TRAO ĐỔI LẠI VỚI TS TRẦN TRỌNG DƯƠNG VỀ CHỮ NÔM, CHỮ QUỐC NGỮ

22/02/2012 at 8:12 sáng Để lại bình luận


 GHI NHANH Ý KIẾN  VỀ CHỮ NÔM, CHỮ QUỐC NGỮ 

NHÂN ĐỌC HAI BÀI BÁO

Đào Tiến Thi

Blog Nguyễn Xuân Diện ngày 20-2-2012 đăng hai bài bàn về chữ Quốc ngữ, một bài tường thuật của Thu Thảo về một cuộc hội thảo và một bài của TS. Trần Trọng Dương (TTD), xoay quanh vấn đề: chữ Nôm và chữ QN, chữ nào “dân tộc” tính hơn?

Trước hết xin nhắc lại, bài thứ nhất là bài tường thuật của Thu Thảo, chứ không phải bài viết của Thu Thảo như ông TTD nhầm. Bài tường thuật không nói tên và ngày tháng cuộc hội thảo, nhưng hỏi ra đó là cuộc hội thảo (chính xác là cuộc tọa đàm)  “Nguyễn Văn Vĩnh và hành trình chữ quốc ngữ” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức tổ chức ngày 17-2-2012. Diễn giả chính là các ông Nguyễn Lân Bình, Lại Nguyên Ân, Dương Trung Quốc, Mai Thành Chung. Xem ở:

http://tamnhin.net/Thuonghieu2/18989/Nguyen-Van-Vinh-va-hanh-trinh-chu-quoc-ngu.html

và xem ở:

http://www.pagewash.com///nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2fivrganzarg.ia/ia/tvnb-qhp/60706/puh-abz-unl-puh-dhbp-ath-zbv-yn-guhna-ivrg-.ugzy

Tôi thấy nhiều ý kiến của ông TTD lẫn nhiều ý kiến trong hội thảo (theo như lời tường thuật) thiếu khoa học và có gì đó không bình thường. Vì đang quá bận công việc, nếu thấy cần phải dành ra thời gian và sức lực, thì tôi ưu tiên cho chuyện Đoàn Văn Vươn, chuyện Bùi Thị Minh Hằng,… chứ không phải những chuyện này, dù nó cũng là vấn đề khoa học đáng quan tâm và tôi vẫn thường quan tâm. Cho nên tôi xin phép chỉ nêu ý kiến nhanh, gọn của mình, chủ yếu là nêu mà không diễn giải, chứng minh đầy đủ.

Ông TTD đưa ra 9 tiêu chí để xem xét, và tiêu chí nào thì chữ Nôm cũng “dân tộc” hơn chữ QN. Tôi xin điểm qua và bình luận từng tiêu chí và cách đánh giá của ông TTD (phần thuật ý kiến ông TTD dùng font Arial, màu xanh):

1. Chủ thể sử dụng: Ông TTD cho rằng từ giữa thế kỷ XX trở về trước, chữ Nôm được phần lớn cộng đồng cư dân Việt dùng, trong khi đó chữ quốc ngữ chỉ hạn hẹp trong cộng đồng cư dân theo Thiên Chúa giáo.

Lời bình: Đặt ra cái mốc giữa thế kỷ XX (ý nói mốc 1945 – ĐTT) trở về trước là bất công cho chữ QN. Khi ấy chữ Nôm đã đi trọn vẹn “cuộc đời”. Còn chữ QN thì từ  1945 mới được công nhận chính thức. Trước đó, từ nửa sau thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, mới là giai đoạn hình thành; từ nửa sau thế kỷ XIX, chữ QN mới chập chững bước ra ngoài đời và cũng chỉ trên đất Nam Bộ, vùng đất mới khai phá, đất rộng người thưa, chưa có truyền thống văn học. Đời sống thực của chữ QN là từ phong trào Đông Kinh nghĩa thục (1907) trở đi. Vả lại, chỉ tính trong gần 40 năm đầu của thế kỷ XX thì chữ QN thì đã có một “chủ thể sử dụng” đông đảo mà trước đó không có thứ chữ nào có được; còn từ những năm 20 của thế kỷ XX – 1945, coi như chữ đã “toàn trị” trên văn đàn. Sao lại coi chữ QN chỉ có ở mỗi cộng đồng Thiên chúa giáo được?

Chưa kể trong thời gian tồn tại của chữ Nôm, chữ Hán song song tồn tại, và chữ Hán mới được coi là chính thức, dùng trong văn bản có tính chính thống (văn bản điều hành, khoa học) và trong văn chương bác học (thơ chữ Hán Đường luật, tế, truyện, ký), trong khi chữ Nôm chỉ dùng trong loại “văn chơi”: thơ Nôm luật Đường, thơ lục bát, truyện thơ Nôm. Sự coi rẻ văn Nôm đến mức, Nguyễn Du sau khi viết thiên tuyệt bút Truyện Kiều vẫn phải có “lời bạt” để khẳng định đây là “Lời quê cóp nhặt dông dài” dùng để mua vui mà thôi.

2. Chủ thể sáng tạo: Chữ Nôm là sản phẩm chữ viết duy nhất do chính người Việt sáng tạo trên cơ sở vay mượn tự hình chữ Hán để ghi lại tiếng Việt. Chữ quốc ngữ là sản phẩm do người phương Tây sáng tạo trên cơ sở vay mượn chữ cái La Tinh để ghi lại tiếng Việt (nhấn mạnh trong nguyên văn).

Lời bình: Thế là cả hai đằng cùng “mượn” còn gì? Còn xét cụ thể thì chữ Nôm mượn chữ Hán nặng hơn chữ QN mượn chữ La Tinh rất nhiều. Chữ Nôm mượn âm, mượn ý, mượn ký tự của chữ Hán, còn chữ QN chỉ mượn mỗi bộ ký tự, tức là mượn cái vỏ mà thôi. Chữ QN không có một mối liên hệ gì với các ngôn ngữ phương Tây, trong khi chữ Nôm liên hệ rất chặt chẽ với chữ Hán, cả chữ (ký tự, âm thanh) lẫn nghĩa, đến nỗi, phải biết chữ Hán mới học được chữ Nôm.

Vả lại, coi chữ QN hoàn toàn do người Tây sáng tạo là không chính xác. Có những bằng chứng về sự cộng tác của người Việt mà chính những cố đạo phương Tây thừa nhận[i].

Mặt khác, vấn đề không phải là mượn hay tự có. Quan trọng là chủ sở hữu. Tổng công trình sư xây Tử Cấm Thành là Nguyễn An, một người ViệtNam, nhưng người ViệtNamđược tự hào hay người Tàu được tự hào?

3. Nguồn gốc văn hóa: Chữ Nôm có nguồn gốc bản địa, nguồn gốc Việt, mang đặc tính của văn tự Đông Á. Còn chữ quốc ngữ là có nguồn gốc ngoại lại, nguồn gốc Tây Âu, do người châu Âu sáng tạo.

Lời bình: Chữ Nôm chế từ chữ Hán, một thứ chữ của văn minh sông Hoàng Hà, tít tận phương Bắc, đâu có là bản địa? Mặt khác, nếu coi “bản địa” là khu vực thì chữ của ta phải có mối liên hệ với chữ Chăm, chữ Lào, chữ Thái, chữ Khmer mới là bản địa, vì ta thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á, chứ không phải Đông Á.

Mặt khác, làm sao coi chữ QN là ngoại lai được? Chữ QN không phải đem từ châu Âu đến. Chữ QN sinh ra, lớn lên trên chính đất nước ViệtNam, chỉ có người ViệtNamdùng. Về mặt nguồn gốc, nó ViệtNamhơn chữ Nôm nhiều.

4. Thời điểm hình thành: Chữ Nôm từ thời Lý Trần, chữ quốc ngữ tận thế kỷ XVII.

Lời bình: Lấy tuổi để xác định giá trị khác nào tiêu chuẩn “Sống lâu lên lão làng”? Nếu xếp loại quốc gia kiểu ấy thì ViệtNamlà cố nội, còn Mỹ là trẻ sơ sinh, vì ta 4000 năm lịch sử (bây giờ tính chính xác là 2700 năm), còn nước Mỹ có hơn 200 năm!

5. Mục đích chức năng: “Chữ Nôm ra đời từ nhu cầu nội sinh về mặt văn hóa. Người Việt đã sáng tạo ra thứ văn tự của riêng mình để ghi tiếng mẹ đẻ của mình, và quan trọng nhất là lưu giữ lại toàn bộ đời sống văn hóa của mình”. Còn chữ QN “thuở ban đầu, được làm ra là nhằm mục đích truyền giáo, rộng hơn là truyền bá văn hóa phương Tây, và nó chính là công cụ để người Tây Dương xâm lăng nước Việt”.

Lời bình: Rất nhiều việc mà mục đích lúc đầu khác hẳn chức năng được dùng về sau. Đạo Thiên chúa ra đời ban đầu nhằm “cứu nạn cứu khổ’’ cho người dân nhưng rồi dưới thời trung cổ, nó được dùng làm công cụ nô dịch nhân dân. Chúng ta chưa biết rõ mục đích ban đầu của chữ Nôm là gì. Còn chữ QN đúng là ban đầu chỉ để truyền đạo, nhưng từ cuối thế kỷ XIX nó được dùng để sáng tác văn học và sang thế kỷ XX, nó dùng toàn diện với mục đích khai trí, mục đích cứu nước. Hãy nghe các chí sỹ cách mạng đầu thế kỷ XX cổ vũ cho chữ QN:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước

Phải đem ra tính trước dân ta

Sách nước ngoài sách Chi Na

Chữ nào chữ ấy dịch ra tỏ tường.

Mặt khác, coi chữ QN là công cụ để người phương Tây xâm lăng ViệtNamlà phép suy diễn tùy tiện. Nói thế chẳng hóa ra chữ QN dẫn đến mất nước? Tại Trung Quốc, Lào, Miến Điện, Ấn Độ,… người phương Tây không đem đến đó thứ “quốc ngữ” nào mà họ vẫn bị xâm lăng đấy thôi. Trái lại, từ đầu thế kỷ XX, nhờ có chữ QN mà xã hội Việt Nam được hiện đại hóa, lịch sử tăng tốc rất nhanh, đưa dân tộc Việt Nam lần đầu tiên hội nhập với thế giới.

Lại nữa, bảo người Việt dùng chữ Nôm để “lưu giữ lại toàn bộ đời sống văn hóa của mình” là không chính xác. Hầu hết lượng tri thức thời phong kiến viết bằng chữ Hán. Chữ Nôm từ khi ra đời đến khi “chết”, ngoại trừ một vài đầu óc mang tư tưởng cải cách (Hồ Quý Ly, Quang Trung) có ý định (cũng mới là ý định thôi) dùng làm văn tự chính thức, thì nói chung chỉ là để làm “văn chơi” thôi. Còn chữ QN tuy mới phổ biến khoảng 100 năm nay nhưng lượng tri thức chắc chắn đã vượt xa chữ Nôm. Nó gồm rất nhiều ngành khoa học hiện đại. Riêng về văn học, chỉ tính số tác phẩm từ đầu thế kỷ XX – 1945 đã đồ sộ và phong phú hơn hẳn văn học chữ Nôm suốt 8 thế kỷ. 

6. Quãng thời gian sử dụng. Chữ Nôm đã dùng khoảng 700 – 800 năm. Chữ Quốc ngữ được sử dụng từ thế kỷ XVII, mãi đến năm 1945 mới chính thức trở thành văn tự duy nhất của Việt Nam.

Lời bình: Thứ nhất, hãy quay lại mục 4 và 5 xem sống lâu đã chắc “lên lão” không.

Thứ hai, nếu đề cập đến việc “trở thành chính thức”, thì chữ Nôm suốt 800 năm (cho đến khi thành một thứ tử ngữ) đã có lúc nào được “chính thức” chưa? Trong khi chữ QN chỉ phổ biến vài chục năm đã trở thành chính thức.

7. Số lượng văn bản cổ hiện còn: Các văn bản chữ Nôm hiện còn lưu trữ ở Việt Nam (chủ yếu là Viện NC Hán Nôm), Nhật Bản, Trung Quốc, Ý, Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Mỹ… quãng 1500 tác phẩm với số lượng lên đến hàng trăm nghìn trang viết. Các văn bản chữ quốc ngữ có lẽ chỉ có hai trăm tác phẩm, và số lượng chỉ bằng 1/ 10 so với chữ Nôm (cả về đầu sách, và số trang sách)”.

Lời bình: Lại so sánh khập khiễng. Chữ Nôm thì tính toàn bộ “cuộc đời”, còn chữ QN thì chỉ tính lúc còn chập chững tập đi những bước đầu tiên. Chỉ cần tính giai đoạn “niên thiếu” – khoảng 40 năm trước Cách mạng tháng Tám – thì số lượng tác phẩm chữ QN có thể đã vượt xa  con số 1500 tác phẩm chữ Nôm rồi. Chỉ cần nhắc đến một số  cây bút tên tuổi như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Tản Đà, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Lê Văn Trương, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận,… đã có thể hình dung ra.

8. Về nội dung đề cập: Chữ Nôm đề cập đến mọi vấn đề của cuộc sống người Việt trong vòng bảy tám trăm năm, từ văn học, lịch sử, y học, luật pháp, cho đến thư từ, gia phả, thần phả, khoán ước… Trong khi, chữ quốc ngữ chỉ giới hạn phần lớn trong các văn bản kinh thánh, thư từ của Thiên Chúa giáo.

Lời bình: Ấy là tại ông TTD lại “ăn gian” về thời gian. Sách chữ Nôm thì tính cả “cuộc đời”, còn sách chữ QN thì chỉ tính quãng đời “thơ bé”. (Xem lại mục 7). Sách chữ Nôm chủ yếu là sách văn chương, mà cũng chủ yếu là văn chương ngâm vịnh “Lời quê cóp nhặt dông dài”, còn văn chương “cao sang” thì vẫn viết bằng chữ Hán. Trong khi đó sách báo chữ QN từ những năm ba mươi của thế kỷ trước đã bao gồm hết cả các lĩnh vực từ văn chương, khoa học, đến văn bản điều hành. Ba áng văn bất hủ được coi là ba bản tuyên ngôn độc lập[ii] thì hai văn bản viết thời phong kiến dùng chữ Hán (chứ không dùng chữ Nôm), chỉ có văn bản thời hiện đại viết bằng chữ QN.  

9. Sự góp mặt của các danh nhân: “Chữ Nôm và văn học chữ Nôm đã trở thành sản phẩm văn hóa đặc hữu của người Việt, với hàng trăm danh nhân, văn sĩ”: Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Du, Tự Đức, Nguyễn Công Trứ,… Còn chữ QN thì “chỉ có một số ít giáo sỹ phương Tây như A. de Rhodes với Từ điển Việt Bồ La và Phép giảng tám ngày (tk XVII), hay Bento Thiện, Philiphe Bỉnh,…”

Lại “ăn gian” về thời gian: một đằng tính cả “cuộc đời”, một đằng chỉ tính thời “thơ bé” cắt bỏ từ giai đoạn lớn lên. Thôi chán quá, không nói nữa!

Tóm lại, với nội dung trình bày trên, tuy có lúc tác giả nhắc đến mốc thời gian 1945, nhưng thực sự chỉ khoanh “thành tựu” của chữ QN đến nửa đầu thế kỷ XIX, là thời điểm mà chữ Nôm đã đi trọn “cuộc đời” của nó, trong khi đó chữ QN vừa mới qua  giai đoạn “sơ sinh”. Từ nửa sau thế kỷ XIX chữ QN bắt đầu mon men đi vào đời sống (từ đất Nam Bộ). Từ Đông Kinh nghĩa thục (1907) chữ QN mới lớn lên, trưởng thành, phát triển rực rỡ, thì ông TTD lại không tính! Thế thì so sánh sao được?

Điều buồn nữa là các tiêu chí của Trần tiến sỹ đều lấy ở bên ngoài ngôn ngữ, không có một chút gì dính dáng đến ngôn ngữ hết. Có khác nào xét giá trị một tác phẩm văn học chỉ xem ai viết, viết bao giờ, viết cho ai đọc,… mà không tính gì đến bản thân tác phẩm đó phản ánh cái gì, phản ánh bằng nghệ thuật nào, mang tư tưởng gì,… Dẫu có công bằng về thời gian thì cũng ít giá trị so sánh. 

Xin nói thêm, với tất cả những ý kiến trên, tôi chỉ bác lại lập luận của Tiến sỹ Trần Trọng Dương chứ không hề hạ thấp chữ Nôm. Chính cách đề cao chữ Nôm một cách phi khoa học của Trần tiến sỹ lại làm hại chữ Nôm. Thật là “Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau” (Nguyễn Du).

Bây giờ tôi nói đến các ý kiến trong cuộc tọa đàm do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức tổ chức vừa rồi.

Cái tiêu đề Chữ Nôm hay chữ quốc ngữ mới là thuần Việt? nghe đã thấy không ổn. Đặt vấn đề như thế để giải quyết cái gì? Đây phải chăng do cách “giật tít” hay do cách hiểu chủ quan của người tường thuật? Theo thông báo trên Tamnhin.net thì chủ đề cuộc tọa đàm là Nguyễn Văn Vĩnh và hành trình chữ quốc ngữ, như vậy, mục đích cuộc tọa đàm là nói về những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với chữ QN, chứ không phải bàn chuyện chữ Nôm hay chữ quốc ngữ là “thuần Việt”. Tất nhiên là các phát biểu trong hội thảo có thể chệch ra ngoài mục đích ban đầu, nhưng cũng không nên đặt tiêu đề như trên, nó dễ làm sai lạc người đọc về chủ đề của hội thảo.      

Đọc nội dung tường thuật và hỏi một số vị tham gia hội thảo này, tôi thấy quả là có nhiều vấn đề không ổn.

Trước hết, không nên kéo chuyện của Nguyễn Văn Vĩnh vào việc phải có ngày kỷ niệm chữ QN hay ngược lại. Đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh vào văn học và báo chí viết bằng chữ QN là đáng kể, cần ghi nhận nhưng không phải Nguyễn Văn Vĩnh làm nên tất cả. Trước Nguyễn Văn Vĩnh đã có lớp nhà văn Nam Bộ viết văn bằng chữ QN từ cuối thế kỷ XIX (Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quản,…). Đặc biệt, các nhà cách mạng – nhà nho đầu thế kỷ XX (Phan Bội Châu, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền,…) là những người mở đường đi tiên phong cổ vũ mạnh mẽ cho chữ QN. Đó là bước chuyển biến về quan niệm, từ thờ ơ, thậm chí thành kiến với chữ QN đến việc khẳng định “Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước/ Phải đem ra tính trước dân ta”. Cùng thời và sau Nguyễn Văn Vĩnh một chút còn có Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Tản Đà, Nguyễn Văn Tố, Hoàng Xuân Hãn,… Và tiếp nối sau nữa là lớp văn thi sỹ Tiền chiến đông đảo, những người đã làm cho văn chương chữ QN trở nên phong phú, thực sự hiện đại.

Thứ hai, tại sao lại cứ cần phải có “ngày chữ viết của dân tộc”? Tất nhiên là có ngày đó thì cũng tốt nhưng không đến nỗi cấp thiết, không có gì phải bức xúc, coi như không có thì công bằng so với nhiều ngày kỷ niệm khác.

Thứ ba, tại sao muốn tôn vinh chữ QN (hay các loại chữ viết khác của dân tộc) lại cứ phải có Luật Ngôn ngữ (Luật Tiếng Việt)? Ta cứ việc tôn vinh các chữ viết (chữ QN, chữ Hán, chữ Nôm,…) cũng như tôn vinh những nhân vật lịch sử có những đóng góp cho các chữ viết này mà hoàn toàn không cần Luật Ngôn ngữ. Ngày thơ ViệtNamcũng là để tôn vinh thơ đến nay đã được tổ chức đến lần thứ 10 mà có cần Luật Nhà thơ đâu? Mới đây (tháng 12-2011), khi nhận được Dự thảo kiến nghị của Hội Trí thức Trẻ Việt Nam và Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, trong đó có kiến nghị đề xuất ban hành Luật Tiếng Việt, chính tôi – Đào Tiến Thi – đã viết ngay một bức thư để phản đối (Xin gửi kèm dưới đây).

Tổng hợp lại cả hai loại ý kiến (của TTD và các ý kiến trong hội thảo vừa rồi), tôi thấy vấn đề đáng bàn luôn bị lạc hướng và thiếu tư duy khoa học. Nếu coi “dân tộc” tính là đặc trưng, không phải là giá trị, thì có thể bàn trên phương diện khoa học. Nhưng phải dựa trên hệ tiêu chí khác, trong đó tiêu chí hàng đầu là thứ chữ đó có phù hợp đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt hay không, rồi thứ đến có tiện lợi, thông dụng, dễ phổ cập hay không, chứ không thể là mớ tiêu chí hỗn độn, không nói lên điều gì như của TS. Trần Trọng Dương đưa ra. Còn nếu coi “dân tộc” tính của chữ viết như một phẩm chất, một giá trị thì sẽ dẫn đến hệ quả là chúng ta phải kế thừa, phát huy (vì mục tiêu là “xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc), và như thế sẽ gặp ngay bế tắc. Giả sử về ăn mặc, nếu tìm về cái gì “thuần ViệtNam” thì chả lẽ chúng ta quay về đóng khố, đi chân đất, xăm mình hay sao?

Cuối cùng, như tiêu đề của bài, vì không có thời gian nên tôi chỉ ghi nhanh mấy ý kiến. Vì ghi nhanh nên chắc là còn sai sót, xin được TS. Trần Trọng Dương và độc giả lượng thứ. Vấn đề so sánh chữ Nôm và chữ QN tôi xin bàn ở một dịp khác. Nhưng ngay bây giờ độc giả có thể tham khảo bài viết của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong cuộc hội thảo nói trên ở:

http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=14825

Riêng về chữ QN, xin gửi kèm bài dưới đây của tôi, trong bài có một phần liên quan đến vấn đề đang bàn. Bài đã đăng ở Ngôn ngữ và đời sống số 10 năm 2011 (tạp chí của Hội Ngôn ngữ học Việt Nam), trên website của khoa Ngôn ngữ, Đại học Khoa học xã hộ và nhân văn, khoa Ngữ Văn Đại học Sư Phạm Hà Nội và một số trang web khác. 

ĐTT

[i] Theo nhiều chuyên gia, trước khi bị Bắc thuộc, nước ta đã từng có văn tự. Đó là loại chữ “con nòng nọc”, một thứ chữ ghi âm. Gần đây nhà giáo Đỗ Văn Xuyền ở Việt Trì sau 50 năm nghiên cứu đã tìm ra được một loại chữ Việt cổ, loại chữ hình “ngọn lửa”. Tất nhiên vấn đề này cần được tiếp tục chứng minh. [Xem: http://vtc.vn/394-283341/phong-su-kham-pha/nguoi-doc-thong-viet-thao-chu-viet-co.htm]

Theo một số chuyên gia, chính các loại hình chữ ghi âm cổ của người Việt (chữ “con nòng nọc”, chữ “ngọn lửa”, chữ Nôm) đã gợi ý các giáo sỹ phương Tây sáng tạo ra chữ Quốc ngữ theo hướng ghi âm. Đó là đóng góp tiền đề. Khi sáng chế chữ Quốc ngữ, các giáo sỹ phương Tây lại được sự cộng tác đắc lực của những người Việt. Và đặc biệt, người Việt Nam đã hoàn thiện nó trong quá trình sử dụng. Diện mạo chữ QN ngày nay rất khác chữ QN thuở ban đầu.

 

[ii] Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập.

Entry filed under: Uncategorized. Tags: .

Cái đêm hôm ấy… đêm gì? GỞI TRỊNH KIM TIẾN

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Hai 2012
M T W T F S S
« Jan   Mar »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
272829  

Bài viết mới

Blog Stats

  • 55,214 hits

%d bloggers like this: