Tây. Chúng tôi cung cấp cho điệp viên những dụng cụ để thu thanh những cuộc đối thoại của những viên chức ghé thăm và nhận, chọn lọc và chuyển thông tin về cho chúng tôi. Chúng tôi cũng tuyển dụng cô bạn gái của Wiedemann, cấp trên của cô này làm việc tại Phủ Thủ Tướng, và chúng tôi đặt cho cô mã danh là Iris. Nhưng có một vấn đề khó xử. Wiedemann, mặc dù có năng khiếu thuyết phục, không phải là một thương gia đặc biệt giỏi, và chi phí điều hành văn phòng vượt quá xa lợi tức thu vào, một sự kiện khó có thể che dấu thiên hạ lâu được. Chúng tôi làm việc với tâm niệm là phản gián Tây Đức có khả năng tìm được hồ sơ thuế vụ và sẽ sớm tự hỏi tiền từ đâu ra. Công tác kết thúc nhanh chóng hơn dự định của tôi khi một kẻ đào thoát trốn bộ tổng tham mưu của chúng tôi sang Tây Đức, và chúng tôi bó buộc phải triệu hồi điệp viên của chúng tôi vì mối nguy kẻ đào tẩu sẽ tiết lộ hành tung cho chính phủ Bonn.

         Giải an ủy là Iris, dù là niềm vui của chúng tôi bị suy giảm vì thượng cấp của cô được chuyển từ Phủ Thủ Tướng sang Bộ Khoa Học và Giáo Dục. Tại đây trong vòng 10 năm, cô ta chuyển cho chúng tôi những chi tiết về những dự án nghiên cứu bén nhạy của chính quyền và giúp chúng tôi lập kế hoạch do thám khoa học và kỹ thuật.

         Trong thời gian văn phòng Wiedemann làm việc, một nữ khách đầy quyến rũ tạiBonn cũng tỏ ra đầy hưa hẹn vào thập niên đầu 1950. Chúng tôi đã ước đoán tiềm năng của cô ta khi chúng tôi biết đến tên Susanne Sievers trong khi duyệt xét danh sách các tù bình Tây Đức bị giam giữ tại Đông Đức chờ ngày phóng thích do ân xá. Cô ấy bị cơ quan phản gián của chúng tôi bắt trong một chuyến tham dự hội chợLeipzig năm 1951 và bị kết án tám năm tù ở vì tội làm gián điệp. Hồ sơ ghi nghề nghiệp của cô là ký giả tự do, điều này làm cho chúng tôi chú ý. Một đại tá dàn xếp một cuộc gặp gỡ trước khi cô ấy biết sẽ được thả. Trong căn phòng thăm viếng, nhân viên của chúng tôi đứng trước một người đàn bà cao, mảnh khảnh vào khoảng trung tuần ba mươi. Phong cách nghiêm trang và tự tin toát ra từ bộ áo tù và cô vẫn tiếp tục bàn cãi việc giam giữ cô là một bất công, cô không hề tìm ân huệ của những người bắt giam cô. Nhưng cô cũng nói đến những vấn đề của nước Đức và chính sách thân Mỹ của Adenauer. Nhân viên chúng tôi dọ hỏi cô ấy có muốn tiếp tục cuộc đối thoại trong một tình cảnh khác không. Sau đó cô được thả và họ gặp nhau trên Cầu Warsaw tại Đông Bá Linh, tại đây hai bên thỏa thuận khi cô ấy về Tây Đức, cô sẽ cung cấp tin tức cho chúng tôi. Chúng tôi đặt cho cô ấy bí danh làLydia.

         Chúng tôi vui sướng khi Susanne chọn nơi cư ngụ tại một căn phòng ấm cúng tại Bonn, tại đây cô mở văn phòng tiếp khách có sự gặp gỡ của những khuông mắt thế giá bàn về chính trị và văn hóa. Chúng tôi nhận được những thông tin quý giá về các tổ chức cực hữu của Tây Đức gọi là Cứu Nguy Tự Do (Rettet die Freiheit), dưới sự lãnh đạo của chính trị gia Dân Chủ Thiên Chúa Giáo Rainer Barzel. Tổ chức này có mối liên hệ với các nước Đông Âu qua ngã người di dân và có liên minh với Otto van Hapsburg, một hậu duệ của gia đình hoàng gia Áo-Hung rất năng động trong lãnh vực chính trị. Sau này Barzel luôn ám ảnh chúng tôi khi ông đạt đến chức vụ chủ tịch của CDU (Đoàn Kết Dân Chủ Thiên Chúa Giáo) và ứng cử chống lại Willy Brandt, cương quyết chống lại nỗ lực của Brandt muốn Tây Âu chấp nhận liên hệ ngoại giao với Đông Đức.

         Trước khi cô bị Đông Đức bắt, Susanne đã có một mối tình say đắm với Willy Brandt khi ông là thị trưởng của Bá Linh. Ông đã viết một loạt thơ tình gởi cho cô, sau này được các đối thủ của Brandt tiết lộ công khai trong một mùa bầu cử quốc hội năm 1961, trong đó có cả Franz-Josef Strauss. Chính nhờ những báo cáo của cô đã ép chúng tôi phải suy nghĩ lại về hình ảnh rập khuôn mẫu về Strauss, mô tả đương sự như một kẻ thù bất cộng đái thiên của chủ nghĩa xã hội, hình ảnh mà đương sự muốn trình cho quần chúng. Cô nhận định Strauss là một người thực tiễn không đam mê. Khi cô tiết lộ Strauss và Brandt có hẹn nhau để gặp gỡ tại căn phòng của cô, có tin đồn một liên minh lớn sẽ đưa nhóm Dân Chủ Xã Hội vào chính quyền lần đầu tiên kể từ khi Đệ nhị thế chiến bùng nổ. Brandt xác nhận những cuộc đàm đạo này trong hồi ký của ông nhưng không đề cập đến khung cảnh và mối liên hệ của ông với Susanne.

         Tôi thường hay tự hỏi điều gì đã khiến người đàn bà này quay ra thích thú với những cuộc gặp gỡ mưu đồ tại Bá Linh và báo cáo về những tổ chức và cá nhân có quan điểm chính trị gần gũi với cô hơn là chúng tôi, đặc biệt sau khi cô chịu cảnh tù đày vì những tội mà tôi cho là ngụy tạo. Cô chắc chắn biết rõ cô đang tiếp xúc với ai. Nếu cô là một gián điệp nhị trùng, chắc chắn cô sẽ hỏi một số chuyện về công tác của chúng tôi, nhưng cô không bao giờ đặt vấn đề. Cô chỉ nhận những bù trừ cho những chi phí của cô, ngoài ra không có gì khác. Để có cớ sang Bá Linh, cô tạo dựng ra một người bạn gái sinh sống tại phía Tây thành phố.

         Mối giây liên lạc với nguồn cung cấp cực kỳ quý giá này thình lình bị cắt đứt vì Bức Tường Bá Linh được xây năm 1961. Cô là một trong nhiều nguồn cung cấp bên Tây Đức ngưng làm việc với chúng tôi kể từ đó. Nhưng tôi tin rằng Susanne đóng góp hơn thế nữa ; có những chỉ dấu cho thấy cô bắt đầu làm việc với tình báo Tây Đức. Cô biệt tích với Fred Sagner, một đại tá của quân đội Tây Đức người đầu tiên thong báo cho cô về tổ chức Cứu Nguy Tự Do, để đi Viễn Đông, tại đây y được bổ nhiệm vào các tòa đại sứ của Cộng Hòa Liên Bang Đức với chức vụ tham tán quân sự. Đến năm 1968, cô làm việc cho hệ thống tình báo dưới sự kiểm soát của một viên chức Tây Đức tên Hans Langemann, một đường giây của CIA để kiểm soát nhân viên tại Âu Châu và Viễn Đông.

         Sau này Susanne Sievers – đã có lần là một Lydia trợ giúp chúng tôi – trở thành trưởng khối Tình Báo Tây Đức (Bundesnach-richtendienst- BND) tại Hồng Kông với bí số 150, điều khiển các phó trạm tại Đông-kinh (Tokyo), Manila, Jakarta và Singapore. Hồ sơ của tình báo Tây Đức mà chúng tôi xem được vào những thập niên 1970 ghi cô đã nhận một tài khoản 96.000 Đức Mã, như vậy vai trò của cô chắc chắn phải quan trong. Khi Klaus Kinkel trở thành trùm điệp báo Tây Đức năm 1968, công việc đầu tiên của ông là quét sạch những điệp viên giả hiệu và chấm dứt những cơ cấu tổ chức vô lối do Gehlen để lại, lúc bây giờ vẫn là tiêu chuẩn, mặc dù đã có hai người khác lãnh đạo BND sau Gehlen. Susanne Sievers rời cơ quan và nghe nói đã nhận 300.000 Đức Mã để không tiết lộ việc BND nhúng tay vào chính trị nội bộ. Tôi không còn tin gì về cô, và cho đến nay cô là một khuôn mặt mà lòng trung thành và ý nghĩa hành động vẫn còn là một bí ẩn đối với tôi.

*

Bị tổn thương vì lỗi lầm của tôi trong vụ Steinrücke, tôi nhận thức bí quyết để xâm nhập chính trị Cộng Hòa Liên Bang nằm trong tính đa dạng của các nguồn tin và cách vận dụng chúng một cách liên lỉ một khi đường dây đã được móc nối. Về phía cánh hữu, chúng tôi đã xây dựng đường giây liên lạc với Günter Gereke, một người Đức ái quốc, một dân biểu tiền chiến đã bị bỏ tù vì chông đối Hitler và sau này gia nhập nhóm âm mưu ám sát Hitler năm 1944. Về mọi mặt Gereke là một mẫu mực của nhóm bảo thủ kiên quyết những rồi cuối cùng hợp tác với chúng tôi. Nhiều người không chịu đựng được Adenauer, phản bác ý niệm của ông nhằm bảo toàn sự tái sinh của nước Đức phải trông cậy vào bà đỡ người Mỹ. Gereke phản đối bằng cách gặp gỡ Ulbricht công khai và bị trục xuất khỏi đảng của Adenauer. Chúng tôi bám vào ông vì ông là một nguồn tin quý giá trong giới Dân Chủ Thiên Chúa Giáo, mà ông báo cáo một cách tường tận.

Khi có tin tiết lộ phụ tá của Giereke là một điệp viên của tình báo Anh quốc, đối với Gereke rõ ràng là chính phủ Bonn hầu như chắc chắn đang lập hồ sơ để đánh phá ông, đồng thời cũng hy vọng hạ uy tín tất cả các đối thủ của chính sách phò Mỹ cho họ là những điệp viên cộng sản. Chúng tôi quyết định hành động nhanh và báo cho Gereke di chuyển sang Bá Linh. Đây là điều ông không hề nghĩ đến trong vị thế xã hội của ông, nhưng vào thời buổi này chúng tôi có phần bốp chát và ông không còn lựa chọn nào khác. Dù sao danh tiếng của ông đã chấm dứt tại Tây Đức khi Adenauer quyết định biến ông thành một thí dụ điển hình.

Chúng tôi đưa ông ra trước cuộc họp báo tại Đông Bá Linh và ông giải thích lý do muốn giữ liên lạc như một người Đức yêu nước. Đây là một thắng lợi tuyên truyền đối với chúng tôi, khiến cho cấp lãnh đạo của chúng tôi phải thích thú. Quá thích thú đến độ khiến cho họ có một mối thèm khát bệnh hoạn xui khiến kẻ khác đào thoát ngoạn mục, không thèm để ý đến sự kiện một điệp viên tốt tại chỗ thường đáng giá hơn một chục người đào thoát. Tôi từng có một nguồn tin, bí danh là Timm, một dân biểu CDU, tên thậy là Karlfranz Schmidt-Wittmack. Là một thành viên của ủy ban cho Vấn đề An Ninh châu Âu và đứng đầu ủy ban bảo vệ của ngành thanh niên CDU, đương sự được các thế lực kỹ nghệ đỡ đầu và trên đường công danh đi đến đỉnh cao của đảng. Tôi trở về sau lần nghỉ hè năm 1954 và thấy giấy báo của Wollweber nói rằng Schmidt-Wittmack phải được rút về Đông Đức. Tôi phát cáu khi nghĩ một người cung cấp tài liệu cho chúng tôi ghi rõ những chi tiết để Bonn gia nhập NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương) lại có thể bị hy sinh cho một cuộc họp báo, và tôi biết đương sự sẽ miễn cường từ bỏ sự nghiệp thăng tiến để chốn chạy sang Đông Đức. Nhưng thẩm quyền không thuộc về tôi. Mắc dù cơ quan tình báo có bản năng bén nhạy đến đâu đi nữa, họ luôn luôn là con cờ của chính quyền mà nó phục vụ.

Tôi nghĩ tôi phải đích thân báo cho Schmidt-Wittmack. Những biện luận chính trị tôi cố bày vẽ không thuyết phục được đương sự tí nào: đương sự không muốn trở thành một con tốt trong cỗ xe quay không ngừng của bộ máy tuyên truyền. Tôi không còn lựa chọn nào khác là nói dối và báo rằng phản gián Tây Đức đang theo dõi y và cơ may duy nhất để tránh tù tội là trốn sang Đông Đức. Đương sự quyết định cùng lúc với sự thỏa thuận của vợ y. Chúng tôi ước định , mặc dù cô vợ quen thuộc với công tác của y cho Đông Đức, cô ấy chẳng vui sướng gì khi nghĩ đến việc phải rời về đó. Chúng tôi thuyết phục đương sự viết cho cô vợ trước khi đương sự trở vềHamburgđể thu xếp đồ đặc, và thư tín đi trước, cho cô vợ có thời gian tiêu thụ tin chấn động này. Buộc phải lựa chọn giữa một ông chồng bị thất sủng ở tù hoặc khởi đầu một cuộc sống mới nơi một căn nhà sinh sắn gần bờ hồ ở Đông Đức, cô vợ chọn giải pháp thứ hai.

Ngày 26 tháng Tám năm 1954, Schmidt-Wittmack xuất hiện trong một cuộc họp báo tại Đông Bá Linh. Đương sự tiết lộ Adenauer đã giấu những thông tin quan trọng về ý định của ông trong chính sách đối ngoại và an ninh. Như mọi trường hợp tương tự, chúng tôi bồi thêm cho tấn tuồng này bằng cách tiết lộ thông tin ngoại lệ từ những nguồn khác – trong trường hợp này là tình báo quân sự Liên Xô – để tố cáo rằng chính quyền Bonn, trái với những tuyên bố công khai, đã hoạch định thiết lập một đội quân với hai mươi bốn sư đoàn.

Schmidt-Wittmack được giao phó nhiệm vụ chủ tịch thương mại ngoại vụ, nhưng tôi luôn tiếc quyết định triệu hồi ông về và đôi khi tự hỏi chúng tôi đã hy sinh một ông bộ trưởng tương lai chỉ vì muốn nằm trên trang nhất của báo chí. Gereke trở thành một công chức trong đảng Dân Chủ Quốc gia, một đảng tại Đông Đức đại diện cho cựu chiến binh, nghệ nhân và tiểu thương. Đây không phải là một phương cách đặc biệt hữu ích cho thân già của Gereke sống qua những ngày tháng còn lại.

Người đào thoát ngoạn mục nhất của những năm đó đến với chúng tôi lại không do chúng tôi chủ sự và đương sự cũng chẳng phải là một trong những nguồn cung cấp tin của chúng tôi. Trái lại nghề nghiệp của đương sự là phát hiện và phơi bày các điệp viên của chúng tôi, người đó tên là Otto John, trưởng khối phản gián Tây Đức (Văn Phòng Bảo Vệ Hiến Pháp). Thời buổi bây giờ khó mà hình dung được cảm giác việc này gây nên lúc các câu chuyện cá nhân và lòng trung thành buổi ấy của tất cả người Đức vẫn bị kẻ thù trước đó nghi ngờ và phe tả vẫn còn uy tín.

Là một người chống đối Quốc Xã, John biệt tăm khỏi Tây Bá Linh sau một buổi lễ kỷ niệm năm thứ mười ngày lật đổ thất bại chống lại Hitler ngày 20 tháng 7 năm 1944. Người ta thấy ông lần cuối tại Tây Đức đi cùng với một người quen thuộc, Bác sĩ Wolfgang Wohlgemuth, một chuyên gia về sản phụ và cuối cùng xuất hiện ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại căn cứ quân sự Xô Viết tại Karlshorst ở ngoại ô Bá Linh. Hiển nhiên cả hai người đã di chuyển vào Đông Bá Linh trên xe của Wohlgemuth.

Tiếp theo đó Tây Đức bấn loạn, họ giải thích trường hợp này là một cuộc bắt cóc gây hấn do tình báo Cộng Sản tổ chức. Nhưng với một thời điểm trùng hợp khôi hài, đúng lúc phát ngôn nhân của chính phủ Bonn tuyên bố John không tự ý rời bỏ Liên Bang Đức, ông trưởng khối tình báo tuyên bố trên đài phát thanh Đông Đức là ông tự ý rời bỏ vì Adenauer đã trở thành dụng cụ của Mỹ, « vì nhu cầu chiến tranh đánh lại binh sĩ Đông Đức… vui mừng đón tiếp những ai chưa rút tỉa bài học từ đại họa qua và chờ đợi giây phút để phục hận năm 1945 » . Khi ông đồng thời tuyên bố nhóm Quốc Xã khống chế hệ thống tình báo của Tây Đức, lời của ông rất nặng ký.

Nhưng cũng như mọi biến cố vào lúc cao điểm Chiến Tranh Lạnh, biến cố này không hoàn toàn diễn biến như người ta tưởng. Đây là lần đầu tiên sự thật mà tôi biết được về sự việc kỳ dị này.

Mấu chốt nằm ở kinh nghiệm của John trong thời chiến, khi ông trở thành người tin cậy của nhóm kháng chiến nhỏ nằm trong cơ quan phản gián của Quốc Xã nhằm âm mưu giết Hitler. Ông được giới thiệu với Claus Schenk Graf von Stauffenberg, sĩ quan đã tổ chức bất thành cuộc ám sát, và có nhiệm vụ ước định xem Đông Minh chấp nhận đề nghị hòa bình của nhóm âm mưu nếu họ khử trừ được Hitler. John, lúc đó làm việc tại thủ đô Madrid trung lập cho một hãng máy bay thương mại của Đức, hãng Lufthansa, có bắt liên lạc với Tòa Đại Sứ Mỹ và đặc biệt với tùy viên quân sự đại tá William Hohenthal, vị này có đường giây liên lạc ở cấp độ tối cao trong bộ tham mưu của Eisenhower. John cũng có gởi thư tín để xin Luân Đôn hỗ trợ qua tòa đại sứ Anh tạiLisbon.

Mấy năm sau, John cho tôi biết ông nghĩ là bức điện của ông đã bị Kim Philby ngăn chặn, vào lúc đó ở đỉnh cao quyền lực trong vai trò điệp viên KGB nằm trong lòng tình báo Anh. Cấp lãnh đạo Nga chống đối quyết liệt mọi thương thuyết giữa phe đối lập Hitler tại Đức và Đồng Minh, vì họ lo sợ có một cuộc đảo chánh bảo thủ đánh tan tất cả và kết hợp lại để chống lại Nga. « Những tài liệu tôi chuyển cho Philby có lẽ đã biến mất trong đống hồ sơ của ông » John kể cho tôi nghe mãi sau khi Philby chết. « Tôi nghĩ rằng chúng tôi chẳng bao giờ đến Luân Đôn .»

Khi âm mưu thất bại và các kẻ âm mưu bị truy lùng và ám sát không nương tay, John tìm cách trốn sang Anh qua ngãMadridvàLisbon. Ký giả Sefton Delmer bao che cho ông và giao cho ông công việc của ngành ước tính trong hệ thống thông tấn. Sau thế chiến, John trình bằng chứng cho tình báo Anh đương sự rất quen thuộc với những vụ án của các Thống Tướng von Brauchitsch, von Rundstedt và von Manstein. Với quá trình như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi ông được bổ nhiệm đứng đầu cơ quan phản gián Tây Đức, đặt trụ sở tạiColognetrong vùng chiếm đóng của Anh.

John không phải là một đồng minh khách quan của cựu quốc xã Reinhard Gehlen, người đã được Hoa Kỳ đặt vào chức vụ cai quản tình báo hải ngoại, kể cả các viên chức Quốc Xã vây quanh Adenauer và ngay cả chính Adenauer cũng không ưa Gehlen vì giống như phần đông cánh thủ cựu Tây Đức họ nhận xét âm mưu của nhóm Stauffenberg mang tính chất phiêu lưu. John muốn được bổ nhiệm trong ngành ngoại giao mới hình thành, nhưng, sau này ông cho tôi biết, ông không muốn gây dựng sự nghiệp trong ngành này bởi vì toàn bộ tham mưu vẫn là một nhóm ngoại giao trước đây làm việc với bộ trưởng ngoại giao Quốc Xã, Joachim von Ribbentrop. Bồi thêm nhục mạ vào phần thương tổn, phó chủ tịch của cơ quan Gehlen, Olaf Radtke, được thuyên chuyển sang ngành phản giản, mục đích rõ ràng để kiểm soát John. Người ta không lấy làm ngac nhiên là vào năm 1954 ông cảm thấy thất vọng và lần xuất hiện của ông bên Đông Đức vào một ngày đẹp trời tháng Bảy được xem là một cảnh đào thoát.

Sự thật hoàn toàn trái ngược và kỳ quặc hơn nhiều. John không hề có ý định đào thoát. Bác sĩ Wohlgemuth là một điệp viên của Nga Xô, ông quyết định lợi dụng tinh thần sa sút của anh bạn để lừa y sang Đông Đức. Các bạn đồng nghiệp Xô Viết của tôi thề rằng họ không khuyến khích ông làm việc này, nhưng tôi có thể mường tượng Wohlgemuth nói với sĩ quan điều hợp: « Tôi có thể đưa Otto John về cho anh ». Và sĩ quan điệp báo Xô Viết lòng phân vân trả lời: « Được, chúng tôi tin anh nếu chúng tôi thấy đương sự ở đây ».

Tuy nhiên, điều chắc chắn là nguồn tin kiểm chứng độc lập thấy John lần cuối là trên xe của Wohlgemuth khi cả hai người băng qua biên giới Đông Bá Linh vào lúc nửa đêm. Tôi đoán chừng John hoặc là đã say khượt hoặc đã bị ông bạn đánh thuốc. Cả hai người được thấy chệnh choạng đi qua các một dãy các hộp đêm, uống rượu để tưởng nhớ các bạn hữu chết trong lúc kháng chiến. Khi người lữ hành bất đắc dĩ thức giấc, vỡ lẽ mình nằm trong khu quân đội Xô Viết tại Karlshorst, một ác mộng đối với một người đã từng là trưởng khối phản gián của Tây Đức. Tôi nghĩ rằng họ cũng kinh ngạc về sự xuất hiện của John trong tay họ cũng như chính John vì họ gọi tướng Yevgeni P. Pitovranov, trưởng trạm KGB tại Bá Linh, và một người tên Turgarinov, đại diện cho Ủy Ban Thông Tin của Bộ Ngoại Giao dưới quyền của W.M.Molotov, để quyết định phương cách tốt nhất để khai thác John. John biết là số phần mình bấp bênh tột độ và, coi như đương sự là một tù binh thực thụ tại Karlshorst, Nga Xô nắm sinh mệnh của y trong tay. Đương sự sẽ vào tù khi trở về quê quán và sự nghiệp của đương sự coi như chấm dứt.

Sau khi đương sự xuất hiện công khai và cơn chấn động đã chìm lặng tạiCologne, Nga Xô như thường lệ vứt đồ phế thải lại cho chúng tôi. John tỏ ra cực kỳ lạc lõng, vì vậy ưu tư đầu tiên của chúng tôi là tạo cho John một nhóm bạn để hỗ trợ . Chúng tôi để cho John bắt liên lạc với Hermann Henselmann, kiến trúc sư trưởng của thành phố Đông Bá Linh và Wilhelm Girnus, một người tôi quen biết vào thời tôi làm việc cho Đài phát thanh Bá Linh, đồng thời chia sẻ một số bạn bè cũ chống Quốc Xã của John. Bộ An Ninh Quốc Gia phái cận vệ để bảo vệ John không cho tình báo Tây Âu bắt cóc, nhưng họ làm việc bất cẩn. Mười bảy tháng sau khi xuât hiện bên Đông Đức, John biến mất, không kèn không trống, rời một cuộc họp mặt tại Đại Học Humboldt, Đông Bá Linh để nói chuyện với một ký giả Đan Mạch tên Bonde-Henrickson. Cả hai người lên xe của Henrickson và vội vã đi về hương Tây qua cửa ngõ Brandenburg.

Chuyện xảy ra năm 1955. Ba mươi bảy năm sau, tháng Tư năm 1992, tôi ngồi với một ông John tám mươi ba tuổi trong một quán ăn, nhìn sang cạnh Đại Học Humboldt nơi ông đã trốn chạy trở về Tây Đức. Ông vẫn còn hậm hực khi ông trở về Tây Đức, ông bị kết án bốn năm tù ở vì tội phản bội tổ quốc. Ông ta chỉ bị mười tám tháng, điều này cho thấy chính phủ Tây Đức không quả quyêt về tội trạng của ông. Về vấn đề « đào thoát » sang Đông Đức, ông kể cho tôi rằng « Tôi bất tỉnh và tôi thức dạy tại Karlshorst. Tôi không hề có ý định sang Đông Đức ». Ông nói ông không bao giờ cảm nhận Đông Đức là nhà của ông và ông quyết định một cách giản dị sau một năm ông quá chán ngán, ông tìm cách liên lạc với ai đó để giúp ông trốn thoát.

Khi mọi việc đã xong, những kẻ đào thoát nổi danh không có một giá trị chiến lược nào. Đúng vậy, Adenauer vì lời tiết lộ của một kẻ đào thoát bắt buộc phải công nhận ông thương thảo để tái võ trang nước Đức. Và ảnh hưởng vương vất của cánh cựu Quốc Xã tại Bonn cũng đã được tiết lộ trong một trạng huống đầy kịch tích nên đối tượng vẫn trỗi dậy trong tiến trình chính trị và vẫn lưu lại. Nhưng Tây Đức rồi ra cũng gia nhập khối NATO (Liên Minh Bắc Đại Tây Dương). Chúng tôi đã không thành công trong mục tiêu ngăn chặn họ gia nhập liên minh Tây Âu, ngay cả trì hoãn cũng không được.

 (Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 9 (Markus Wolf)                        

 “…Bất cứ một chấp nhận cải cách nào đều xem như họ chấp nhận thất bại, và tự động biến thành chiến thắng của Tây phương. Đây là vòng tà ác mà tôi bị lôi cuốn vào trong, liên tục năm này qua năm nọ…”

Chương 6

Khrushchev mở mắt cho chúng tôi

Như mọi người sống trong thế giới Cộng Sản, tôi không có khả năng từ bỏ lòng kính phục đối với Stalin và chủ nghĩa Stalin trong hàng nhiều năm. Động cơ xúc tác khiến cho tôi tỉnh ngộ là diễn văn bí mật nhưng lại công khai nhất thế giới của Nikita Khrushchev tại Hội Nghị Thứ Hai Mươi của Đảng Cộng Sản tạiMoscowtháng Hai năm 1956. Nguồn gốc đích xác của trình tự lâu dài và đau đớn của việc tôi cắt đứt với chủ nghĩa Stalin rất khó xác định; những nhen nhúm nghi ngờ thấm nhập hàng rào phòng thủ ý thức hệ của tôi trong không khí ái ngại của Đông Đức trong những những thập niên đầu 1950 có lẽ là khởi đầu. Nhưng biến cố làm lay động thế giới quan mà tôi đã dầy công nuôi dưỡng cùng với rất đông các đảng viên Cộng sản vào thế hệ của tôi chính là diễn văn của Khrushchev, trong đó ông tiết lộ những tội ác của Stalin. Sau sự cố đó, mặc dù chúng tôi vẫn còn tự xưng là những đảng viên trung kiên nhưng chúng tôi không thể nào tuyên bố chúng tôi vô tội được.

Nikita Khruschev

Cho đến mãi tháng Hai năm 1956, chân dung của Stalin vẫn treo phía trên bàn làm việc của tôi, tay đang mồi ống điếu, gợi nên hình ảnh của một cha già dân tộc đầy lòng ưu ái. Một ngày trong tháng đó, báo chí Tây phương đến từng sấp dày như thương lệ. Tôi luôn luôn đọc The New York Times và ấn bản Paris của tờ International Herald Tribune để ước định khuynh hướng của người Mỹ. Tôi cũng đọc một số tờ báo và tuần báo Tây Đức, kể cả tờ lá cải Bild-Zeitung, mặc dù nó có tính cách thỏa mãn thị hiếu quần chúng, đôi khi nó có những tin tức cục bộ và tình báo chính xác hơn những đối thủ sang giá hơn nó. Tôi cũng đọc The Times của Luân-đôn và tờ Le Monde. Việc đọc toàn bộ báo chí này là một đặc quyền trong công tác của tôi. Báo chí Tây phương bị cấm bên Đông Âu, lấy cớ không xác thực là chúng hàm chứa những luận điệu gây loạn chống thế giới Cộng Sản, nhưng lý do thực sự là Bộ Chính trị biết trong tận đáy lòng thâm kín của họ những bài tường thuật về cuộc sống đàng sau bức Màn Sắt trong rất nhiều chi tiết quá sát với sự thực khiến cho họ không thể an tam.

         Tại Đại Hội Đảng, Khrushchev cuối cùng đã thắng trong cuộc tranh giành quyền lực phức tạp và đẫm máu sau cái chết của Stalin, tố giác kẻ độc tài, tiết lộ rằng trong số 139 thành viên và ứng cử viên đắc cử vào Trung Ương Đảng năm 1934 tại Đại Hội lần thứ Bảy của Đảng Cộng Sản Liên Xô, 98 người đã bị bắt giam và xử bắn. Trong số 1936 đại biểu tại Đại Hội mà bậc cha mẹ chúng tôi long trọng báo cho thiếu niên chúng tôi lễ tiến cử, quá nửa đã bị kết tội phản cách mạng và rất ít người sống sót. Khrushchev kết luận cuộc đàn áp tàn bạo của Stalin đã vi phạm tất cả những quy chế chính thống cách mạng.

         Đây là một ngôn ngữ mà người cộng sản chúng tôi, vì quen với lối tẩy rửa tinh thần chao đao dù nhỏ nhặt đến đâu trong tổ chức, chưa bao giờ gặp. Bây giờ cái thây xác của hệ thống này đã được phơi bày công khai qua một cuộc mổ xẻ tận tình, chúng tôi cảm nhận ngôn ngữ tố cáo Stalin của Khrushchev có vẻ mơ hồ và thiên kiến. Nhưng vào lúc đó, chẳng khác gì chúng tôi bị một nhát búa trên đầu. Khi tôi đọc xong bản diễn văn trên báo chí Tây phương, phản ứng đầu tiên của tôi là đem bức chân dung của Stalin treo trên tường xuống và đá nó vào một góc. Tôi không thể nói rằng những gì tôi vừa đọc gây chấn động cực kỳ nơi bản thân – vì tôi biết quá nhiều qua những kinh nghiệm cá nhân của tôi trong cuộc sống ở Liên Xô – nhưng từ đó xuất phát nỗi đau khi tôi nhìn xuống vực thẳm hiển hiện những tội ác của ông. Cảm giác giống như chỉ một thoáng những sợ hãi kinh hoàng nhất về chế độ mà chúng tôi gắn liền cuộc sống đã trở thành sự thật.

         Thấm nhập qua Đông Âu qua ngã truyền thông của Tây phương và qua rỉ tai, diễn văn nảy lửa của Khrushchev đã làm leo thang những mối bất bình tại Ba Lan và Hungary. Cuộc nổi dạy của Hungary vào tháng Mười và tháng Mười Một là kết quả trực tiếp của những lồi tố cáo của Khrushchev. Lãnh tụ cải cách của Hungary là Imre Nagy, người tôi quen biết tại Moscow từ năm 1943 đến năm 1945 khi ông lãnh đạo đài phát thanh Hungary lưu vong trong khi tôi là đặc phái viên của Đài Phát Thanh Nhân Dân Đức. Chúng tôi cùng đi một chuyến xe buýt để về nhà khi phiên làm chấm dứt. Nagy, với bộ râu mép đặc thù của người Hung và khuôn mặt tròn, luôn luôn tỏ ra điềm đạm và vui tính và dễ kết bạn trong nhóm lưu vong quá khích. Bấy giờ tôi tin chắc ông với sự thỏa thuận của cấp lãnh đạo Moscow sẽ tìm ra phương cách để tái lập lại ổn định tại Budapest. Xe tăng rút ra khởi Budapest sau những ngày đầu nổi dạy và Nagy hứa sẽ có cởi mở tự do.

Imre Nagy

         Nhưng những lời lẽ đó không đủ thuyết phục và cũng đã quá trễ. Các cuộc phản đối và đổ máu vẫn tiếp diễn và xe tăng của Liên Xô trở lại ngày 4 tháng Mười Một. Xô Viết luôn gọi trên đường giây khẩn cấp của tôi và câu hỏi luôn đặt ra: NATO sẽ phản ứng ra sao? Tôi cũng chẳng lấy gì làm tự tin lắm. Một mặt có rất nhiều chỉ dấu cho thấy NATO đang chuẩn bị những công tác bí mật chống Liên Xô. Mặt khác, có những tín hiệu từ các nguồn tin của chúng tôi cho chúng tôi biết Tây phương tự kềm chế vì sợ leo thang. Tôi đánh liều và điện báo choMoscow: “ NATO sẽ không can thiệp”.

Nếu tôi ước định sai – và tôi không lấy gì làm chắc chắn – sự nghiệp của tôi có lẽ đã chấm dứt, cho dù đây là điều cùng cực. Nhưng tôi đá có lý, và Nagy trở thành con vật tế của Liên-Xô. Họ hứa không truy tố Nagy và những người Hung khác tại tòa Đại sứ Nam-Tư, nhưng họ nuốt lời hứa. Họ bắt cóc ông đưa ông ra khỏi tòa đại sứ Nam Tư, đưa ông sang Roumany, và hạ sát ông sau một màn tòa án bí mật lố bịch; đây là một lập lại phương pháp tồi tệ nhất của đường lối Stalin. Sau này, lãnh đạo của tình báo hải ngoại Hungary, Sandor Rajnai, tâm sự với tôi là ông bị dày vò tội lỗi vì vai trò cá nhân của ông ta trong việc thẩm vấn Nagy. Ông nói « Mischa, việc như thế này không bao giờ nên tái diễn nữa ».

         Hungary với hình ảnh tàn sát và hủy hoại là một bài học đắng cay cho tất cả anh em chúng tôi. Việc này có thể nhất thời cho phép nhóm giáo điều của Moscow gắn nhãn hiệu phản cách mạng cho thành phần cải cách, nhưng đối với những người Cộng sản biết suy nghĩ, tính cách phức tạp của cuộc nổi dạy khó nắm bắt vì những thông điệp trộn lẫn trong đó. Những câu hỏi khuôn mẫu cũ kiểu Lê-nin trở lại trong tâm não của tôi: Chúng ta có nên hy sinh quyền lực mà chúng ta đã khổ nhọc chiếm được? Tự do cho ai và chống lại ai?

         Chúng tôi có một cuộc họp tại Bộ An ninh Quốc gia vào tháng Ba năm 1956 để bàn thảo về ý nghĩa của Đại HộiMoscow. Ernst Wollweber lúc đó vẫn còn tại chức, nhờ vậy chúng tôi tránh được những loại hội họp kiểu Mielke, người kế vị của ông. Đối với Mielke ý niệm thảo luận có nghĩa là đương sự nói hàng tiếng đồng hồ và sau đó giải tán phiên họp. Tôi lên tiếng và chào mừng phương cách các đồng nghiệp Xô Viết tiếp cận với quá khứ và bày tỏ lòng nhẹ nhõm bớt được gánh nặng nghi ngờ đã gây hoang mang nơi tôi hàng mấy năm nay. Mielke tỏ vẻ kinh hoàng. Y nói « Tôi chưa bao giờ đau khổ phải gánh chịu một gánh nặng nào. Tôi không hiểu đồng chí Wolf muốn ám chỉ điều gì ». Y tiếp tục nói y không hề biết có một cuộc đàn áp nào tại Liên Bang Xô Viết và thòng một câu để tỏ ra biết điều là Đông Đức cũng chẳng xảy ra việc này.

         Lẽ cố nhiên nước chúng tôi không thể tránh khỏi một vài hệ quả của không khí đầm ấm này. Tám mươi tám tù nhân Đức bị tòa án quân sự Xô Viết kết án được trả tự dọ và thêm vào trước đó bảy trăm tội nhân được thả khỏi tù. Trong nội bộ Đảng, những biện pháp kỷ luật đối với Anton Ackermann, Franz Dahlem, Hans Jendretzky và nhiều ủy viên trong Trung Ương Đảng khác bị thất sủng (từ năm 1953) được bãi bỏ. Những kế hoạch cải cách thình lình lại được lôi ra khỏi ngăn cất hồ sơ của các vị công chức. Ngay trong Trung Ương Đảng, đã có những bàn thảo tìm kiếm cách xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một sự việc chỉ có thể xảy ra với một hình thức dân chủ nào đó. Tôi phục vụ trong một ủy ban nghiên cứu hỗn hợp trong đó có những chuyên viên về kinh tế, điều hành ngân hàng, chính trị, quân sự và các cơ quan an ninh. Kinh tế không phải là bộ môn sở trường của tôi, nhưng tôi chăm chú nghe. Tôi cảm thấy, về mặt tri thức, sẵn sàng chấp nhận cách phân bố về tài sản tư hữu nhiều hơn và sâu sắc đặt vấn đề tương quan giữa tự do ngôn luận và giáo điều của nhà nước tuân theo những huấn thị của Đảng.

         Nhưng Ulricht vẫn muốn tiếp tục đóng kín. Đúng hai tháng sau Đại Hội Đảng tại Moscow, Bộ Chính Trị Đông Đức bỏ phiếu chống lại tất những bàn luận về những sai lầm, để tránh cung cấp đạn dược cho kẻ thù. Kỷ luật được tái lập qua những khẩu hiệu vô lý như « khắc phục những sai trái trên con đường tiến tới của chúng ta ». Tôi là một trong những người trong Đảng, đã có lần hy vong có những động lực mới, lại một lần nữa khép mình tuân phục trước kỷ luật toàn năng. Tuy nhiên, Đại Hội lần Thứ Hai Mươi của Đảng là bước đầu của một hành trình dài tiên tới điều mà sau này chúng tôi được biết đến là perestroika và glasnost, khởi đầu của một vòng cung mà đoạn kết sẽ được mô tả vào năm 1989.

Phần tôi, tôi cũng phải trải qua con đường gồ ghề cho đến lúc tôi chấp nhận những ý kiến mới và bỏ lại đàng sau cơ quan tình báo và những nét sơ cứng trong suy nghĩ của tôi.

*

Những bùng nổ về địa lý chính trị năm 1956 càng sói mòn mọi hy vọng thay đổi. Những sự cố tại Poznan – nơi, trước khi xảy ra vụ Khrushchev tiết lộ, một cuộc đình công của công nhân Ba Lan đã bị chính quyền Ba Lan đàn áp đẫm máu – cuộc nổi dạy tại Hungary và cuộc khủng hoảng kinh đào Suez, tất cả những dữ kiện này khiến cho chúng tôi phải suy nghĩ trở lại theo chiều hướng Chiến Tranh Lạnh. Theo quan điểm của chúng tôi, tất cả những gì chúng tôi chứng kiến là các đồng minh của hai siêu cường rất có kỷ luật khi họ cố gắng thực thi chính sách độc lập – Hungary do Moscow, và Anh và Pháp do Washington. Thế giới được chia thành hai khối và chúng tôi biết chúng tôi thuộc khối nào.

         Tôi tự hỏi nếu tôi cầm quyền tôi có hành động khác không. Tôi hy vong là có, những tôi không dám đoan chắc. Khi tôi nói chuyện với Yuri Andropov vào thập niên 1980 về những vấn đề cải cách – đề tài đề cập đến liên quan đến Ba Lan, không phải là Đức, nhưng vấn đề tương tự cho cả hai – tôi hỏi ông đảng viên Cộng sản tiến bộ này tại sao ông có quá ít ảnh hưởng lên trên những vấn đề này. « Đồng chí Wolf, » ông đáp lại, « khi bất cứ ai trở thành tổng bí thư, các anh có khoảng một năm để gây ảnh hưởng lên đương sự. Nhưng khi những người vây quanh đương sự nói rằng đương sự là thiên hạ đệ nhất và hoan hô từng cử chỉ của đương sự, và lúc đó đã quá trễ. » Andropov kể đến Nicolae Ceaucescu ở Romania, vào những năm đầu có vẻ như đi con đường độc lập với Moscow để rồi mau chóng trở thành một kẻ độc tài.

         Tôi nghe văng vẳng những chỉ trích cho rằng tôi phải chờ đến hai mươi năm để đem ra áp dụng những điều tôi suy nghĩ. Nhưng sự thể nó đã như vậy. Tất cả căn bản suy tư của tôi về Chiến Tranh Lạnh là phương Tây và hệ thống xã hội của nó không trình bày một phương hướng khác khả dĩ chấp nhận được. Vào thời điểm này và nhiều năm về sau, tôi không dự tính một bước đi nào hết, ngay cả trong đường hướng tư duy, để giúp cho đất nước của tôi và của các quốc gia khác trong khối Warsaw tiếp cận hệ thống tư bản. Tôi vẫn tin tưởng bất di bất dịch là hệ thống chủ nghĩa xã hội, cho dù nó có những thất bại hãi hùng, biểu trưng một khuông mẫu có tiềm năng tốt đẹp hơn cho nhân loại hơn là phương Tây. Vào lúc thời điểm quyết định, cho dù tôi có bao nhiêu mối nghi ngờ về cách thực hiện của đảng Cộng Sản, tôi tin rằng chúng tôi không nhượng bộ trước ảnh hưởng của Tây phương. Tôi có viết trong đoạn mở đầu dài và khắc khoải của quyển nhật ký của tôi viết năm 1968 :

         Cơ cấu quyền lực trong thời kỳ quá độ đã triển khai con đường tiến tới Xã hội chủ nghĩa đích thực, nó có những luật lệ riêng biệt và có sức sống độc lập. Chúng được điều khiển bởi những yếu tố chủ quan và quyền lợi.

         Những cơ cấu này, những bộ máy này và những công chức này có thể đôi khi lạm dụng quyền hành đối với quần chúng theo những đường hướng chẳng phụ hợp tí nào với Cách Mạng.

         Sự pha trộn giữa lòng trung tín nồng nhiệt và mối nghi ngờ ray rứt thấm nhập trí não của các đảng viên Cộng sản có trí tuệ. Nhưng cơn cám dỗ lúc nào cũng trực sẵn để chôn vùi những câu hỏi bất an và thay vào đó tập trung vào những thắng lợi kỹ thuật và khoa học do hệ thống của chúng tôi lập nên và ảnh hưởng cân tanh của nó đối với các xã hội chậm tiến như Nga và Trung Hoa. Tất cả mọi thứ khác đều cho đóng băng cho đến khi chủ nghĩa xã hội trở nên ổn định hơn. Những thay đổi không thể xảy ra vào thời đó vì sự kiện này nằm trong bản chất của chính hệ thống và mối căng thẳng của tình hình quốc tế. Bất cứ một chấp nhận cải cách nào đều xem như họ chấp nhận thất bại, và tự động biến thành chiến thắng của Tây phương. Đây là vòng tà ác mà tôi bị lôi cuốn vào trong, liên tục năm này qua năm nọ.

*

         Sau những cuộc nổi dạy năm 1956, mối ưu tư chính của Khrushchev là làm dịu bớt các xung đột và căng thẳng trong khối Đông Âu để có thể tập trung vào các kế hoạch kinh tế đầy tham vọng của ông tại quê nhà. Một loạt những thống kê và diễn văn lạc quan của ông được các bạn đồng nghiệp đón nhận với một chút hài hước, nhưng ông thực sự tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của ông, đất nước không những bắt kịp nhưng vượt trội sự phồn thịnh của Hoa Kỳ. Điều này đã được các cố vấn của Ulbricht chuyển ngữ một cách kính cẩn nhưng vụng về là « vượt lên trên mà không cần bắt kịp » (überholen ohne einzuholen), một câu mà ngài tổng bí thư của chúng tôi lập đi lập lại nhiều lần cho đến khi có người bạo dạn báo cho ông biết đây là một nghich lý.

         Cũng đã có một số người cười thầm về lòng say mê của Khrushchev đối với ngũ cốc, ông tin tưởng đây là vũ khí bí mật để giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm của đất nước rộng lớn của ông ta. Trong dịp viếng thăm đầu tiên Đông Đức năm 1957 Mielke và tôi đưa ông đến cánh đồng sản xuất ngu cốc to lớn nhất của cộng hòa trong vùngMagdeburg. Tại đây ông gặp gỡ các kỹ sư nông nghiệp giúp soi sáng và làm vừa lòng ông. Ông cẩn thận ghi lại tất cả các phương thức và sau này tôi nghe ông gây khốn khổ cho các công chức của ông, mắng mỏ họ vì không bắt kịp được ngay cả mức sản xuất của Cộng Hòa Dân Chủ Đức.

         Phong cách thô kệch của Khrushchev và những diễn văn giông dài của ông khiến cho một số người bực bội khi ông trở về nước, nhưng tại Đông Đức, nơi chúng tôi phải chịu trận nghe lười gỗ của Ulbricht, tính chất hồn nhiên của Khrushchev đã gây một ấn tượng mạnh. Ông được tiếng tốt nhất trong giới lãnh đạo Xô Viết cho đến khi Gorbachev lên cầm quyền, nhưng không như Gorbachev, ông là một người bình dị với một bản chất bẩm sinh thấu hiểu được tâm tư của người dân bình thường. Ông có thể nói hàng giờ về quê mẹ Kalinovka của ông với đầy lòng hãnh diện, đồng thời tỏ ra thái độ chê bai rõ rệt phong cách ngoại giao mượt mà.

         Tôi còn nhớ một sự việc sau buổi tiếp tân tiễn đưa tại Đông Đức để kết thúc chuyến viếng thăm nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức của Khrushchev. Đoàn tùy tùng thân cận được sắp xếp tiếp tân tại những căn phòng của Đại sứ Liên Xô tại tòa đại sứ để cất chén tiễn đưa lần cuối. Anastas Mikoyan, ông chủ tich niên trưởng của Xô Viết Tối Cao đột nhiên buồn ngủ sau một vài ly và không muốn di chuyển sang lâu đài Niederschönhausen trong vùng ngoại ô Pankow, nơi nghỉ ngơi chính thức của các thượng khách, nhưng lại thích ngủ một đêm tại tòa Đại sứ. Ulbricht tỏ vẻ phiền lòng vì ông đã sắp xếp trên con đường từ Niederschönhausen đến phi trường hàng dãy người Đông Đức trung thành vãy chào từ giã các quan khách.

         Một cuộc bàn cãi tiếp diễn sau đó, cho đến lúc Khrushchev can thiệp « Anastas này, không thể nào biện luận với Ulbricht được đâu. Người Đức họ cực kỳ chi ly ». Ulbricht giận tím gan nhưng không nói lời nào.

         Ngày hôm sau, trên đường đi đến phi trường sau một đêm bắt buộc phải ngủ tại lâu đài, Mikoyan tỏ vẻ khó chịu. Ông phàn nàn quyết định của chủ nhà buộc ông phải đương đầu lần cuối với đám đông ngoan ngoãn đứng xếp ngay hàng đón tiếp trên đường đi, rồi ông ngủ gục trên xe. Khrushchev quay sang sang tôi và điềm đạm nói: « Trở về cơ xưởng của chúng tôi tại Kalinovka, có lần chúng tôi có một nghệ nhân người Đức tên Müller. Một hôm hè anh đưa vị hôn thê của anh từ bên Đức sang. Anh ta rất lấy làm hãnh diện anh ta không hề đụng đến cô ta cho đến khi hai người chính thức lấy nhau trước luật pháp. Chuyện này đến tai những anh em trong cơ xưởng và một người bạn của tôi tên Vaska chụp ngay cơ hội. Y phục vụ cô nàng suốt một mùa hè. Đồng chí Wolf thấy không, tính chi ly của người Đức không phải lúc nào cũng tốt đâu ».

         Lẽ cố nhiên Khrushchev có thể là một người thô kệch, khả năng trí tuệ giới hạn và kinh nghiệm yếu kém của ông về các quốc gia khác trên thế giới đã khiến cho ông không thấy được những thiếu sót của chính đất nước ông. Ông cũng không có khả năng thấu hiểu những hậu quả sâu rộng của bài diễn văn mật của ông, rốt cuộc điều này chứng tỏ ông vẫn còn gắn chặt với hệ thống cũ và phương cách tư duy của nó. Nhưng ông là một chính trị gia quả cảm, không phải là một anh thư lại và ông tin tưởng một cách cuồng nhiệt vào ý thức hệ của ông, đến độ ông thường hy sinh những ưu đãi ngoại giao để chỉ thỏa mãn lối biện giải.

*

         Khoảng năm 1956, sự xung đột giữa các siêu cường đã trở nên cảnh tượng mà Bertolt Brecht mô tả Ba Mươi năm Chiến tranh trong vở tuồng Người Mẹ Anh Dũng (Mother Courage): Nó xác định đúng tình hình lúc bấy giờ. Cả hai bên, kỹ nghệ súng ống, các chính trị gia và các cơ quan tình báo sống thoải mái nhờ lối làm ăn thịnh vượng này.

         Vào một buổi sáng sớm cuối tháng Tư năm 1956, người trông nhà đánh thức tôi dạy với một câu chào hỏi bất thường: « Ông bộ trưởng đang chờ ông ở cửa vườn nhà ». Tôi có lòng cảnh giác tức khắc. Nhìn qua kẽ màn, tôi thấy một chiếc xe Volkwagen nhỏ cũ kỹ đậu ở dưới. Tôi đâm nghi ngờ thêm bội phần, vì đây không phải là phương tiên một bộ trưởng của nhà nước Đông Đức di chuyển. Cực kỳ thắc mắc, tôi chụp khẩu súng lục đã lên đạn tôi để trên tủ giường ngủ, bỏ vào trong túi áo ngủ, tôi bước xuống cầu thang, đến trước cửa nhà.

         Trước mặt tôi, bóng dáng Wollweber đứng sừng sững, với mẩu xì-gà trên môi. Ra dấu về phía chiếc xe, tôi hỏi mọi sự đều bình thường chứ. Ông giải thích ông bị đánh thức vì một cú điện thoại khẩn cấp của Xô Viết và để tiết kiệm thời gian, ông đã mượn chiếc xe của người hàng xóm thay vì chờ các cận vệ và tài xế của ông . Ông quở trách tôi: « Nhanh lên đi Mischa, anh không thể tưởng tượng những gì họ mới khám phá ».

         Chúng tôi lạch cạch đi qua các đường phố vắng vẻ đến phi trường Schönefeld. Phiá sau Alt-Glienecke, khoảng bốn trăm thước cách biên giới khu vực Hoa Kỳ và ngay sát tường một nghĩa trang, chúng tôi thấy một nhóm bóng dáng hiện trong ánh sáng màu xám ban mai. Một nửa là binh lính Xô Viết, đang hì hục đào. Những người khác đứng nhìn, tôi biết họ là những cấp chỉ huy cao cấp của tình báo quân sự Moscow tại Bá-linh. Một đường hầm gián điệp vừa được khám phá.

         Binh lính đã đào được một đường khá sâu và chúng tôi tiếp tục quan sát, sững sờ khi thấy họ bước lên đó và đâm thọc vào một sườn sắt hình tròn nằm trong đất cứng. Trong đó là một cánh cửa sắt. Ổ khóa chảy nhão ra dưới sức nóng của ngọn lửa hàn và họ đẩy bật tung cánh cửa trước mắt chúng tôi. Một cách lạng lẽ, các anh lính dò mìn và gỡ bom đi xuống để kiếm soát khoảng không gian trống vắng xem có bị gài mìn không. Họ không thấy gì cả. Người lính gác mời chúng tôi bước vào trong.

         Tôi đứng trong một căn phòng rộng lớn bằng một căn phòng đọc sách. Có hai chiếc ghế và một cái bàn nhỏ ở giữa. Dọc theo tường là từng bó giây cáp, phân chia rõ rệt. Mỗi một bó đều có bộ phận khuếch đại gắn liền trước khi chạy trở lại bó cáp chính ở phía bên kia. Tín hiệu được đón bắt, được khuếch đại và tán phát đến một căn lều đặc biệt được xây dựng cách đó năm trăm thước tại Tây Bá Linh. Đây là một đài nghe lén nguy trang tài tình.

         Sau này tôi mới biết những chi tiết về tính chất tối tân của con đường hầm nhờ các đồng nghiệp Xô Viết. Người Mỹ đã khám phá dưới luống đất này đường giây cáp điện thoại chính thời tiền chiến nối liền với miền Nam nay trở thành Đông Bá Linh. Nó gồm luôn trong đó đướng giây gọi là Ve-Che (do danh từ viết tắt « tầng số cao » Vysokaya chastota) nối liền Moscow với tổng tham mưu quân sự Xô Viết tại Wünsdorf, phía Nam Bá Linh.

         Không cần phải giàu tưởng tượng để biết đây là mộng ước của một điệp viên. Người Mỹ có thể đón bắt những cuộc đối thoại về việc thu mua vũ khí, khan hiếm, những sai sót kỹ thuật và bí danh về kỹ thuật vũ khí vừa mới khai triển giữa Bộ Quốc Phòng tại Moscow và căn cứ Đông Bá Linh tại Karlshorst, căn cứ lớn nhất Đông Âu. Họ cũng có thể nghe lén những kế hoạch công tác và những cuộc thảo luận về những khó khăn triền miên về tài khoản của quân độ Xô Viết.

         Người Nga họ tin tưởng mãnh liệt vào hệ thống bảo toàn an ninh đường dây liên lạc Ve-Che của họ. Họ đã khai triển một kỹ thuật mới bơm hơi nén vào các trong các đường dây nhỏ nằm trong cáp. Nó ghi nhận mọi biến động trong mạch điện đi qua đường dây – điều này xảy ra mỗi khi một bộ phận nghe lén, dù cao siêu đến mấy, được gài đặt lên trên.

         Là đứa con của thời Stalin tại Nga, tôi không bao giờ tin có một đường dây không thể nghe lén và cho đến nay tôi vẫn không tin. ( Mức độ người Nga tin tưởng vào đường dây đặc biệt của họ ngay cả khi đã khám phá đường hầm kể trên được biểu lộ cho tôi thấy đến mãi mấy năm sau này, khi, trong một cuộc viếng thăm đồng nghiệp KGB tại Bá Linh, họ vui vẻ chià điện thoại cho tôi để nói chuyện với Yuri Andropov, lúc bấy giờ là giám đốc KGB tại Moscow.)

         Cơ quan tình báo Anh và Hoa kỳ trước tiên xây dựng một cái chòi sát biên giới bên phiá Tây để đánh cắp những trao đổi một cách an toàn. Họ thiết lập một cái nắp vòng cung để cho giống hình thù của một trạm tiên đoán thời tiết, đánh lạc hướng ở phía trên để không ai để ý sinh hoạt thực sự dưới hầm để thu thập mọi nguồn cung cấp tín hiệu của làn sóng vô tuyến.

         Để tránh bị phát giác gây dao động trên cường độ vào lúc đường dây bị đón bắt, các kỹ sư Anh đã thiết kế một máy khuếch đại nhỏ cho mỗi một đường dây của hàng trăm đường dây điện thoại nằm trong ba bó cáp lớn. Đây là một kỳ công kỹ thuật và tôi đoán chừng nếu không có sự giúp đỡ của KGB, chúng tôi không dễ gì đơn phương tìm ra đường hầm này.

         Chúng tôi lần mò đường hầm trong bóng tối và im lắng, chúng tôi chỉ có ánh sáng của bóng đèn tay hướng dẫn. Tôi bắt gặp một mẩu bià cứng trắng và roi đèn để xem. Nơi đây, dưới lòng đất, qua lằn ranh chia cắt hai hệ thống và hai ý thức hệ, một nhân viên tình báo có đầu óc hài hước cao độ đã đặt một cuộn kém gai nhỏ và một miếng bià cứng trên đó ghi bằng mực đen « Quý vị bước sang khu vực của Hoa Kỳ ». Tôi, một trong những kẻ thù bất công đái thiên của CIA, đến đây để chia sẻ trò khôi hải của một anh nhân viên tình báo Hoa Kỳ! Lần đầu tiên trong suốt buổi sáng bất hủ này, tôi tự véo mình để đoan chắc tôi không nằm mơ.

         Lẽ cố nhiên, có một điểm sơ sót trong công trình thiết lập kỳ công kỹ thuật này mà ngay cả một chuyên viên kỹ thuật tài giỏi nhất cũng không có thể sửa chữa: Liên Xô biết sự hiện hữu con đường hầm này ngay từ đầu, nhờ anh gián điệp nhị trùng Anh, George Blake. Nhưng, trong khi họ bảo toàn những trao đổi bằng những phương tiện này, họ không hề cho chúng tôi biết bất cứ chuyện gì, để mặc cho chúng tôi không phòng bị và lộ trần. Đức tính tồi tệ này không nằm ngoài bản tính của Liên Xô. Đối với họ, tình báo thông thường chỉ đi một chiều.

         Tôi đã ngờ từ lâu có một điệp viên Anh cao cấp làm việc cho Liên Xô tại Tây Bá Linh. Liên Xô đương nhiên tuyệt đối bí mật về điều này, nhưng một trong những ông tướng của họ không kìm hãm nổi tính khoe khoang cho tôi biết ông đang điều khiển một công tác lớn trong lòng nước Anh. Nhưng Liên Xô muốn để cho Hoa Kỳ hoàn tất công trình vĩ đại này để có thể ước định trình độ kỹ thuật của họ. Hoa Kỳ rơi vào bẫy. Tình báo Xô Viết quan sát công tác cài đặt trong khoảng một năm và sau đó công khai tiết lộ bí mật.

         Sau đó Blake bị bắt và vào tù năm 1961, để rồi ngoạn mục vượt ngục trốn khỏi Luân Đôn sang Liên bang Xô Viết năm năm sau. Ngay sau khi ông đã định cư tạiMoscow và lập một gia đình mới, Nga Xô vẫn ngần ngại cho phép ông di chuyển. Cuối cùng họ chấp nhận lời thình cầu của ông để ông đi nghỉ hè và cho phép ông đi cùng với người canh gác đến một trong những nơi nghỉ mát của bộ chúng tôi tại đảo Usedom trên biển Baltic. Blake đến thăm viếng Đông Bá Linh tất cả bốn lần, luôn luôn có hộ vệ KGB theo sau. Tôi mời ông phát biểu trước nhóm điệp viện đang được huấn luyện về những cuộc phiêu lưu của ông với hy vọng sẽ tạo tinh thần nhập thuộc và truyền thống trong cộng đồng tình báo Cộng sản.

         Đến lượt thăm viếng lần thứ ba, những người tháp tùng Blake có vẻ nới lỏng và cho phép người vợ Nga đi theo ông. Ông cũng xin gặp gỡ riêng với tôi. Chúng tôi cùng lứa tuổi với nhau và chúng tôi nhanh chóng kết thân với nhau. Tôi có ấn tượng đặc biệt với thói quen hạ xưng của người Anh của ông. Trong khi vợ ông đi phố, vui hưởng sự phồn thịnh của các cửa hàng quốc doanh Đông Đức sau những ngày tháng thiếu thốn tại Nga, chúng tôi ngồi trò chuyện tại một quán trọ. Ông rất giỏi về ngôn ngữ, ông thông thao tiếng Ả-rập, tiếng Pháp và tiếng Hòa Lan, ngay bây giờ ông cũng nói lưu loát tiếng Đức và tiếng Nga, mặc dù ông có giọng nói của một người Anh lịch lãm có lẽ đã thấm nhập khi ông học Đại Học Cambridge.

         Blake cho tôi biết ý kiến về đường hầm nguyên ủy phát xuất từ phía Anh. Sau khi ông từ Triều Tiên trở về, tại đây ông giữ chức phó trạm trưởng Cơ Quan Tình Báo Anh trong vùng. Blake cũng đã giữ chức vụ tương tự tại Vienna. Kế hoạch đào hầm khởi xuất từ tổng tham mưu Quân Cảnh Anh qua đường Simmeringstrasse tại Vienna đến phái bộ quân sự Xô Viết gặp trở ngại kỹ thuật nhưng có vẻ là một tiến trình khả quan. Vì ông tham dự trong dự án đó, ông được kêu gọi tham khảo với Hoa Kỳ về đường hầm Bá Linh.

         Sau khi Blake ra khỏi tù và đào thoát sang Moscow, chúng tôi lại gặp nhau một lần nữa, lúc đó tôi cùng đi với em Koni tôi, đến để trình chiếu ra mắt cuộn phim « Mama, I’m alive ! »(Mẹ ơi, con còn sống !). Chuyện kể về các tù binh Đức tại Nga. Hôm đó là một buổi tối êm ả, chúng tôi nói về phim sách của Nga. Ngay cả với tư cách một cựu điệp viên, ông kín đáo hơn thương lệ khi chúng tôi đề cập đến những chi tiết gút mắc về thương trường. Ông nói tình bằng hữu với Kim Philby tại Moscow hỗ trợ cho ông vô kể. Tôi ngạc nhiên khi Blake tỏ ra rất đau khổ vì mang tiếng là một điệp viên bẩn thỉu và mong thiên hạ coi ông ta là một người có lý tưởng. Mặc dù ông dấn thân cho chính nghĩa Xô Viết, tôi có cảm tưởng ông từ chối chấp nhận trên thực tế ông là kẻ phản bội đối với đất nước của ông và chính nước ông nhìn ông như kẻ phản bội. Có lẽ ông kém thông minh hơn Philby, một người mà tôi cũng quen biết và thán phục vô cùng. Cả hai đều có vẻ nhẹ nhõm khi có người để nói chuyện và người này thấu hiểu sự dấn thân của họ cho hệ thống xã hội chủ nghĩa đồng thời chia sẻ cái nhìn phê phán trên tiến trình tại Moscow. Đi trước Gorbachev, họ cũng tin tưởng cuộc thay đổi sẽ diễn ra từ bên trong.

Kim Philby

         Mặc dù Philby và Blake cả hai đều có chức vụ thích hợp với hiểu biết của họ, nhưng cuộc sống của những điệp viên về vườn sau một cuộc sống náo động tại Tây phương không thể nào dễ dàng, đặc biệt trong một nước đang vật lộn với nhiều mâu thuẫn như Liên Bang Xô Viết. Philby có bản tính cởi mở hơn Blake, tự tin, mềm mỏng và thoải mái trong giao tiếp. Ông cũng có đến Đông Bá Linh nhiều lần để nghỉ hè và thụ hưởng những đêm dài nói chuyện với bạn bè và đồng chí cũ, nhâm nhi vài chung rượu. Nhưng sau một vài năm sống tại Moscow, cái nhìn của ông về Liên Bang Xô Viết trở nên khô khan hơn. Ông có lần than phiền với tôi về nền kinh tế khốn khó và hố ngăn cách giữa người lãnh đạo và nhân dân. Tôi luôn cảm thấy thú vị vì người Anh nghĩ mình là người đầu tiên khám phá ra những sự thật hiển nhiên như sản phậm tiêu thụ khan hiếm và hành chánh luộm thuộm. Philby không có nhiều cơ hội để nói chuyện với giới trí thức tại Moscow, nhưng tôi không đồng ý với những thông tin của Tây phương cho rằng ông sống khốn khổ tại Moscow. Sự thật là ông không còn lựa chọn nào khác, nhưng Philby có khả năng xoay xở giỏi hơn các điệp viên khác.

         Tôi có cảm nghĩ rằng KGB thu xếp cho họ đi nghi hè tại các nước như Đông Đức và Hungary, nơi đây mức sống trung bình cao hơn tại Nga và đó là phương cách để những người như Philby và Blake xả xú-báp. KGB lo sợ những thành tích danh giá Tây phương này sẽ trở về xứ sở và giáng một đòn nặng cho bộ máy tuyên truyền của điện Cẩm Linh và những chuyện tẩu thoát không có gì là khó khăn. Philby cho tôi biết tình báo Anh tìm cách đề nghị nhiều phương thức để mời ông trở về Anh.

         Philby yêu chuộng cảnh đồng quê Đông Đức và khi ông đến thăm, chúng tôi bàn về nhiều vấn đề – sách vở, tư tưởng, và ngay cả nấu nướng; chúng tôi cùng làm bánh Pelmeni để chúng tôi so tài về cách làm món này, vì cách chọn lựa gia vị mang tính cách cá nhân cao độ. Có một lần viếng thăm, ông đưa cho tôi một ấn bản về hồi ký của ông với lời đề tặng: « Gởi tặng đồng chí Thiếu Tướng Wolf, với lòng kính phục và biết ơn đã được tiếp đón nồng hậu tại DDR, Kim Philby ». Đây là ấn bản Tây Đức và ông chua thêm trong phần tái bút: « Bản dịch FRG (Cộng Hòa Liên Bang Đức) chưa được hoàn hảo. K.P. » Có lẽ ông nghĩ cần phải lịch sự đánh Tây Đức khi gởi tặng một món quà cho cấp lãnh đạo của tình báo hải ngoại Đông Đức. Cho dù thế nào đi nữa, phần phụ chú này làm cho tôi cảm thấy thú vị về kiểu cách tỉ mỉ của Philby.

         Philby và Blake có thứ hạng trong những khuôn mặt nổi tiếng trong lịch sử tình báo. Những thành quả nghề nghiệp của họ rất lớn, bất kể khuynh hướng chính trị của họ. Đặc biệt buồn cho số phận của Blake vì ông mất tổ quốc không những một lần, khi ông rời bỏ nước Anh, nhưng đến hai lần khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ và ông bị bỏ rơi, sống một cuộc đời lầm lũi trên mảnh đất của một tổ quốc vay mượn đã từ bỏ lý tưởng của ông. Philby, đã từng tham dự những biến cố lớn của thế kỷ, khởi sự với Cuộc Nội Chiến Tây Ban Nha, có lẽ là người may mắn nhất vì đã chết đúng lúc. Tôi không bận tâm việc Philby là một tên phản bội đối với đất nước của ông, vì những gì ông làm là do quyết đoán của ông. Ông đoan quyết ngay từ thuở ban đầu Liên Bang Xô Viết là quốc gia biểu hiện rõ rệt nhất lý tưởng chống phát-xít của ông. Nếu quý vị có quyết tâm trong cuộc đời, quý vị đi theo con đường quý vị đã tự vạch sẵn và không đi lệch hướng – cho dù quý vị có thể bắt gặp những điều kinh khủng trên đường đi. Lẽ cố nhiên, đường đi của mỗi người mỗi khác và thứ tự ưu tiên cũng khác. Có những người như Arthur Koestler, đã quyết định theo lý tưởng công bằng và bình đẳng của Cộng sản và sau đó quay lưng đi vì những thái quá trong chế độ Xô Viết. Điều này cũng xảy ra cho người bạn cũ của tôi Wolfgang Leonhard. Đã có lần tôi không hiểu được họ, nhưng tôi có nói chuyện với Leonhard và tôi nghĩ rằng bây giờ chúng tôi đã hiểu nhau.

*

         Nhờ quy chế hóa các luật lệ trong Chiến Tranh Lạnh, điệp viên không còn xuất hiện như là những nhân tố ác độc của phía bên kia nhưng đúng hơn là những món vật – đôi khi là con cờ – trong một cuộc chơi giữa Đông và Tây. Họ thường được giam giữ bởi cơ quan tình báo đối nghich, sau khi bị bắt, chứ không bị xử bắn, mặc dù đôi lúc việc hành quyết cũng xảy ra, rất thường khi một chính trị gia muốn gởi một thông điệp cho dân nước mình hoặc cho phía bên kia. Sự thay đổi này khiến cho tôi nhận biết những cuộc trao đổi có thể trở thành một phần quan trọng trong kho vũ khí tình báo của chúng tôi. Tôi khởi sự xem xét tỉ mỉ phiá chúng tôi giam giữ những ai để có thể trao đổi với nhân viên chúng tôi bị bắt giam bên Tây Đức.

         Tai Đức, lề lối này đã trờ thành thủ tục nhờ các dịch vụ của Wolfgang Vogel, luật sư Đông Bá Linh đai diện cho quyền lợi quốc tế của Cộng Hòa Nhân Dân Đức (GDR), và Jürgen Stange, đối tác bên Tây Đức. Ngày tháng trôi qua, việc thu xếp trao đổi qua bức Bức Tường Sắt trở nên dễ dàng hơn. Vogel làm ăn khá phát đạt nhờ làm trung gian giữa hai cường quốc kình địch.

         Cuộc trao đổi quốc tế quan trọng đầu tiên giữa Tây và Đông liên quan đến Francis Gary Powers, phi công của chiếc phi cơ thám thính bị bắn hạ năm 1960 trên không phận của Liên Xô.

Tòa Án Liên Xô xét xử Francis Gary Powers tháng 8, năm 1960

Việc này tạo bối rối chính trị lớn cho Tổng thống Eisenhower và sự cố tai hại này phá vỡ cuộc họp thượng đỉnh với Khrushchev tại Paris. Tôi kinh qua một cảm giác ngại ngùng khi tham dự phiên tòa xét xử Powers trong Đại Sảnh của Công Đoàn Thương Mại tại Moscow, nơi đây những màn xét xử của Stalin đã diễn ra vào thập niên 1930. Lúc đó tôi đang ở phố bận việc khác và quyết định đi xem. Tôi ngồi trên hàng ghế cứng dưới một trần nhà màu lợt thật êm ả đối trọi với không khí lúc bấy giờ, trên bàn bày những chân đèn lóng lánh thích hợp cho một phòng khiêu vũ hơn là một tòa án.

         Đây là lấn đầu tiên kể từ khi Stalin chết, tòa án xét xử một gián điệp được công khai mở rộng và thiên hạ bàn tán về việc xét xử Powers suốt mùa hè tại Moscow. Thường dân Moscow đi vòng dinh tòa án, tò mò tìm kiếm anh Mỹ đã bị bắn hạ trên không phận Xô Viết. Các bạn đồng nghiệp KGB rỉ tai rằng chính ông tổng thư ký sẽ đứng ra xác quyết bản án và phán quyết.

         Powers xuất hiện trong chiếc lồng tù, vẻ hơi bối rối vì những mệnh lệnh tòa án được phát biểu bằng tiếng Nga. Anh có một khuông mặt dịu dàng và thơ trẻ và có thói quen nhíu mày thật mạnh khi anh không hiểu một câu hỏi. Phong cách nhã nhạn và phần nào ngây ngô khiến tôi có chút cảm tình với anh ta, mặc dù anh ta làm việc cho phía bên kia. Nhờ qua một thông dịch viên mặt lạnh lùng, anh trả lời suông sẻ và chi tiết những câu hỏi của công tố viên, anh xác nhận nội dung của nhiệm vụ công tác của anh và anh phục vụ cho ai. « Đồ điên » tôi thầm tự nhủ.

         Rồi ra, chính sự ngây ngô của Powers và sự cộng tác với Liên Xô đã giúp các cường quốc đơn giản hóa lần trao đổi gián điệp quan trọng đầu tiên. Powers chỉ bị kết án mười năm tù ở, và các bạn của tôi trong KGB giải thích bản án khoan hồng này là một tín hiệu của Moscow cho Washington biết rằng họ sẵn sàng trao đổi điệp viên.

         Phia bên kia Đại Tây Dương, đại tá KGB Rudolf Ivanovich Abel bị giam trong tù của Liên Bang tại Atlanta. Con của một công nhân sinh sống tại Saint Petersburg, giòng dõi Đức, vui vẻ chọn theo chủ nghia bolshevik và gặp Lênin nhiều lần, Abel (tên thật là William Fischer) đã được KGB lén lút cài đặt vào Hoa Kỳ năm 1947, tại đây ông đội lốt một nhiếp ảnh gia và họa sĩ tên Emil Goldfus. Từ căn nhà này tại Brooklyn ông điều khiển một chuỗi điệp viên có chân trong chính quyền, cơ sở thương mại và cơ mật quân sự trước khi ông bị bắt năm 1956 và sau đó bị kết an ba mươi năm tù ở. Vogel làm trung gian thu xếp trao đổi Powers với Abel vào tháng 10 năm 1962.

         Mấy năm sau, Abel đến Đông Bá Linh để thuyết trình cơ quan của tôi về những kinh nghiệm của ông. KGB đã phong quân hàm đại tướng và giao cho ông nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống Anh-Mỹ. Ông cũng dạy các tân binh của tôi và tôi thu xếp nhiều lần gặp gỡ với các sĩ quan cao cấp của tôi để vinh dự đón tiếp ông . Ông là người vui tính khi ông gặp đúng đối tượng và sau khi nâng ly chúc mừng thành công trong công tác gián điệp của mọi người, chúng tôi bàn về kịch trường của những thập niên 1920 và 1930, và luôn cả các vở kịch của cha tôi. Abel là một người của thời Phục Hưng sống trong một thời đại tân tiến, rất ham thích môn hóa học và vật lý và đặc biệt say mê Albert Einstein. Những bức họa của ông – ông dùng tạiBrooklyn để làm bình phong che dấu hoạt động gián điệp của ông – tương đối đẹp. Tôi vẫn lưu giữ một vài phác họa nhỏ ông tặng tôi làm kỷ niệm. Sau khi ông chết vào năm 1971, bà vợ góa của ông phải áp lực mạnh với Xô Viết để ghi tên thật của ông dưới tên KGB của ông trên bia mộ. Họ không bỏ nổi thói quen giữ bí mật, ngay cả khi một trong những điệp viên xuất sắc của họ đã chết và được chôn.

         Một dấu hiệu khác về tạp quán gay gắt của Chiến Tranh lạnh xuất hiện sau cuộc gặp gỡ thượng đỉnh giữa Khrushchev và Tổng thống Kennedy tại Vienna năm 1961. Tôi được biết cuộc xung đột trở nên trầm trọng tột độ khi Khrushchev trở về nước tuyên bố với quân đội và nâng cao vai trò của Tây Bá Linh. Do hai nguồn tin của chúng tôi – một tại tư lệnh quân sự Anh tại Bá Linh và một tại tổng tham mưu NATO (Liên minh Bắc Đại Tây Dương), chúng tôi biết những chuẩn bị nóng bỏng của phiá Hoa Kỳ để phản ứng chống lại trong trường hợp Moscow ra lệnh phong tỏa Bá Linh lần thứ hai. Khi tôi đọc những tài liệu lưu trữ được sắp xếp lại như một lắp lại những mẩu hình ghép rời rạc từ một mớ vi phim, tôi nhận thấy chỉ lỡ một bước kém khôn ngoan của cả hai phía là có thể đưa đến chiến tranh. Và nó sẽ khởi sự tại đây, tại Bá Linh.

         Một tổ chức tối mật của Hoa Kỳ gọi là Live Oak (Cây Sồi Sống) đã được thành lập năm 1958 bởi ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles, và đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Lauris Norstad, chỉ huy trưởng khối NATO, cốt để phá vỡ việc phong tỏa Bá Linh lần thứ hai. Một hôm có người trình cho tôi một tài liệu do Norstad ký tên ghi rõ những phần thiết yếu trong « Ước định Sơ khởi về Ý đồ của Xô Viết ». Tài liệu này, tôi có được qua một nguồn tin tại tổng tham mưu Anh tại Đức, vẫn còn được xem là mật tại Hoa Kỳ mặt dù được viết cách đây 40 năm. Nếu việc hạch sách ở mức độ thấp cách loại xe của quân đội di chuyền qua hành lang một trăm dặm nối liên Bá Linh với Tây Đức có chiều hướng leo thang, kế hoạch của Live Oak đề nghị phái một đoàn quân xa để mở đường vào phía Tây Bá Linh và thử phản ứng của Xô Viết. Tài liệu tiếp tục đề nghị những giải pháp quân sự rộng lớn hơn. Trước hết là một tiểu đoàn gồm có binh lính Hoa Kỳ, Anh và Pháp đi vào hành lang này. Rồi vào giai đoạn cuối của mức độ đọ sức, một sư đoàn gồm có quân đội của ba nước đi vào hành lang để khẳng định quyền được vào thành phố Bá Linh. Chỉ có quân đội Hoa Kỳ, Anh và Pháp gia nhập trong công tác này, vì họ là những người duy nhất có quyền gởi quân đôi qua Đông Đức đế đến vùng chiếm đóng phía Tây của Bá Linh.

         Tôi không dễ hoảng sợ, nhưng kế hoạch Live Oak làm cho tôi lạnh xương sống. Các nguồn tin tại Moscow cho tôi biết Khrushchev nói không ngừng về Bá Linh. Ông cũng có nói với Đại sứ Hoa Kỳ Llewellin Thompson là giải quyết vấn đề Bá Linh là một vấn đề « uy tín cá nhân » của ông và ông đã « chờ đợi khá lâu » để tiến hành. Vì biết rõ lòng tự ái cố chấp của Khruschev nên tôi đâm ra lo ngại hơn. Các cường quốc thường gây chiến với nhau chỉ vì muốn bảo vệ cái uy tín mong manh của các cấp lãnh đạo.

         Điều mà tôi không biết vào lúc đó, có một chống đối mãnh liệt kế hoạch Live Oak trong nội bộ của NATO. Mấy năm sau, cơ quan tình báo CIA giải mật tài liệu cho biết trưởng khối quốc phòng Anh, Thống đốc Lord Mountbatten, đã hạch hỏi Kennedy về kế hoạch này:

         Điều gì sẽ xảy ra cho sư đoàn nằm trên xa lộ? Nga sẽ cho nổ một chiếc cầu đàng trước, một chiếc cầu đàng sau và lúc đó họ bán vé chỗ ngồi để thiên hạ đến xem và cười vào mặt. Nếu đây là một trò cười, một tiểu đoàn sẽ là một thảm kịch. Phải trải một mặt trận dài 30 dặm để tiến tới và có thể họ xem đây là một cuộc xâm chiếm Đông Đức và đưa đến một cuộc chiến toàn diện.

Tôi càm thấy nhẹ nhõm khi nghe thấy con ngựa chiến già của Anh đã tỏ ra hiểu biết hơn về tính cách phiêu lưu của kế hoạch Live Oak. Bộ tham mưu của Live Oak mãi đến năm 1987 mới được NATO xác nhận, khi họ đeo huy hiệu SHAPE (Supreme Headquarters, Allied Powers Europe, Tổng Tham Mưu Tối cao, Lực Lượng Đồng Minh Châu Âu) trên quân phục của họ, giống như những đội khác của NATO. Tổ chức này vẫn chưa giải tán ngay cả sau khi nước Đức đã thống nhất. May mắn thay, tầm quan trọng của cơ quan này trong chiến lược của Hoa Kỳ đã giảm đi sau khi Khrushchev quyết định không phát động chiến tranh cho một vấn đề riêng biệt của nước Đức. Ngược lại ông tìm kiếm một giải pháp khác và giải pháp này là đúc một bức tường bằng bê-tông.

(Còn tiếp)

Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức – kỳ 10 (Markus Wolf)                      

“…tôi nghe một bà già nguyền rủa bằng tiếng địa phương của Bá Linh ‘chúng phóng được vệ tinh Sputnik, nhưng ngay giữa mùa hè chúng ta không có một cọng rau tươi. Đấy là xã hội chủ nghĩa’…”

Chương 7

Giải pháp bê-tông

Khi Chiến tranh Lạnh được nhắc đến như là một trong những xung đột của những đế quốc lớn, và nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức đã trở thành một lời ghi chú nhỏ trong các sách lịch sử, đất nước của tôi có lẽ sẽ được ghi nhớ là một nước đã dựng một bức tường để giữ chính công dân của mình không cho họ đào thoát. Hình ảnh của Bức Tường Bá Linh không những chia cắt một thành phố lớn mà cả hai ý thức hệ và hai khối quân sự tranh đua nhau vì tương lai của nhân loại, bức tường luôn mãi là biểu tượng hùng hồn nhất của sự chia rẽ hậu chiến của châu Âu và của sự tàn bạo và vô nghĩa của chính cuộc Chiến Tranh Lạnh.

Đối với tôi, một người đã sống và làm việc đàng sau bức tường sau khi nó được dựng vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 và cống hiến sức lức cho nền an ninh và sự phát triển của hệ thống đã xây dựng nên nó, Bức Tường luôn luôn là biểu tượng của sức mạnh và sự yếu kém. Chỉ có một hệ thống với sự tin tưởng mãnh liệt vào hệ tư tưởng chỉ đạo mới có thể thu xếp để chia cắt một thành phố và tạo nên một biên giới gần kề giữa hai phần của một nước. Và chỉ có một hệ thống yếu kém và hư hỏng từ căn bản như hệ thống của chúng tôi mới phải làm như vậy trước tiên.

Vì vậy tôi biết trong thâm tâm, nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức đã đến ngày tàn khi, vào đêm ngày 9 tháng 11 năm 1989, tôi bật máy truyền hình và nghe tin các công dân CHDCĐ được phép đi lại qua biên giới và thấy đám người đầu tiên đổ dồn về ngã biên giới thình lình được mỏ ngỏ. Một nước như nước chúng tôi, mà sự sống còn lệ thuộc hoàn toàn vào sự ổn định nội bộ, không thể nào tồn tại với biến cố chấn động này. Làm thể như thực tại đã ngưng động. Bàng hoàng, tôi ngồi với vợ tôi nhìn hình ảnh người Đông và Tây Đức ôm chầm lấy nhau trên vùng đất vô chủ (no man’s land) tại biên giới Bá Linh. Có vài người đi dép ngủ, làm như họ mộng du trong một đêm quyết định cho định mệnh của nước Đức và của châu Âu trong những năm tới.

Lẽ cố nhiên biên giới chưa bao giờ đóng cửa hoàn toàn. Nó được mở ngỏ cho những du khách Đông Đức thi hành công vụ. Họ là những người đã được rà soát và thích hợp với vai trò « cán bộ du lịch ». Điều này có nghĩa là họ đáng tin cậy về mặt chính trị, họ không có thân nhân ở Tây Đức. Kể từ khi có sự nới lỏng những hạn chế vào thập niên 1970, vào lúc mối giây liên lạc giữa hai nước Đức đã cải thiện, các người về hưu được phép du lịch dựa trên lý luận, tuy là lô-gíc nhưng không thiếu phần cay độc, nếu họ ở lại Tây Đức họ không phương hại đến nền kinh tế của Đông Đức và ngay cả việc từ bỏ tiền hưu trí. Và đương nhiên, các điệp viên của tôi làm việc tại chỗ và các tiếp liên trao đổi thư tín cho những nguồn cung cấp được phép du lịch sang Tây Đức với lý lịch giả.

Những ai có phép đi ra ngước ngoài rất được quần chúng thèm muốn; cơn sốt du lịch lên cao trong một quốc gia không có khách du lịch. Tôi đã du lịch không vì thú vị bản thân như phần đông các sinh viên trung lưu Hoa Kỳ. Mặc dù tôi có mọi đặc quyền, tôi chưa bao giờ viếng thăm Viện Bảo Tàng Prado, Viện Bảo Tàng Anh Quốc, hoặc Viện Le Louvre. Tất cả chúng tôi sống một cuộc đời thu hẹp, mặc dù cuộc sống của tôi ít hẹp hòi hơn vì công tác gián điệp đưa tôi đến Đông Châu Phi, các vùng hoang dã của Tây-bá-lợi-á, những bờ biển Hắc Hải, những cánh rừng Thuỵ Điển và sự dịu dàng của vùng nhiệt đới Cuba. Vì được ưu đãi nên tôi có một một căn phòng sinh sắn, một chiếc xe hơi và một tài xế, và được những ngày nghỉ thoải mái qua lời mời của các cơ quan tình báo khác trong khối Đông Âu. Những biệt đãi này luôn liên hệ đến công việc và trách vụ của tôi; xét ra cuối cùng thế giới rộng mở bên ngoài nhưng đối với tôi cũng như khép kín.

Mặc dù bọn chúng tôi không hưởng được sự thoải mái và tinh thần độc lập của một công dân tương đối khá giả của Tây Âu, tôi hoàn toàn cách biệt với những công việc cực nhọc chi phối một công dân thường ở nước tôi. Chúng tôi thụ hưởng từ nhóm Xô Viết hệ thống đặc quyền của giai cấp Nomenklatura. Sự việc khởi sự vào năm 1945, khi các công chức, các khoa học gia và những kẻ hữu dụng cho lý tưởng Cộng Sản nhận được một số ít phụ trội về lương thực, mà chúng tôi gọi là payoks, mượn từ tiếng Nga để chỉ phần chia lương thực. Sau đó thành thói quen, như mọi sự việc, và trở thành một định chế dưới danh nghĩa một phân cục gọi là « an ninh cá nhân » và đã đương nhiên trở thành một đội ngũ năm ngàn người. Rồi những đặc quyền của chúng tôi được hợp thức hoá trong hệ thống liên lạc với Bộ Thương Mại Hải Ngoại, để đảm bảo các đầy tớ tối cao của quốc gia không bị thu hẹp trong mớ sản phẩm thường là hạng nhì của chính quốc gia mình. Tất cả đều được phân chia tuyệt đối theo thứ bậc. Có những cửa hàng đặc biệt dành những món hàng của phương Tây để cung cấp cho Bộ Chính Trị. Sau khi họ đã chọn lựa, phần còn lại được giao cho chúng tôi ở trong những cơ quan tình báo và tại đây các bộ khác và cơ quan thương mại khác nhận phần của mình. Cuộc sống thật là đơn giản và thoải mái cuộc sống. Tôi quá yếu đuối để từ chối những đặc quyền này, và những năm sau tôi thú nhận điều này khi sinh viên hỏi tôi. Họ hài lòng với câu trả lời của tôi, vì họ hiểu những yếu đuối của con người trước những đặc quyền như vậy. Lẽ cố nhiện, nếu tôi không được sủng ái, những thứ này biến mất chỉ trong một đêm.

Ngoài những món ưu ái này và những nơi dừng chân đặc biệt, tôi sống một cuộc đời bàn giấy, kẻ thi hành lệnh của những chủ nhân ông chính trị của tôi. Đầu tiên chúng tôi làm việc về đêm – giờ làm việc của Stalin – giống hệt các thượng tầng cơ sở của giới thư lại Xô Viết. Sau khi Stalin chết, Mielke làm việc suốt ngày, bắt đầu từ 7 giờ sáng và thường kết thúc vào 10 giờ đêm, tuy nhiên sau này tôi nghĩ ông ta cố làm vẻ như ở trong văn phòng nhưng ông ta không ở. Tôi thường thèm muốn sự độc lập của những người làm việc trong cơ quan của tôi. Họ có thể đi công tác một cách thong dong và tự mình quyết định lấy giờ làm việc của họ, nhưng ngày làm việc của tôi dính liền với thời khoá biểu của cấp trên của tôi.

Tôi thức giấc vào lúc 6g30 sáng hoặc 7 giờ và tập thể dục cho cái lưng – tôi có vấn đề khi con nhỏ – và đến sở làm việc lúc 8g15 sáng. Trước tiên, tôi có tài xế và một thư kí và sau này hai thư kí và một người phụ tá đặc biệt, tiếng Đức gọi là người chỉ định. Các nhân viên trong văn phòng riêng của tôi rất gần gũi với tôi và hiếm khi thay đổi; người thứ ký chính của tôi bắt đầu làm việc với tôi năm 1954, vào năm thứ ba tôi làm Giám đốc Tình Báo Hải Ngoại, và ở lại đó ba mươi ba năm cho đến khi tôi về hưu.

Tôi khởi sự ngày làm việc của tôi với những giấy tờ quan trọng, những báo cáo từ các chủ nhiệm ngành và đôi khi từ các điệp viên. Vào mười năm cuối, giấy tờ trở nên quá nặng nề và tôi phải trông cậy bản tóm tắt của ban nghiên cứu trong đó gồm có những hồ sơ mật, tóm lược về những sự cố thường nhật và tài liệu của các thông tấn xã.

Cơ quan HVA được chia vào khoảng hai mươi ban, trong đó có cả những nhóm riêng biệt để giám sát các điệp viên và những thông tin tại các Bộ, các đảng phái chính trị, các công đoàn, các giáo phái và các định chế khác của Tây Đức; tình báo quân sự, Hoa Kỳ, Mexico và phần còn lại của thế giới; Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các tổng tham mưu của Công Đồng Châu Âu tại Brussels; phản gián; phản thông tin; thông tin khoa học và kinh tế của Tây Đức; ban gian điệp kỹ thuật chuyên về các hạ tầng cơ sở kỹ nghệ, những dụng cụ điện tử và khoa học, và hàng không học và không gian vũ trụ học; các sứ quán, các biên giới, huấn luyện và dịch thuật, và một ban để điều nghiên và đánh giá những thông tin thô vẹn đổ về từ các ban khác.

Cứ bốn hoặc ba ngày tôi họp với các phụ tá của tôi và với giám đốc của mỗi ban dưới sự điều khiển trực tiếp của tôi để thảo luận về những tiến triển của công tác và những dự án quan trọng. Tôi phải đọc tất cả những báo cáo gởi lên ban lãnh đạo. Mielke không cắt xén những báo cáo của tôi, nhưng giữ lại một vài bản không đưa cho Honecker, nói rằng « Họ không lấy gì làm thích thú lắm đọc những thứ này ». Tôi thường ăn trưa với các phụ tá của tôi cùng với thư ký của Đảng tại sân của văn phòng bộ trên đường Normannenstrasse , quận Lichtenberg. Chúng tôi trao đổi tin tức và những mẩu chuyện, nhưng ngay trong nơi kín đáo nhất của bộ chúng nói đến điệp viên của chúng tôi và ngay cả «người thường trú hợp pháp » trong toà Đại Sứ của chúng tôi, chúng tôi đều dùng bí danh để không tiết lộ danh tánh thật của họ và như vậy gây nguy hiểm cho họ nhiều hơn.

                               

Phạm vi to lớn của công việc này rất là nhàm chán. Tình báo chỉ là việc buôn bán bình thường để sàng lọc mớ thông tin hỗn độn và tìm ra một viên đá quý hoặc một sợi giây liên lạc đáng giá, vì vậy tôi thay đổi lề thói hằng ngày của tôi bằng cách điều khiển mười hoặc mười hai điệp viên do tôi điều động trực tiếp. Theo như tôi được biết, tôi là một giám đốc duy nhất trong tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới làm điều này. Việc này cho phép tôi đi ra ngoài và đôi khi gặp gỡ họ tại các nhà an toàn ở ngoại ô Bá Linh hoặc – điều mà tôi ưa thích – tại Dresden và các nơi khác, nơi không có nhiều người phía Tây để có thể chạm mặt với điệp viên đến đây.

Những tập quán này đương nhiên bị gián đoạn vì những sự việc bất ngờ, đặc biệt là việc bắt giữ những điệp viên của chúng tôi tại hải ngoại. Thông thường những tin tức mới nhất do báo chí loan tải, họ ít khi cho biết tên tuổi chính xác của điệp viên, vì vậy chúng tôi phải đoán mò có phải là điệp viên của chúng tôi hay là ai khác. Đôi khi tôi phải đến gặp giám đốc ban để đón nhận tin không tốt, đặc biệt nếu đó là một hành vi đào thoát. Chúng tôi phải tự huấn luyện nhắm mắt làm ngơ những mất mát này qua từng giai đoạn và cố gắng không loan truyền sự hoảng hốt; nỗi lo sợ đã quá đủ khi ông bộ trưởng đòi hỏi lời giải thích.

Thay vì khiển trách, điều quan trong hơn là tìm kiếm hoặc xét xem ai khác có thể bị đe doạ vì việc bắt giữ hoặc đào tẩu. Chúng tôi phải thông tin vô tuyến nhanh chóng cho điệp viên của chúng tôi bằng mật hiệu, nhưng vì điệp viên không phải lúc nào cũng bật máy vô tuyến để nghe mỗi ngày, chúng tôi có thể dùng điện thoại để trực tiếp báo động cho họ bằng mật hiệu. Nếu trong tường hợp điệp viên của chúng tôi là một doanh nhân, lời báo động có thể là « Cuộc gặp gỡ tới của chúng ta được rời sang ngày khác ». Chúng tôi tránh những chỉ dấu quá lộ liễu như « Bà cô ở Dresden bị bệnh nặng ». Chúng tôi có một số tín hiệu, chẳng hạn như đinh đóng trên thân cây hoặc dấu thập trên một họp thơ mà điệp viên đi qua mỗi ngày để anh ta kiểm chứng, nhưng không phải tất cả các điệp viên đều dùng cách này.

Trong thời gian mười năm cuối trong nghề, tôi thường làm việc đến 9 giờ tối, sáu ngày một tuần lễ, chỉ có Chủ Nhật là ngày nghỉ. Cuộc sống xã hội của tôi rất ít, mặc dù tôi cố gắng đi xem kịch hoặc dàn hoà tấu ít nhất hai lần trong một tháng. Những thăm viếng trao đổi với các cơ quan tình báo tại các nước bạn, hoặc phái đoàn của họ đến thăm viếng Bá Linh, cho chúng tôi những cơ hội hiếm có mà chúng tôi vui vẻ đón nhận để đi thăm viếng các viện bảo tàng và nhà hát. Vào những ngày cuối tuần, tôi tìm cách về dacha của tôi trong một ngôi làng nhỏ Prenden, cách xa Bá Linh hai mươi dặm về phía Đông Bắc. Và ở đây tôi tìm đủ mọi cách để bảo vệ đời tư của tôi để không bị công vụ xâm nhập. Khi những bàn bè tuổi thiếu thời ở Moscow, George và Louis Fischer ghé thăm Bá Linh năm 1985, họ lấy làm ngạc nhiên khi khám phá tôi không có người hộ về bám sát theo tôi và đi lại thong dong tự do. Mielke có người hộ tống bảo vệ và một lần ra lệnh bắt tôi phải có một người hộ tống, nhưng rồi tôi xoay sở để đuổi anh này đi. Anh tài xế của tôi được huấn luyện đặc biệt để bảo vệ tôi nhưng đương sự chẳng màng đeo súng. Súng của tôi tôi cất trong tủ kín.

Cho dù tôi có mối nghi ngờ về hệ thống tôi đang phục vụ, một cuộc đời được ưu đãi, có trách nhiệm và có lúc choáng ngộp sẽ khó lòng cho bất cứ ai từ bỏ việc vận động để thay đổi, đặc biệt một người như tôi tin rằng thay đổi chỉ đến từ cấp cao. Điều này nghe có vẻ lạ lùng đối với một người ở trong vị thế của tôi, tưởng chừng như có ảnh hưởng, nhưng ảnh hưởng của tôi chỉ giới hạn trong cơ quan của tôi, nơi đây phạm vi không gian không thuộc về tôi.

Günter Gaus, Đại Sứ Tây Đức đầu tiên tại Đông Đức, một người rất là thông minh, hiểu biết rất rõ những vấn đề của chúng tôi, gọi nước CHDCĐ là một cộng đồng những hang hốc. Phần lớn quần chúng không màng đến những vấn đề của đời sống công cộng, không để ý đến những vấn đề của chính sách nhà nước, miệt mài thực hiện những mục tiêu cá nhân và bảo vể không gian của bản thân. Tôi cũng có không gian riêng của tôi, và , xem như có vẻ mâu thuẫn, không gian riêng này chính là cơ quan của tôi. Tôi không thể làm khác hơn.

Việc mô tả đời sống chúng tôi có thể tạo nên cảm tưởng là tôi sống một cuộc đời tồi tan của một anh nô chức, chỉ thi hành nhiệm vụ để có những đặc quyền hiếm hoi. Thưa không phải như vậy.Tôi hài lòng với nhiệm vụ lãnh đạo cơ quan tình báo. Tôi thâm tín rằng công việc này cần thiết và tôi cống hiến bản thân tôi cho công việc này. Tôi đã thành công cố tình tránh né mọi cơ hội để leo lên những cấp bậc cao hơn và gần gũi với trung tâm quyền lực hơn. Tôi cũng đã từ chối lời đề cử tôi trở thành cấp lãnh đạo về truyền thông đại chúng, một chức vụ trông coi về tuyên truyền. Ngay cả các con tôi cũng xin tôi từ chối việc thăng chức này, vì việc này sẽ đưa tôi đến gần kề chức vụ lãnh đạo chính trị và chắc chắn sẽ tạo nên những mâu thuẫn.

Những ngày trước khi Bức Tường Bá Linh được dựng lên vào ngày 13 tháng 8 năm 1961, tôi cảm nhận có một biến cố quyết liệt sẽ diễn ra. Không khí của phiá Đông thành phố xem ra ảm đảm. Công ăn việc làm và thực phẩm mỗi tuần một khan hiếm. Một hôm, đi ngang qua một nhóm người xếp hàng trước một cửa hàng, tôi nghe một bà già nguyền rủa trong tiếng địa phương của Bá Linh « chúng phóng được vệ tinh Sputnik, nhưng ngay giữa mùa hè chúng ta không có một cọng rau tươi. Đấy là xã hội chủ nghĩa ».

Ai có thể khiển trách những thanh niên nếu họ đem tài năng của mình để làm việc bên kia biên giới, nơi đây họ có thể kiếm ra tiền và mua những sản phẩm mà những người ở lại mơ tưởng? Trong thâm tâm của họ, họ không phản bội một quốc gia, họ chỉ di chuyển sang phần bên kia của nước Đức, nơi đây phần lớn có bạn bè hoặc thân nhân sẵn sàng giúp họ lập nên sự nghiệp.

Từ ngày thành lập Đông Đức vào năm 1949, 2,7 triệu người đã bỏ trốn sang Tây Đức, hơn một nửa dưới 25 tuổi. Tôi cũng tự hỏi mấy đứa trẻ trong gia đình cũng bỏ đi nếu chúng không nằm trong nhóm nhừng người sống chết với xã hội chủ nghĩa. Ngày 9 tháng 8 năm 1961, con số tị nạn ghi trong sổ tiếp nhận của các trại ở Tây Bá Linh lên đến 1926 người, con số cao nhất trong một ngày. Nhà nước đang mất đi nhân lực, mất đi những người mà nhà nước đã bỏ tiền ra huấn luyện, không có sự đóng góp của họ mức sống sẽ xuống thấp hơn nữa. Tôi cảm nhận chúng tôi đang bơi lội trong bùn.

Nhà Nước của chúng tôi tố cáo phương Tây hút máu của phương Đông. Lột bỏ luận điều bệnh hoạn này, tôi biết điều này có nghĩa là sức thu hút của Tây Đức đang gia tăng vì những thịnh vượng mới và quần chúng sẵn sàng hy sinh những mối liên hệ huyết thống và nền an ninh êm ấm của nhà nước xã hội chủ nghĩa để đi đổi lấy những lời hứa hẹn bâng quơ của chủ nghĩa tư bản. Lẽ cố nhiên tôi chảng bao giờ tin lời giải thích của nhà nước về Bức Tường – rằng việc đóng biên giới của chúng ta là một biện pháp để chống lại sự tấn cộng hoặc xâm nhập của các điệp viên ngoại bang. Nhưng việc xây dựng cái mà Đông Đức gọi là « hàng rao bảo vệ chống phát-xít » và phương Tây gọi là « bức tường ô nhục » đã làm thay đổi cuộc sống của chúng tôi trong một đêm.

Tôi không những hiểu những nguyên nhân thật sự xây Bức Tường mà còn đồng tình ủng hộ chúng. Tôi tin rằng không có phương cách nào khác để cứu nước chúng tôi vào thời buổi đó. Chúng tôi thừa hưởng theo lịch sử phần yếu kém kinh tế của nước Đức và chúng tôi khởi sự từ một căn bản thật thấp, chưa kể những cách quản lý sai trái tạo nên những khó khăn. Thêm vào đó Tây Đức đã bị các lực lượng Xô Viết tước đoạt các máy móc kỹ nghệ và ngay cả những dụng cụ nằm ở hạ tầng cơ sở chẳng hạn như đường sắt xe hoả mà họ xem là lợi phẩm đền bù chiến tranh. Tây Đức ngược lại đã có khả năng xây dựng lại đất nước nhờ vào tiền của Kế hoạchMarshall. Tôi vẫn nuôi mộng tưởng – bây giờ tôi mới rõ là mộng tưởng – với những thay đổi tình hình quốc tế và những cải cách cần thiết trong nước, mức sống của chúng tôi sẽ từng bước một bắt kịp phương Tây. Tôi tin giá trị của chủ nghĩa xã hội, trong một nền kinh tế chỉ định, sẽ xác định chỗ đứng của mình cũng như chúng tôi thường nói với nhau, rồi sẽ có một ngày phương Tây sẽ chiếm đóng Bức Tường để đuổi không cho quần chúng tới gần! Thực ra vào cuối những thập niên 1970 và 1980, một vài điệp viên và cảm tình viên ở phương Tây đặt câu hỏi chúng tôi thực sự có cần hạn chế du lịch không bởi vì mức sống đã cải thiện đến độ những người du lịch từ CHDC Đức đã quay trở về. Nhưng vào năm 1961, chúng tôi phải lựa chọn giữa Bức Tường hay là đầu hàng.

Tôi phải thú nhần, với nguy cơ mất uy tín là người hiểu biết rõ những gì xảy ra tại Đông Bá Linh, việc xây dựng Bức Tường Bá Linh cũng gây ngạc nhiên cho tôi giống như mọi người bình thường vào tháng 8 năm 1961. Tôi chỉ đoán chừng Eric Mielke, người điều khiển kế hoạch bí mật này, không thông báo cho tôi vì muốn tinh nghịch chọc ghẹo tôi. Như hàng triệu người khác, tôi nghe tin một bức tường đã được dựng ngang Bá Linh trên đài phát thanh vào sáng ngày 13 tháng 8. Phản ứng đầu tiên của tôi là giận dữ vì nghề nghiệp. Đáng lý ra tôi phải được báo trước về việc này vì tôi phải tiếp tục điều khiển các điệp viên ở bên kia biên giới. Bản chất của biên giới này đã thay đổi toàn diện chỉ qua một đêm. Kế hoạch xây dựng bức tường quá bí mật nên chúng tôi không kịp phối hợp trước với tổng tham mưu quân đoàn biên giới để đảm bảo liên lạc viên vẫn tiếp tục qua được Tây Bá Linh để thu thập nhũng tài liệu mật của các điệp viên qua một biên giới thinh lình trở nên khó xuyên thủng.

Những ngày kế tiếp tôi bỏ hầu hết thời gian để kiểm soát xem nhân viên của tôi đã nhận giấy tờ được vội vã thảo và đưa qua các trạm kiểm soát để cho họ kịp thời nhận công tác bên Tây Đức. Đây không phải là một vấn đề tiện nghi. Mối giây liên lạc trong điệp vụ đặt căn bản trên sự tin tưởng tuyệt đối. Một khi sợi giây bị đứt, những điệp viên yếu đuối sanh ra lo sợ và guồng máy thu thập tình báo sẽ ngưng hoạt động.

Bây giờ chúng tôi phải dựng những câu truyện nguỵ trang cho những trạm tiêp liên để họ cung cấp những lời giải thích thích hợp cho lính gác ở bên kia biên giới để nói lý do tại sao họ được quyền đi qua phía Tây trong khi số còn lại không làm được. Đối với các cơ quan phương Tây, biên giới khép kín là một quà tặng bất ngờ vì nó ngăn lọc một số đông thường dân và cho phép phản gián của đồng minh tập trung sức lực vào một số nhỏ công dân bây giờ được phép qua biên giới, thường với tư cách là doanh nhân nhà nước, chẳng hạn như những viên chức thương mại nhà nước, các giáo sư hàn lâm và công dân bình thường lâu lâu được phép qua biên giới vì có việc gia đình khẩn cấp.

Khi tôi đi quanh Đông Bá Linh trên chiếc công xa, tôi đánh lạc hướng anh tài xế để tôi có thể nhìn việc xây dụng bức tường trong lòng pha lẫn khâm phục và kinh hãi. Tất cả gia đình thân thuộc nhất của tôi đều ở bên Đông, vì vậy tôi không mang vết đau thương của sự xa cách. Nhưng Bức Tường tạo nên vố số sự việc lạ lùng, một trong những sự việc này liên quan đến tôi và tên tuổi của cha tôi.

Trên một dải của con sông Spree, một đoàn những chiếc thuyền du ngoạn đi từ Treptow Park cho đến tận biên giới sát với vùng Neukölln của Tây Đức rồi sau đó ngoan ngoãn trở về bến tại Đông Đức. Những chiếc thuyền mang tên của các văn sĩ người Đức trong đó có cha tôi. Một hôm, đúng sau ngày Bức Tường được dựng, con thuyền Friedich Wolf vui vẻ đi về hướng Tây trong một trong những câu chuyện vượt biên lạ lùng vào thời đó. Nhân dịp một đêm chiếc thuyền rời bến, ông đầu bếp và gia đình đã phục rượu ông thuyền trưởng và xúi ông xả hết tốc lực đâm thuyền sang Tây Bá Linh trước sự kinh ngạc của lính gác. Đến đây họ nhảy tàu và bơi vào bờ để tìm tự do. Ông thuyền trưởng say gục trên boong tàu. Khi ông tỉnh giấc, ông thiểu não lái tàu trở về khiến cho lính gác biên giới càng ngạc nhiên hơn. Ông sẽ phải bị trừng phạt. Người vợ tuyệt vọng của anh thuyền trưởng điện thoại cho mẹ tôi, lúc ấy bà phụ trách Công khố Friedich Wolf , và van xin mẹ tôi giúp đỡ.

« Con có giúp được gì không?» mẹ tôi hỏi tôi trong bữa cơm tối hôm đó. Tôi biết cha tôi sẽ xem câu chuyện phiêu lưu của chiếc thuyền là một chuyện khôi hài, vì vậy tôi kêu gọi khoan hồng cho ông thuyền trưởng. Ông không bị vào tù nhưng tôi không cứu gỡ ông khỏi nỗi nhục nhằn bị thuyên chuyển ra khỏi Bá Linh. Cuối cùng ông làm việc trên một chiếc tàu hơi trong một vùng kỹ nghệ nằm ở vùng an toàn cách xa biên giới.

Tình hình thay đổi cũng gia tăng căng thẳng giữa cơ quan tình báo hải ngoại của tôi (Aufklarüng) và cơ quan phản gián (Abwehr) trách nhiệm về an ninh biên giới. Mối liên hệ giữa hai ngành tình báo không bao giờ đằm thắm cả, cũng như những ai theo dõi lịch sử cạnh tranh giữa CIA và FBI đều biết. Trường hợp của chúng tôi, mối liên hệ cũng lạnh lùng không ít. Tôi từ chối trao cho họ danh sách các điệp viên và các thông tín viên cần phải qua biên giới, vì điều này có thể gây tổn thất cho chúng tôi nếu không may các sĩ quan trong các cơ quan mà tôi không kiểm soát phản bội.

Chúng tôi phải mất nhiều tuần – có khi hàng tháng trong một vài trường hợp đặc biệt khó khăn – để đạt được một thỏa ước sống chung mới. Chúng tôi ở trong một vị thế mâu thuẫn là những kiểm soát bên phía chúng tôi có phần gắt gao và khó dàn xếp hơn là bên phía Tây Đức. Một trường hợp làm cho tôi nhức đầu là trường hợp của Freddy (không phải tên thật), một nguồn tin tức quan trọng nhất của chúng tôi nằm trong giới lãnh đạo của đảng Dân Chủ Xã Hội tại Bá Linh. Tôi không gọi đích danh tên ông để tránh tai tiếng cho gia đình ông, nhưng các đảng viên Dân Chủ Xã Hội vào thời đó sẽ nhận ra ông. Là một nhân vật khác thường, thích hưởng thụ, ông có giọng nói lớn và thuyết phục trong giới lãnh đạo đảng Dân Chủ Xã Hội (SPD) và có những mối giây liên lạc thân thiện với Bonn – một người phò vua hơn vua, nhưng không phải vì vậy mà kém phần hữu dụng đối với chung tôi. Ông trở về Đức mãi sau này khi chiến tranh chấm dứt sau thời gian bị Hoa Kỳ giam giữ. Ông không có một kỷ niệm tốt về việc này. Vào lúc thiếu thời ông đã là đảng viên, ông được đưa vào ngành tình báo. Thật ra, ông xâm nhập đảng SPD năm 1950 theo lệnh của một trong những giới chỉ huy kỳ cựu của chúng tôi, Paul Laufer, và sau này chính ông cũng điều khiển Günter Guillaume, gián điệp nằm trong Văn phòng của Thử Tướng Willy Brandt.

Freddy bảo vệ hăng say lý tưởng của SPD, và thất vọng vì những sự cố bên Đông Đức, không coi chủ nghĩa xã hội là biểu tượng nữa. Trong một thời gian dài, hầu như chúng tôi mất liên lạc với đương sự. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc với những người chúng tôi muốn giữ. Tôi đặc biệt chú trọng đến trường hợp của đương sự trong mục đích gặt hái những tin tức có chất lượng cao mà tôi biết đương sự nắm giữ trong những cuộc bàn thảo nội bộ của SPD về chính sách của họ đối với Đông Đức. Tuy nhiên, đương sự một mực từ chối ghi âm hoặc nói bất cứ điều gì về các bạn đồng nghiệp làm việc tại Văn Phòng Nghiên cứu Đông Đức của đảng SPD, một tổ chức tại Tây Bá Linh với mục đích tái lập dân chủ xã hội bên Đông Đức – đối với chúng tôi đây là một cơ quan hắc ám nhất hoạt động ở bên kia Bức Tường. Những cố gắng để dẫn dụ đương sự vào những cuộc thảo luận chính trị hầu như luôn luôn kết thúc trong hãi hùng vì Freddy chửi Ulbricht là một thằng ngốc theo chủ nghĩa Stalin.

Trước tiên Freddy và tôi có ý định gặp gỡ nhau tại những căn phòng nhỏ dùng làm nhà an toàn cho cơ quan của chúng tôi tại vùng Bohnsdorf nằm về phía Nam của Đông Bá Linh. Nhưng tình thế lúc đó căng thẳng và năm 1955, tôi nảy sáng kiến thay đổi nơi gặp gỡ tại những căn nhà nhỏ kín đáo của những người quen khi tôi sống tại Moscow. Tôi lợi dụng tinh thần lạc quan do Đại Hội Đảng lần thứ 20 thổi tới để điều chỉnh mối liên hệ giữa chúng tôi. Freddy rất có ấn tượng với những lời bài bác của Khrushchev lên án Stalin và tội ác của ông. « Anh thấy chưa, » y nói với vẻ đắc thắng, « tôi có lý. Tôi đã nói với anh là tình thế phải thay đổi ». Tôi cũng chia sẻ nỗi vui với y về « Con Đường Mới » của Moscow – bây giờ chúng tôi được tự do nói về quá khứ và bàn thảo về những vấn đề của đảng, về tự do văn hoá, về kinh tế, vân vân… – và chúng tôi có thể ngồi hàng giờ trong căn phòng đầy khói thuốc thảo luận về tương lai của Liên Bang Xô Viết và đồng minh. Cuối cùng tôi đạt được một kết quả nào đó. Đối với tôi, Freddy chỉ chấp nhận vai trò điềm chỉ viên nếu mối liên hệ của chúng tôi đặt trên căn bản tình bạn. Đương sự cũng không từ chối việc lâu lâu nhậu nhẹt. Vì vậy trước ngày sinh nhật thứ 50 của y, tôi mời y đến gặp gỡ tôi tại một biệt thự nhỏ ở Rauchfangswerder bên cạnh một cái hồ, cái hồ mà chúng tôi đã dùng để dàn dựng cuộc du ngoạn malina một cách vô tích sự. Tại đây, không ai dòm ngó chúng tôi, chúng tôi buổi trưa ngồi nhâm nhi ly rượu long lanh với đá lạnh và, khi chiều về, một két bia. Tôi phải uống nhiều để bắt kịp anh bạn của tôi và báo cho người phụ tá của tôi, có trách nhiệm đưa chúng tôi tới đây và trở về,và bảo đảm chúng tôi không bị quấy rầy, phải tỉnh táo như một quan toà để khi chúng tôi đưa Freddy trở về Tây Đức, ít nhất có một người trong chúng tôi biết rõ đường đi nước bước của ông bạn.

Lúc này Freddy nói không ngững và thổ lộ hết những bực tức về tình trạng Mỹ Hoá của Công Hoà Liên Bang Đức và chửi rủa thậm tệ các chính trị gia và bơi móc đời tư của ngôi sao sáng đang lên tại Tây Bá Linh, Willy Brandt. Chúng tôi trở về thủ đô vừa đúng trước 12 giờ đêm. Tôi kêu anh tài xế đầu xe khá xa và hai đứa chúng tôi chập choạng đi ngang qua Công Viên Treptow đến gần cửa biên giới. Chúng tôi tiến gần đến tầm tai của anh lính gác thì Freddy thình lình nổi hứng hát những bài cách mạng và hát to « Khi chúng ta cùng nhau lên đường » và bài « Quốc Tế Ca ». Tôi tỉnh cơn say tức khắc, nói Freddy im miệng với giọng không thân thiện và kêu anh tài xế đưa chúng tôi tới điểm kiểm soát biên giới kế tiếp, nơi đây chúng tôi thả y xuống. Sau khi dặn dò y phải cúi đầu và nói tối thiểu khi qua biên giới, tôi nấp trong bóng tối nhìn y đi qua biên giới.

Tôi hầu như đứng tim, vì y đã say đến giai đoạn bất chấp hậu quả những gì mình nói hay mình làm. Mối lo sợ lớn nhất của tôi là một trong những cảnh sát bên phía Tây Đức sẽ nhận ra hắn là một nhân vật nổi tiếng trong vùng và để ý hắn đi qua biên giới trong lúc say tuý luý vào lúc giữa đêm – một vụ tai tiếng đủ để chấm dứt sự nghiệp mặc dù đương sự không bị tình nghi làm gián điệp. Bóng dáng lảo đảo của đương sự tiến về hướng trạm kiệm soát. Vào giờ phút chót, y quay ngược trở lại, vẫy tay hùng dũng và la lớn về phía tôi : « Chúng ta sẽ uống cạn một ngàn ly với nhau, anh và tôi ! »

Tôi chửi thầm, nhưng không làm gì khác hơn được nữa. Những ngày sau đó, tôi lo âu rà soát báo chí xem có âm hưởng gì không. Nhưng kẻ say sưa lại có trời độ và uy tín của Freddy vẫn còn nguyên vẹn.

Đối với những nhân vật có tiếng tăm, việc tham dự những buổi họp bên Đông Đức qua trung gian của chính quyền luôn luôn là một việc làm phiêu lưu. Freddy lần hồi xét lại ý kiến của y đối với Willy Brandt và trở nên một cộng tác viên thân cận của ông thị trưởng trẻ. Đương sự không thể mạo hiểm đến gặp gỡ chúng tôi một cách công khai, dù say hay tỉnh táo. Chúng tôi bó buộc phải tìm ra một giải pháp mới và áp dụng một kế hoạch dàn xếp tỉ mỉ và phức tạp để chúng tôi trao đổi quan điểm: Con đường thông quá của đồng minh phải đi ngang qua lãnh thổ của Đông Đức để tới Bá Linh.

Chúng tôi ước tính phản gián Tây Đức kiểm soát chặt chẽ con đường này, cũng giống như chúng tôi. Các sĩ quan kiểm soát ở cả hai phía ghi sổ ngày giờ mỗi chiếc xe đi vào và đi ra khỏi xa lộ, hoặc ở bên Tây Bá Linh hoặc ở biên giới Tây Đức. Vận tốc bị giới hạn ở 100 cây số một giờ một cách triệt để, do đó thời gian phỏng định đi hết con đường có thể tính ra khá chính xác, và không thể có khả năng ngừng lại để làm bất cứ chuyện gì ngoài trừ việc trao đổi mau chóng những tài liệu.

Hơn nữa, cảnh sát lưu thông kiểm soát các trạm dừng và đặt máy quay phim trên những tuyến đường ngoằn ngoèo. Tôi không thích cho cơ quan phản gián biết về những chi tiết công tác của tôi, vì vậy tôi quyết định không làm thủ tục xin họ ngưng quan sát khi tôi gặp gỡ điệp viên của tôi. Với sự đồng ý của Freddy, chúng tôi bày một phương kế hào hứng và thoải mái để gặp nhau. Tôi hồi hộp chờ đón việc này, và cho dù tôi có kinh nghiệm, một điệp viên vẫn luôn là một người phiêu lưu, và tôi vẫn thích thú sắn tay áo để đôi lúc mạo hiểm. Chúng tôi đồng ý với nhau là Freddy sẽ rời Tây Bá Linh vào xế trưa để khi chúng tôi gặp nhau trời đã chạng vạng. Y sắp xếp chuyến đi cho ăn khớp với buổi dạ tiệc kinh doanh tại Bonn để phù hợp với nguỵ trang.

Trước khi y rời Tây Bá Linh, tôi rời Đông Bá Linh trên một chiếc xe Mercedès xanh dương đậm với bảng số tỉnh Cologne và một anh tài xế với giấy tờ Tây Đức giả. Vì không ai bên Tây Đức biết rõ mặt mũi của tôi, tôi không cần phải cải trang và tôi đơn giản mặc y phục của một thương gia. Tại trạm xăng đầu tiên ngoài ô trên con đường thông quá Bá Linh – Munich, tôi kêu anh tài xế ngưng xe để đổ xăng và uống một ly cà-fê Đông Đức tại trạm xãng. Tôi ngôi ở đây chờ cho đến khi xe của Freddy đi ngang.

Việc này xem ra rất là thú vị. Các anh tài xê xe vận tải, nhìn lầm tưởng tôi là một người phương Tây sau khi tôi tặng họ thuốc lá phương Tây, bắt đầu than phiền tình thế ở bên Đông Đức. Đây là cơ hội hiếm có để nghe người bình dân thực sự nghĩ gì trong khi tôi ngồi cao chót vót trên cấp bậc kỳ cựu của Đông Đức. Nếu họ biết họ đang trực tiếp than phiền với một sĩ quan cao cấp của Stasi, họ sẽ hốt hoảng. Tôi nhớ một anh tài xế vận tải chửi rủa những đặc quyền của giới lãnh đạo Đông Đức sau khi tôi bịa chuyện tôi là một thương gia chào hàng dạo khá thành công xuất xứ từ vùng Ruhr. « Bọn đảng lại của chúng có lẽ cũng sống thoải mái như ông, sự khác biệt là ông thực hiện được một việc gì đó còn họ chẳng làm gì cả ». Markus Wolf chính hiệu cảm thấy hơi nhột vì lời nhận xét này, nhưng tôi gật đầu đồng ý.

Khi Freddy đi ngang qua trặm dừng với vận tốc giới hạn 100 cây số một giờ, chúng tôi móc một dấu hiệu đặc biệt cho phép chúng tôi, những giới chức cao cấp mà anh bạn tài xế vừa mới chửi rủa, chạy nhanh hơn vận tốc ấn định. Chúng tôi chạy vào khoảng tốc độ 150 cây số/giờ, thời gian và khoảng cách đã tính sẵn để phù hợp với tốc độ xe của Freddy chúng tôi đến một ngã rẽ trên xã lộ dành riêng cho xe vận tải gỗ rừng và cảnh sát. Chúng tôi lái xe vào trong rừng để tránh tai mắt của những ống kính kiểm soát quay phim và những tài xế khác. Lặng lẽ và nhanh nhẹn như thể xác đồ sộ của anh cho phép, Freddy chui vào xe của tôi và tài xế của tôi chạy qua của anh. Cả hai xe đều lên đường chạy ra khỏi nơi trốn, đèn tắt để tránh ống kính kiểm soát hoặc một đội tuần đi ngang. Chúng tôi cảm thấy sung sướng khi chúng tôi biết rằng chúng tôi đã thành công trong trò chơi này. « Việc này hay ho hơn cả chính trị » Freddy bâng quơ nói.

Có được giấy phép chạy nhanh cho phép chúng tôi có đủ thời gian để nói chuyện. Chạy xe trên xa lộ, chúng tôi nói chuyện thoải mái và Freddy trao cho tôi một vài tài liệu. Tôi cùng có cơ hội đưa ra một số chỉ thị hoàn toàn bí mật. Trước khi rẽ vào một lối ra xa lộ, chúng tôi ngừng tại một trạm dừng xe trong bóng tối và chờ xe của Freddy (có tái xế của tôi) đến. Freddy trở lại xe của mình. Điều phiền với mánh khoé này là chúng tôi không phải là những người duy nhất khám phá ra nó. Với thời gian, các cơ quan phương Tây cũng sử dụng nó và hàng chục những tổ chức giúp người Đông Đức giúp người trốn trong những vận tải cũng dùng đến nó. Những ngõ ra xa lộ bất hợp pháp và các trạm xăng trở thành trọng điểm kiểm soát của chính cơ quan phản gián của chúng tôi. Họ bắt đầu xiết mỗi lúc một chặt chẽ hơn và tôi lo ngại một ngày nào đó các bạn đồng nghiệp trong cơ quan phản gián sẽ khám phá một trong những cuộc gặp gỡ của tôi. Tôi phải duyệt xét lại những quyết định trước đây của tôi và yêu cầu các ống kính kiểm soát được tắt trong lúc chính tôi hoặc sĩ quan của tôi thi hành công tác với các điệp viên nước ngoài.

Việc này tiến hành một thời gian, nhưng tôi lo ngại tình báo Tây Đức đã khám phá ra phương cách kiểm soát chúng tôi, vì vậy nếu các ống kính bị tắt trong vòng mười phút hoặc hơn, điều này có nghĩa là một số hoạt động đáng nghi đang tiến hành và việc kiểm soát biên giới trở nên gắt gao hơn. Tôi trở lại với phương pháp cũ và liều làm việc không thông báo cơ quan phản gián. Vì tôi lanh lẹ và chuẩn mực nên tôi chưa hề bị hai bên bắt gặp. Phương pháp này thành công không những với Freddy mà cả với một thông tín viên chính trị ởBonn, một chính trị gia thuộc phe cấp tiên tên là William Borm. Đương sự cung cấp tin tức trong quốc hộiBonn.

Freddy qua đời một vài năm sau, tim của đương sự không làm việc một vài ngày sau khi chúng tôi gặp nhau trên xa lộ. Tôi đoán chừng thể lực của đương sự không theo kịp cuộc sống chính trị sôi động, lối ăn uống vương giả và những cố gắng quá mức trong công tác nguỵ trang với chúng tôi của đương sự. Đương sự say mê với những kích thích và cảm giác đương sự đang tạo nên những ảnh hưởng đặc biệt. Với cương vị của một chủ nhân ông, chúng tôi luôn luôn giành tiền hưu trí cho những người vợ của các điệp viên, mặc dù là, trong trường hợp của Freddy, bà không được thông báo về việc làm của y. Bây giờ chúng tôi nằm trong một vị thế khó xử phải phái một sĩ quan đến báo cho bà biết là bà có quyền hưởng tiền hưu trí bởi vì chồng của bà đã làm việc cho Đông Đức. Tôi không rõ bà ấy có nghi ngờ chồng mình không, nhưng bà tiếp nhận tin tức rất là bình thản. Có một điều nghề nghiệp dạy tôi là đàn bà biết rõ về chồng mình nhiều hơn là các ông tưởng.

 (Còn tiếp)

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Chín Bài Bình Luận Về Đảng Cộng Sản T.Q Hồi ký trùm gián điệp Đông Đức ( kỳ 11 đến kỳ 19 )

1 Phản hồi Add your own

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Ba 2012
M T W T F S S
« Feb   Apr »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: